|
TÔNG HUẤN
CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II
Về ƠN GỌI và SỨ
MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần
Thế
Bản dịch của
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Chương III
THẦY ĐÃ SAI
CHÚNG CON RA ĐI VÀ MANG LẠI KẾT QUẢ
Tinh thần đồng trách
nhiệm của Tín hữu giáo dân trong Giáo hội Truyền giáo
Sự Thông Hiệp Truyền Giáo
32.
Chúng ta hãy lấy lại hình ảnh Thánh Kinh của cây nho và cành nho. Nó giúp chúng
ta nhận xét về sự phong phú và sức sống một cách dễ dàng tự nhiên. Các cành cây
dính liền với thân cây và sống do nhựa sống của thân cây, dĩ nhiên phải sinh hoa
kết quả: "Ta là cây nho, chúng con là cành. Cành nào ở trong Ta và Ta Ở trong
nó, nó sẽ trổ sinh nhiều hoa trái" (Jn.
15.5). Trổ sinh hoa trái là một đòi hỏi
căn bản của đời sống Kitô hữu trong Giáo Hội. Ai không trổ sinh hoa trái thì
không Ở trong sự hiệp thông: "Bất cứ cành
nào ở trong Ta mà không trổ sinh hoa trái, (Cha Ta) sế chặt nó đi" (Jn. 15.2).
Thông hiệp với Chúa
Giêsu, nguồn hiệp thông giữa các Kitô-hũu với nhau, là một điều kiện không thể
không có để trổ sinh hoa trái: "Ngoài Ta, chúng con không thể làm được gì,, (Jn.
15.5). Và sự hiệp thông với tha nhân là hoa trái đẹp nhất của cành nho. Đó là ơn
của Đức Kitô và của Thánh Thần Ngài.
Sự thông hiệp phát sinh
hơp nhất và bản chất nó là hiệp thông truyền giáo. Vì Chúa Giẽsu đã nói với môn
đệ Ngài rằng: "Không phải các con chọn Thầy, chính Thầy đã
tuyển chọn các con và sai các con đi mang lại kêt quả
và để kết qủa âý tồn tại" (Jn.15.16).
Sự hiệp thông và việc
truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đã trở nên như
nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và
truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu
gọi và hiệp nhất Giáo Hội và sai Giáo Hội đi rao giảng Phúc âm "khắp trên mặt
đất" (Acts. 1:8). Còn Giáo Hội, Giáo Hội biết sự hiệp thông là ơn Chúa, nó có sứ
mệnh đôí với mọi người. Như thế Giáo Hội cam thấy mắc nợ đã nhận lãnh từ Chúa
Thánh Thần, Đấng đã ban tràn đức ái của Chúa Cha trong lòng các kẻ tin tưởng, là
sức mạnh nôí kết bên trong và cũng là sức mạnh bành trướng bên ngoài. Sứ mệnh
của Giáo Hội nằm ngay trong bản tính của mình như Chúa Kitô đã muốn: đó là sứ
mệnh phải trở nên "dấu chỉ và phương thế... làm cho toàn thể nhân loại được hợp
nhất." (120)
Sứ mệnh này có mục đích làm cho mọi người biết và sống sự hiệp thông "mới" ; sự
hiệp thông đí vào lịch sử thế giới nhờ con Thiên Chúa làm người. Chính theo
nghĩa này, Thánh Gioan Thánh Sử đã minh định một cách quyết liệt cứu cánh "hạnh
phúc" mà sứ mệnh Giáo Hội phải đạt tới: "Điều mà chúng tôi đã chiêm ngường, đã
nghe thấy, chúng tôi đã loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp thông
với chúng tôi. Và chúng tôi, chúng tôi được hiệp thông với Chúa Cha và với Con
Ngài là Đức Giêsu Kitô" (1 Jn. 1:3).
Cũng trong sứ mệnh của
Giáo Hội, Chúa đã giao phó cho người tín hữu giáo dân, trong sự thông hiệp tất
cả các thành phần của Dân Chúa, một phần trách nhiệm rất lớn. Các Nghị Phụ Công
Đồng Vaticanô II đã ý thức rõ ràng về việc này: "Các chủ chăn biết rõ giáo dân
giúp ích rất nhiều cho toàn thể Giáo Hội. Các Ngài biết rằng Chúa Kitô không đặt
các Ngài lên để một mình lãnh lấy tất cả sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội đôí với thế
giới, nhưng nhiệm vụ cao cả của các Ngài là hướng dẫn tín hữu và nhận biết các
phận sự và ơn sủng riêng của họ, để mọi người cùng góp phần vào công cuộc chung,
tùy theo cách thức của họ trong sự hơp nhất ".
(121) Tiêp theo trong Thượng Hội Đồng Giám
Mục, sự xác tín của các Ngài về vấn đề này được nhắc lại một cách rõ ràng và
mạnh mẽ hơn nữa.
RAO
TRUYỀN PHÚC ÂM
33.
Các tín hữu giáo dân, vì thuộc thành phần của Giáo Hội nên được mời gọi và nhận
lãnh sứ mệnh rao truyền Phúc âm: Họ đã được chuẩn bị để dấn thân chu toàn hoạt
động này bằng các Bí Tích của đời sống Kitô hữu và ơn Chúa Thánh Thần.
Một văn bản rõ ràng và
súc tích của Công Đồng Vaticanô II nói: "Giáo dân góp phần tích cực vào đời sống
và hoạt động của Giáo Hội, nhờ được tham dự vào chức vụ của Chúa Kitô là tư tế,
tiên tri và là vua... Được nuôi dưỡng nhờ tham dự vào đời sống phụng vụ của cộng
đoàn, chính họ nhiệt thành góp phần vào những hoạt động tông đồ của chính cộng
đoàn đó; họ đem những người có lẽ đang xa lạc trở về với Giáo Hội. Họ cộng tác
đắc lực vào việc rao truyền Lời Chúa, nhất là bằng việc dạy giáo lý. Họ đem khả
năng của mình làm cho việc coi sóc các hnh hồn, và cả việc quản trị tài sản của
Gìáo Hội sinh hiệu qủa hơn".(122)
Tất cả sứ mệnh của Giáo
Hội quy tụ và biểu dương trong việc rao truyền Phúc âm. Con đường lịch sứ của
Giáo Hội được ơn Chúa che chở và đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô: "Chúng
con hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người". (Mk.16. 15) "Và
Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thê" (Mt. 28.20). Đức Phaolô VI lại
viết: "Rao truyền Phúc âm, đó là ân sủng và là lời mời gọi riêng của Giáo Hội,
là bản tính sâu xa của Giáo Hội." (123)
Nhờ rao giảng Phúc âm,
Giáo Hội được xây dựng và trở thành cộng đồng Đức Tin, nói rõ hơn là trở thành
cộng đồng của một Đức tin bằng Lời Chúa, một Đức Tin cử hành trong các Bí Tích
và sống trong Đức ái là linh hồn của đời sống luân lý Kitô-hữu. Vì "tin mừng"
thức tỉnh con người trong cuộc sống, sự ăn năn trở lại và kết hơp với Đức Giêsu
Kitô là Đấng Cứu Thế và Chúa tể; chuẩn bị cho con người nhận lãnh phép Rửa Tội,
phép Thánh Thể và trở nên vững chắc khi quyết tâm thể hiện một đời sống mới theo
ơn soi dẫn của Chúa Thánh Thần.
Mệnh lệnh của Chúa "Chúng
con hãy đi và rao giảng Phúc âm", chắc chắn vẫn luôn giữ giá trị linh động và
cần phải được thi hành. Tình thế hiện tại của thế giới cũng như của nhiều địa
hạt trong Giáo Hội, càng đòi hỏi lời Đức Kitô phải được tuần theo một cách sẵn
sàng, mau chóng, và đại độ Mỗi người được gọi nêng và không ai được quyền từ
chối trả lời : "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc
âm" (1 Cor. 9:16).
Đã
đến giờ phải đổi mới việc rao giảng Phúc âm
34.
Có những nước, những quốc gia xưa kia hoàn toàn Công giáo và đời sống Kitô hữu
rất nhiệt thành, từng nẩy sinh những cộng đồng Đức Tin sống động và linh hoạt;
nhưng ngày nay lại bị thử thách trầm trọng và có khi lại bị biến đổi tận gốc rễ
vì các học thuyết vô thần, tình trạng tục hóa và vô đạo. Nhất là những nước,
những quốc gia được gọi là Nhất Thế Giới, nơi đó con người chỉ biết hưởng thụ và
chạy đua tiêu thụ, mặc dầu bên cạnh họ còn có những tình trạng nghèo đói và khốn
cùng ghê gớm; họ sống một đời sống "như thể không có Thiên Chúa". Trước tình
trạng thờ ơ đôi với tôn giáo và coi rẻ Thiên Chúa một cách trầm trọng của cuộc
sống, còn đáng lo ngại và nguy hại hơn cả học thuyết vô thần. Đức Tin Công Giáo
mặc dầu còn được giứ lại trong những nghi lễ cổ truyền, cũng đang từ từ bị loại
bỏ khỏi những giờ phút rất nghiêm trọng của đời sống như lúc sinh sản, khi gặp
đau khổ, và giờ phút lìa đời. Do đó, có những vấn đề và những bí ẩn ghê gớm chưa
giải đáp được và con người ngày nay cảm thấy thất vọng ê chề, hoặc có khi bị cám
dỗ tiêu diệt sự sống đã tạo nên.
Ngược lại, tại nhiều
nước, nhiều quốc gia tuy còn bảo tồn được truyền thống đạo đức sống động và tâm
tình Công giáo, nhưng gia sản luân lý thiêng liêng ấy cũng đang bị nguy cơ biên
dần vì nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là ảnh hưởng phong trào tục hóa và các giáo
phái đang lan tràn khắp nơi. Chỉ có cách đổi mới việc truyền bá Phúc âm mới bảo
đảm được Đức Tin trưởng thành, sáng suốt và sâu xa, có khả năng làm cho những
truyền thống ấy trở thành một sức mạnh tự do thật.
Chắc chắn rằng việc tái
lập cho xã hội loài người một cơ cấu căn bản Công Giáo là việc làm cấp bách.
Nhưng đìêu kiện tiên quyết, là phải tái lập cơ cấu căn bản của cộng đồng Giáo
Hội đang sống trong các nước, các quốc gia ấy.
Ngày nay, người tín hữu
giáo dân nhờ tham gia vào chức vụ rao giảng của Chúa Kitô, nên được dấn thân đầy
đủ vào công việc này của Giáo Hội. Đặc biệt họ phải chứng tỏ cho mọi người biết
là chỉ có Đức Tin mới có câu trả lời đáng giá cho các ván đề, cho niềm hy vọng
do cuộc sống tạo nên cho mọi người và cho xã hội, một câu trả lời mà mọi người
nhiều hay ít đang thoáng thấy xa xa và chờ đợi. Điều này có thể thực hiện được
nếu người tín hữu giáo dân thắng vượt tình trạng chia rẽ giữa Phúc âm với đời
sống, nghĩa là biết tạo nên trong các hoạt động thường ngày, trong gia đình, nơi
sở làm, trong xã hội, sự hiệp nhất theo tinh thần Phúc âm và nhờ sức mạnh của
Phúc âm để thực hiện.
Một lần nữa Ta lập lại
với tất cả mọi người đang sống thời đại hôm nay, tiếng kêu cầu tha thiết khi Ta
khai mạc đời phục vụ các linh hồn của Ta: "Các con đừng sợ, các con hãy mở, hãy
mở rộng cửa cho Đức Kitô! Ngài là Đáng cứu độ quyền năng, các con hãy mở rộng
cho Ngài biên giới quốc gia, các hệ thống kinh tế chính trị, các lãnh vực mênh
mông của văn hóa, của văn minh, của phát triển. Các con đừng sợi Đức Kitô biết
rõ "tất cả những gì đang ầp ủ trong lòng người". Chỉ có Ngài mới biết được mà
thôi. Hôm nay, nhiều lần con người không biết được những gì họ đang mang trong
mình, họ đang ấp ủ tận đáy lòng, trong thâm cung của linh hồn mình. Vì thế nên
họ không rõ được ý nghĩa cuộc sống trần gian. Họ bị ám ảnh nghi ngờ rồi đâm ra
thất vọng. Ta yêu cầu các con, Ta van nài các con với tất cả lòng khiêm nhượng
và cậy trông, các con hãy cho phép Đức Kitô nói với các con. Chỉ có Ngài mới có
lời ban sự sống. Phải, chỉ có Ngài mới có lời hằng sống."
(124)
Mở rộng cửa cho Chúa
Kitô, đón rước Ngài vào cuộc sống riêng tư của mình, làm như vậy con người không
bị một điều gì đe dọa. Trái lại, đây là con đường độc lộ phải đi qua nếu chúng
ta muốn nhìn nhận tất cả sự thực về con người và tôn vinh các giá trị của nó.
Người tín hữu giáo dân
biết đem Phúc âm vào đời sống nghĩa vụ hằng ngày đó là chứng tá đẹp nhất và hữu
hiệu nhất, để cho mọi người thấy rằng không phải sợ hãi, mà là tìm kiếm Đức
Kitô, để bám chặt lấy Ngài, là yếu tố quyết định cho con người được sống và
trưởng thành, và để tạo nên những mẫu sống phù hợp với phẩm giá con người.
Con người được Thiên Chúa
yêu thương! Đó là điều rất đơn giản và cũng là rất táo bạo mà Giáo Hội phải loan
truyền cho mọi người. Lời nói và đời sống của mỗi người Kitô hữu phải là dư âm
của sứ điệp này: Thiên Chúa yêu thương con. Đức Kitô đã đến vì con, vì con mà
Đức Kitô trở nên "Đường, Sự Thật và Sự Sống" (Jn. 14:6).
Việc rao giảng Phúc âm
không phải chỉ cho từng người, mà cho toàn thể các dân tộc tùy theo tình trạng,
cảnh vực và văn hóa riêng của họ. Mục đích là cố ý tạo nên sự thông hiệp Giáo
Hội trưởng thành, nghĩa là sống Đức Tin, là theo sát con người của Chúa Kitô và
Phúc âm của Ngài, là gặp gỡ và hiệp thông với Ngài nhờ các Bí Tích, là sống Bác
ái và phục vụ. Đó là ý nghĩa nguyên thủy của Đức Tin.
Vai trò của tín hữu giáo
dân là tạo nên những cộng đồng Giáo Hội, không phải chỉ bằng cách tích cực tham
gia với tinh thần trách nhiệm vào đời sống cộng đồng, một việc chúng ta không
thể thay thế được, mà còn bằng cách hăng say làm việc tông đồ cho nhứng người
chưa có Đức Tin hoặc không sống theo Đức Tin đã nhán lãnh trong phép Rửa Tội.
Đối với các thế hệ trẻ, người tín hữu giáo dân còn
phải đóng góp, một sự đóng góp quý giá cần thiết hơn
bao giờ hết, là cố gắng dạy giáo lý cho họ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tỏ
lòng biết ơn công việc của các người dạy giáo lý, nhìn nhận "vai trò của họ rất
có giá trị trong việc làm cho các cộng đồng Giáo Hội thêm sức sống"
(125) Các bậc phụ
huynh Công Giáo nhờ phép Hôn Phối đã trở nên những người dạy giáo lý trước hết
cho con cái không ai thay thế được. Nhưng tất cả chúng ta đồng thời cũng phải
xác tín là mọi người đã chịu phép Rửa Tội đều có "quyền lợi" phải được dạy dỗ,
được giáo dục, và được theo dõi trong Đức Tin và trong đời sống Công Giáo.
Chúng
con hãy đi khắp thế giới
35.
Trong khi nhận xét và kinh nghiệm tình trạng khẩn cấp thúc đẩy phải rao giảng
Phúc âm theo một đường lôí mới, Giáo Hội không thể tránh né sứ mệnh thường trực
của mình là đem Phúc âm đên cho từng triệu
triệu ngườí cả nam lẫn nữ chưa nhận biết Chúa Kitô, Đâng Cứu Rỗi con người. Đó
là công việc đặc biệt truyền giáo mà Đức Kitô
đã trao phó và còn trao phó mỗi ngày cho Giáo Hội.
Công việc của các tín hữu
giáo dân, mặc dầu luôn luôn đã đóng góp trong phạm vi này, nhưng ở giai đoạn này
lại cần thiết và quý giá hơn. Thực ra, mệnh lệnh của Chúa "Chúng con hãy đi khắp
thế giới" - vẫn có những giáo dân đại độ hưởng ứng; họ sẵn sàng từ bỏ nơi sinh
sống của mình, bỏ công việc, bỏ làng xóm quê hương để lao mình vào các xứ truyền
giáo, ít nữa trong một thời gian hạn định - cũng có những cặp vợ chồng Công Giáo
theo gương ông bà Aquila và Priscilla xưa (Acts. 18, Rom. 16.3) đã nêu gương
chứng nhân tình yêu say sưa đôí với Chúa Kitô và Giáo Hội bằng đời sống hy sinh
trong các xứ truyền giáo. Ngoài ra còn có sự hiện diện truyền giáo đích thực
khác do những người Kitô hữu vì nhiều lý do phải sống làm chứng Đức Tin trong
các nước hay những nơi Giáo Hội chưa được thiết lập.
Nhưng ngày nay vấn đề
truyền giáo của Giáo Hội đã trở nên quá rộng lớn và khẩn thiết, vì thế chỉ khi
nào tất cả mọi thành phần Giáo Hội từng cá nhân hay từng nhóm đồng liên đới chịu
trách nhiệm trong việc truyền giáo, mới có hy vọng đem lại kết qủa mỹ mãn.
Lời mời gọi của Công Đồng
Vaticanô II kêu cầu các Giáo Hội địa phương vẫn còn nguyên giá trị: "Vì Giáo Hội
địa phương có nhiệm vụ phản ảnh Giáo Hội hoàn vũ một cách hết sức hoàn hảo, nên
phải thành thực nhận định mình cũng được sai tới những kẻ chưa tin Chúa Kitô" .
(126)
Giáo Hội hôm nay phải
tiến tới trong việc rao truyền Phúc âm, phải bước vào một giai đoạn lịch sử mới
của tiềm thức truyền giáo. Trong một thế giới không còn khoảng cách và ngày càng
trở nên nhỏ bé, các cộng đồng Giáo Hội càng phải hơp nhất với nhau và cùng nhau
dấn thân trong cùng một sứ mệnh độc nhất là rao truyền và sống Phúc âm. Các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng tuyên bố. "Các Giáo Hội trẻ cần sức mạnh của các Giáo Hội
trưởng thành, và đồng thời các Giáo Hội này cũng cần chứng tá và sự thúc đẩy của
các Giáo Hội trẻ; như thế Giáo Hội này hưởng nhờ kho tàng của các Giáo Hội kia".(127)
Trong giai đoạn mới này,
việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương cũng như đào tạo hàng giáo dân trưởng thành
và có tinh thần trách nhiệm, đôí với các Giáo Hội trẻ, là môt yếu tố cơ bản và
cần thiết cho việc thiết lập Giáo Hội. (128)
Và như thế các cộng đồng đã nhận được Phúc
âm lại rao truyền cho các nước khác trên thế giới để đáp lại sứ mệnh rao giảng
Tin Mừng của Chúa Kitô và làm chứng nhân.
Các tín hữu giáo dân nhờ
gương sáng và hoạt động của mình có thể cải thiện được những môí tương giao với
các tín đồ thuộc các tôn giáo bạn như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã lưu ý:
"Ngày nay Giáo Hội hoạt động khắp nơi giứa những người theo tôn giáo khác
nhau... Tất cả các tín hữu, nhất là giáo dân đang sống giữa các dân tộc theo tôn
giáo khác hoặc ở trong nước mình cư ngụ, các giáo dân này phải trở nên chứng
nhân cho Chúa và Giáo Hội đôí với người dân bản xứ một cách thích nghi với hoàn
cảnh sống riêng biệt. Việc đôí thoại giữa các tôn giáo rất quan trọng vì nhờ đó
họ biết yêu thương và kính trọng nhau, hay ít nữa xóa bỏ xoa dịu các thiên kiến
giữa các tín đồ các đạo, và cổ võ được sự hiệp nhất và tình bằng hứu giũa các
dân tộc (129)
Muốn Phúc-âm-hóa các dân
tộc, cần phải có các tông đồ. Muốn thế, tất cả chúng ta, bắt nguồn từ các gia
đình công giáo, chúng ta phải ý thức trách nhiệm của chúng ta là tìm cách làm
nẩy nở và chín mùi ơn kêu gọi, đặc biệt ơn thừa sai, bằng lời cầu nguyện, theo
lời Chúa Giêsu dạy: "Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít. Chúng con hãy cầu xin
Chủ Nhà sai thêm thợ gặt" (Mt. 9:37-38).
SỐNG
PHÚC ÂM BẰNG CÁCH PHỤC VỤ CON NGUỜl VÀ XÃ HỘl
36.
Giáo Hội vừa nhận lãnh vừa loan truyền Phúc âm trong sức mạnh của Chúa Thánh
Thần; như thế Giáo Hội trở nên một cộng đồng được phúc-âm-hóa, đồng thời
phúc-âm-hóa kẻ khác, và trở nên đầy tớ của mọi người. Trong Giáo Hội các tín hữu
giáo dân tham gia vào sứ mệnh phục vụ con người và xã hội. Cùng đích cao cả của
Giáo Hội là Nước Thiên Chúa; Giáo Hội là "hạt giống và là khởi điểm của Nước
Thiên Chúa trên mặt đất",(130)
vì thế Giáo Hội hoàn toàn tận hiến để làm vinh danh Chúa Cha. Nhưng Nước Chúa là
nguồn mạch giải phóng toàn diện và cứu độ của mọi người. Giáo Hội tiến bước với
con người và sống với lịch sử con người trong một tình liên đới toàn diện và
thân mật.
Giáo Hội đã nhận lãnh
trọng trách biểu lộ cho thế giới Mầu Nhiệm Thiên Chúa sáng chói trong Đức Giêsu
Kitô, thì đồng thời Giáo Hội cũng mặc khải con người cho con người, dạy họ biết
ý nghĩa cuộc sống, và bày tỏ cho con người biết chân lý toàn diện và về vận mạng
của Giáo Hội.(131)
Theo viễn tượng này, vì có sứ mạng rao giảng Phúc âm, nên Giáo Hội được gọi để
phục vụ con người. Việc phục vụ này bắt nguồn từ sự kiện lạ lùng và chấn động là
"Con Thiên Chúa đã nhập thể và kết hợp với mọi người ".
(132) Vì thế con
người "là con đường thứ nhất Giáo Hội phải theo để hoàn thành sứ mệnh của mình:
Là con đường căn bản thứ nhất của Giáo Hội, đã được Chúa Kitô vạch ra, con đường
xuyên qua Mầu Nhiệm Nhập Thể Yà cứu chuộc."
(133)
Theo ý nghĩa này, mà Công
Đồng Vaticanô II đã đề cập đên nhiều lần trong nhiều văn kiện một cách rõ ràng
và mạnh mẽ. Chúng ta hãy đọc lại bản văn đặc biệt ý nghĩa của Hiên Chế Vui Mừng
và Hy Vọng: "Trong khi theo đuổi mục đích cứu rỗi cá biệt của mình, Giáo Hội
không phải chỉ truyền thông sự sống Thiên Chúa cho con người, nhưng còn chiêú
giãi ánh sáng đời sống ấy trên toàn thế giới. Giáo Hội làm công việc này trước
hết bằng cách chữa trị và nâng cao phẩm giá nhân vị, củng cố tình đoàn kết xã
hội nhân loạì, và thấm nhuần cho hoạt động thường nhật của con người một chiều
hướng và một ý nghĩa sâu xa hơn. Như thế nhờ từng phần tử và tất cả cộng đoàn,
Giáo Hội tin tưởng có thể đóng góp nhiều vào việc biên đổi gia đình nhân loại và
lịch sử của nó để trở thành nhân đạo hơn". (134)
Trong việc đóng góp này
cho gia đình nhân loại mà Giáo Hộì phải chịu trách nhiệm, các tín hữu giáo dân
chiếm một chỗ đứng đặc biệt, lý do là "đặc tính trần thê" của họ bắt buộc họ dấn
thân "đem đạo vào đời" theo cách thế cá biệt của họ mà không ai thay thế được.
Thăng
tiến phẩm giá con người
37.
Khám phá và giúp khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi con người, đó là bổn
phận chính yếu, là trung tâm căn bản có mãnh lực hiệp nhất mà Giáo Hội và con
cái của Giáo Hội được kêu gọi để chu toàn đôí với gia đình nhân loại
Trong các thụ tạo trên
mặt đất, chỉ có con người là "một nhân vị, một chủ thể hiểu biết và tự do", và
vì thế nó là "trung tâm điểm và là cao điểm" của tất cả tạo vật khác sống trên
mặt đất. (135)
Phẩm giá nhân vị là tài
sản quý hóa nhất của con người, nhờ đó mà nó trổi vượt trên cả thế giới vật chất
này. Lời của Chúa Giêsu phán: "Được lợi lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn nào
có ích chi?" (Mk. 8:36), hàm chứa một lời qủa quyết rõ ràng và đầy khích lệ. Giá
trị con người không chủ tại nơi tài sản nó có, cho dù nó chiếm hữu trọn cả thế
giới này, nhưng chủ tại nơi "bản chất" của nó. Của cải thế gian không đáng giá
bằng của cải nhân vị vì nhân vị chính là của đáng quý.
Nếu chúng ta nhìn phẩm
giá con người từ nguồn gốc và vận mạng của nó, chúng ta sẽ thấy nó rực rỡ sáng
chói: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được Máu châu báu của
Chúa Kitô Cứu Chuộc nên nó được kêu gọi trở thành "Những người con trong Đức
Chúa Con " và trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được hưởng sự
sống dời đời thông hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa. Vì lý do này nên mọi xúc phạm
đến nhân phẩm con người đều bị báo oán trước mặt Thiên Chúa và là sự xúc phạm
đên Đấng Tạo Hoá đã dựng nên con người.
Nhờ có nhân phẩm, con
người luôn luôn tự nó là một giá trị cho chính nó, và nó phải được nhìn nhận và
đôí xử với giá trị ấy, ngược lại, nó không thể bị nhìn nhận và đôí xử như một
vật để xử dụng, một phương tíện, hay một đồ vật
Chính nhân phẩm con người
là nền tảng của sư bình đẳng với nhau. Bởi đó tuyệt đôí phải loại bỏ tất cả mọi
hình thức kv thị. Tiếc thay, nạn kỳ thị đã và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục
gia đình nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xã hội, kỳ
thị văn hoá, kỳ thị chính trị, kỳ thị địa dư... Mỗi hình thức kỳ thị là một sự
bất công không thể chấp nhận, không phải vì nó tạo nên những căng thẳng, những
tranh chấp xã hội, nhưng vì nó làm nhục cho phẩm giá con người: không chỉ phẩm
giá của nạn nhân bị nhục, mà phẩm giá của thủ phạm lạí càng bị hổ nhục hơn.
Phám giá con người không
chỉ là nền tảng của sự bình đẳng giữa mọi người , nó còn là nền móng của việc
tham gia và liên đới giữa con người với nhau: Đôí thoại và thông cảm được bắt
nguồn từ bản tính con ngừơi, chứ không phải do cái con người "có".
Nhân phẩm là một tư sản
không thể hủy diệt của mọi người. Lời qủa quyết này có một sức mạnh phi thường,
nó dựa trên đặc tính thuần nhất không thay thế được của mọi nhân vị. Vì đó, mà
con người đã chống lại một cách bất khuất tất cả mọi toan tính đè bẹp, tiêu diệt
họ bằng cách đặt họ vào tình trạng vô danh của tập thể, của thể chê, của cơ cấu
hay hệ thông. Nhân vị trong cá tính của nó không phải là một con số, nó cũng
không phải là một vòng tròn trong một dây xích, hay một bánh xe trong một hệ
thống. Lời qủa quyết căn bản và đầy ý nghĩa về giá trị của con người đã thể hiện
bởi con Thiên Chúa khi Ngài nhập thể trong cung lòng của một trinh nữ. Lễ Giáng
Sinh luôn luôn nhắc nhở chúng ta về lời qủa quyết này.
(136)
Tôn
trọng quyền sống bất khả xâm phạm
38.
Sự nhìn nhận nhân phẩm con ngườl đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng, bênh vực và
thăng tiến các quyền lợi của con người . Đáy là quyền tự nhiên, phổ quát và bất
khả xâm phạm. Không một ai, cho dù là cá nhân, đoàn thể, ngay cả quyền bính quốc
gia, không một ai có thể sửa đổi và càng không thể loại bỏ các quyền lợi ấy, vì
nó từ Thiên Chúa mà đến.
Bản chất bất khả xâm phạm
của nhân vị này là phản ảnh của bản chất không thể xúc phạm tuyệt đôi của Thiên
Chúa; và vì thế không ai có thể phạm đến mạng sống con người. Nói đến nhân
quyền, thí dụ quyền được sức khỏe, quyền có chỗ ở, có việc làm, quyền lập gia
đình, quyền học hành, nhưng thật sai lầm và hảo huyền khi nói đến nhân quyền như
người ta thường nói, mà lại không cương quyết bênh vực quyền sống như một quyền
lợi bậc nhất, vì nó là nguồn gốc và điều kiện cho tất cả mọi quyền lợi khác của
con người.
Giáo Hội không bao giờ
chịu bó tay trước bất cứ xâm phạm nào đên quyền sống là quyền của mọi người, dù
bởi tư nhân hay chính quyền. Chủ thể của quyền lợi ấy, chính là con người, con
người ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống từ lúc mới được thụ thai cho đên
khi tắt thở; và trong tất cả mọi trạng thái khỏe mạnh cũng như bệnh tật, lành
mạnh cũng như tàn phế, giàu có cũng như nghèo hèn. Công Đồng Vaticanô II đã mạnh
dạn nói lên: " Tất cả những gì đôl nghịch với sự sống như giết người dưới bất cứ
hình thức nào, diệt chủng, phá thai, giết chết cách êm díu, hoặc tự ý tự tử; tất
cả những gì xâm phạm đến sự toàn vẹn của nhân vị con người, như cắt bỏ một phần
thân thể, hành hạ thân xác hoặc tâm trí, làm áp lực tâm lý; tất cả những gì xúc
phạm đến nhân phẩm, như những cảnh sống thấp kém dưới mức độ phải có của con
người, giam cầm vô cớ, lưu đày, nô lệ, mãi dâm, buôn bán phụ nứ và trẻ con; kể
cả những tình trạng lao động khiến cho nhân công hoàn toàn trở thành công cụ cho
lợi lộc, chứ không được coi như con người tự do và có trách nhiệm; tất cả nhứng
điều nói trên và những điều tương tự đều được coi là tội lỗi. Trong khi làm thôí
nát nền văn minh nhân loại, tất cả nhứng điều trên lại trở thành nguy hại cho
chính những kẻ chủ động hơn là đối với những người chịu sự thiệt thòi đó. Hơn
nữa nó còn xúc phạm nặng nề đến danh dự của Đấng Tạo Hóa."
(137)
Nếu mỗi người chúng ta
đều có sứ mệnh và trách nhiệm nhìn nhận nhân phẩm của con người và bênh vực
quyền sống của con người, thì đồng thời có một số tín hữu giáo dân được kêu gọi
làm việc này với một tước hiệu nêng biệt: đó là các bậc phụ huynh, các nhà giáo
dục, bác sĩ và y tá, và tất cả những ai nắm quyền kinh tế và chính trị.
Khi đón tiếp với một lòng
yêu mến và đại độ tất cả mọi người, nhất là những người thất thế và đau yếu,
Giáo Hội hôm nay đang sống thời điểm quan trọng nhất của sứ mạng mình, một sứ
mạng càng khẩn thiết vì mỗi ngày con người càng chạy theo cái gọi là Văn hóa
chết. Bởi vì, "Giáo Hội tin chắc chắn rằng sự sống con người, cho dù là yếu đau
bệnh tật, luôn luôn vẫn là một ơn lạ lùng của lòng từ bi Thiên Chúa. Để chống
với tính ích kỷ và bi quan đang ám ảnh thế giới, Giáo Hội bênh vực sự sống và
trong mỗi mạng sống con người, Giáo Hội biết khám phá ra sự sáng chói của tiếng
"Vâng" tiếng "Amen" là chính Đức Kitô (2 Cor.1:19,
Ap.3:14). Để đáp lại tiếng "không" đang xâm chiếm
và gieo sầu khổ cho con người và thế giới, Giáo Hội
nói "có" sống động, và như thế Giáo Hội bênh vực con người và thế giới chống lại
với những kẻ đe dọa và phạm đến sự sống". (138)
Người tín hữu giáo dân, hoặc vì ơn gọi hay
vì nghề nghiệp, phải trực tiếp chịu trách nhiệm đón nhận sự sống, phải làm cho
tiếng "Vâng" của Giáo Hội chấp nhận sự sống, được thực hiện một cách có hiệu
quả.
Nhờ sự phát tnển mau lẹ
của các ngành sinh-vật-học và y-khoa, song song với tiến bộ lạ lùng của khoa
học, hiện giờ chúng ta phải đương đầu với nhiều vấn nạn mới vì con người có khả
năng làm những điều mới lạ đối với sự sống con người. Con người thời nay, không
những có khả năng "quan sát", hơn nữa còn có thể nghiên cứu cách kiểm soát sự
sống con người ngay từ giây phút đầu tiên và qua các giai đoạn phát triển của
nó.
Lương tâm luân lý của
nhân loại không thể đứng nhìn như kẻ bàng quan trước những bước tiến dài do một
quyền lợi kỹ thuật ngày càng thao túng trong lãnh vực truyền sinh, và trong
những giai đoạn đầu của sự phát triển nhân vị con người.
Có lẽ ngày nay hơn bao
giời hết trong địa hạt này, sự khôn ngoan là cái neo cứu rỗi độc nhất để con
người trong công cuộc sưu tầm khoa học và áp dụng có thể hành động theo lý trí
và tình thương, nghĩa là biết tôn trọng nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người
ngay từ buổi đầu cuộc sống của nó. Muốn được như vậy, khoa học và kỹ thuật với
những phương tiện hơp pháp, phải dấn thân bênh vực sự sống và chữa trị các bệnh
tật ngay từ ban đầu, và từ chối - vì danh dự của công trình khảo cứu - không can
thiệp cách nào để đưa đến hậu quả biến đổi khả năng sinh sản của cá nhân và của
nhân loại. (139)
Các tín hữu giáo dân vì
chức nghiệp trên nhiều phương diện phải dần thần trong lãnh vực khoa học hay kỹ
thuật, cũng như những lãnh vực y khoa, xã hội, lập pháp hay kinh tế, tất cả phải
có can đảm đón nhận "sự thách thức" do các vấn đề mới của nền luân lý sự sống
gây ra. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã quả quyết: "Người Kitô hữu phải thi hành
trách nhiệm như chủ nhân chứ không phải như nô lệ của khoa học và kỹ thuật.
Trong viễn tượng "thách đô" về luân lý tung ra do
quyền năng ghê gớm của kỹ thuật mới, đang đe
dọa không nhứng các quyền lợi căn bản của con người, mà ngay cả bản chất sự sống
của nhân loại. Người giáo dân, nhờ sự giúp đỡ của toàn thể Giáo Hội, phải nhận
lấy trọng trách để làm cho văn hoá giữ được các nguyên tắc của một nền nhân bản
xác thực nguyên vẹn; như thế việc cổ võ và bênh vực nhân quyền mới có được một
nền móng đầy sinh lực và vững chãi ngay trong bản chất của nó. một bản chất đã
được mặc khải cho con người qua Phúc ấm. (140)
Ngày nay là lúc cấp bách
mọi người phải tỉnh thức trước hiện tượng tập trung quyền lực kỹ thuật. Vì sự
tập trung này có dụng ý tráo trở không những bản chất của sự sống mà ngay cả nội
tại của lương tám con người và cách sống của nó, khiến cho việc kỳ thị và khinh
rẻ nhiều dân tộc trở thành trầm trọng.
Tự do
kêu cầu danh Chúa
39.
Tôn trọng phẩm giá con người đó là bênh vực và cổ võ tôn trọng nhân quyền, và
đồng thời đòi hỏi phải nhìn nhận phạm vi tôn giáo của con người. Đây không chỉ
đơn giản là một đòi hỏi "tín ngưỡng", nhưng là một đòi hỏi tự nó không thể bị
tiêu diệt của thực thể con người. Mối liên quan với Thiên Chúa là một yêú tố cấu
tạo nên "bản chất" và "cuộc sống" con người: Chính trong Thiên Chúa mà "chúng ta
được sống, được cử động và được hiện hữư'
(Acts. 17:28) . Nếu không phải mọi người đều chấp nhận
chân lý, thì ít nữa ai chấp nhận đều có quyền buộc kẻ
khác phải tôn trọng Đức Tin của họ, tôn trọng sự lựa chọn đời sống của họ, hoặc
cá nhân hay đoàn thể. Đó là quyền tự do lương tâm và tự do tôn giáo, công nhận
quyền lợi này là cả một lợi ích cao cả nhất và là một trong những bổn phận nặng
nề nhất của mỗi dân tộc, nếu dân tộc này muốn bảo đảm lợi ích của cá nhân và của
xã hội: "Tự do tôn giáo, một đòi hỏi không thể phá hủy được của phẩm giá con
người, là viên đá góc để xây dựng toà nhà nhân quyền, và là một yếu tố không thể
thay thế được của lợi ích con người và xã hội, và làm cho con người được phát
triển toàn vẹn. Bởi đó tự do tuyên xưng và hành đạo của cá nhân hay của cộng
đồng là một yếu tố căn bản để con người chung sống hoà bình... Quyền tự do tôn
giáo về mặt dân luật và xã hội, vì nó thuộc phạm vi thâm sâu của tinh thần, nên
nó là điểm tham chiếu, một cách nào đó, nó trở nên thước đo lường của các quyền
lợi căn bản khác".(141)
Thượng Hội Đồng Giám Mục
đã không lãng quên một số đông các anh chị em chưa được hưởng quyền tự do và
đang phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, với nạn bỏ rơi, với đau khổ và bắt
bớ, và có khi phải chết vì Đức Tin. Một số đông trong họ là giáo dân Truyền bá
Phúc âm và làm chứng nhân đời sống Công Giáo trong đau khổ và tử đạo, đó là tột
đỉnh của việc tông đồ của các môn đệ Chúa Kitô, cũng như tình yêu của Chúa Giêsu
đến hy sinh mạng sống phát sinh nguồn mạch đầy sức sống lạ thường để xây dựng
Giáo Hội. Cây nho thần bí như thế tỏ ra rất đầy sinh khí như Thánh Augustinô
nói: "Cây nho này như các Tiên Tri và chính Chúa đã loan báo trước, tỏa ra trên
khắp thế giới cành cây của nó nặng trĩu hoa trái và nó ngày càng thêm sinh lực
nếu càng được tưới thêm bằng máu tử đạo. (142)
Toàn thể Giáo Hội hết
lòng biết ơn về thí dụ và ơn này. Kitô-hữu đã hy sinh mạng sống để đem lại một
lý do đổi mới nghị lực đời sống thánh thiện và tông đồ. Vì thế các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng nhận thấy có bổn phận cách riêng "phải cám ơn các người giáo dân
đang sống kiên cường chứng nhân Đức Tin, trung thành hợp nhất với Giáo Hội, dầu
phải bị chèn ép và thiêú thốn linh mục. Họ liều bỏ tất cả ngay cả mạng sống. Như
thế giáo dân đã làm chứng cho đặc tính căn bản của Giáo Hội, là: Giáo Hội sinh
bởi ơn nghĩa Chúa và tỏ ra cao cả trong máu tử đạo."
(143)
Tất cả những gì chúng ta
bàn đến về việc tôn trọng phẩm giá con người, về việc nhìn nhận nhân quyền, mỗi
người cũng như mỗi Kitô-hữu đều có trách nhiệm. Nhưng chúng ta cũng phải biết
rằng vấn đề này có tầm mức quốc tế vì là một vấn đề liên hệ đên đoàn người đông
đảo, có khi cả một dân tộc bị cướp đoạt quyền lợi căn bản. Những hình thức bất
bình đẳng này đang phát triển giữa các "thế giới" khác nhau đã bị tố cáo rành
mạch trong Thông Điệp "Sol-licitudo rei socialis" (Mối lo ngại về tình trạng xã
hội).
Việc tôn trọng nhân vị
con người vượt trên đòi hỏi luân lý cá nhân, vì nó là một tiêu chuẩn nền tảng,
là cột trụ, là nền móng xây cơ cấu xã hội, vì mục tiêu xã hội là con người.
Như thê, trọng trách phục
vụ xã hội có liên quan mật thiết với trọng trách phục vụ con người. Đó là định
nghĩa sứ mệnh đem đạo vào đời mà các tín hữu giáo dân được gọi để hoàn thành
theo cách thế riêng biệt của mình.
Gia
đình: nơi đầu tiên để học dấn thân làm việc xã hội
40.
Nhân vị con người đã sẵn có tầm vóc xã hội trong cơ cấu tự nhiên của nó, vì tự
thâm tâm, nó được kêu gọi để sống hiệp nhất và hiến thân cho kẻ khác: "Thiên
Chúa, lo lắng săn sóc mọi người như một hìên phụ đã muốn cho mọi người thành một
gia đình và đôí đãi với nhau như anh em". (144)
Như thế, xã hội là kết qủa và là dấu chỉ
của đặc tính xã hội của con người, nó chỉ thàmh một thực thể hoàn toàn khì nào
nó trở tnành một công đồng nhân vị.
Vì thế người tín hữu giáo
dân dấn thân làm việc tông đồ trong trật tự trần thế có nghĩa là phục vụ cá nhân
con người, cá nhân duy nhất và không ai có thể thay thế được, cũng có nghĩa là
phục vụ tất cả mọi người.
Vợ chồng và gia đình, đó
là biểu hiệu đầu tiên, nguyên thủy của tầm vóc xã hội con người. "Nhưng Thiên
Chúa không dựng nên con người đơn độc: từ nguyên thủy, "Ngài
dựng nên một nam một nữ" (Gn. l:27). Xã hội gồm một
nam một nữ đó là biểu lộ đầu tiên của sự
hiệp thông người với người". (145)
Chúa Gìêsu đã để ý đem lại phẩm giá cho vợ chồng và nền tảng vững chắc cho gia
đình (Mt. 9:3-9) Thánh Phaolô đã cho chúng ta thấy mốl liên quan sâu xa giữa hôn
nhân với mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo Hội . (Eph.5.22
và 6.4, Col. 3:18-21; 1 Pt. 3:1-7).
Vợ chồng và gia đình là
nơi đầu tiên để các tín hữu giáo dân dấn thần vào xã hội. Nhưng hành động dấn
thân này chỉ có ý nghĩa khi họ xác tín về giá trị duy nhất và không thay thế
được của gia đình trong việc phát huy xã hội và Gíáo Hội. Gia đình là chiếc nôi
của sự sống và tình thương, trong đó con người "chào đời" và "lớn lên". Gia đình
vì thế là tế bào nền tảng của xã hội. Cộng đồng nhỏ bé này phải được lo lắng săn
sóc đặc biệt, nhất là mỗi khi lòng ích kỷ của con người, các chiên dịch chống
sinh sản, và tình cảnh khó nghèo khốn khổ về phương diện vật chất, văn hóa và
luân lý. Nhất là tâm trạng tìm kiêm lạc thú, chạy đua tiêu thụ làm cho khô cạn
các nguồn mạch sự sống, trong lúc các ý thức hệ, các hệ thống khác nhau, cũng
như các hình thức bất cần sự sống hay thiêú săn sóc phá hoại vai trò giáo dục
riêng của gia đình.
Việc tông đồ của các tín
hứu giáo dân trước tiên là làm cho gia đình ý thức được nguyên tính của mình như
nền tảng căn bản đầu tiên của xã hội, và ý thức được vai trò của mình trong xã
hội, để mỗi ngày mỗi đóng vai trò chủ động và trách nhiệm cho sự trưởng thành
của mình và tham gia vào đời sống xã hội. Như vậy gia đình có thể và phải đòi
hỏi mọi người, nhất là chính quyền, phải tôn trọng các quyền lợi của mình để cứu
vãn mình và cứu vãn xã hội.
Tất cả những điều viết về
gia đình có liên quan đến sự phát triển xã hội
(146) trong bức Tông Huấn về Gia Đình
(Familiaris consortio), và những gì Giáo
Hội đã nói trong Thượng Hội Đồng Giám Mục
năm 1980 trong "Hiến Chương các Quyền lợi của Gia Đình", đã trở thành một chương
trình hoạt động đầy đủ và có cơ cấu cho tất cả các tín hữu giáo dân theo danh
nghĩa mỗi người đang lưu tâm cổ võ các giá trị và các đòi hỏi của gia đình.
Chương trình này càng
phải cấp tốc thực hiện một cách quyết liệt vì các đe dọa làm lung lạc và phá tan
gia đình ngày càng trầm trọng, cũng như ngày càng trở nên nặng nề và hệ thống
hóa chiều hướng muốn loại bỏ gia đình và tiêu diệt vai trò quan trọng của nó đối
với xã hội.
Như kinh nghiệm cho thấy,
văn minh và tình liên đới các dân tộc một phần lớn tuỳ thuộc ở phẩm cách tốt xấu
của gia đmh. Như thế việc tông đồ gia đình mang một giá trị xã hội không thể so
sánh được. Giáo Hội rất xác tín về đìêu này, vì biết rằng "tương lai của nhân
loại phải đi qua gia đình". (147)
Đức
ái là linh hồn, là sự nâng đữ của tình liên đđi
41.
Việc phục vụ xã hội diễn tả và thực hiện bằng nhiều cách thế khác nhau, có những
cách tự do riêng tư hoặc được quy định theo một thể chế, có việc nhằm phục vụ
từng nhóm người hoặc từng cộng đồng.
Toàn thể Giáo Hội từ bản
chất của mình đã được trực tiếp kêu gọi phục vụ đức ái: "Giáo Hội thánh thiện
đặt bữa ăn thân tình "Agape" đi liền với bữa Tiệc Thánh Thể để biểu lộ sự hợp
nhất hoàn toàn trong tình yêu thương chung quanh Chúa Kitô. Như vậy, bất cứ thời
đại nào, người ta cũng nhận ra Giáo Hội nhờ tình yêu này, và Gláo Hội đã tự đảm
nhận những công tác bác ái như là nhiệm vụ và quyền lợi bất khả di nhượng của
mình, dầu Giáo Hội vẫn hân hoan trước những sáng kiến của người khác. Vì thế,
Giáo Hội đặc biệt đề cao lòng thương xót đối với người nghèo đói bệnh tật, cũng
như những công tác mệnh danh là từ thiện và tương trợ để xoa dịu nỗi thống khổ
của nhân loại". (148)
Đức bác ái đôí với anh em, thực hiện dưới hình thức các việc từ thiện thể xác
hay tinh thần, hình thức đã có từ xưa nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ, đó là nội dung
cấp thời thường xuyên của hoạt động đem đạo vào đời của các tín hữu giáo dân.
Khi thi hành bác ái đôl với anh em, người tín hữu giáo dân sống và nêu cao sự
tham gìa vào vương quyền của Đức Kltô, nghĩa là tham gia vào quyền năng của Con
Người là Đấng "không đến để hưởng thụ nhưng để phục vụ" (Mk. 10. 45). Họ sống và
nêu cao vương quyền một cách rất đơn giản, theo tầm mức của mọi người và mọi
thời đại, vì Đức ái là một ơn huệ cao cả nhất Chúa Thánh Thần ban để xây dựng
Giáo Hội (1 Cor. 13:13) và để đem lại lợi ích cho nhân loại. Đức ái đem lại sinh
lực và nâng đỡ cho tình liên đới sống động, lưu tâm đến mọi nhu cầu của con
người.
Một Đức ái như thế không
chỉ được nhận thức do riêng cá nhân mà còn cần thiết phải được nhận thức do các
đoàn thể, và các cộng đồng nứa. Không một ai cũng không một cái gì có thể thay
thế nó được, cho đến cả các thể chế hay sáng kiến công cộng, là những tổ chức
chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một dân tộc thôi, những nhu cầu thường rất trầm
trọng và lớn lao trong thời đại này. Ngược lại, Đức ái
này càng khẩn thiết hơn, khi mà các thể chế từ
thiện đã trở nên qúa phức tạp trong tổ chức và có tham vọng nắm trong tay quyền
quản lý hết tất cả mọi phạm vi. Cuôí cùng trở nên vô hiệu bởi tổ chức quan liêu,
bởi tinh thần làm việc quan lại, bởi lòng tham lợi quá đáng, và rồi không còn ai
lưu tâm đến nứa.
Chính trong hoàn cảnh này
đã xuất hiện và lan tràn nhất là trong xã hội có tổ chức, những hình thức tự
nguyện phục vụ công tác. Tự nguyện là cách làm tông đồ mà người tín hữu giáo
dân, nam cũng như nữ, đóng vai trò chính yếu. Họ xả thân quên mình cho những
người anh em từng bị các tổ chức tự cho mình là vì xã hội bỏ rơi họ.
Đời
sống xã hội: Cho mọi người và vì mọi người
42.
Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi công lý. Cả
hai theo cách riêng biệt của mình đòi buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận
thực sự các quyền lợi của con người, vì xã hội với các cơ cấu và thể chế được
đặt ra vì con người.(149)
Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế, nghĩa là "đem đạo vào đời" theo ý
nghĩa là phục vụ con người và xã hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đôl không thể
từ chôl tham gia vào "chính trị", nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái,
kinh tê, xã hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một
cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhiều lần qủa quyết điều này là
mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị dưới
nhiều hình thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng
như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà
cầm quyền, quốc hội, giai cầp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là
nhứng kẻ lợi dụng thời cơ, tôn thờ quyền bính, ích kỷ tham nhũng. Chúng ta cũng
thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lý. Tất cả lời
khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người Công Giáo trốn tránh chính
trị hay nghi ngờ việc chung.
Ngược lại, những lời sau
đây của Công Đồng Vaticanô II rất có ý nghĩa: "Giáo Hội ca ngợi và quý trọng
việc làm của nhứng người, vì công ích mà dấn thân phục vụ con người và lãnh nhận
gánh nặng của trách nhiệm này". (150)
Một đường lôí chính trị
vì dân vì nước luôn luôn lấy công ích làm tiêu chuán căn bản, vì công ích là ích
lợi của mọi người và của từng người, ích lợi cung ứng và được bảo đảm để mọi cá
nhân cũng như đoàn thể tự do chấp nhận với tinh thần trách nhiệm: "Vì thế các tổ
chức chính trị chỉ hiện hữu vì công ích. Chính công ích là lý do tồn tại, ý
nghĩa và là căn bản pháp lý cho các tổ chức chính trị. Công ích nơi đây bao gồm
tất cả nhứng điều kiện của đời sống xã hội; nhờ những điều kiện này, cá nhân,
gia đình và đoàn thể có cơ hội phát triển trọn vẹn và dễ dàng hơn".(151)
Hơn nữa, một đường lối
chính trị vì dân vì nước phải chọn một tôn chỉ thủy chung là bênh vực và cổ võ
công lý, được hiểu như một "đức tính" mọi người phải có, và cũng là một "sức
mạnh" luân lý nâng đỡ bất cứ ai cố gắng hổ trợ các quyền lợi và nghĩa vụ của con
người và mỗi người trên nền tảng nhân phẩm.
Kẻ thi hành quyền bính
chính trị phải lấy tinh thần phục vụ làm nền tảng. Tinh thần phục vụ này với khả
năng và hiệu năng trong việc lãnh đạo là điều rất cần thiết để làm cho các hoạt
động của các nhà chính trị được "sáng suốt" và "trong sạch" như dân chúng thường
đòi hỏi một cách rất hợp lý. Muốn thế cần phải thẳng thắn tranh đấu điệt trừ hết
mọi dụng ý toan tính như vận động xoay trở, gian trá, nói láo, thụt công quỹ để
trục lợi hay mua chuộc, xử dụng các phương cách mờ ám và bất hợp pháp để chiếm
đoạt bằng mọi giá duy trì và mở rộng quyền hành.
Các tín hữu giáo dân dấn
thân vào chính trị phải thẳng thắn tôn trọng sự tự lập của các thực tại trần thế
theo nghĩa của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng: "...Điều rất quan trọng là cần nhận
thức chính xác về môí tương quan giữa cộng đồng chính trị và Giáo Hội, nhất là
trong một xã hội gồm nhiều thành phần. Cũng cần phải phân biệt minh bạch giữa
hành động của các tín hữu hoặc cá nhần hoặc đọàn thể với danh nghĩa công dân
dưới sự hướng dẫn của lương tâm Công Giáo, và những hành động của các tín hữu
khi họ nhân danh Giáo Hội và hợp nhất với các vị chủ chăn của họ. Vì căn cứ vào
vai trò và thẩm quyền của mình, Giáo Hội không cách nào bị đồng hoá với một tập
thể chính trị và cũng không hề cầú kết với bất cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo
Hội vừa là dấu chỉ, vừa là đảm bảo cho tính cách siêu việt của con người".(152)
Đồng thời các tín hữu
giáo dân còn có nghĩa vụ cấp bách làm chứng nhân cho các giá trị con người và
các giá trị Phúc âm liên kết mật thiết với chính các hoạt động chính trị, như sự
tự do và công bình tình liên đới và lòng tận tụy trung thành, vô vị lợi đối với
công ích, tình yêu đặc biệt với người nghèo khó và thấp hèn. Muốn thế các tín
hữu giáo dân luôn luôn phải tìm nghị lực thiêng liêng trong việc tham gia thực
sự vào đời sống Giáo Hội và lấy lý thuyết xã hội của Giáo Hội làm ánh sáng chỉ
đạo. Trong công việc nặng nề này họ cần có các công đồng Công Giáo và các vị chủ
chăn theo dõi và hổ trợ. (153)
Một đường lôl chính trị
nhằm phát triển con người phải cần đến tình liên đới làm phương tiện và kiểu
mẫu. Tình liên đới này đòi hỏi sự tham gia tích cực và ý thức trách nhiệm của
mọi người vào đời sống chính trị, từ mỗi một người công dân đến các đoàn thể
khác nhau, từ các nghiệp đoàn đến các đảng phái; tất cả chúng ta và mỗi người
trong chúng ta đèu là kẻ thừa hưởng và là người tham gia tích cực vào chính trị.
Trong tình trạng này, như Ta đã viết trong Thông Điệp "Nỗi lo âu về tình cảnh xã
hội" (Sol-licitudo), tình hên đới "không phải là một tình cảm thương hại mơ hồ
hay là một xúc cảm động lòng trắc ẩn nông cạn trước bao nhiêu khốn khổ của nhiều
người xa gần. Ngược lại, đây là một sự dấn thân quyết liệt vững chãi, bền chí để
thể hiện công ích. Nói cách khác, để thực hiện lợi ích cho mọi người và mỗi
người, để chúng ta tất cả, mang lấy trách nhiệm thực sự cho tất cả."
(154)
Trong thế giới hôm nay,
tình liên đớì chính trì phải vượt khỏi ranh giới quốc gia hay một khối quốc gia,
nó phải bao gồm cả một chân trời mở rộng trên biên cương lục địa hay thế giới.
Kết quả của hoạt động
chính trị liên đới là Hoà bình. Đó là đĩều mọi người ước vọng nhưng còn xa vời.
Các tín hữu giáo dân không thể khoanh tay ngồi nhìn như kẻ bàng quan lười bịếng
trước những gì phá hoại hay làm tổn thương hoà bình: như vũ lực và chiên tranh,
tra tấn hay khủng bố, trại tập trung, quân sự hoá chính trị, thi đua võ trang,
đe dọa nguyên tử. Ngược lại, là môn đệ Đức Giêsu Kitô "Vua Hoà bình" (Is. 9.5)
"Hoà bình của chúng ta" (Eph. 2:14) các tín
hữu giáo dân phải nhận lãnh bổn phận làm
"kẻ kiến tạo hoà bình" (Mt. 5. 9) bằng một cuộc sống trở về với Chúa và bằng các
hoạt động vì chân lý, vì tự do, vì công bình và bác ái là những nền móng vững
chắc của hòa bình. (155)
Hợp tác với những người
thật lòng đi tìm hoà bình và xử dụng những cơ quan riêng biệt và các thể chế
quốc gia và quốc tế, người tín hữu giáo dân phải cổ võ một nền giáo dục căn bản
để chống lại với một nền văn hoá ích kỷ ,hận thù để phát huy nền văn hoá liên
đới trên mọi bình diện. Vì sự liên đới này "là con đường của hoà bình và của
phát triển".(156)
Trong viễn tượng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã kêu mời người Công Giáo
phải tống khứ mọi hình thức vũ lực, cổ võ thái độ đôl thoại, hoà bình và kêu mời
họ dấn thân để kiến tạo một trật tự xã hội và quôc tế công bình.
(157)
Đặt
Con người vào trung tâm điểm của đời sống kinh tế xã hội
43.
Điểm hoạt động căn bản của việc phục vụ xã hội của tín hữu giáo dân, nằm tại vấn
đề kinh tế xã hội; chìa khóa của vấn đề này là tổ chức lao động.
Tính cách trầm trọng hiện
tại của vấn đề này, theo cái nhìn chung của sự phát tnển và dựa trên đề nghị
giải quyết của học thuyết xã hội của Giáo Hội, mà Ta mới nhắc lại trong thông
điệp "Nỗi lo âu về tình cảnh xã hội" (Sol-
licitudo). Ta ước ao tất cả mọi người hãy tham khảo lại
nhất là các tín hữu giáo dân.
Trong các điểm quan trọng
của học thuyết xã hội của Giáo Hội, có nguyên tắc này: mọi người đều được quyền
hưởng của cải trần gian theo ý định của Thiên Chúa. Những thứ này được ban cho
con người và mỗi người làm phương tiện để phát triển một đời sống làm người đúng
mức. Tư sản là sự thể hiện mục đích ấy và còn có công dụng xã hội tự trong bản
tính nó. Một cách cụ thể, lao động của đàn ông hay đàn bà là dụng cụ rất thông
thường, rất cấn thiết để phát triển đời sống kinh tế, dụng cụ này là một quyền
lợi và một nghĩa vụ đôí với mỗi người. Tất cả những điều này thuộc về sứ mệnh
của người tín hữu giáo dân một cách đặc biệt. Mục đích và tiêu chuẩn của sự hiện
diện và hoạt động của họ được Công Đồng Vaticanô II đúc kết như sau: "Ngay trong
đời sống kinh tế xã hội, phẩm giá cũng như ơn gọi toàn diện của con người và lợi
ích của toàn thể xã hội phải được tôn trọng và thăng tiến. Vì con người là tác
giả, là tâm điẽm và mục đích của tất cả đời sống kinh tế xã hộl "
(158)
Giữa bao nhiêu biên đổi
của thế giới lao động và kinh tế đang bị đảo lộn, anh em tín hữu giáo dân phải
là kẻ tiền phong đứng ra tìm các giải pháp cho nạn thất nghiệp ngày càng gia
tăng, tranh đấu để chấm dứt các bất công do các tổ chức bất công của lao động,
cố gắng làm cho nơi làm việc trở thành một nơi sống của cộng đồng nhân vị được
kính trọng vì đặc tính và quyền lợi tham gia của các nhân vị, và phải hết mình
phát triển những môí giây liên đới mới giữa những anh em cùng làm chung một
việc, giúp sáng kiên về hình thức kinh doanh mới, và thúc đẩy duyệt lại các hệ
thống thương mại, tài chánh và trao đổi kỹ thuật.
Để thực hiện điều này,
các tín hữu giáo dân phải chu toàn bổn phận theo khả năng nghề nghiệp một cách
ngay thắng, với tinh thán công giáo như là phương tiện thánh hóa bản thân,
(159) theo
lời chỉ dạy của Công Đồng: "Nhờ việc làm, con người theo lệ thường là có ý nuôi
sống mình và gia đình, liên kết với anh em và phục vụ họ, có thể thực thi bác ái
đích thực và góp công vào việc kiện toàn công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn
nữa chúng tôi cho rằng nhờ việc làm của mình, con người cộng tác vào chính công
cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã nâng cao giá trị của việc làm khi Ngài
làm việc với chính hai bàn tay của mình tại Nagiarét".(160)
Đi đôi với đời sống kinh
tế xã hội, ngày nay lại xuất hiện thêm vấn đề ngày càng gay go, đó là vấn đề
"Môi sinh" (Ecological). Không ai chối cãi được là con người đã nhận lãnh bởi
Thiên Chúa trách nhiệm "chế ngư" các tạo vật và "vun trồng mảnh vườn" thế giới.
Những nghĩa vụ này con người phải chu toàn với một lòng tôn trọng hình ảnh của
Thượng Đế mà họ đã lãnh nhận với tình yêu và lý trí, phải có trách nhiệm về các
ơn Chúa đã ban tràn trề và còn tiếp tục ban cho họ. Con người làm chủ một ơn mà
họ phải truyền lại cho các thế hệ mai sau, ơn ấy phải làm cho nó tất đẹp hơn nữa
nếu có thể. Vì các thế hệ này cũng là những người được quyền nhận lãnh các ân
huê của Chúa: "Việc chế ngự thụ tạo Thiên Chúa đã ban cho người ... không phải
là một quyền độc đoán, và chúng ta không thể nói đến tự do "xử dụng và lợi dụng"
hoặc sắp đặt sự vật như ý mình muốn. Khi Thiên Chúa cấm Adong và Evà "ăn trái
cá'm" (Gn. 2:16-17), điều ấy có nghĩa là
trong khuôn khổ các tạo vật hiện hữu...
Chúng ta không phải chỉ vâng theo luật lệ luân lý không thể bỏ qua các nhận xét
liên quan đến việc xử dụng các yếu tố thiên nhiên, đến việc phải tái tạo các
nguồn tài nguyên và hậu quả của một nền kỹ nghệ vô trật tự. Một lần nữa các nhận
xét này đề nghị với lương tâm chúng ta phải lưu ý đến bình diện luân lý của phát
triển ". (161)
Phúc
âm hóa vãn hóa và các nền văn hóa của con người
44.
Việc phục vụ con người và xã hội được diễn tả và thực hiện qua việc tạo nên và
truyền thông văn hóa, một trong những nghĩa vụ nặng nề cho con người sống chung
và tiến hóa của xã hội ngày nay. "Văn hóa" được Công đồng hiểu nghĩa như sau:
"Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" ám chỉ bao gồm tất cả những gì con người
dừng để trau giồi các tài năng của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự trái đất
bằng hiểu biết và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như
đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và
định chế, sau hết diễn tả, thông truyền và bảo tồn những kinh nghiệm tinh thần
và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân
loại tiến bộ hơn" (162)
Theo nghĩa này, văn hóa phải được xem như là của chung của mỗi dân tộc, là sự
diễn tả phầm giá, tự do và óc sáng tạo của họ, và là chứng tá chặng đường lịch
sử. Chỉ khi nào nó đi vào lòng văn hóa và qua một nền văn hóa, thì Đức tin Công
giáo mới thực sự tham dự vào lịch sử và kiên tạo lịch sử. Trước môt nền văn hóa
xem ra lạc xa đức tin công giáo và có khi trái ngược với các giá trị nhần bản,(163)
cũng như đứng trước một thứ văn hóa khoa học và kỹ thuật là văn hóa bất lực để
trả lời cho những khát vọng chân lý và điều thiện đang nung nầú tâm hồn con
người, Giáo Hội rất ý thức bổn phận cấp bách, nhất là về phương diện mục vụ,
phải lưu tâm đặc biệt đến văn hóa.
Vì thế Giáo Hội yêu cầu
các tín hữu giáo dân phải hiện diện một cách can đảm và với óc sáng tạo thông
minh, trong các chức vụ quan trọng của văn hóa như học đường, đại học, trung tâm
nghiên cứu nhân bản. Sự hiện diện này không chỉ có mục đích nhìn nhận hay thanh
lọc các yếu tố của văn hóa hiện có bằng những phê bình khôn ngoan, mà còn có ý
làm tăng giá trị của nó nhờ kho tàng phong phú của Phúc âm và Đức Tin công giáo.
Những điều Công Đồng Vatican II viết về môl liên lạc giữa Phúc âm và văn hóa đều
đúng với sự kiện lịch sử không thay đôi và đồng thời là một lý tưởng hoạt động
thức thời và khẩn thiêt. Đây là một chương trình quan trọng Giáo Hội phải đặc
biệt chịu trách nhiệm nhất là các tín hữu giáo dân. "Tin Mừng của Chúa Kitô
không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống lại và
loại bỏ những sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội
lỗi luôn luôn đe dọa. Phúc âm không ngừng tinh luyện và nâng cao phong hóa các
dân tộc. Những đức tính của mọi thời đại và mọi dân tộc được Phúc âm làm cho
phong phú từ bên trong, được củng cố, bổ túc và tái tạo trong Chúa Kitô nhờ
những ân huệ bởi Trời. Như thê, trong khi chu toàn bổn phận riêng, Giáo Hội cũng
đồng thời thúc đẩy và góp phần vào công cuộc phát triển văn hóa nhân loại, và
nhờ hoạt động của mình, ngay cả trong các nghi lễ phụng vu Giáo Hội giáo dục cho
con người đạt tới tự do nội tâm".(164)
Ở đây cũng nên nhắc
lại những lời thật ý nghĩa Tông Huấn của
Đức Phaolô VI "Phải rao truyền Phúc âm" (Evangehi nuntiandi) khi nhờ thần lực Sứ
điệp của Thiên Chúa, mà Giáo Hội rao truyền (Rom.11:16, 1 Cor.1:18, 2:4), Giáo
Hội tìm cách cải hóa lương tâm cá nhân và lương tâm con người, cải hóa hoạt
động, đời sống và cảnh vực thực tại của con người. Hiện giờ sinh hoạt của nhân
loại biến đổi. Đối với Giáo Hội, ván đề không có nghĩa là rao giảng Phúc âm cho
từng vùng đất môi ngày càng rộng lớn, hoặc cho các dân tộc ngày càng đông đảo,
nhưng là đạt đến và nhờ sức mạnh Phúc âm chưyển hướng tiêu chuẩn phán đoán, các
giá trị quyết định, các trọng tâm sinh hoạt, các đường hướng tư tưởng, các nguồn
cảm hứng, và lôí sống của nhân loại khi nó đôỉ ngược với Lời Chúa và chương
trình cứu rỗi. Tóm lại : Phúc-âm-hóa không phải như một cách trang trí, một lớp
sưn bên ngoài, nhưng bằng một cách sống chết, thấm tận xương tủy, nghĩa là
Phúc-âm-hóa các nền văn hóa của con người. Sự đổ vỡ giữa Phúc âm và văn hóa đó
là thảm kịch của thời đại chúng ta, và cũng đã là thảm kịch của các thời đại
xưa. Vì thế phải cố sức để thực hiện Phúc- âm-hóa văn hóa, hay nói đúng hơn các
nền văn hóa". (165)
Con đường hiện tại rất
thuận lợi cho việc cấu tạo và trao đổi văn hóa là các phương tiện truyền thông
xã hội . (166)
Thế giới của truyền thông xã hội, nhờ sự phát tnển
mau lẹ của các phát minh và nhờ ảnh hưởng của nó bao gồm không gian và đồng thời
sâu đậm trên tâm trạng và phong tục con người, nó đã trở thành một ranh giới mới
cho sứ mệnh của Giáo Hội. Đặc biệt trách nhiệm nghề nghiệp của các tín hữu giáo
dân trong địa hạt này, hoặc là trách nhiệm với danh nghĩa cá nhân hay trách
nhiệm với danh nghĩa các thể chế cộng đồng, bất cứ trên danh nghĩa nào, trách
nhiệm họ phải được nhìn nhận với toàn giá trị của nó, và phải được nâng đỡ về
mặt vật chất, tinh thần và mục vụ liên quan đến việc xử dụng các phương tiện
truyền thông. Nghĩa là việc sán xuất chương trình hay việc thâu nhận các chương
trình ấy, chúng ta cần phải giáo dục óc phê bình ưa chuộng sự thật và đồng thời
hành động nhằm bênh vực tự do và tôn trọng phẩm giá con người, và hổ trợ nền văn
hóa chân thực của các dân tộc, bằng cách can đảm khước từ mọi hình thức độc
quyền và tráo trở.
Trách nhiệm tông đồ của
người tín hữu giáo dân không chỉ dừng lại ở vị thế bênh vực mà thôi: trên khắp
mọi nẻo đường thế giới, ngay trên lãnh vực báo chí, điện ảnh, phát thanh, truyền
hình, Phúc âm Cứu rỗi phải được loan truyền cho mọl người.
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm

|