|
TÔNG HUẤN
CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II
Về ƠN GỌI và SỨ
MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần
Thế
Bản dịch của
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Chương 2
TẤT
CẢ LÀ CÀNH NHO CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT
Sự tham gia của tín hữu giáo dân
vào đời sống của Giáo Hội Hiệp Thông
MẦU
NHlỆM CỦA GlÁO HỘl THÔNG HlỆP
18.
Chúng ta hãy nghe lại lời của Đức Giêsu: "Ta là
Cây Nho Thật, và Cha Ta là Người trồng nho... các con
hãy ở
trong Ta, như Ta ở trong các con" (Jn 15:l-4).
Chỉ mấy lời đơn sơ này
cũng đã mặc khải cho chúng ta thấy sự thông hiệp mầu nhiệm kết hợp Chúa và các
môn đệ Ngài, nối kết Đức Kitô với các người đã chịu phép Rửa Tội trong sự hơp
nhất toàn vẹn: một sự thông hiệp linh động và chuyển ban sinh lực, nhờ đó người
Kitô-hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng trở thành sở hưu của Đức Kitô, như
cành nho hợp nhất với cây nho.
Sự thông hiệp của người
Kitô-hữu với Đức Giêsu, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn
Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích: Người Kltô-hữu hiệp nhất
với Chúa Con trong mỗi giây ràng buộc tình yêu của Chúa Thánh Thần cũng được
hiệp nhất với Chúa Cha. Chúa Giêsu còn tiếp: "Ta là cây nho, chúng con là cành"
(Jn. 15.5). Người Kitô hữu hiệp thông với Đức Kitô nên họ cũng hiệp thông với
nhau. Tất cả đều là cành nho của Cây Nho duy nhất là Đức Kitô . Trong sự hiệp
thông huynh đệ này, Chúa Giêsu phản ảnh lạ lùng việc tham dự nhiệm mầu vào đời
sông tình yêu thâm sâu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Để thực hiện
sự thông hiệp này, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: "Cho hết thảy được hợp nhất, như
Cha ở trong Con và Con ở trong Cha vậy, để họ cũng được liên hiệp cùng Ta, cho
thiên hạ tin rằng Cha đã sai con đến."
Sự thông hiệp này, chính
là mầu nhiệm của Giáo Hội như Công Đồng Vaticanô II đã dùng những lời của Thánh
Cypnanô để nhắc lại: "Giáo Hội phố quát xuất hiện như
một dân tộc được hợp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánk Thần".(52)
Mầu nhiệm Giáo Hội hiệp thông này được
nhắc nhở ở mỗi đầu Thánh Lễ khi vị chủ tế đón mời chúng ta bằng lời chào của
Thánh Phaolô Tông Đồ: "Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô Chúa
chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha và ơn Thông Hiệp
của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em " (2 Cor. 13:13).
Công
Đồng và Giáo-Hội-Học Hiệp Thông
19.
Đây là tư tưởng chính mà Giáo Hội đã đưa ra ánh
sáng để tự định-nghĩa mình trong Công Đồng Vaticanô
II, cũng như Thượng Hội Đồng Giám Mục ngoại lệ năm 1985, đã nhắc lại:
"Giáo-hộì-học về hiệp thông là tư tưởng trung tâm căn bản của các văn kiện Công
Đồng. Giáo Hội Hiệp Thông (koinonia - Communion) dựa trên Thánh Kinh, đã được
tôn trọng trong Giáo Hội thời sơ khởi, và trong Giáo Hội Đông phương cho tới
ngày nay. Công Đồng Vaticanô II đã nỗ lực làm việc, khảo sát để Giáo Hội được
hiểu một cách rõ ràng như là một sự hiệp thông và để khái mệm này được thực thi
một cách cụ thể trong đời sống. "Thông
Hiệp", tiếng phức tạp này có nghĩa gì? Từ nguồn gốc nó có
nghĩa là sự hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu
Kitô trong Chúa Thánh Thần. Sự hiệp thông này chúng ta. nhận được nhờ Lời Chúa
và các phép Bí Tích. Phép Rửa Tội là cánh cửa và cũng là nền tảng của sự hiệp
thông trong Giáo Hội. Phép Thánh Thể là nguồn và đỉnh cao của sự sống người Kitô
hữu. Sự hiệp thông với Mình Thánh Chúa Kitô là dấu chỉ và phát sinh, hay nói
cách khác, xây dựng sự hiệp thông mật thiết của mọi tín hữu trong Thân Xác của
Chúa Kitô là Giáo Hội". (53)
Công Đồng vừa bế mạc, Đức
Phaolô VI đã nói với tín hữu: "Giáo Hội là một sự hiêp thông. Tiêng hiệp thông ở
đây có nghĩa gì? Ta mời chúng con đọc lại
giáo lý nói về việc các Thánh Thông Công - và các Thánh Thông Công mang hai
nghĩa: Người Kitô hữu được thông công vào sự sông Đức Kitô và sự lưu thông của
chính đức ái này trong toàn thể cộng đồng các tín hữu ở trần gian, và bên kia
thế giới. Hợp nhất với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hợp nhất các Kitô hữu với
nhau trong Giáo Hội. (54)
Các
hình ảnh Thánh Kinh Công Đồng đã dùng để giúp chúng ta suy niệm mầu nhiệm Giáo
Hội, đã đưa ra ánh sáng cho chúng ta thầý thực tại Giáo Hội hiệp thông khăng
khít giữa các Kitô hữu với Đức Kitô, và hiệp thông các Kitô hữu với nhau. Đó là
hình ảnh chuồng chiên, đàn chiên, cây nho, toà nhà thiêng hêng, và hình ảnh
thành Thánh. (55)
Nhưng trên tất cả, hình ảnh về nhiệm thể của Thánh Phaolô được Công Đồng lưu ý
nhiều hơn cả vì giáo lý của Người dạy luôn luôn sống động và hấp dẫn .(56)
Công Đồng dựa theo lịch sử Cứu Rỗi cũng trình bày Giáo Hội như là Dân Thiên
Chúa: "Thíên Chúa đã không muốn cho con người nhận
lãnh sự thánh hóa và ơn Cứu Độ một cách rìêng rẽ,
không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân
tộc nhận bỉết Ngài theo sự thật và phụng
sự Ngài trong sự thánh thiện" (57).
Ngay từ hàng chữ đầu, Híến Chế "ánh Sảng Muôn Dân" đã tóm lược tín lý này một
cách tuyệt diệu: "Giáo Hội Ở trong Chúa Kitô như là Bí Tích, nghĩa là vừa là dấu
chỉ, vừa là phương tiện đưa đến sự kết hợp mât thiết với Thỉên Chúa và hợp nhất
của toàn thể nhần loại." (58)
Thưc tại Giáo Hội Hiệp
Thông như thế là phần tất yếu hay nói đúng hơn, nó là nội dung trung điểm của
"Mầu Nhiệm", nghĩa là của ý định Thiên Chúa trong vỉệc Cứu Rỗi nhân loại. Vì thế
sự hiệp thông trong Gỉáo Hội không chỉ nói về phương diện xã hội hay tâm lý.
Giáo Hội Thông Công là dân tộc "mới", là dân tộc "thời đại Đấng Thiên
Sai" dân tộc "mà vị thủ lãnh là Đức Kitô..." và sự hiệp
thông của nó là phẩm gỉá và sự tự do của con cái
Chúa... Luật của dân này là giới răn mới yêu thương như chính Chúa Kitô đã yêu
thương chúng ta... Cứu cánh của họ là Nước Thiên Chúa... và dân tộc này đã được
Chúa Kitô thiết lập như một Cộng Đồng sống hiệp thông trong đức ái và chân lý"
(59). Môí
dây liên kết các phần tử của Dân Mới này lại với nhau - và trước tiên với Đức
Kitô - không phảỉ là những môí giây "xác thit" và "máu mủ" mà là giây tinh thần,
nói rõ hơn là các mối giây của Thánh Thần mà những ai chịu phép Rửa Tội đã nhận
lãnh (Jl. 3:l).
Bởi vì chính Chúa Thánh
Thần tự đời đời đã là sợi giây liên kết của Thiên Chúa Ba Ngôi, một và không
phân chia được Thánh Thần này khi thời gían đến" (Gal. 4:4) đã vĩnh viễn kết hơp
máu thịt con người với Con Thiên Chúa, là Thánh Thần qua suốt các thế hệ của đạo
Chúa Kitô đã trở nên nguồn suốt vô tận đem lại sự hiệp thông trong Giáo Hội.
Một
sự Hiệp Thông có cơ cấu:
khác
biệt nhưng bổ túc
20.
Sự thông hiệp trong Giáo Hội là một sự thông hiệp "có cơ cấu", giống như một
thần thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt và bổ túc nhau theo ơn
gọi và địa vị, gồm các thừa-tác-vụ, các ơn đoàn-sủng (charismes), và các trách
nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên
hệ với toàn thần và đem lại phần đóng gúp cho toàn thân.
Thánh Phaolô Tông Đồ đã
đặc biệt nhấn mạnh về sự thông hiệp cơ cấu của Nhiệm Thể Đức Kitô. Chúng ta hãy
lắng nghe lại một lần nữa giáo huấn súc tích của Người trong bản đúc kết Công
Đồng Hiến Chế "ánh Sáng Muôn Dân" quả quyết: "Đức Giêsu Kitô khi thông ban Thánh
Thần cho anh em mình mà Ngài đã triệu tập từ các dân các nước lại, đã liên kết
họ một cách nhiệm mầu thành Thân Thể Ngài . Trong Thân Thể này, sự sống của Đức
Kitô tràn ra nơi các kẻ tin... tất cả các chi thể" tuy nhiều, nhưng lập thành
một thân thể, cũng thế các tín hữu họp thành một thân thể trong Chúa Kitô (1
Cor. 12:12). Trong việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô cần có nhiều chi thể với
chức vụ khác nhau. Chỉ có một Chúa Thánh Thần ban những ân sủng khác nhau để làm
ích cho Giáo Hội theo sự sung mãn của Ngài và tuỳ nhu cầu của các công tác (1
Cor.12:1-11). Trong các ân sủng ấy, ơn ban
cho các Tông Đồ đứng hàng đầu: "Chính Chúa
Thánh Thần đặt dưới quyền các Ngài
những người lãnh nhận các đoàn sủng (1 Cor.14).
Cũng chính Thánh Thần ấy, là nguyên lý hợp nhất trong
thân xác nơi đó thần lực của Ngài hoạt động và thể hiện sự liên kết các chi thể,
làm phát sinh và khích lệ đức ái giứa các tín hữu. Vì thế, nếu một chi thể nào
đau đớn, tất cả các chi thể khác đều bị đau đớn , và một chi thể nào được vinh
dự tất cả các chi thể khác cùng chung vui".(60)
Luôn luôn chính cũng một
Thánh Thần duy nhất là nguyên lý đầy động lực phát sinh sự khác biệt và sự hiệp
nhất trong Giáo Hội. Chúng ta hãy đọc lạì Hiến Chế Muôn Dần: "Để chúng ta được
liên lỉ canh tân trong Ngài " (Eph.4:23),
Đấng đã ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài để
hiện hữu nơi đầu cũng như trong thân thể, là sống
động, hợp nhất và thúc đẩy toàn thân. Các Thánh Giáo Phụ đã so sánh tác động của
Chúa Thánh Thần như công việc của linh hồn là nguyên lý sự sông, hoàn thành
trong thân xác,(61)
Trong một bản văn khác đặc biệt súc tích và hiếm có để giải thích không những
"tính chất cơ cấư" riêng biệt của sự hiệp thông trong Giáo Hội, mà hiệp thông
này phải luôn luôn trưởng thành cho đến ngày hiệp thông toàn vẹn, Công Đồng
viết: "Chúa Thánh Thần ngự trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự
trong Đền Thánh (1Cor.3:16, 6.19). Trong họ, Ngài cầu nguyện và chứng nhận họ là
dưỡng tử của Thiên Chúa (Gal. 4:6, Rom. 8:15-6, 26). Ngài thông đạt cho Giáo Hội
toàn bộ chân lý (Jn.16.13). Ngài thống nhất
Giáo Hội trong sự hiệp thông và phục vụ.
Ngàỉ xây dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân hụê khác nhau theo phẩm trật và
ơn đoàn sủng, tô điểm Giáo Hội bằng hoa trái ân sủng của Ngàl (Eph. 4:11-12,1
Cor.12:4, Gal.5:22). Nhờ sức mạnh Phúc âm,
Ngài làm cho Giáo Hội được phát triển,
luôn luôn đổi mới, và hướng dẫn Giáo Hội ngày kết hơp với vị Phu quân của mình.
Cả Chúa Thánh Thần và Hiền Thê cũng mời gọi Chúa Giêsu rằng: "Xin hãy đến".(62)
Sự hiệp thông trong Giáo
Hội là một ân huệ, một đại ân huệ của Chúa Thánh Thần, các tín hữu đươc mời gọi
nhận lãnh ơn này với lòng biết ơn và đồng thời sống ơn này bằng tinh thần trách
nhiệm. Việc này thực hiện một cách cụ thể khi họ tham gia vào đời sống và sứ
mệnh của Giáo Hội, và để phục vụ Giáo Hội các tín hữu giáo dân thi hành các
thừa-tác-vụ, và các đoàn sủng của mình.
Người tín hữu giáo dân
"không được quyền tự cô lập mình với cộng đoàn, nhưng họ phải luôn sống trong sự
chia xẻ với anh em khác trong tình huynh đệ sâu đậm, trong niềm vui vẻ bình
đẳng, và hợp tác với nhau để kho tàng gia tài mênh mông đã được nhận lãnh được
sinh hoa kết qủa. Thánh Thần Thiên Chúa ban cho họ cũng như ban cho kẻ khác
nhiều ơn đòan sủng, Ngài gọi họ lãnh nhận nhiều thừa-tác-vụ và nhiều trọng trách
khác nhau. Ngài nhắc lại cho họ cũng như cho kẻ khác biết rằng trong mối tương
quan với nhau điều làm cho họ nổi bật, không phải là thăng tiến chức phận, mà
chính họ là được trao quyền năng đặc biệt và bổ túc để phục vụ.... Vì thế, các
ơn đoàn sủng, các thừa tác vụ, các trọng trách các dịch vụ của người tín hữu
giáo dân nếu có là có trong sự hiệp thông. Đó là những kho tàng bổ túc lẫn nhau
dùng để tạo lợi ích cho mọi người dưới sự hướng dẫn khôn nguan của các vị Chủ
Chăn".(63)
THỪA-TÁC-VỤ VÀ ĐOÀN SỦNG LÀ ƠN CỦA CHÚA
THÁNH
THẦN BAN CHO GlÁO HỘl
21.
Công Đồng Vaticanô II trình bày các thừa-tác-vụ và
các ơn đoàn sủng như là ơn Chúa Thánh Thần ban để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô,
và để truyền giáo hầu để cứu rỗi thế giới.(64)
Vì Giáo Hội được hướng dẫn điều hành do Chúa Thánh Thần là Đấng ban phát mọi sự
khác nhau theo phẩm trật và có tính cách đoàn sủng, Ngài ban cho hết mọi người
đã chịu phép Rửa Tội, và kêu gọi họ phải hoạt động và đồng chịu trách nhiệm mỗi
người theo cách thế của mình.
Giờ đây chúng ta hăy xem
xét các thừa-tác-vụ và các ơn đoàn sủng đôl với các tín hữu giáo dân, và việc
tham gia của họ vào đời sống Giáo Hội Hiệp Thông.
Thừa-tác-vụ, Nhiệm-vụ và Chức-vụ
Các thừa tác vụ hiện tại
đang tác động trong Giáo Hội, mặc dầu có khác biệt nhau trong cách thế, nhưng
tất cả là đều tham gia vào thừa tác vụ của Chúa Giêsu Kitô là vị Chủ Chăn đã
liều mạng sống vì đàn chiên (Jn. 10.11), là người đầy tớ hèn mọn và hoàn toàn hy
sinh để cứu rỗi mọi người (Mk. 10:45). Thánh Phaolô nói rất rõ ràng về sự thiết
lập các thừa-tác-vụ trong Giáo Hội đời các Thánh Tông Đồ. Trong thư thứ nhất gỉn
các tín hữu thành Côrintô, Ngài viết: "Thiên Chúa đặt để trong Giáo Hội, trước
tiên có các
Tông Đồ, thứ đên các vị rao giảng, rồi đến những kẻ
nhận trách nhiệm dạy dỗ... " (Cor. 12.28). Trong thư gởi cho giáo
hữu thành Ephêsô Ngài viết: "Mỗi người trong chúng ta
đã lãnh nhận ơn nghĩa thánh như Chúa Kitô đã phân chia... và các ơn Ngài ban cho
con người, trước tiên là các Tông Đồ, đến các vị rao giảng, các nhà Thừa Sai
Phúc âm, các chủ chăn và những người lo việc dạy dỗ. Như thế, dân thánh Chúa
được tổ chức để các thừa-tác-vụ được hoàn thành và để Thân Thể của Đức Kitô được
xây dựng. Cuối cùng, tất cả chúng ta cùng nhau hiệp nhất trong Đức Tin và trong
sự hiểu biết chân chính Con Thiên Chúa, để tiên tới tình trạng trưởng thành, và
sung mãn trọn vẹn của tầm vóc con người Đức Kitô" (Eph.4:7-11-13, Rom.12:4-8).
Các bản văn này cũng như các văn bản khác của Tân ước cho chúng ta thấy là các
thừa-tác-vụ, cũng như các ơn huệ và các công tác trong Hội Thánh, có rất nhiều
và khác nhau.
Các
thừa-tác-vụ phát sinh từ
Phép
Truyền Chức Thánh
22.
Trong Giáo Hội , chúng ta thấy trước tiên các thừa-tác-vụ được truyền phong
nghĩa là phát nguồn từ Phép Truyền Chức Thánh. Chúa Giêsu đã chọn và đặt các
Tông Đồ "như là hạt giống nảy sinh dân Israel mới và đồng thời cũng là nguồn gốc
của phẩm trật trong Giáo Hội" (65)
, và truyền cho họ phải huần luyện và đào tạo những môn đệ trong khắp các dân
tộc (Mt. 28:19), và đĩeu khiển hàng tư tế. Sứ vụ của các Tông Đồ mà Chúa Giêsu
tiếp tục giao phó cho các vị Chủ chăn dân Ngài, là một chức vụ mà Thánh Kinh gọi
là "diakonia" nghĩa là phục vụ hay mục vụ. Các vị này nhận lãnh nơi Đức Kitô
Phục sinh, ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần được truyền thụ không ngừng từ đời
các Tông Đồ, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh: Từ Đức Kitô họ nhận lãnh trách nhiệm
và quyền năng linh thiêng để phục vụ Giáo Hội, họ hành động nhân danh Chúa Kitô
là Đầu (66)
và để hơp nhất Giáo Hội lại trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc âm và phép Bí Tích.
Các thừa-tác-vụ được
truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là ân
sủng riêng cho cá nhân người lãnh nhận. Các thừa-tác-vụ này là sư thực thi và
biểu lộ việc được tham dự vào chức linh mục của Chúa Kitô; sự tham dự này khác
biệt ngay trong bản tính, chứ không chỉ trong mức độ tham dự đã được ban cho mọi
tín hứu nhờ phép Rửa Tội và phép Thêm Sức. Đàng khác, chức linh mục thừa-tác-vụ,
như Công Đồng Vaticanô II đã gọi hướng về chưc tư-tê-vương-giả cộng đồng của mọi
tín hữu, và cùng đích cốt yếu của nó nằm ở trong chức tư tế này.(67)
Vì thế, để bảo đảm và làm
tăng trưởng sự hiệp thông trong Giáo Hội, đặc biệt về những gì có lỉên quan đến
các thừa-tác-vụ khác nhau và bổ túc cho nhau, các vị chủ chăn phải xác tín chắc
chắn rằng chức linh mục của mình là để phục vụ toàn dần Thiên Chúa (Heb. 5.1).
Các tín hữu giáo dân cũng phải nhìn nhận rằng chức linh mục thừa-tác-vụ tuyệt
đối cần thiết cho cuộc sống của chính mình trong Giáo Hội, và cho mình được tham
dự vào sứ mệnh của Giáo Hội.(68)
Thừa
tác vụ, nhiệm vụ và chức vụ của giáo dân
23.
Sứ mệnh cứu rỗi của Giáo Hội giữa thế giới được thực hiện không chỉ nhờ các vị
thừa hành đã nhận lãnh bí tích Truyền chức Thánh, nhưng cũng nhờ các tín hữu
giáo dân; vì họ đã được chịu phép Rửa Tội và được kêu gọi đặc biệt, để tham dự
theo mức độ của mỗi người vào chức vụ tư tế, rao giảng và vương giả của Đức
Kitô.
Bởi thế, các vị chủ chăn
phải thừa nhận và cổ võ các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và chức vụ của các tín hữu
giáo dân, những nhiệm vụ và tác vụ này có nền tảng bí tích trong phép Rửa Tội,
phép Thêm Sức và hơn nữa trong phép Hôn Phối đối với nhiều người trong giáo dân.
Hơn nữa, khi cần thiết
hoặc vì lợi ích của Giáo Hội đòi buộc, các chủ chăn có thể theo quy chế dự định
trong bộ luật chung, giao phó cho tín hữu giáo dân một số nhiệm vụ hay chức vụ.
Những nhiệm vụ hay chức vụ này vẫn (tuỳ thuộc) với thừa-tác-vụ chủ chăn của các
Ngài, nhưng không cần chức Thánh mới thi hành đuược. Giáo Luật xác định: "Nơi
nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa-tác-viên, thì các giáo dân dù không
có chức tác-vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như
đọc Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy
tắc luật định".(69)
Tuy nhiên, việc thi hành
chức vụ này không làm cho người tín hữu giáo dân trở thành vị chủ chăn: Thật ra,
điều tạo nên một thừa-tác-vụ, không phải là chính tác động mà là bí tích Truyền
Chức. Chỉ có phép Truyền Chức Thánh mới ban cho vị thừa-tác-viên nhận chức sự
tham gia vào chức tư tế của Đức Kitô.(70)
Chức vụ thi hành với tư cách là kẻ thay thế được xem là hơp pháp, là vì các chủ
chăn đã lãnh nhận một cách công khai sự đại diện chính thức. Vậy khi thi hành
chức vụ này, người thay thế phải lệ thuộc vào quyền lãnh đạo của Giáo-quyền.(71)
Thượng Hội Đồng Giám Mục
vừa qua đã trình bày cho thấy một cái nhìn bao quát tình trạng Giáo Hội về các
thừa-tác-vụ, nhiệm-vụ và chức-vụ của những người đã chịu phép Rửa Tội. Các Nghị
Phụ đã hết lòng thán phục những sự cộng tác tông đồ của các tín hữu giáo dân nam
nữ để làm cho Giáo Hội được sống và tăng trưởng bằng các ơn đoàn sủng, bằng các
hoạt động nâng đỡ việc truyền giáo, việc thánh hóa và sống đạo. Đồng thời các vị
Nghị Phụ cũng rất quý mến sự tận tâm sẵn có của họ để phục vụ các cộng đồng
trong Giáo Hội, và việc chuẩn bị sẵn sàng của họ để thay thế các vị chủ chăn
trong những trường hơp khần cấp hoặc trong các nhu cầu nhất thời.(72)
Sau khi Công Đồng cổ võ
việc canh tân Phụng vụ, các tín hữu giáo dân cũng ý thức rõ ràng về nhiệm vụ của
họ trong khi chuẩn bị tham dự các nghi thức Phụng vụ; vì thế họ đã tỏ ra rất
quan tám: Vì việc cứ hành Phụng vụ là một việc Thánh của cộng đồng dân Chúa chứ
không riêng gì của hàng giáo sĩ. Lẽ dĩ nhiên việc nào không phảí dành riêng cho
các vị có chức Thánh thì phải do các tín hữu giáo dân đảm trách.(73)
Một khi chấp nhận việc tham gia thật sự của người tín hữu giáo dân trong việc
phụng sự, tự nhiên cũng để chấp nhận họ tham gia vào việc rao truyền Lời Chúa và
trách nhiệm mục vụ.(74)
Trong buổi Đại Hội Thượng
Hội Đồng Giám Mục thế giới, ngoài những phán đoán tích cực ủng hộ, cũng không
thiêú những lời chỉ trích bài bác việc dùng từ ngữ "thừa-tác vụ, , việc lẫn lộn
chức linh mục cộng đồng với chức linh mục thừa hành, việc bỏ sót không áp dụng
luật lệ và định chế của Giáo Hội, việc giải thích tự tiện khái mệm về việc thay
thế, chỉ trích xu hướng giáo-sĩ-hóa, các tín hữu giáo dân có nguy tạo nên một cơ
cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đã được xây dựng trên nền tảng
của phép Truyền Chức Thánh.
Để ngăn ngừa các hiểm họa
ấy, các Nghị Phụ lưu tâm đến việc cần thiết phải giải thích rõ ràng bằng cách
quy định một từ ngữ chính xác, diễn tả hai điểm quan trọng này
(75), sự duy nhất
sứ mệnh của Giáo Hội là sứ mệnh tất cả những người đã chịu phép Rửa Tội phải
tham gia, và sự khác biệt bản chất mà thừa-tác-vụ của các vị chủ chăn được xây
dựng trên nền tảng của phép Truyền Chức Thánh, với các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ và
chức vụ khác được xây dựng trên nền tảng của phép Rửa Tội và phép Thêm Sức.
Vì thế, trước khi thừa
nhận hay trao ban cho các tín hữu giáo dân các thừa-tác-vụ, nhiệm vụ hay chức
vụ, các chủ chăn phải thận trọng cho họ hiểu là các nhiệm vụ này phát sinh từ
phép Rửa Tội . Thứ đến các vị chủ chăn không nên dễ dãi viện cớ trường hợp khẩn
trương hoặc thay thế khẩn cấp, khi thật sự không có hoặc lúc có thể sắp đặt một
chương trình mục vụ hữu hiệu hơn. .
Các nhiệm-vụ và chức-vụ
người tín hữu giáo dân có thể thực thi hơp pháp trong Phụng vụ, trong việc
truyền bá Đức Tin và trong các cơ cấu mục vụ của Giáo Hội, phải được thực thi
phù hơp với ơn gọi đặc biệt của họ, một ơn gọi khác biệt với các thừa-tác-vụ
Thánh. Chính bức Tông Huấn "Truyền bá Phúc âm" của Đức Phaolô VI đã đề cập đến
vấn đề này. Bức Tông Huấn đã đem lại những kết qủa rất lớn lao và tốt đẹp vì đã
cảnh tỉnh được người tín hữu giáo dân để họ tham gia bằng nhiều cách vào đời
sống, và vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội . Bức Tông Huấn đã nhắc nhở rõ ràng
rằng: "Môi trường riêng biệt của các hoạt động tông đồ của người giáo dân là thế
giới mênh mông phức tạp của đời sống chính trị, của các thực tại xã hội và kinh
tế, của đời sống văn hóa, khoa học và nghệ thuật, của đời sống quôc tế, của các
phương tiện truyền thông xã hội. Nó cũng bao gồm các thực tại khác đặc biệt mở
rộng cho việc rao truyền Phúc âm như tình yêu, gia đình, giáo dục trẻ em và
thanh thiếu niên, lao động chức nghíệp và đau khổ. Càng có nhiều giáo dân thấm
nhuần tinh thần Phúc âm, ý thức trách nhiệm đối với các thực tại ấy và dấn thân
một cách tích cực, đủ khả năng trong việc khai triển các thực tại ấy, và đồng
thời ý thức được bổn phận buộc mình phải phát huy tiềm năng Công Giáo của mình
đã từ lâu bị chôn vùi và bóp nghẹt, chúng ta càng thấy tầm mức siêu việt và hiệu
năng trần thế của nó, để được xử dụng trong công cuộc xây dựng nước Thiên Chúa
nghĩa là nước Cứu Rỗi trong Đức Giêsu Kitô".(76)
Trong Thượng Hội Đồng,
các Nghị Phụ cũng đã khảo sát về chức Đọc Sách và chức Cầm Nến. Ngày xưa, trong
Giáo Hội Latinh, hai chức này chỉ là hai giai đoạn thiêng líêng dọn đường đưa
đến các Chức Thánh; nhưng Đức Phaolô VI trong Tự Sắc Ministeria quaedam -
(15-8-1972) đã quyết định có thể truyền riêng hai chức này cho các nam tín hữu
giáo dân.(77)
Các Nghị Phụ đã đề nghị phải nghiên cứu lại Tự Sắc Ministeria quaedam đối chiếu
với việc thi hành của các Giáo Hội địa phương, và nhất là định rõ các tiêu chuẩn
để chọn các ứng cử viên vào các chức vụ ấy."(78)
Để thực hiện điều này,
một ủy ban đặc biệt đã được thành lập. Ủy ban này không những có mục đích đáp
lại ước nguyện các Nghị Phụ, mà nhất là để nghiên cứu một cách sâu rộng các vấn
đề thần học, phụng vụ, pháp lý và mục vụ được nêu ra vì hiện nay quá nhiều
thừa-tác-vụ được trao phó cho giáo dân.
Trong thời gian chờ đợi
công việc nghiên cứu của ủy ban kết thúc để việc thi hành các thừa-tác-vụ trong
Giáo Hội trao cho tín hữu giáo dân cho có trật tự và hữu ích, các Giáo Hội địa
phương phải tôn trọng những nguyên tắc thần học đã dẫn giải ở trên, nhất là sự
khác biệt căn bản giữa chức linh mục thừa hành và chức linh mục cộng đồng, và do
đó, sự khác biệt giữa các thừa-tác-vụ phát sinh từ phép Truyền Chức Thánh và các
thừa-tác-vụ phát sinh từ
phép Rứa Tội và phép Thêm Sức.
Đoàn
Sủng
24.
Chúa Thánh Thần trong lúc giao phó cho Giáo Hội Hiệp Thông các thừa-tác-vụ, thì
đồng thời cũng làm cho Giáo Hội được sung túc với nhiều ân hụê và ân sủng đặc
biệt khác gọi là đoàn sủng. Các ơn này có nhiều hình thức khác nhau vì Chúa
Thánh Thần Đấng ban phát nhứng ơn này là Đấng Tự Do tuyệt đối, và vì lịch sử
Giáo Hội có nhiều nhu cầu khác nhau. Tân ước đã mô tả và xếp hạng các ơn nàv,
như chúng ta thấy có rất nhiều loại khác nhau: "Vì
Thánh Linh hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại ích
lợi. Như người này nhờ Thánh Linh được ơn lợi khẩu, người khác cũng nhờ Thánh
Linh được thông thái, bởi một Thánh Linh đó người này được tín ngưỡng và cũng do
Thánh Linh ấy người kia được ơn trị bệnh; lại người được làm phép lạ, kẻ nói
tiên tri, người phân biệt các tâm kồn,
kẻ nói được nhiều ngoại ngữ, người khác có thể thông dịch
các thứ tiêng" (Cor. 12: 7-10...)
Các đoàn sủng cao siêu
hay giản dị, tất cả đều là ân sủng Chúa Thánh Thần, trực tiếp hay gián tiếp các
ơn này đều đem lại lợi ích cho sự sống Giáo Hội, vì Chúa đã sắp xếp cho các ơn
này được xử dụng để xây dựng Giáo Hội, để bổ ích cho con người và để đáp ứng lại
các nhu cầu của thế giới
Chính trong thời đại
chúng ta, chúng ta cũng thấy đó đây nẩy nở những đoàn sủng nơi người tín hữu
giáo dân cả nam lẫn nữ. Các ơn này được ban cho một người nhất định, nhưng các
người khác cũng được thông phán và rồi được bảo tồn qua thời gian như một gia
sản sống động, quý giá để tạo nên môt liên hệ thiêng liêng đặc biệt giữa nhĩeu
người. Khi nói đến việc tông đồ giáo dân, Công Đồng Vaticanô II đã viết: "Để thể
hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hóa dân Chúa bằng bí tích và tác
vụ. Ngài cũng ban cho tín hữu ơn đặc biệt (1 Cor. 12: 7) để "mỗi người tùy theo
ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như những người quản lý trung tín
các ơn Thiên Chúa" (1 Pt. 4:10) hầu xây dựng Toàn Thân trong Đức ái."
(79)
Các ơn Chúa Thánh Thần
được phát sinh để tạo thêm sinh lực dồi dào, vì thế nó đòi hỏi những ai lãnh
nhận phải thi hành để cho Giáo Hội được lớn lên và phát triển như Công Đồng đã
dậy.(80)
Không phải chỉ những ai
lãnh nhận các đoàn sủng, mà tất cả các chi thể của Giáo Hội đêu phải tỏ lòng
biết ơn. Vì các ơn ấy là một kho tàng kỳ diệu ơn sủng Chúa ban cho Toàn Thân
Chúa Kitô để được thánh hóa và hoạt động tông đồ, với đìêu kiện là nó thật bởi
Chúa Thánh Thần mà đến và được thực thi hoàn toàn do Chúa Thánh Thần thúc đẩy.
Vì thế, chúng ta phải luôn thận trọng phân biệt các đoàn sủng. Thực ra, như các
Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã tuyên bố. "Hoạt động của Chúa Thánh Thần, là
Đấng thổi hơi nơi nào Ngài muốn, thực không phải dễ dàng phân biệt và nhận lãnh
. Chúng ta biết Thiên Chúa tác động trong tất cả các tín hữu và chúng ta cũng ý
thức được các ơn lành do các đoàn sủng, ban cho mỗi người hoặc cho cả cộng đồng
Kitô hữu. Nhưng chúng ta cũng cần ý thức đến sức mạnh của tội lỗi và những cố
gắng của nó nhằm gieo rắc rôi loạn trong đời sống của các tín hữu và của các
cộng đồng".(81)
Vì thế mọi đoàn sủng phải
liên hệ và tuỳ thuộc vào các chủ chăn của Giáo Hội. Công Đồng đã công bố rõ
ràng: "Những vị hữu trách của Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách
chân thực và việc xử dụng hơp lý các ơn ấy; các Ngài có nhiệm vụ thử thách,
không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thần, nhưng để trắc nghiệm và giứ lại những
gì là chính đáng" (82)
để tất cả những đoàn sủng, mặc dầu khác biệt nhưng bổ
túc cho nhau, đều quy về lợi ích chung.(83)
NGƯỜl
TÍN HỨU GlÁO DÂN THAM GlA VÀO ĐỜl SỐNG GlÁO HỘl
25.
Người tín hữu giáo dân tham gia vào sự sống của
Giáo Hội không chỉ bằng cách thực thi các thừa-tác-vụ
hay các đoàn sủng của mình mà còn bằng nhiều cách khác nữa.
Hành động này phải được
thực hiện trước tiên và cần thiết trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội địa
phương là các Giáo phận, là nơi có "sự hiện diện và tác động của Giáo Hội Chúa
Kitô duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền."
(84)
Giáo
Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ
Để tham dự một cách chính
đáng vào đời sống Giáo Hội, các tín hữu giáo dân cần có một cái nhìn sáng suốt
và chính xác về Giáo Hội địa phương đôi với Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội địa
phương không phải là một mảnh của Giáo Hội hoàn vũ, và Giáo Hội hoàn vũ không
phải chỉ là tổng số các Giáo Hội địa phương hơp lại. Nhưng các Giáo Hội địa
phương kết hơp với nhau bằng môt giây linh động, căn bản và trường tồn, vì Giáo
Hội hoàn vũ hiện hữu và biểu lộ trong các Giáo Hội địa phương. Vì thế, Công Đồng
qủa quyết là các Giáo Hội địa phương "được hình thành theo hình ảnh của Giáo Hội
hoàn vũ; chính trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội này mà một Giáo
Hội Công Giáo duy nhất hiện hữu." (85)
Công Đồng còn khích lệ
các tín hữu giáo dân sống linh động trong Giáo Hội địa phương, đồng thời ngày
càng hướng đến Giáo Hội hoàn vũ công giáo. Sắc lệnh Tông Đồ giáo dân tuyên bố.
"Giáo dân phải luôn luôn phát triển ý thức về giáo phận và giáo xứ, vì giáo xứ
là một tế bào của giáo phận. Họ phải luôn mau mắn đáp lại tiếng gọi của chủ chăn
và tuỳ sức tham gia vào những sáng kiến chung của giáo phận . Hơn nữa, để đáp
ứng nhu cầu nơi thành thị cũng như ở thôn quê, họ không chỉ giới hạn sự cộng tác
của mình trong phạm vi giáo xứ hay giáo phận, nhưng cố gắng mở rộng phạm vi tới
các lãnh vực liên xứ, liên giáo phận, quốc gia và quốc tế. Hơn nữa, việc di dân
mỗi ngày một gia tăng, những mối tương giao lại càng mở rộng và việc giao thông
thêm dễ dàng, đã không để một thành phần xã hội nào sống đóng kín cho riêng
mình. Vì thế người giáo dân phải quan tâm đến những nhu cầu của Dân Chúa rải rác
khắp trên thế giới." (86)
Thượng Hội Đồng Giám Mục
1987 theo các ý kiến trên đã yêu cầu nên lập các Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận để
phục vụ khi cần. Thực ra, đây là một hình thức chính để hợp tác và đối thoại và
đồng thời để kiểm thảo trên bình diện giáo phận. Sự tham gia của các tín hữu vào
các Hội Đồng này mở rộng môi trường thăm dò ý kiến và như thế nguyên tắc hợp
tác, trong một vài trường hợp cần hơp tác để quyết định, sẽ được áp dụng một
cách rộng rãi và chắc chắn hơn. (87)
Việc tham gia của người
tín hứu giáo dân vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương
như hội đồng tỉnh đã được Giáo Luật dự định
(88). Việc này làm cho sự thông hiệp được
gia tăng và giúp cho sứ mệnh thuộc Giáo Hội của các Giáo Hội địa phương vừa
trong ranh giới giáo phận cũng như đối với các giáo hội địa phương khác của giáo
tỉnh hay của Hội Đồng Giám Mục.
Các Hội Đồng Giám Mục
cũng được mời gọi nghiên cứu phương thế thực tiễn nhất để phát triển, trên bình
diện quốc gia hoặc bình diện vùng, việc thăm dò ý kiến và việc hơp tác của các
tín hữu giáo dân nam, nữ để mọi người ý thức được các vấn đề chung và để biểu lộ
sự hiệp thông Giáo Hội của mọi hạng người.(89)
Giáo
Xứ
26.
Việc hiệp thông của Giáo Hội mặc dầu có tầm vóc bao quát hoàn vũ, nhưng nó được
diễn tả một cách rõ ràng và gần gũi nhất ở trong Giáo xứ. Giáo xứ là đơn vị địa
phương của Giáo Hội. Nói một cách khác chính là Giáo Hội sống giữa con cái nam
nữ của mình. (90)
Tất cả chúng ta phải dùng
Đức Tin để khám phá bộ mặt thật của Giáo xứ, nghĩa là "mầu nhiệm" của Giáo Hội
hiện diện và tác động trong Giáo xứ. Mặc dầu đôi lúc Giáo xứ không có nhiều
người cũng không đầy đủ phương tiện, có khi Giáo xứ lại tản mác trên những địa
hạt rộng lớn, hay lẩn khuất giữa những khu phố tân thời đông đúc và lộn xộn.
Nhưng Giáo xứ không phải là một cơ cấu, một địa hạt, hay một ngôi nhà, nó là
"một gia đình của Chúa, một cộng đoàn huynh đệ chỉ có một linh hồn"
(91) là "mái gia
đình, đầy tình huynh đệ và mở rộng đón tiếp mọi người"
(92) là "cộng đồng
các tín hữưu.(93)
Tóm lại, Giáo xứ được đặt nền tảng trên một thực tại thần học, vì đó là một cộng
đồng thánh thể.(94)
Nghĩa là một cộng đồng có tư cách cứ hành Bí Tích Thánh Thể, nguồn gốc cấu tạo
nên cộng đồng và đem lại cho cộng đồng sức sống và giầy liên kết bí tích thông
hiệp với toàn thể Giáo Hội. Nói rằng cộng đồng có tư cách cử hành Bí Tích Thánh
Thể là vì Giáo xứ là một cộng đồng đức tin và là một cộng đồng có cơ cấu, nghĩa
là được tạo nên bởi các vị thừa hành có chức Thánh và các Kitô hữu khác dưới
quyền trách nhiêm của một Cha sở vừa đại diện cho Giám Mục Giáo phận
(95) vừa là môí
giây của hàng giáo phẩm liên kết Giáo xứ với toàn Giáo Hội địa phương.
Công việc của Giáo Hội
trong thời đại chúng ta thật mênh mông, một Giáo xứ tự mình không thể cáng đáng
nổi. Vì thế, Giáo Luật đã dự liệu những hình thức hợp tác giữa các Giáo xứ trong
hạt (96)
và yêu cầu Giám Mục giáo phận phải lưu tâm đến tất, cả mọi thành phần tín hữu,
ngay cả nhữngrgười không ở dưới quyền cai quản mục vụ của các Ngài.(97)
Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, đìêu kiện để Giáo Hội có thể hiện diện và
hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc âm vào trong những môi trường sống
phức tạp của con người hôm nav. Một cách tương tự có nhiều cách thế chiếu rọi
ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ trong phạm vi văn hóa, xã hội, giáo dục,
chức nghiệp v.v...không thể lấy Giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm. Nhưng Giáo
xứ hôm nay đang sống một giai đoạn mới đầy hứa hẹn. Đức Phaolô VI, khi mới lên
ngôi Giáo Hoàng đã tuyên bố với hàng giáo sĩ Rôma: "Ta tin tưởng là cơ cấu cổ
kính của giáo xứ có một sứ mệnh khán thiết rất hơp thời; chính Giáo xứ là cộng
đồng tiên khởi của Dân Chúa, chính giáo xứ phải khai trương đời sống phụng vụ và
tập hợp Dân Chúa trong việc cử hành phụng vụ; giáo xứ có bổn phận phải bảo tồn
và nung nấu đức tin của đoàn lũ dân chúng hôm nay; giáo xứ còn là trường dạy dỗ
giáo lý Cứu Rỗi của Đức Kitô; nơi tích cực thực thi các công tác bác ái huynh
đệ".(98)
Các Nghị Phụ đã để tâm
nghiên cứu thực trạng hiện tại của nhiều giáo xứ và đã yêu cầu các giáo xứ này
phải canh tân rộng rãi: "Nhiều giáo xứ ở thành thị cũng như tại các xứ truyền
giáo, đã không thể sinh hoạt một cách kết qủa vì thiếu phưưng tiện vật chất hay
thiếu các vị thừa hành có chức Thánh, hoặc vì điều kiện sinh sống của một số
giáo dân (chắng hạn các người phải lưu đày hay di dân). Để cho các giáo xứ này
trở thành những cộng đồng thật sự giáo quyền địa phương cần:
a) Giúp đỡ để thích nghi
cơ cấu giáo xứ một cách uyển chuyển như Giáo Luật cho phép, nhất là để cho các
giáo dân tham gia vào trọng trách mục vụ.
b) Giúp đỡ các cộng đồng
cơ bản cũng gọi là cộng đồng sống, trong đó người tín hữu có thể truyền thông
cho nhau Lời Chúa cũng như yêu thương, giúp đỡ nhau. Các cộng đồng này diễn tả
trung thực sự hiệp thông trong Giáo Hội và những trung tầm truyền bá Phúc âm
trong sự hiệp thông với các vị chủ chăn." (99)
Để canh tân các giáo xứ và để các giáo xứ sinh hoạt có kết qủa, phải tạo nên
những hình thức hơp tác, ngay cả trong phạm vi thể chế giữa các giáo xứ trong
một địa hạt.
Hoạt
động tông đồ trong Giáo xứ
27.
Giờ đầy chúng ta hãy nhìn rõ sự hiệp thông và sự tham dự của các tín hữu giáo
dân vào sinh hoạt của giáo xứ. Ở đây cũng nên lưu ý các tín hữu giáo dân nam
cũng như nữ, một lời nói rất xác thực đầy ý nghĩa và đầy khích lệ của Công Đồng:
"Trong các cộng đồng trong Giáo Hội, hoạt động của họ cần thiết đến nỗi không có
thì việc tông đồ của các vị chủ chăn lắm lúc không đạt được kết qủa mỹ mãn.
(100)
Đây là lời xác nhận căn
bản phải được hiểu theo ý nghĩa của "khoa giáo-hội-học hiệp thông". Các
thừa-tác-vụ cũng như các đoàn sủng, dù khác biệt nhưng bổ túc cho nhau, nên tất
cả đêu cần thiết cho sự trưởng thành của Giáo Hội .
Các tín hữu giáo dân mỗi
ngày phải xác tín hơn ý nghĩạ dấn thân tông đồ của mình trong giáo xứ. Chính
Công Đồng đã có ý nhấn mạnh điều này: "Giáo xứ là một hình thức tông đồ cộng
đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đưa
họ vào tinh thần đại đồng của Giáo Hội. Giáo dân nên tập thói quen cộng tác chặt
chẽ với các linh mục của mình để hoạt động trong giáo xứ. Họ cũng nên có thói
quen trình bày với cộng đoàn giáo hội những vấn đê riêng của mình hay của cả thế
giới hoặc những vấn đề liên quan tới phần rỗi mọi người, để cùng nhau góp ý kiến
nghiên cứu và giải quyết. Họ cũng phải tuỳ sức mà cố gắng đóng góp vào mọi công
cuộc tông đồ và truyền giáo của gia đình giáo hội địa phương mình."
(101)
Công Đồng nói đến việc
"cùng nhau góp ý kiến" để cứu xét và giải quyết các vấn đề mục vụ, được các Nghị
Phụ nghiên cứu và giải thích rộng rãi theo một cơ cầú tương xứng gọi là Hôi Đồng
Muc Vụ Giáo Xứ. (102)
Trong hiện tình, các tín
hữu giáo dân có thể và phải nổ lực làm sao cho việc hiệp thông giáo hội được nẩy
nở trong lòng giáo xứ có một nghị lực truỳên giáo cho những người chưa tin, và
cho những ai đã tin mà lại bê tha trong đời sống đạo của mình. Nếu giáo xứ là
Giáo Hội ở trong một phạm vi địa dư, thì Giáo Hội sống và sinh hoạt trong lòng
xã hội loài người và liên đới thâm sâu với các ước vọng và thảm kịch của nó.
Nhiều khi trong nhiều môi trường sống, tình cảm xã hội bị giao động bởi vũ lực
và làm cho con người mất hết phẩm giá. Con người bị lạc lỏng mất hết phương
hướng, nhưng trong tâm hồn họ vẫn nuôi ước vọng được cảm nghiệm và tài bồi môl
tương giao đầy tình huynh đệ, và đầy tình người. Ước vọng này, giáo xứ có thể
làm thỏa mãn cho họ, nếu các tín hữu giáo dân hăng hái tham gia để họ đạo trung
thành ơn gọi và sứ mệnh nguyên thủy của mình, đó là trở thành "nơi " hiệp thông
của những kẻ có lòng tin và đồng thời trở nên "dấu chỉ" và là "phương thể" của
ơn gọi mọi người sống hiệp thông. Tóm lại, giáo xứ là căn nhà mở rộng đón tiêp
mọi người và phục vụ mọi người, hay như Đức Gioan XXIII thường nói là "giếng
nước của thôn xóm" để mọi người đến giải khát.
HÌNH
THỨC THAM DỰ CỦA NGƯỜl TÍN HỮU GlÁO DÂN VÀO ĐỜl SÔNG GlÁO HỘl.
28.
Các tín hữu giáo dân hợp với các linh mục, với tu sĩ nam nứ, làm thành Dân Thiên
Chúa duy nhất, một Thân Thể của Đức Kitô.
Là "phần thân thể" của
Giáo Hội, nhưng mỗi Kitô hữu vẫn là "một hữu thể cá biệt không thay thế được".
Ngược lại, điều này cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa của tính chất duy nhất của
mỗi người, vì chính nó là nguồn mạch của sự phong phú muôn mặt của toàn thể Giáo
Hội. Vì thế mà Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô đã gọi mỗi người trong chúng ta
bằng tên riêng của họ, không lẫn lộn người này với người kia. Lời mời gọi của
Chúa: "Các con cũng hãy vào làm việc trong vườn nho của Ta" , lời mời gọi này
dành riêng cho từng người một có nghĩa là: con, chính con, con hãy vào làm việc
trong vườn nho của Thày."
Như thế, mỗi người trong
chúng ta, mặc dù vẫn giữ đặc tính duy nhất của mình, vẫn được trọng dụng để làm
cho sự hiệp thông Giáo Hội tăng trưởng bằng sinh hoạt và sự hiện diện thực tế
của mình, cũng như mỗi người chúng ta nhận lãnh và đồng hóa theo cách thế của
mình, cho sự phong phú của toàn thể Giáo Hội . Đó chính là ý nghĩa "Các Thánh
Thông Công" mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Ích lợi của mọi người là
ích lợi của mỗi người, và ích lợi của mỗi người là ích lợì của mọi người. Thánh
Grêgôriô Cả nói: "Trong Giáo Hội, mỗi người lo nâng đỡ từng người.(103)
HìNH
THỨC THAM GlA CÁ NHÂN CỦA MỖl NGƯỜl
Điều tuyệt đối cần thiết
là mỗi tín hữu giáo dân phải ý thức sâu xa mình là "phần thân thể của giáo hội "
và nhiệm vụ đặc biệt được giao phó cho mình, một nhiệm vụ không thể thay thế
được cũng không thể nhờ ai làm thay, một nhiệm vụ chính mình phải chu toàn vì
lợi ích chung của mọi người. Theo cái nhìn này chúng ta mới hiểu được hết ý
nghĩa của Công Đồng khi quả quyết rằng mỗi người bắt buộc phải làm việc tông đồ:
"việc tông đồ mà mỗl người phải thực hiện bắt nguồn từ mạch sống phong phú đích
thực Kitô giáo" (Jn.4:14). Là căn bản và điều kiện của mọi hoạt động tông đồ
giáo dân, kể cả việc tông đồ giáo dân tập thể và không có gì có thể thay thế
việc đó được! Việc tông đồ cá nhân này rất hiệu quả ở bất cứ nơi nào và thời đại
nào. Hơn nữa, trong một số hoàn cảnh, chỉ có hoạt động tông đồ này mới thích hơp
và mới có thể thực hiện được. Mỗi người giáo dân, dù thuộc thành phần nào đi
nữa, dù không có cơ hội hay khả năng để cộng tác trong các hội đoàn, đều được
kêu gọi, và hơn nữa phải làm việc cá nhân. (104)
Việc tông đồ cá nhân chứa
đựng nhiều kho tàng phong phú cần được khai thác, để người giáo dân thấy mà thêm
lòng hăng say trong việc truyền giáo. Nhờ hình thức làm tông đồ này mà ánh sáng
Phúc âm được tỏa sáng trên các khu vực và môi trường sống, trong đó cuộc sống
hằng ngày của giáo dân phải tiếp xúc. Đây là một sự chiếu giãi ánh sáng Phúc âm
trường kỳ liên lỉ, vì cuộc sống cá nhân phải tương đồng với Đức Tin. Đây cũng là
một sự chiếu giãi Phúc âm quyết liệt thâm sâu. Bởi vì người tín hữu giáo dân
cũng chung một điều kiện sinh sống, cùng chung một việc làm, cùng chia sẻ những
khó khãn, những niềm hy vọng của anh em mình, họ có thể cảm kích tâm hồn người
bên cạnh, các bạn hữu, các đồng nghiệp, và mở rộng cho họ thấy một chân trời
toàn diện, ý nghĩa trọn hảo của cuộc sống. Đó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và
với mọi người.
Hình
thức tham gia tập thể.
29.
Sự hiệp thông Giáo Hội đã sẵn có và đang linh động trong sinh hoạt của mỗi
người, lại mang thêm một ý nghĩa riêng biệt khi các tín hữu giáo dân hơp tác
sinh hoạt chung, nghĩa là khi họ đoàn kết để hoạt động và tham gia với một tinh
thần trách nhiệm vào đời sống và sử mệnh của Giáo Hội .
Trong thời gían sau này,
người ta thấy có rất nhiều hiệp hội giáo dân ra đời và hoạt động rất hăng hái
đắc lực. Trong lịch sử Giáo Hội các hiệp hội tín hữu đã phát sinh và tiếp nối
liên tục cho đến ngày hôm nay như các hội đoàn, các Dòng Ba, các cộng đồng huynh
đệ. Nhưng trong thời đại ngày nay hiện tượng này đã bùng phát một cách đặc biệt,
đây đó phát sinh và lan tràn nhiều hình thức tập thể như: hiệp hội, nhóm, cộng
đồng, phong trào. Nói được đây là một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo
dân. Bởí vì "bên cạnh các nhóm cổ truyền, mọc lên những phong trào và nhóm mới
có khi bắt nguồn từ nhóm cổ truyền, nhưng lại có bộ mặt và mục đích riêng. Nguồn
mạch và ơn Chúa Thánh Thần càng phong phú và muôn mặt trong cơ cấu Giáo Hội, thì
khả năng sáng tạo và tâm hồn đại độ của người giáo dân càng lớn lao."
(105)
Các nhóm giáo dân thường
có vẻ khác biệt nhau trong nhiều khía cạnh, như hình thức bên ngoài, cách sinh
hoạt, phương pháp giáo dục và môi trường hoạt động. Nhưng tất cả đều quy về một
mục đích chung đã thúc đẩy họ, là tham gia một cách có trách nhiệm vào sứ mệnh
của Gíáo Hội, để đem Phúc âm Chúa Kitô đến như là nguồn hy vọng cho con ngườì,
một sinh lực canh tân cho xã hội.
Tín hữu giáo dân qui tụ
thành đoàn thể vì lý do thiêng liêng hay tóng đồ, là do nhiều nguồn mạch thúc
đẩy và cũng để đáp ứng lại nhiều nhu cầu đòi hỏi. Thực ra, bản tính xã hội của
con người và vì con người muốn đạt được hiệu qủa sâu rộng và quyết liệt trong
hành động của mình. Trong thực tế, hiệu lực văn hóa, ngùôn mạch và khích lệ,
cũng là kết qủa và là dấu hiệu biến đổi xã hội đã không thể đạt được do công
việc của từng cá nhân, mà nhờ vào hoạt động của một "chủ thể xã hộí" nghĩa là
của một nhóm, một cộng đoàn, một hiệp hội, một phong trào, đặc biệt trong một xã
hội muôn mặt và phân hóa như trong nhiều nước trên thế giới ngày nay, và trước
vấn đề đã trở thành quá phức tạp và khó khăn. Nhất là trong một thế giới đã bị
tục hóa, nhiều người thấy rằng những sinh hoạt hội đoàn có thể giúp họ sống đời
sống đạo trung thành với các đòi hỏi Phúc âm vàdấn thân vào việc truyền giáo
tông đồ một cách đắc lực.
Ngoài các lý do trên, lý
do sâu xa đòi hỏi các tín hữu giáo dân phải tụ tập nhau thành nhóm, chính là lý
do thần học xây dựng trên khoa giáo-hội-học như Công Đồng Vaticanô II đã công
nhán. Công Đồng nhận thầý trong việc tông đồ tập thể là "một dấu hiệu của sự
hiệp thông và tính cách hơp nhất của Giáo Hội trong Chúa Kitô."
(106)
Đây là "một dấu hiệư"
phải biểu lộ trong môí tương giao "hiệp thông" đôí nội và đôi ngoại của các hội
đoàn hay đoàn thể, nằm trong khuôn khổ rộng rãi của Cộng Đồng Kitô hữu. Chính do
khoa giáo-hội-học mà người tín hứu giáo dân có "quyền" qui tụ thành đoàn thể.
Cũng vì lý do này mà cần phải có "tiêu chuẩn" phân biệt hình thức hiệp hội nào
chân chính, đích thực thuộc về Giáo Hội.
Trước tiên phải công nhán
là người tín hứu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo Hội.
Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một hình thức "nhân
nhượng" của giáo quyền mà là hậu qủa đương nhiên của phép Rửa Tội. Là một bí
tích, Phép Rửa Tội kêu gọi các tín hữu giáo dân phải tích cực tham gia vào sự
hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Công Đồng đã nói rõ ràng về điều này: "Giáo
dân có quyền thành lập các hội đoàn; điều khiển và ghi tên vào các đoàn thể đã
có sẵn. miễn là phải giữ môí liên lạc cần thiết với giáo quyền".(107)
Giáo Luật lại qủa quyết: "Các tín hữu có quyền tự do thiết lập và đlêu khiển các
hội đoàn nhằm mục đích từ thiện hay đạo đức, hoặc nhằm cổ võ ơn gọi của người
Kitô trong thế giới; họ cũng có quyền nhóm họp để cùng theo đuổi đạt tới các mục
đích đó ". (108)
Đây là một quyền tự do
được công nhận và bảo đảm do giáo quyền, nhưng phải luôn luôn thi hành trong sự
hiệp thông với Giáo Hội. Do đó, quyền lợi của người tín hữu giáo dân được tự do
hội họp là một quyền lợi nôí kết mật thiết với đời sống chung và sứ mệnh chính
của Giáo Hội.
Tiêu
chuẩn để nhìn nhận tính cách Giáo Hội đối với các Hiệp Hội giáo dân
30.
Cần phải có các tiêu chuẩn rõ ràng và chính xác để phân biệt và nhìn nhận các
hội đoàn giáo dân, có thể gọi là "tiêu chuẩn có tính cách giáo hội". Đó không
phải là để hạn chế quyền tự do hiệp hội mà chính là để cho các đoàn thể ấy thực
hiện được sự hiệp thông và sứ mệnh của Giáo Hội. Những tiêu chuẩn nền tảng để
phân biệt các Hội đoàn giáo dân trong Giáo Hội là những tiêu chuẩn sau đây:
***
Ơn gọi nên Thánh của người Kitô-hữu, đó là mục đích
tiên quyết. Điều này phải được biểu lô trong ơn Chúa
Thánh Thần phát sinh nơi người tín hữu (109)
để họ lớn lên cho đên tuổi trưởng thành sung
mãn của đời sống đạo và đến mức trọn lành của đức ái.(110)
Vì thế tất cả các hội
đoàn công giáo được kêu gọi để ngày càng trở nên phương tiện thánh hóa trong
Giáo Hội. Một phương tiện giúp đỡ và khích lệ "sự hiệp nhất thâm sâu giữa cuộc
sống thường nhật với Đức Tin của các hội viên."
***
Sự dấn thân tuyên xưng đức tin công
giáo trong việc nhận lãnh và
rao truyền chân lý về Chúa Kitô, về Giáo Hội, và về con người, đúng theo giáo
huấn của Giáo Hội là Thầy dạy chân chính. Tất cả các hiệp hội của người tín hữu
giáo dân phải trở nên "một nơi rao truyền và thông đạt Đức Tin và giáo dục sống
Đức Tin này trọn vẹn." (111)
***
Phải chứng minh một đời sống hiệp nhất
kiên cường vưng chắc, trong
tình nghĩa phụ tử đối với Đức Giáo Hoàng, trung tâm muôn thuở và hữu hình của sự
hiệp nhất trong Giáo Hội hoàn vũ (112)
đối với Giám Mục "Nguyên lý hiển hiện và nền móng của sự hơp nhất"
(113) của Giáo
Hội địa phương và "tất cả các hình thức tông đồ khác của Giáo Hội"
(114)
Sự hiệp thông với Đức
Giáo Hoàng và với Giám Mục phải tỏ ra bằng cách sẵn sàng, ngay thẳng nhận lãnh
các giáo dân tín lý và chỉ giáo mục vụ của các Ngài. Hiệp thông với Giáo Hội còn
đòi hỏi phải chấp nhận hình thức đa diện hợp pháp của các tín hữu giáo dân trong
Giáo Hội và đồng thời sẵn sàng hơp tác chung với nhau.
***
Thỏa thuận và cộng tác để
thực hiện sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, là
"rao truyền Phúc âm và Thánh hoá nhân loại, và đào tạo cho con người một lương
tâm Công Giáo đích thực để họ có thể đem tinh thần Phúc âm thấm nhuần mọi cộng
đồng cũng như mọi lãnh vực của đời sống".
(115)
Theo viễn tượng này, tất
cả mọi hình thức hiệp hội của người tín hữu giáo dân phải có một tinh thần
truyền giáo hăng say để trở thành dụng cụ ngày càng sinh động cho việc truyền bá
Phúc âm.
***
Dấn thân hiện diện trong xã hội loài
người để phục vụ nhân phẩm toàn
diện con người, đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.
Như thế, các hội đoàn
giáo dần phải trở nên những trào lưu mạnh mẽ thu hút nhỉều người và lỉên đới để
tạo nên những điều kìẹn công bình và huynh đệ hơn cho đời sống xã hội.
Những tiêu chuẩn nền tảng
vưa trình bày trên đã được chứng mình rõ ràng trong nhứng kết qủa cụ thể tốt đẹp
trong đời sống và hoạt động của các hình thức hiệp hội, chẳng hạn việc ưa thích
cầu nguyện, suy ngắm, đời sống phụng vu và bí tích; việc tổ chức để giúp đỡ
thanh thíêu niên ý thức ơn gọi hôn nhân, ơn goỉ linh mục, ơn gọỉ đơi sống tận
híên, sẵn sàng tham gia vào các chương trình và hoạt động của Giáo Hộỉ trên bình
dỉện quốc gia và quổc tế; dần thân vao viêc day giáo lý và trao đổi khả năng sư
phạm để đào tạo ngươỉ Kitô hữu; tìm cách thực hiện sự có mặt của ngườỉ Kitô hữu
trong các lãnh vưc xã hội; thanh lập và làm linh động các cống tác từ thiện, văn
hóa và thiêng liêng tạo tinh thần vô vị lợi và nghèo khó Phúc âm để thực hiện
lòng bác ái đại độ với mọi người, giúp kẻ đa chíu phép Rửa Tội nhưng lại "bê
tha" trở lại đơi sống Kitô hưu.
Phận
sự của vị Chủ Chăn để thực hiện vỉệc hiệp thông
31.
Trong trường hợp các hiệp hội gặp phải khó khăn và có nhiều hình thức mới xuất
hiện, các vi Chủ Chăn trong Giáo Hôi phải dung quyền bính của mình, vì lợi ích
của Giáo Hội, và cũng vì lợi ích của chính các hội đoàn giáo dân, các Ngài phải
phán đoán, phân bỉệt để hướng dần nhất là khích lệ cho các hiệp hội ấy trưởng
thành trong sự hiệp thông và trong sứ mệnh của Giáo Hộỉ.
Điều thuận lợi nên làm là
các hội đoàn và các phong trào mới khi đã phổ biến rộng rãi trong nước và ngpài
nước phải được Giáo quyền có thầm quyền chính thức công nhận. Chính Công Đồng đã
qủa quyết về điểm này như sau: "Có nhiều hình thức liên hệ giữa việc tông đồ
giáo dân với hàng Giáo phẩm, tuỳ theo hình thức và mục đích của mỗi hoạt động...
Một số tổ chức tông đồ giáo dân, dưới hình thức này hay hình thức khác, đã được
Giáo quyền công khai chấp nhận. Ngoài ra vì lợi ích chung của Giáo Hội, Giáo
quyền có thể lựa chọn và cổ võ cách đặt biệt một vài tổ chức trong số những tổ
chức hay hiệp hội tông đồ sẵn có, trực tiếp nhằm mục đích thiêng hêng, và Giáo
quyền cũng nhận trách nhiệm đặc biệt đối với những tổ chức ấy"
(116)
Trong những hình thức
tông đồ giáo dân có mối liên hệ đặc biệt với Hàng Giáo phẩm, các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã kê rõ các phong trào hay hội đoàn Công Giáo Tiến Hành, trong đó
"người giáo dân tự nguyện tổ chức có cơ cấu và cố định theo ơn soi sáng của
Chtía Thánh Thần, trong sự hiệp thông với các Giám Mục và linh mục để có thể
hoạt động một cách hăng say và trung thành theo đường hướng ơn gọi của riêng
mình, để mở rộng Cộng Đồng Kitô hữu, và để thực hiện các chương trình mục vụ,
cũng như để tất cả các môi trường sống của con người được thấm nhuần tinh thần
Phúc âm." (117)
Hội Đồng Giáo Hoàng phụ
trách giáo dân có bổn phận phải soạn thảo một danh sách các hiệp hội được Tòa
Thánh chính thức chầp nhận và phôí hợp với Văn Phòng Hiệp Nhất Kitô-hữu, để định
rõ điều kiện chấp nhận hay không thể chấp nhận cho một hiệp-hội-liên-tôn gồm
những người Công Giáo và một thiểu số không Công Giáo.
(118)
Tất cả chúng ta, Chủ Chăn
cũng như tín hữu phải tìm mọi cách để duy trì giữa các đoàn thể giáo dân mối
giây huynh đệ để mọi người mến chuộng, yêu thương và hơp tác với nhau. Chỉ có
cách này thì kho tàng ơn Chúa ban cho chúng ta là các ân huệ, các đoàn sủng, mởi
có thể đóng góp một cách dồi dào và trật tự vào việc xây dựng ngôi nhà chung của
chúng ta: "Để xây dựng chắc chắn ngôi nhà chung, chúng ta phải khưởc từ óc chia
rẽ bè phái; ngược lại chúng ta phải tôn trọng và sẵn sàng cộng tác với nhau bằng
môt tâm hồn nhẫn nại, sáng suốt và sẵn sàng hy sinh".
(119)
Một lần nứa chúng ta hãy
đọc lại lời của Chúa Giêsu: "Tá là Cây Nho
chúng con là cành" (Jn. 15.5), để cảm tạ
Chúa ban cho chúng ta ơn hiệp thông trong Giáo Hội; đó là tia sáng chiếu vào
thời gỉan, tia sáng của sự thông hiệp tình yêu đời đời không thể diễn tả được
của Thiên Chúa Ba Ngôi. Y thức được ơn Chúa thì phải ý thức trách nhiệm: Bởi vì
đó là một ơn, như nén bạc trong Phúc âm, nó đòi hỏi phải biến thành sự sống
thông hiệp ngày mỗi lớn lên.
Nhận lãnh trách nhiệm về
ơn thông hiệp, trước tiên có nghĩa là phấn đấu để thắng chia rẽ và đôí lập;
chính hai cám dỗ này đe dọa sự sống và sự dấn thân làm tông đồ của các người
Kitô-hữu. Thánh Phaolô đã đau đớn kêu lên: "Ta nghe mỗi người trong anh em nói:
Tôi thuộc về Phaolô, và tôi thuộc về Apolló, còn tôi thuộc về Cepha và tôi thuộc
về Chúa Kitô; thế thì Chúa Kitô bị chia năm xẻ bảy sao?"
(Cor. 1:12-13). Lời này vẫn còn vang vọng như một
trách móc trước cảnh "nhiệm thể Chúa Kitô
bị xâu xé." Ngược lại chúng ta hãy lắng nghe dư âm của lời mời gọi cũng của
Thánh Phaolô sau đây: "Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô,
tôi nài xin toàn thể anh em hãy nhất tâm đừng chia rẽ, nhưng hãy hợp nhất và
đoàn kết với nhau trong tinh thần, và trong tư tưởng" (1 Cor.1:10)
Như thế sự sống thông
hiệp của Giáo Hội trở nên một dấu chỉ cho thế giới và là một hấp lực thu hút mọi
người tới niềm tin vào Chúa Kitô: "Lạy Cha, như Cha ở trong
Con và Con Ở trong Cha, xin cho họ trở thành một
trong chúng ta để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Jn. 17.21).
Như
thế sự hiệp thông hướng về truyền giáo và chính sự hiệp thông là truyền giáo.
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm

|