|
TÔNG HUẤN
CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II
Về ƠN GỌI và SỨ
MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần
Thế
Bản dịch của
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Chương IV
NHƯNG NGỪƠI THỢ TRONG VƯƠN NHO CỦA CHÚA
Nhũng người quản lý tốt các ân sủng muôn mặt của Thiên Chúa
TíNH
CÁCH KHÁC BlỆT CỦA CÁC ƠN GỌl
45.
Theo dụ ngôn của Phúc âm, "người chủ vườn nho"
mời những người thợ đến vườn nho của mình vào những
giờ khác nhau trong ngày: nhiều người đến vào lúc bình minh, một số vào khoảng
chín giờ sáng, số khác nữa đên vào lúc gần trưa và ba giờ, những kẻ cuối cùng
vào khoảng năm giờ chiều (Mt. 20:1 và kế tiếp). Khi chú giải trang Phúc âm này,
Thánh Grêgônô Cả nghĩ rằng những gìờ khác biệt đó tươhg ứng với những giai đoạn
của tuổi đời; Ngài nói: "Ta có thể áp dụng sự khác biệt của các giờ vào những
giai đoạn của đời sống con người". Theo đó, ban sáng tượng trưng cho tuổi thiếu
thơ. Giờ thứ ba tiếp theo đó có thể tượng trưng cho tuổi thanh niên: mặt trời
vươn lên, có nghĩa là nhiệt huyết của tuổi trẻ tràn đây. Giờ thứ sáu, là tuổi
trung niên: mặt trời ở ngay trên đỉnh đầu, là tuổi của sức sống sung mãn. Tuổi
bắt đầu già tượng trưng cho giờ thứ chín, vào tuổi này nghị lực thanh xuân bắt
đầu mòn mỏi không khác hình ảnh mặt trời từ từ ngã về hướng Tây. Giờ thứ mười
một chỉ những người đã cận kề ngày cuôí cùng của cuộc đời mình. Như vầy, những
người thợ được gọi đến vườn nho vào những giờ khác nhau, là hình ảnh giúp ta
hiểu rằng có người được gọi sống cuộc sống hoàn thiện ngay ở tuổi thơ, có người
vào tuổi vị thành mên, người khác vào vào thời kỳ trưởng thành, và kẻ khác nữa
lúc đã về già. (167)
Chúng ta có thể dùng lời
diễn giải của Thánh Grêgôriô Cả để áp dụng rộng rãi hơn vào tính cách đa dạng,
phong phú của những người có mặt trong Giáo Hội ; mỗi một người và tất cả mọi
người đều được mời gọi để hoạt động cho nước Thiên Chúa tỏ hiện theo cách thức
khác nhau tùy theo từng hoàn cảnh, theo những đoàn sủng và những chức vụ khác
nhau. Sự khác biệt này không phải chỉ dựa vào tuổi tác, nhưng còn tùy thuộc vào
sự khác biệt của phái tính, tài năng, và tư cách, cũng như liên hệ đến những ơn
gọi và hoàn cảnh của từng người. Tính chất đa diện này khiến cho đời sống Giáo
Hội. linh động và cụ thể hơn.
TUỔl
TRẺ, TRẺ EM VÀ NGƯỜl LƠN TUỔI
Tuổi
trẻ, hy vọng của Giáo Hộl
46.
Thượng Hội Đồng đã đặc biệt lưu ý đên tuổi trẻ. Và thật vậy, tại nhiều quốc gia
trên thế giới, giới trẻ chiếm một nửa dân số, và thường cũng là một nửa số của
Dân Chúa trong các quốc gia đó. Nhìn vào khía cạnh này, giới trẻ đã tạo được một
sức mạnh phi thường và trở thành một thách đố lớn lao cho tương lai của Giáo
Hội. Vì qua giới trẻ, Giáo Hội nhìn thấy con đường hướng về tương lai đón chờ
mình, và tìm gặp nơi đó hình ảnh nhắc nhở về chính tuổi thanh xuân đầy phấn khởi
do thần khí Đức Kitô không ngừng làm phong phú đời sống Giáo Hội. Chính trong ý
nghĩa đó Công Đồng đã định nghĩa những người trẻ là "niềm hy vọng của Giáo Hội".(168)
Trong bức thư gửi thanh
thiếu niên nam nứ thế giới, ngày 31 tháng 3 năm 1985, Ta nói rằng: "Giáo Hội
nhìn lớp người trẻ, đúng hơn, một cách đặc biệt, Giáo Hội nhìn lại tuổi trẻ của
mình trong mỗi người và chung toàn giới trẻ. Việc đó đã thể hiện ngay từ đầu vào
thời các Tông đồ. Nhưng lời của Thánh Gioan trong thư thứ nhất là một trong
những bằng chứng đặc biệt: "Hỡi các bạn trẻ, Cha viêt cho các bạn, vì các bạn
đã thắng được sự ác. Hỡi thanh thiêú niên nam nữ, Cha viết lời này vì các con đã
biết Chúa Cha..., Cha viết cho các con vì các con là những kẻ dũng cảm, và Lời
Chúa cư ngụ trong các con" (1 Jn. 2:13 và tlếp theo...). Trong thế hệ chúng
ta, vào những ngày cuối cùng của thế kỷ hai mươi, chính Giáo Hội cũng tự nhìn
mình qua hình ảnh giới trẻ. (169)
Đừng nên nhìn giới trẻ
như chỉ là đối tượng của môí lo âu cho Giáo Hội về phương diện mục vụ: Thực ra,
họ là những "chủ nhân tích cực, tham dự vào công việc truyền bá Phúc âm và canh
tân xã hội;(170)
họ cần được khuyến khích để trở thành như thể' . Tuổi trẻ là thời kỳ khám phá
đặc biệt sâu đậm về "bản ngã" cá biệt và về một "dự án cuộc đời riêng của mình".
Đó là thời kỳ tăng triển phải được thực hiện trong "khôn ngoan, già dặn và ân
sủng trước Thiên Chúa và trước người đời" (Lk. 2:52).
Các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng cũng đã nói rằng: "Cảm thức của những người trẻ thâu nhận một cách sâu xa
những giá trị của công bằng, bất bạo động và hoà bình. Tâm hồn họ bao dung tình
huynh đệ, thân hữa và đoàn kết. Họ tận tụy hết mình cho những công cuộc đấu
tranh bảo vệ phẩm chất đời sống và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng họ cũng mang nặng
những lo âu, ê chề, ưu tư và kinh hoàng của thê giới, và thêm vào đó những cám
dỗ đặc biệt liên quan đến tuổi họ."(171)
Giáo Hội phải làm sống
lại tình yêu đặc biệt mà Chúa Giêsu đã từng tỏ ra cho người thanh niên: "Chúa
Giêsu nhìn anh tỏ dạ yêu thương" (Mk. 10.21). Đó là lý do tại sao Giáo Hội không
ngừng loan báo Chúa Giêsu Kitô, tuyên xưng Phúc âm của Ngài như câu trả lời duy
nhất và thỏa đáng cho những khát vọng căn bản nhất của người trẻ, như một đề
nghị thiết tha kêu gọi từng người tự dấn thân: "hãy đến theo Ta" (Mk.10.21), một
lời đề nghị nói lên sự thông phần vào tình yêu Cha Con của Chúa Giêsu đôí với
Chúa Cha và việc tham gia vào sứ mệnh Cứu Chuộc nhân loại của Ngài .
Giáo Hội có nhiều điều
phải nói với giới trẻ và giới trẻ có nhiều điều để nói với Giáo Hội. Cuộc đôí
thoại song phương này phải được tiến hành một cách đầy nhiệt tâm, rõ ràng, và
can đảm, để xúc tiến việc gặp gỡ giữa các thế hệ và những cuộc trao đổi giữa họ
với nhau, và sẽ là một nguồn suối trong mát làm phong phú và trẻ trung cho Giáo
Hội và xã hội. Trong sứ điệp gửi giới trẻ, Công Đồng tuyên bố rằng: Giáo Hội
nhìn các bạn với nìêm tin tưởng và yêu thương... Giáo Hội chính là sự trẻ trung
của thế giới... Hãy nhìn Giáo Hội và các bạn sẽ tìm thầý ở nơi đó khuôn mặt của
Đức Kitô." (172)
Trẻ
thơ và Nước Trời
47.
Trẻ thơ là tuyệt đỉnh của tình yêu thương tinh tế và bao dung của Chúa Giêsu.
Ngài dành riêng cho các em phúc lành của Ngài và hơn thế nữa, Ngài đã hứa Nước
Trời cho các em (Mt. 19:13- 15, Mc. 10.14). Đặc biệt, Chúa đã đê cao vai trò
tích cực mà các em đảm nhận trong Nước Chúa. Các em là biểu tượng hùng hồn, và
là hình ảnh sáng chói về luân lý và tinh thần, những điều kiện thiết yếu để vào
Nước Trời và sống một cuộc đời phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa: "Ta nói thật
với các con, nếu các con không cải hóa để trở nên như những trẻ nhỏ, các con sẽ
không vào được Nước Trời. Ai khiêm nhường như trẻ này sẽ là người lớn nhất trong
Nước Trời" (Mt. 18:3-5, Lk. 9. 48) .
Trẻ thơ nhắc nhở chúng ta
rằng sự tăng triển trong việc truyền giáo của Giáo Hội có nền tảng sống động
không phải nhờ vào các phương tiện hay tài năng sức lực của con người, nhưng nhờ
vào ân sủng tuyệt đối của Chúa. Đời sống hồn nhiên vô tội và ân sủng của trẻ
nhỏ, và ngay cả những khổ đau người ta bắt chúng phải cam chịu, nhờ vào thập giá
Đức Kitô, trở thành một nguồn suối làm sung mãn sức sống siêu nhiên cho chính
các em, và cho toàn Giáo Hội. Tất cả chúng ta phải cảm tạ và ý thức sâu xa về sự
kiện này.
Ngoài ra phải nhận rằng
ngay ở tuổi này, những khả năng hành động quí giá đã tnển nở liên quan đến việc
xây dựng Giáo Hội, cũng như nhản-bản-hóa xã hội. Tất cả những điều Công Đồng xác
nhận khi nói đến ích lợi của con cái trong gia đình là "Giáo Hội tại gia"; "là
phần tử sống động của gia đình, trẻ em theo cách của mình giúp cha mẹ được thánh
hóa."(173)
Điều này cũng có thể lập lại khi nói đến mối tương quan giữa các em và Giáo Hội
địa phương cũng như Giáo Hội hoàn vũ. Thần học gia và cũng là nhà mô phạm của
thế kỷ 15, Jean Gerson đã nêu lên sự kiện đó như sau: "Trẻ thơ và thanh mên
không phải là một thành phần không đáng kể của Giáo Hội."
(174)
Bậc
cao niên và ơn khôn ngoan
48.
Đôi với những người già cả, mà thông thường một cách sai lầm bị xem như là những
kẻ vô dụng, có khi còn được xem là một gánh nặng. Ta nhắc nhở những người này
rằng Giáo Hội đòi hỏi và chờ đợi nơi họ phải theo đuổi sứ mệnh tông đồ và truyền
giáo của họ. Đây không những là một công tác họ có thể làm và phải làm, mặc dầu
ở vào tuổi này, nhưng chính vì ỏ tuổi đó mà sứ mệnh của họ mang một hình thái
đặc biệt và độc đáo.
Thánh Kinh trình bày cho
chúng ta thấy người cao niên như là biểu tượng của những người khôn ngoan và
kính sợ Thiên Chúa (Sir. 25.4-6). Với ý nghĩa đó, "ơn huệ" của người già có thể
đôí với Giáo Hội và xã hội là tạo thành những chứng tá của truyền thông đức tin.
(Ps. 44:2, Ex. 12:26-27), bậc thầy khả kính
(Sir. 6. 34, 3:11-12) và là người kiến tạo
tình bác ái.
Ngày nay việc gia tăng
con số những người lớn tuổi trong nhiều quốc gia trên thế giới, và tình trạng về
hưu sớm tạo nhiều cơ hội cho công tác tông đồ của những người lớn tuổi. Đó là
một công việc phải chu toàn với nhiều can đảm, phải biết quyết tầm vượt qua cơn
cám dỗ muốn thu mình lại, luyến tiếc một dĩ vãng không còn trở lại nữa, và từ
chối dấn thân vào thực tại vì những khó khăn gặp phải trong một thế giới không
ngừng đổi mới. Ngược lại, luôn luôn cần phải ý thức rõ ràng vai trò mình trong
Giáo Hội và xã hội, bởi vì vai trò này không bị ngưng trệ bởi tuổi đời, trái
lại, chỉ là những hình thức mới. Thánh Vịnh ca tụng rằng: "Trong tuổi già, họ
còn sinh hoa trái, họ còn đầy nhựa
sông và sức trai trẻ, tuyên xưng đức công chính của Thiên Chúa" (Ps. 92:15-16).
Ta nhắc lại điều Ta đã nói trong ngày Ngân
Khánh của các bậc thượng thọ: "Đi vào thời kỳ thứ ba của cuộc đời phải được xem
là một đặc ân: không những bởi vì không phải ai cũng may mắn sống đến tuổi này,
nhưng nhất là vì đây là thời kỳ mà con người có thể nhìn lại quá khứ một cách cụ
thể và rõ ràng, hiểu biết nhiều hơn và sống mãnh liệt hơn mầu nhiệm phục sinh,
trở thành một mẫu mực sống trong Giáo Hội cho toàn thể Dân Chúa... Mặc dầu phải
đương đầu với nhiều vấn đề phức tạp, phải chứng kiến sự suy nhược dần dần của
thể xác, những thiếu sót của các tổ chức xã hội, những trì trệ của luật lệ lỗi
thời, những thái độ thiếu thông cảm của một xã hội ích kỷ, vẫn không được nghĩ
rằng mình đang đứng ra ngoài lề cuộc sống của Giáo Hội, là những thành phần thụ
động của một thế giới quá biên động, nhưng là những chi thể tích cực sinh hoạt
của một giai đoạn phong phú của đời sống con người về phương diện nhân loại cũng
như về mặt siêu nhiên. Tuổi già vần còn có sứ mệnh phải hoàn thành, còn có nghĩa
vụ phải đóng góp. Theo Thánh ý của Chúa, mỗi người là một cuộc sống luôn tiếp
nôl, từ ánh loé đầu tiên của cuộc đời mình cho đến hơi thở cuôí cùng."
(175)
NỨ
GlỚl VÀ NAM GlỚl
49.
Các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã lưu tâm đặt biệt đến tình trạng vai trò của
phụ nữ, trong một ý hướng song phương: Các Ngài nhìn nhận và thêm một lần nữa
kêu gọi mỗi người nhìn nhận sự đóng góp cần thiết của nữ giới trong công cuộc
xây dựng Giáo Hội và phát triển xã hội. Ngoài ra, Giáo Hội còn cố tâm khai triển
một cuộc phân tích qui mô hơn về việc tham gia của phụ nữ vào đời sống và sứ
mệnh của Giáo Hội.
Dựa vào giáo huấn của Đức
Gioan XXIII, vị Giáo Hoàng đã nhìn nhận việc nữ giới đã ý thức về chính nhân
phẩm của mình, và việc gia nhầp của nhiều phụ nứ vào đời sống xã hội như một dấu
chứng của thời đại. (176)
Trước những hình thức hết sức đa dạng về tình trạng kỳ thị và cho ra ngoài lề mà
phụ nữ phải cam chịu, chỉ vì họ là nữ giới, các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng đã
quả quyết nhiều lần và mạnh mê cần phải cấp thời bảo vệ và thăng tiến phẩm giá
và sự bình đẳng của nữ giới đối với nam giới.
Nếu đó là công việc của
mỗi người trong Giáo Hội cũng như trong xã hội, thì đặc biệt đó hẳn là công việc
của chính phụ nứ. Họ phải tự cảm thấy cần dấn thân như những kẻ đấu tranh hàng
đầu. Còn có nhiều cố gắng phải thực hiện, ở trong nhiều nơi trên thế giới và
trong nhiều môi trường sống khác nhau, để nảo trạng bất công và tàn tệ xem thân
phận con người như một đồ vật, một món hàng, một dụng cụ phục vụ cho lợi ích vị
kỷ, cho việc tìm kiếm khoái lạc, mà phụ nữ là nạn nhân. Do đó, việc nhìn nhận
phẩm giá con người của phụ nứ một cách chân thành và rõ rệt là bước đầu phải thể
hiện để cổ xúy việc tham dự đầy đủ của nữ giới vào đời sống của Giáo Hội, cũng
như cuộc sống xâ hội và công cộng. Cần phải có một sự đáp ứng dứt khoát hơn cho
lời hiệu triệu mà Ta đã kêu gọi trong Tông Huấn Familiaris consortio liên quan
đến quá nhiều hình thức kỳ thị mà phụ nữ là nạn nhân: "Ta yêu cầu tất cả mọi
người phải dấn thân vào một công tác mục vụ đặc biệt mạnh mẽ hơn và sắc bén hơn
để những kỳ thị đó dứt khoát phải được xóa bỏ, và đi đến việc chân nhận đầy đủ
hình ảnh của Thiên Chúa sáng chói ra trong toàn thể nhân loại không phân biệt
một ai". (177)
Trong dòng tư tưởng đó, những Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đã quả quyết: "Trong sự biểu lộ sứ mệnh của mình, Giáo Hội phải chống lại
một cách mạnh mẽ tất cả các hình thái kỳ thị và lạm dụng mà phụ nữ là nạn nhân".
(178) Và
các Ngài còn nói: "Phẩm giá phụ nữ, từng bị tổn thương nặng nề trong dư luận
quần chúng phải được phục hồi, nhờ vào việc tôn trọng cụ thể các quyền về nhân
phẩm con người và nhờ vào việc thực thi giáo lý của Giáo Hội".
(179)
Còn điểm liên quan đặc
biệt đến việc tham dự tích cực và có trách nhiệm vào đời sống và sứ mạng của
Giáo Hội, thì cần lưu ý là Công Đồng Vaticanô II đã nói rất rõ trong lời mời gọi
sau: "Ngày nay, phụ nữ càng ngày càng dự phần một cách tích cực vào trong tất cả
cuộc sống xã hội, cũng vì thế sự nới rộng việc tham gia của phụ nữ vào các lãnh
vực khác nhau trong công cuộc tông đồ của Giáo Hội lại rất quan trọng."
(180)
Trong thời kỳ hậu Cộng
Đồng này, người ta cũng nhận thức nhiều hơn và sâu xa hơn những tài năng và
trách nhiệm riêng của phụ nữ, cũng như ơn gọi đặc biệt của họ, sự nhận thức đó
được khởi hứng đặc biệt từ Phưc âm và lịch sử Giáo Hội. Thật thế, đôi với những
ai tin vào Phúc âm, nghĩa là lời nói và gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô, vẫn là
chốt điểm cần thiết và quyết định. Hơn lúc nào hết trong lịch sử, những điều này
cần được phong phú và canh tân hơn.
Dầu không được gọi tham
dự chức vụ của Mười Hai Tông Đồ, do đó không ở trong chức linh mục thừa tác,
nhìêu phụ nữ đã theo Chúa Giêsu trong sứ mạng của Ngài và giúp đỡ các Tông Đồ
(Lk. 8.2-3); các bà đã hiện diện bên Thánh Giá (Lk. 23?49) ; các bà đã tham dự
trong cuộc an táng Chúa Giêsu (Lk. 23. 55) và sáng Phục Sinh các bà nhận và
truyền tin Chúa Sống lại (Lk. 24:l-10); các bà cầu nguyện với các Tông Đồ tại
phòng Tiệc Ly để đón chờ Thánh Linh (Acts.
1:14).
Theo dấu chân của Phúc
âm, Giáo Hội ngay từ thời khai nguyên đã vượt ra ngoài tập tục văn hoá đương
thời và mời gọi phụ nứ vào những công tác liên quan đên việc rao giảng Phúc âm.
Trong các thư của Ngài, Thánh Phaolô nêu tên một sổ các bà tuỳ vào các chức vụ
đặc biệt của mỗi người trong công cuộc phục vụ bên trong các cộng đoàn Giáo Hội
đầu tiên (Rom. 16.1-15, Pt. 4:2-3, Col. 4:15, 1 Cor.11:5,
1 Tm. 5.16). Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: "Nếu
việc làm chứng của các Tông Đồ thành lập ra Giáo Hội,
thì việc làm chứng của phụ nữ đã đóng gúp rất nhiều trong việc nuôi dưỡng Đức
Tin của các cộng đoàn Kítô hữu đầu tiên." (181)
Cũng như thời khai nguyên
và trong tiến trình phát triển Giáo Hội, dĩ nhiên với những khác biệt về hình
thức và cách thế đã luôn có những phụ nữ đảm trách những vai trò lắm lúc quyết
định và hoàn thành những công tác có giá trị lớn lao cho Giáo Hội. Đó là cả một
sinh hoạt rộng lớn, thường rất khiêm tốn và kín đáo, nhưng không kém phần quyết
định trong việc phát huy và thánh hóa của Giáo Hội. Lịch sử đó còn cần phải theo
đuổi, hơn thế nữa cần phải phổ biên và tăng gia thêm, song song với việc nhận
thức về nhân phẩm của nữ giới và ơn gọi của họ một cách rộng rãi và bao quát,
đồng thời xúc tiên nhanh chóng một "đường lối mới rao giảng Phúc âm" và một
"hình thức nhân bản" rộng rãi hơn trong eác tương quan xã hội.
Tổng hơp các chỉ thị của
Công Đồng Vaticanô II phản ảnh sứ điệp Phúc âm, cũng như lịch sử Giáo Hội, các
Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nêu lên "lời khuyên cáo" rõ rệt này: "Bằng chính
cuộc sông và bởi sứ mạng của mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả các ơn huệ của
phái nam cũng như phái nữ, và khai triển áp dụng các ơn huệ đó."
(182) Tiêp theo:
"Thượng Hội Đồng này tuyên bố rằng Giáo Hội buộc phải nhìn nhận và xử dụng tất
cả các ơn huệ kinh nghiệm và khả năng này của nam cũng như nữ để sứ mạng của
Giáo Hội được hữu hiệu hơn (Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin, Giáo Huấn về sự tự do công
giáo và sự giải phóng,72". (183)
Các
nền tảng nhân chủng và thần học
50.
Nêú muốn bảo đảm cho nữ giới những chỗ đứng trong Giáo Hội và trong xã hội, cần
phải tôn trọng điều kiện này: phải nghiên cứu đứng đắn và sâu rộng những nền
tảng nhân chủng về nam hay nữ tính của con người, nhằm xác định cá tính của nứ
giới trong tương quan dị biệt và hổ trợ với nam giới, và như thế, không những
chỉ nhằm truy cứu những vai trò và chức phận đảm đang được, nhưng còn sâu xa hơn
thế nữa, nhằm ý thức cơ cấu của nhân vị và ý nghĩa của nó. Các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã cảm nhận rõ ràng yêu sách đó khi các Ngài qủa quyết rằng "các nền
tảng nhân chủng và thần học cán được nghiên cứu sâu xa nhằm đưa đến giải pháp
cho các vấn đề liên quan đến ý nghĩa đích thực và phẩm giá của cả hai phái".
(184)
Khi chú tâm khảo sát về
các nền tảng nhân chủng và thần học của nữ giới, Giáo Hội xác quyết sự có mặt
của mình trong tiến trình lịch sử của các phong trào thăng tiến phụ nữ, và khi
truy cứu tận nguồn gốc nhân vị của phái nữ, Giáo Hội đã cống hiến phần đóng góp
quí giá nhất. Nhưng trước tiên và còn sâu xa hơn, Giáo Hội chủ trương vâng phục
Thiên Chúa, Đấng tạo dựng con người "theo hình ảnh Ngài", "đã tạo dựng nên một
nam và một nứ" (Gn. 1:27); Giáo Hội chủ
trương đón nhận lời kêu gọi của Thiên Chúa
đòi hỏi phải hiểu biết, khầm phục và sống ý định ngay từ "lúc ban đầư" đã ẩn dấu
một cách không thể xóa trong chính ngay nhân vị - người nam và người nữ và, do
đó, trong những cơ cấu mang đầy ý nghĩa và trong nguồn năng động sâu xa của nó.
Và đúng thế, ý định đó, một ý định đầy khôn ngoan và yêu thương, cần phải được
khai phá trong tất cả sự phong phú của nó. Sự phong phú khởi điểm từ "lúc ban
đầư", tuần tự phát huy và thể hiện suốt tiến trình lịch sử cứu độ, và đạt đến
đỉnh cao trong "thời viên mãn" khi "Thiên Chúa đã sai Con Ngài, sinh bởi một
người nữ" (Gal. 4:4). Sự "viên mãn" đó vẫn tiếp tục trong lịch sử: việc hiểu
biết ý định của Thiên Chúa tiếp diễn và phải tiếp diễn không ngừng trong Đức Tin
của Giáo Hội, và cũng nhờ vào cuộc sống của biết bao nhiêu phụ nữ Kitô hữu. Ta
cũng không thể bỏ qua phần đóng góp của nhiều bộ môn khoa học nhân văn, và các
nền văn hóa khác nhau đem lại nhờ vào một lôí suy luận được soi dọi như thế,
phần đóng góp đó có thể giúp ta lãnh hội và xác định những gíá trị, và những yêu
sách thuộc bản tính bền vững của người phụ nữ, cũng như nhứng giá tn và những
yêu sách liên quan đến tiên hóa lịch sử của các nền văn hóa. Công Đồng Vaticanô
II đã nhắc nhở chúng ta điều đó: "Giáo Hội qủa quyết rằng, bởi dưới những thay
đổi, có nhiều điều tồn tại mãi mãi trong Đức Kitô, Đầng tự hữu, hôm qua, hôm nay
và muôn đời (Heb. 13:8)". (185)
Những nền tảng nhân chủng
và thần học của nhân phẩm người phụ nữ đã được bàn đến trong Tông Thư về phẩm
giá và ơn gọi của phụ nữ. Văn kiện dó lập lại, khai triển và chi tiết hơn những
suy tư trong bài dạy giáo lý ngày thứ tư bàn về "thần học của thể xác" trong một
khoảng thời gian dài, mục đích là để vừa hoàn thành một lời hứa, đã nêu lên
trong Thông Điệp Redemptoris Mater (Mẹ Đấng Cứu Thê)
(186), và cũng để
đáp ứng lời yêu cầu của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng.
Do tính cách thần học
Thánh Kinh của bản văn, việc đọc Tông Thư Mulieris dignitatem (Phẩm giá người
phụ nữ), có thể làm cho mọi người, nam cũng như nữ, cảm hứng và đặc biệt khích
lệ những đại diện của các nền khoa học nhân văn và các bộ môn thần học tiêp tục
công trình nghiên cứu phê bình, hầu dựa trên nền tảng nhần phẩm của người nam và
người nữ, và trong tương quan hỗ tương của haì giới, đào sâu hơn những giá trị
và ần huệ đặc biệt của nữ tính, không những trong địa hạt của đời sống xã hội,
mà hơn thế nữa trong lãnh vực của cuộc sống Kitô hữu và Giáo Hội.
Suy tư về những nền tảng
nhân chủng và thần học của nứ tính phải soi rọi và hướng dẫn câu trả lời của
Kitô-hưũ đôí với thắc mắc mà người ta thường đặt
ra, và lắm lúc hết sức sắc bén, về "chỗ đứng"
mà phụ nữ có thể và phải đứng trong Giáo Hội và trong xã hội.
Từ lời nói và thái độ của
Đức Kitô, luôn là mẫu mực cho Giáo Hội, rõ ràng là không hề có một sự kỳ thị nào
trên bình diện tương quan gắn bó với Chúa Kitô, trong Ngài "không còn là người
nam hay người nữ, bởi vì tất cả anh chị em chỉ làm thành một trong Đức Giêsu
Kitô" (Gal. 3:28) , và trên bình diện thông
dự vào cuộc sống và sự thánh thiện của
Giáo Hội, như lời tiên tri Joen đã xác chứng một cách kỳ diệu và được thể hiện
trong ngày Lễ Hiện Xuống: "Ta đã đổ tràn Thần Khí Ta trên tất cả mọi xác thịt,
và con trai và con gái các người sẽ nói tiên tri" (Jl 3:1; Acts.2:17
và tiếp theo...) Người ta cũng đọc được điều đó trong
Tông Thư về phẩm giá và ơn gọi của người phụ nữ: "Cả
hai người nữ cũng như người nam... đều có thể đón nhận chân lý của Thiên Chúa và
tình Ngài trong Thánh Linh. Người nam cũng như người nữ đều đón nhận Ngài "đến"
mang ơn cứu độ và thánh hóa. " (187)
Sứ
mệnh trong Giáo Hội và giữa thế giới
51.
Còn về việc tham dự vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội, chắc chắn rằng nhờ bí tích
Rữa Tội và Thêm Sức, người phụ nữ - cũng như người đàn ông - tham dự vào ba chức
vụ của Chúa Giêsu Kitô - Linh Mục, Tiên Tri và Vua - và do đó có tư cách và phải
dấn thân trong công cuộc tông đồ nền tảng của Gìáo Hội, đó là việc rao giảng
Phúc âm. Ngoàí ra, cụ thể hơn, trong việc hoàn thành sứ vụ tông đồ này, người
phụ nữ lại được kêu gọi để hưởng dụng những "ân huệ" nêng của họ: Trên tất cả,
ơn mang phẩm giá con người, được biểu lộ qua ngôn ngữ và hành động làm chứng cho
đời mình, liên hệ mật thiết đến ơn gọi của người phụ nữ.
Trong việc tham dự vào
đời sống và sứ mệnh của Giáo Hộí, người phụ nứ không thể nhận chức linh mục. Đó
là một sự an bài Giáo Hội luôn chân nhận nơi ý muốn rõ rệt hoàn toàn tự do và
tối thượng của Chúa Giêsu Kitô, khi Ngài chỉ chọn những người trong nam giới để
trở thành Tông Đồ của Ngàl; (188)
là một sự an bàì có thể được hiểu qua sự tương giao giữa Chúa Kitô là Phu Quân
và Giáo Hội là Hiền Thê của Ngài. (189)
Chứng ta đang đứng trên quan niệm về chức vụ,
chứ không phải là quan niệm về nhân phẩm hay sự thánh thiện. Thật ra, ta cần
phải khẳng định rằng: "Dẫu Giáo Hội có một cơ cấu "phẩm cấp", tuy nhiên cơ cấu
này hoàn toàn được xếp đặt để đưa đến việc thánh hóa nhiệm thể của Chúa Kitô".
(190)
Nhưng, như Đức Phaolô VI
đã nói, nếu "chúng ta không có thể thay đổi thái độ của Chúa chúng ta, hay lời
kêu gọi Ngài nói với các phụ nữ, thì chúng ta lại có thể nhìn nhận và cổ võ vai
trò người phụ nứ trong sứ mệnh rao giảng Phúc âm và trong đời sống của cộng đồng
Kitô hữu." (191)
Chúng ta cần phải đi từ
nhận thức trong lý thuyết về sự hiện diện tích cực và trách nhiệm của phụ nữ
trong Giáo Hội, qua việc thực thi nhận thức đó bằng thực hành.
Tông Huấn này phải được
đọc trong ý nghĩa rất chính xác như thế, nó được gửi đến những tín hữu giáo dân,
bằng cách cố ý phân biệt và lập đi lập lại hai chứ "người nam và người nữ". Hơn
nữa Giáo Luật có nhiều dự liệu về việc tham dự của phụ nữ vào đời sống và sứ
mệnh của Giáo Hội: đó là những dự liệu cần phải được am tường một cách rộng rãi
hơn, đồng thời phải tôn trọng những khác biệt về cảm thức văn hóa, và những nhu
cầu mục vụ được thể hiện hợp thời và minh bạch hơn.
Thí dụ việc tham gia của
phụ nữ vào các Hội Đồng mục vụ của giáo phận và giáo xứ, cũng như tham dự vào
các phiên họp cấp địa phận hay các Cộng đồng địa phương. Chính trong ý nghĩa đó
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết: "Phụ nứ tham dự vào đời sống của Giáo Hội
không bị một kỳ thị nào ngav cả trong việc tham khảo và soạn thảo các quyết
định". (192)
Nơí khác lại còn viết: "Nữ giới đã có một chỗ đứng quan trọng trong việc truyền
bá Đức Tin và hoàn thành các công tác đủ loại trong đời sống của Giáo Hội, phải
được tham dự vào việc soạn thảo các tài liệu mục vụ và những sáng kiến truyền
giáo; họ phải được nhìn nhận như là những người hợp tác trong sứ mệnh của Giáo
Hội trong gia đình, trong đời sống chức nghiệp và trong cộng đồng xã hội."
(193)
Trong lãnh vực đặc biệt
hơn nữa về việc rao giảng Phúc âm và giáo lý, phải cổ động hơn nữa về việc bổ
xung phụ nữ vào các trách vụ trong việc truyền bá Đức Tin, không phải chỉ trong
gia đình, nhất là trong các phạm vi khác nhau của môi trường giáo dục, hay nói
một cách tổng quát là ở bất cứ đâu đó có sự tiếp nhận Lời Chúa, tiếp nhận sự
hiểu biết và truyền thông Lời Ngài, kể cả bằng phương tiện học hỏi, truy cứu và
giảng dạy thần học.
Trong khi phát triển rộng
rãi việc dấn thân vào công việc truyền bá Phúc âm, người phụ nữ sẽ cảm thấy rõ
ràng hơn nhu cầu tự mình cần được lãnh nhận Phúc âm. Như vậy, bằng cái nhìn được
soi dẫn bởi Đức Tin. (Eph. 1:18), người phụ nữ sẽ có thể phân biệt được điều gì
thật sự tương xứng với phẩm cách và ơn gọí của mình dù dưới chiêu bài "nhân
phẩm" hay nhân danh "tự do" và "tiến bộ". Ngược lạí những giá trị sai lạc này sẽ
đưa đẩy người phụ nữ đến tình trạng bất thuận lợi cho việc củng cố các giá trị
chân thực. Khiến họ tự mang trách nhiệm về sự suy thoái đạo đức của con người,
của môi trường sống và của xã hội. Thực thi một lối "phân biện" như thế là một
bước đi cần thiết của lịch sử mà ta không thể trì hoãn, và đồng thời đó là một
việc làm có thể thực hiện được và thiết yếu phải thực hiện mà phụ nữ Kitô hữu
cần tham gia khi họ tham dự vào trách vụ rao giảng của Đức Kitô và của Giáo Hội
Ngài. Việc "phân biện" mà Thánh Phaolô nhiều lần nhắc nhở, không phải chỉ là
việc đánh giá thực tại, và các biên cố xảy ra theo ánh sáng của Đức Tin, nó còn
là một quyết định cụ thể và là một cuộc dấn thân tích cực, không phải chỉ ở bên
trong Giáo Hội, mà ngay cả trong xã hội con người.
Người ta có thể quả quyết
là tất cả các vấn đề của thời đại chúng ta mà Hiến Chế Công Đồng (Vui Mừng và Hy
Vọng) đã đề cập đến trong phần thứ hai -
nhứng vấn đề mà thời gian trôi qua dã
không thể giải quyết, và cũng không thể đơn giản được - các vấn đề này đòi hỏi
sự hiện diện tích cực của người nứ giới và sự đóng gúp tiêu biểu và không thể
thay thế của họ.
Đặc biệt, hai trách vụ
lớn lao được trao cho người phụ nữ đang được mọi người lưu ý.
Trước tiên, trách vụ thể
hiện toàn nhân phẩm của mình trong cuộc đời làm vợ và làm mẹ. Phụ nữ ngày nay có
nhiều khả năng mới mẻ để hiểu và thể hiện phong phú hơn những giá trị con người
Công Giáo hàm chứa trong cuộc sống hôn nhân, và trong kinh nghiệm là cha mẹ.
Chính người đàn ông - là chồng và cha trong gia đình - có thể nhờ vậy mà tự sửa
sai những hình thái bỏ bê cách này hay cách khác, hay chỉ có mặt thất thường
hoặc không đầy đủ; hơn thế nữa người đàn ông có thể thắt chặt những tương giao
mới mẻ và có ý nghĩa trong việc trao đổi thật sự giữa người với người trong gia
đình nhờ vào sự can thiệp thông minh, âu yêm và cứng rắn của người vợ.
Một trách vụ khác là việc
bảo đảm lãnh vực đạo lý của văn hóa, nghĩa là một lãnh vực thật sự con người,
đúng hơp với nhân phẩm con người trong đời sống cá nhân và xã hội. Dường như
Công Đồng Vaticanô II đã liên kết lãnh vực đạo lý của văn hóa và sự tham dự của
gláo dân vào sứ mệnh vương giả của Chúa Kitô: "Người giáo dân nên chung sức đem
lại cho các cơ chế và các điều kiện sống trên thế giới những bước khai hóa thích
hứp, khi chúng tạo nên dịp gây nên tộì lỗi , để tất cả cấc điều đó trở nên thích
ứng với những lề luật của công bình và thuận lợi cho việc thực thi các nhần đức
thay vì làm trở ngạỉ. Hành động như thế, giáo dân làm cho văn hóa và các việc
làm con ngườl thấm nhuần gíá trí đạo đức".(194)
Nêu nữ giớì tham dự tích
cực và có trách nhỉệm điều hành các cơ chế, bằng vìệc bảo vệ tính cách ưu tiên
của các gìá tr! con người trong các cộng đồng thì nhưng lời của Công Đồng mà Ta
vừa mớì nêu ở trên sẽ thíểt định được lãnh vực sinh hoạt tông đồ quan trọng của
người phụ nữ. Trong tất cả các lãnh vực sống của các cộng đồng này, từ bình diện
xã hộl kỉnh tế đến xâ hội chính trị, phải tôn trọng và cổ võ nhân phẩm của ngươỉ
phụ nữ và ơn gọi riêng biệt của họ, không những trong địa hạt cá nhân mà còn có
tính cách cộng đồng, không những trong trách nhíệm đã trao phó cho họ, mà còn ở
trong các khuôn khổ được bảo đảm một cách công bằng do các luật lệ dân sự.
"Ngườì đàn ông ở một mình
không tốt; Ta hãy tạo cho nó một người trợ gíúp tương hợp với nó" (Gn. 2:18).
Thiên Chúa Sảng Tạo đã giao phó ngườí đàn ông cho người đàn bà. Hiển nhiên, con
người đã được giao phó cho tất cả mọi người, nhưng một cách đặt biệt đã được
giao phó cho một người đàn bà, bởi vì chính ngườì đàn bà nhờ vào kinh nghiệm đặc
biệt về tài làm mẹ của mình, dường như đươc phú bẩm tính nhạy cảm đặc biệt với
con người, và đối với nhưng gì tạo sự lợi ích đích thực cho con ngườí, bắt đầu
bằng giá trị căn bản của đời sống. Những khả năng và trách nhiệm của người phụ
nữ trong địa hạt này thật lớn lao, khi mà sự phát tnển vê khoa học và kỹ thuật
không còn dựa theo ánh sáng của sự khôn ngoan đích thực; thêm vào đó còn có nguy
cơ "phi nhân hóa" đời sống con người, nhất là khi cuộc sống này cần đến một tình
yêu sâu đậm hơn và một sự tiêp nhận cao thượng hào hiệp hơn!
Khi đem ơn ích và tài
năng của mình phục vụ Giáo Hội và xã hội, người phụ nứ đồng thời tìm được sự
triển nở cá nhân đích thực - một khía cạnh ngày nay đang được nhấn mạnh rất
nhiều - và đóng góp tài sức mình một cách hết sức độc đáo vào sự hiệp thông Giáo
Hội, và niềm phấn khởi truyền giáo của dân Chúa.
Trong viễn tượng như thê,
cũng cần bàn về người đàn ông, chứ không phải chỉ nhằm riêng giới phụ nữ.
Nam-nữ cùng hiện diện và cùng hợp tác
52.
Trong diễn tiến những cuộc họp của Thượng Hội Đồng,
nhiều phát biểu đã bày tỏ môí lo âu rằng việc nhấn mạnh quá đáng về thân thế và
vai trò của phụ nữ có thể đưa đên việc quên lãng không thể chấp nhận dành cho
nam giới. Thật vậy, trong nhiều môi trường sinh hoạt của Giáo Hội, người ta phàn
nàn về việc vắng mặt của các ông hoặc rất ít người tham dự. Một số trong đó lại
bỏ qua trách nhiệm đóng góp với Giáo Hội của mình, vì thế phái nữ phải gánh vác:
Thí dụ, tham dự vào nghi thức kinh nguyện nhà thờ, giáo dục và đặc biệt dạy giáo
lý cho trẻ em, hiện diện trong những cuộc trao đổi tôn giáo hoặc văn hóa, cộng
tác vào các sáng kiến từ thiện và truyền giáo.
Cần phải nỗ lực trong
đường hướng mục vụ để có sự phôl hợp và cộng tác giữa nam và nữ để việc tham dự
của các tín hữu giáo dân vào sứ mệnh cứu độ của Giáo Hội được trở nên đầy đủ,
nhịp nhàng và phong phú hơn.
Lý do căn bản đòi buộc và
giải thích sự hiện diện và hợp tác nam nữ không phải chỉ vì nhằm tăng thêm ý
nghĩa và làm cho công tác mục vụ của Giáo Hội hưu hiệu hơn, lại càng không phải
để đáp ứng khía cạnh xã hội học trong vấn đề tạo nên một khung cảnh đầm ấm có
tính cách nhần loại gồm có nam có nữ. Nhưng trước tiên đây là việc thể hiện ý
định ban đầu của Tạo Hóa, Đấng từ "thuở khai nguyên" đã muốn rằng con người phải
"như một sự hơp nhất giữa nam và nứ" và đã dựng nên một nam và một nữ làm thành
cộng đồng đầu tiên, căn bản của tất cả các cộng đồng khác, và đồng thời như một
"dấu chứng" của cộng đồng. Ngôi vị tương giao trong yêu thương tạo thành mầu
nhiệm cho cuộc sống gắn bó của Thiên Chúa duy nhất và ba Ngôi Thiên Chúa.
Chính vì lý do đặc biệt
như thế mà hình thái phổ biến nhất và tinh tế nhất, đồng thời cũng là cơ bản
nhất để bảo đảm sự hiện diện phôí hợp và hòa hợp nam nữ trong cuộc sống và trong
sứ mệnh của Giáo Hội, chính là việc chu toàn các trách vụ, thi hành các trách
nhiệm vợ chồng và gia đình Công Giáo, trong đó sự phong phú của các hình thức vợ
chồng, cha mẹ, con cái và anh em. Tông Huấn Familiaris
consortio nói rằng: "Nếu gia đình Công Giáo là một
cộng đồng mà các môí giây liên hệ luôn
được canh tân bởi Chúa Kitô qua Đức Tin và các Bí Tích, sự tham gia của gia đình
Công Giáo vào sứ mạng của Giáo Hội phải được thực hiện một cách cộng đồng; vợ
chồng cùng nhau với tư cách là một cặp hôn nhân, cha mẹ và con cái, với tư cách
là gia đình, phải sống đời phục vụ Giáo Hội và thế giới... Ngoài ra gia đmh Công
Giáo xây dựng nước Chúa trong lịch sử qua cuộc sống thực thi hằng ngày bằng đời
sống riêng biệt của mình: Việc tham dự của gia đình Công Giáo vào sứ mệnh rao
giảng, tư tế và vương giả của Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội Ngài,(195)
được diễn tả và thực hiện trong tình vợ
chồng và gia đình; tình thương này phải được sống theo các giá trị và đòi hỏi
của nó một cách trung tín và phong phú.
Đặt mình vàơ bôi cảnh đó,
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhắc nhở ý nghĩa mà bí tích Hôn Nhân phải được
thực hiện trong Giáo Hội và trong xã hội để soi sáng và khởi hứng tất cả các môí
tương giao nam nứ. Chính trong ý nghĩa ấy các Ngài đã nhấn mạnh "mỗi một Kitô
hữu cần phải sống và loan báo sứ điệp hy vọng chứa đựng trong môi tương giao
giữa người nam và người nữ. Bí Tích Hôn Phôí thánh hóa môí tương giao này trong
hình thức hôn nhân, và bắt đầu môí tương giao này như là một dấu hiệu của môí
tương giao giữa Chúa Kitô và Giáo Hội; Bí Tích đó chứa đựng một nội dung giáo
huấn có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của Giáo Hội, qua trung gian
Giáo Hội, giáo huấn này phải được đưa đên cho thế giới ngày nay, tất cả những
tương giao nam nữ phải bắt nguồn hứng khởi từ giáo huấn này. Giáo Hội còn tuỳ
thuộc vào những giá trị tinh thần phong phú của mình một cách rộng rãi hơn nữa".
(196) Do
đó, chính cấc Nghị Phụ lại nêu lên "sự qúi mến đức trinh khiết và tôn trọng viêc
sinh sản con cái cả hai cần phải được phục hồi giá trị",(197)
để khích lệ và phát triển các ơn gọi khác nhau hầu bổ xung cách sống động sự
hiệp thông trong Giáo Hội, nhằm phục vụ sự tăng triển không ngừng của việc hiệp
thông này.
BỆNH
NHÂN VÀ NGƯỜl ĐAU KHỔ
53.
Con người được kêu gọi để tiến đên niềm vui, nhưng ngày nay, con người lại trải
qua biết bao nhiêu hình thức đau đớn và thống khổ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng,
trong Sứ Điêp cuối cùng của các Ngài đã gởi đến cho mọi người nam cũng như nữ
đang chịu đựng những hình tbức đau đớn và thống khổ khác nhau, những lời này:
"Hỡi các bạn, những kẻ bị bỏ rơi, các bạn đang bị xã hội tiêu thụ của chúng ta
ruồng rẫy, các bạn là những kẻ bệnh hoạn, tật nguyền, nghèo khổ, đói khát, di
cư, lưu đày, tù tội, thất nghiệp, già yếu, trẻ em bị bỏ rơi, và những kẻ cô đơn,
nạn nhân của chiến cuộc và của tất cả các thứ bạo tàn, hậu quả của một xã hội
quá tự do: Giáo Hội chia sẻ nỗi đau thương của các bạn; nỗi đau thương đó dẫn
các bạn đến Thiên Chúa, giúp các bạn thông phần với khổ nạn Cứa Chuộc, làm cho
các bạn sống trong ánh sáng Cứu Rỗi của Ngài. Chúng tôi mong chờ nơi các bạn để
giáo huấn cho toàn thế giới hiểu được tình yêu là gì. Chúng tôi sẽ làm tất cả
những gì có thể để các bạn tìm ra được một chỗ đứng mà các bạn có quyền có trong
xã hội và trong Giáo Hội." (198)
Trong khuôn khổ của một
thế giới không biên cương, như thế giới đau khổ của con người, chúng ta hãy nhìn
đến tất cả những ai đang mắc các bệnh chứng dưới nhiều hình thức: Thật vậy, bệnh
nhân là sự biểu lộ thông thường và phổ biến nhất của con người đau khổ.
Tiếng gọi của Thiên Chúa
gửi đến tất cả và mỗi một người trong họ: Những ai bệnh tật cũng được gửi đến
làm thợ vườn nho của Chúa. Đau khổ thể xác cũng như thống khổ tâm hồn, không làm
cho họ đi ra khỏi vườn nho mà ngược lại kêu gọi họ sống ơn gọi của con người,
của người Kitô hữu, và tham dự vào sự phát triển Nước Chúa dưới những hình thái
mới và qúi giá hơn cả. Những lời của Thánh Tông Đồ Phaolô phải trở thành chương
trình sống, và trước tiên những lời đó là ánh sáng soi dẫn cho họ thấy ý nghìa
của ân sủng phát xuất từ chính hoàn cảnh của họ: "Những gì còn thiêú cho đau khổ
của Chúa Kitô thì ta hãy bằng lòng chịu
trong xac thịt ta, vì lợi cho cho nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội (Col 1.24).
Chính nhờ thể hiện cuộc khám phá đó Thánh
Tông Đồ đã đi đến niềm vui mừng:"Cha vui
mừng trong những đau khổ mà Cha gánh chịu vì các
con" (Col. 1:24). Cũng thế, nhiều bệnh nhân có thể
trở nên những người mang lạỉ nguồn vui cua Thanh Linh
ở
gíữa những thử thách" (1 Thes. 1:6) và là chứng tá công
cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu. Trong một buổi họp của
Thượng Hội Đồng một người tàn tật đã phát biểu như sau: "Rất cần phải nêu lên để
ý thức rằng nhưng Kitô hữu sống trong những hoàn cảnh bệnh tầt, đau khổ, già yếu
được Thiên Chúa mời gọi không phảì chỉ thông hiệp nỗi khốn khổ của họ với nỗi
thông khổ của Chúa Kitô, nhưng ngay từ bây giờ họ được kêu gọi đón nhận cho
chính họ và truyền lại cho kẻ khác nguồn sinh lực mớí và niềm vuí của Chúa Kitô
phuc sinh (2 Cor. 4:10-11; 1 Pt. 4:13; Rom. 8:18 và kế)
(199)
Về phần mình, Giáo Hội đã
nêu lên đìêu đó trong Tông Thư Salvifici doloris (Sự đau thương cứu rỗi) - "Được
sỉnh ra từ mầu nhỉệm cứu chuộc eủa Thập Giá Đưc Kttô, Giáo Hội có bổn phận phải
cố tìm gặp con người một cách đặc biệt trên con đường đau khổ. Trong cuộc gặp gỡ
đo, con ngươi "trở nên con đường của Giáo Hội " và đó là một trong những cơn
đường quan trọng nhất. (200)
Con ngừơi đau khổ là con đường của Gỉáo Hội, bởi vì trước tiên họ là con đường
của chính Chúa Kitô, ngươi Samarítanô tất lành, không
"bỏ con đường mình đi" nhưng "động lòng thương người
đó đến gần... băng bó vết thương.. săn sóc ông
ta" (Lk.10:32-34)
Từ thế kỷ này qua thế kỷ
khác, cộng đoàn Công Giáo giữa muôn ngàn người bệnh tật và đau khổ, đã thực hiện
dụ ngôn người Samarìtanô tốt lành bằng cách biểu lộ và thông truyền tình yêu cứu
rỗi và ủi an của Chúa Kitô. Điều này được thể hiện do những người bằng đời hiến
thân phục vụ người đau ốm, và qua việc dấn thân không ngừng của tất cả những
người đặc trách các dịch vụ y tế. Ngày nay, ngay cả trong các bệnh viện và các
cơ sở săn sóc sức khỏe của người Công Giáo, tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ,
càng ngày càng tăng thêm số người phục vụ đến nỗi có lúc gần như chiếm hầu hết
hay chỉ còn có họ. Chính họ - bác sĩ, y tá nam nữ, nhân viên y tế và các trợ tá
- hy sinh vì nghĩa hiệp là những kẻ được mời gọi để tạo thành hình ảnh sống động
của Chúa Kitô và Giáo Hội trong tình yêu đôí với những người bệnh tật và đau
khổ.
Canh
tân sinh hoạt mục vụ
54.
Gia sản qúi giá đó Chúa Giêsu Kitô "thầy thuốc của thân xác và tâm hồn",
(201) đã để lại
cho Giáo Hội không được để suy giảm, nhưng cần gia tăng giá trị và làm cho phong
phú thêm qua nỗ lực phục hồi và phát huy một đà sinh hoạt mục vụ vừa phục vụ và
đồng thời cùng hành động với nhứng người bệnh và những kẻ đau khổ. Cần có một
sinh hoạt mục vụ có khả năng nâng đỡ và cổ võ thái độ ân cần, hiện diện, lắng
nghe, đôí thoại, chia sẻ và trợ giúp cụ thể đốỉ với con người trong những giầy
phút bệnh hoạn và đau khổ đang chịu thử thách nặng nề không những liên quan đến
niềm tin vào cuộc sống, nhưng còn liên quan đến chính Đức Tin đôi với Thiên Chúa
và tình yêu phụ tử của Ngài. Việc canh tán mục vụ này biêu lộ đầy ý nghĩa nhất
trong khi cử hành các Bí Tích cùng với các bệnh nhần và đem lại cho họ sức mạnh
trong cơn đau khổ và yếu nhược, niềm trông cậy trong lúc tuyệt vọng, tạo cho họ
nơi chốn gặp gỡ và (niềm vui) ngày hội.
Một trong những mục tiêu
của sinh hoạt mục vụ được canh tân và năng động này, phải được phốỉ hợp để bao
hàm tất cả các thành phần cấu tạo nên cộng đồng Giáo Hội, là việc ý thức rằng
người bệnh, người tàn phế, người đau khổ không chỉ là những người được Giáo Hội
yêu thương, phục vụ mà thôi, mà còn là chủ thể tích cực và trách nhiệm trong
cộng cuộc rao giảng Phúc âm và sự cứu rỗi. Trong cái nhìn đó, Giáo Hội loan báo
một nguồn tin mới ở giữa lòng xã hội và các cao trào văn hóa đang đánh mất ý
nghĩa sự đau khổ con người nên "cấm cản" không cho nói lên thực tế này. Nguồn
tin mừng này loan báo cho ta ý thức rằng đau khổ có thể có một ý nghĩa tích cực
cho con người và cho chính xã hội, vì đau khổ cần được cảm nhận để trở thành một
hình thức thông dự vào sự khổ đau cứu độ của Chúa Kitô và niềm vui sống lại của
Ngài, bởi vì đau khổ là một sức mạnh thánh hóa và xây dựng Giáo Hội.
Việc loan báo tin mừng đó
trở nên đáng tin cậy khi nó không chỉ là một lời nói suông, nhưng được thể hiện
qua chứng tá của cuộc sống, không những của những kẻ săn sóc sức khỏe cho người
bệnh, người tàn phế và những sự đau khổ, mà còn qua chứng tá của chính những
người bệnh, đã ý thức và có trách nhiệm hơn về vị thế và công tác của họ trong
Giáo Hội và cho Giáo Hội.
Để "nền văn minh của tình
yêu" có thể đâm hoa kết tráí trong thế giới đầy tràn khổ đau, nên đọc và suy
ngắm kỹ bức Tông Thư SalvificirC; doloris, "sự đau thương cứu rỗi", mà ở đây Ta
nhắc lại phần kết: "Như thế, những ai đau khổ và tin vào Chúa Kitô, đặc biệt
những ai đau khổ vì niềm tin của mình vào nơi Ngài, Đấng đã chịu đóng đinh và đã
sống lại, cần kết hơp lại với nhau bằng tâm trí dưới chân Thánh Giá trên đồi
Canve, để những đau khổ của họ đã dược hiến dâng làm cho lời nguyện hiệp nhất
của chính Đầng Cứu Chuộc sớm được thể hiện. Những người thiện tâm cũng cần kết
hợp lại, bởi vì "Đấng Cứu Chuộc con người", con người đau khổ đã mang lấy trong
mình những đau khổ thể xác và tinh thần của nhân loại qua mọi thời đại, từng
treo mình trên Thánh Giá... để mọi người có thể tìm thấy trong tình yêu ý nghĩa
cứu độ do những đau khổ của họ, và những giải đáp cho tất cả nhứng thắc mắc họ
nêu ra. Chúng ta hãy dừng lại gần với tất cả những đau khổ của con người ngày
nay, với Maria, Mẹ Đức Kitô, người đã đứng dưới chân Thánh Giá. Chúng ta kêu đến
tất cả các Thánh qua bao thế kỷ đã đặc biệt thông dự những đau khổ của Chúa
Kitô. Chúng ta xin các Ngài nâng đỡ chúng ta, và chúng tôi xin anh chị em tất cả
những ai đau khổ hãy giúp đỡ chúng tôi. Chúng tôi xin chính những người yêú
nhược hãy trở nên một nguồn sức mạnh cho Giáo Hội, và cho nhân loại. Trong cuộc
tranh chấp ghê gớm giữa các sức mạnh của Thiện và ác mà thế giới ngày nay đang
chiến đấu trước mặt chúng ta, cầu xin cho nỗi đau khổ của anh chị em được kết
hợp với Thánh Giá của Đức Kitô đem lại sự toàn thắng"
(202)
BẬC
SỐNG VÀ ƠN GỌl
55.
Các thợ vườn nho đều thuộc thành phần Dân Chúa - linh mục, nam nữ tu sỹ, tín hữu
giáo dân - tất cả là đối tượng, đồng thời là chủ thể trong sự hiệp thông của
Giáo Hội, và công việc tham gia vào sử mệnh cứu độ của Giáo Hội. Tất cả mọi
người và mỗi người chúng ta sinh hoạt ở trong vườn nho duy nhất của Chúa, chung
cho mọi người, với những đoàn sủng và những thừa-tác-vụ khác nhau bổ xung cho
nhau.
Trước khi hành động, thì
tự bản tính của các Kitô hữu đã là những cành của một cây nho xum xuê duy nhất,
đó là Đức Kitô. Họ là chi thể sống động của một Thân Thể duy nhất của Chúa được
xây dựng trong sức mạnh Thánh Linh. Xét về bản tính; nghĩa là điều đó không chỉ
muốn nói là nhờ vào cuộc sống ân sủng và sự thánh thiện, nguồn suôí đầu tiên và
sung mãn nhất của việc triển nở sứ mệnh tông đồ và truyền giáo của Hội Thánh, Mẹ
chúng ta. Nó còn có nghĩa là bằng phương thế của đời sống thánh thiện của các
linh mục và các phó tế, các nam nứ tu sỹ, các thành phần của các cơ chế xã hội,
các tín hữu giáo dân.
Trong Giáo Hội Hiệp
Thông, các bậc sống kết hợp chặt chẽ với nhau đến mức độ quyến chặt lấy nhau.
Cùng một ý nghĩa sâu xa duy nhất cho tất cả mọi bậc sống, đó là một cách sống
phẩm giá Kitô hữu giống nhau và ơn gọi phổ quát hướng đến sự thánh thiện trong
sự hoàn hảo của tình yêu. Những sắc thái (của đời sống) vùa khác nhau vừa bổ
sung, nên mỗi sắc thái là một khuôn mặt độc đáo, ta không thể lấn lộn, và đồng
thời mỗi bậc sống ở vào một vị trí tương quan với các bậc sống khác để phục vụ
cho tất cả.
Như thế, nét đặc biệt của
bậc sống ngườl tín hữu giáo dân là tính cách trần thế. Người tín hữu giáo dân
thực hiện một công tác của Giáo Hội bằng cách chứng thực và nhắc nhở cho linh
mục, tu sỹ nam nữ, theo phương thế của mình, ý nghĩa mà thực tại trần thế chất
chứa trong ý định cứu độ của Thiên Chúa. Về phần mình, lình mục thừa tác bảo đảm
sự hiện diện thường trực của các Bí Tích của Đức Kitô, Đấng Cứu Độ qua các thởi
gian và không gian. Đời tu trì chứng tá tính cách song mãn của Giáo Hội, nói một
cách khác làm chứng hướng đi của Giáo Hội về Nước Trời, được hình dung trước,
được thấy trước, và cảm nghiệm được nhờ việc tuyên khấn giứ đức khiết tinh,
nghềo khó và vâng lời.
Trong toàn thể những bậc
sống khác nhau, và trong mỗỉ một bậc sống tương quan với các bậc sống khác, tất
cả đều phải phục vụ cho sự tăng triển Giáo Hội, đó là nhứng cách thế sống khác
nhau kết hợp sâu xa vào mầu nhiệm hiệp thông" của Gíảo Hội, và kết hợp với nhau
trong một đà tiên về một sứ mang duy nhất của Giáo Hội.
Bằng cấch đó, mầu nhiệm
duy nhất và đồng nhất của Giáo Hộí khai mở và làm sống lại sự sung mãn vô biên
của mầu nhiệm Chúa Kitô, trong sự khác biệt của các bậc sống Đơi mỗi ơn gọi,
Cũng như các Nghỉ Phụ đã hoan hỉ nhắc lại Giáo Hội giống như một cánh đồng mà ta
thấy có nhiều thứ cỏ, cây, hoa trái tuyệt vời và đẹp mắt. Thánh Ambriôsố víêt:
"Một cánh đông trổ sinh nhiều tráí, những cánh đồng tốt nhất chính là nơi sản
xuất nhiều hoa lẫn nhiều trái. Cánh đồng Giáo Hộì là nơi trổ sinh cả hoa lẫn
trái. Ở đây anh chị em có thể thấy đức khiết tịnh trổ hoa, nơi khác đời sống góa
bụa biểu dương sự khắc khổ của Giáo Hội như những rừng cây trong đồng bằng;
ngoàí ra những cuộc hôn nhân được Giáo Hội chúc phúc như ngày mùa gặt hái đổ đầy
hoa trái vào các kho lẫm bao la của thế giởi, và máy ép nho của Chúa Giêsu đầy
ắp trái nho cua vườn nho sai trái, làm phong phú đờì sống hôn nhân Công Giáo."
(203)
Những
ơn gọi khác nhau của đời sống giáo dân
56.
Sự khác biệt phong phú của Giáo Hộỉ được biểu dương một lần nữa ở bên trong mỗi
bậc sống. Nói cách khác, mỗi bậc sống của người giáo dân đã có nhiều "ơn gọi"
khác nhau, đó là những đường lối thiêng liêng và tông đồ khác nhau liên quan đến
mỗi người tín hữu giáo dân. Trong những "ơn gọi chung" của người giáo dân cũng
có nhiều "ơn gọi nêng". Điều này, chúng ta có thể nêu lên kinh nghiệm sống
thiêng liêng, viên mãn trong Giáo Hội ở thời gian gần đây và đã đua nở dưới
nhiều hình thức các tu hội giáo dân khác nhau. Nó cho thấy rằng người tín hữu
giáo dân và ngay cả linh mục cũng có thể sống lời khuyên Phúc âm là nghèo khó,
khiết tịnh, và vầng lời bằng việc tuyên khấn hoặc tuyên hứa, nhưng vẫn có thể
chu toàn đời sống giáo dân hay giáo sỹ đặc biệt của mình.
(204) Cũng như
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã ghi nhận như sau: "Chúa Thánh Thần còn soi sáng
những hình thức tận hiến khác nhau được các tín hữu giáo dân thực hiện trong khi
vẫn hoàn toàn sống đời giáo dân của họ". (205)
Chúng ta có thể kết luận
bằng cách đọc lại tư tưởng của Thánh Phanxicô de Salles, Người đã từng cổ động
nhiều lôí sống thiêng liêng của giáo dân. (206)
Khi nói về "lòng đạo đức" nghĩa là sự trọn lành của người Kitô hữu hoặc "sông
theo ơn Chúa Thánh Thần", Ngài trình bày một cách đơn sơ và minh bạch ơn gọi nên
Thánh của tất cả Kitô hữu trong khi nhấn mạnh hình thức đặc biệt mà trong đó mỗi
Kitô hữu phải chu tất: "Thiên Chúa truyền dạy cho thụ tạo, cây phải sinh trái,
mỗi cây theo giống của mình" (Gn.1:11).
Cũng vậy Ngài đòi buộc người Kitô hữu là những cây
sống động trong Giáo Hội của Ngài, phải trổ sinh hoa
trái thiêng liêng mỗi người tùy vào phẩm chất và ơn gọi của mình. Sự trọn lành
phải được người quân tử, thợ thuyền, đầy tớ, vương tước, góa bụa, thiếu nữ, phụ
nữ có gia đình phải thể hiện một cách khác nhau; không chỉ riêng vậy mà thôi,
nhưng phảí thích ứng việc thi hành đời sống trọn lành theo khả năng, công việc
và bổn phận của riêng mỗi người... Thật là lầm lẫn, và còn là tà đạo, khi loại
bỏ đời sống đạo hạnh ra khỏi trại binh lính, cửa hàng của các người thủ công,
đền đài vua chúa, hoặc tổ ấm gia đình. Hỡi kẻ mộ mến Thiên Chúa, con đường trọn
lành hoàn toàn chiêm niệm, khổ tu hay tu sỹ thật ra không thể áp dụng cho những
lôí sống trên. Nhưng ngoài ba lôí sống tu đó còn nhiều hình thức khác để nên
thánh thích ứng cho những ai sống đời sống thế tục dù ở hoàn cảnh nào, chúng ta
có thể và phải hướng đên đời sống trọn lành."
(207)
Trong chiều hướng đó,
Công Đồng Vatican II đã viết: "Đời sống thiêng liêng này của giáo dân phải mặc
những nét riêng biệt thể theo điều kiện sống của mỗi người (đời sống vợ chồng và
gia đình, đời sống độc thân và goá bụa), hoàn cảnh đau ốm, sinh hoạt nghề nghiệp
và xã hội. Mỗi người phải không ngừng phát huy phẩm cách và ơn đã nhận được, đặc
biệt những ơn riêng thích ứng với điều kiện sống và xử dung những ơn Chúa Thánh
Linh đã ban cho mình. (208)
Nếu có nhiều ơn gọi
thiêng liêng của Chúa Thánh Linh, thì trong một ý nghĩa nào đó, lại có vô số
những cách sống của tất cả các thành phần trong Giáo Hội là những thợ làm trong
vườn nho của Chúa, xây dựng Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô. Thật vậy, mỗi người
trong tính cách duy nhất của lịch sử đời sống mình đã được gọi đích danh để đóng
góp phần riêng của mình cho tiến trình hoàn thành Nước Thiên Chúa. Không một tài
năng nào dù nhỏ bé đến đâu, lại có thể bị che dấu hoặc không dùng đến (Mt.
25:24-27).
Thánh Tông Đồ Phêrô đã
cảnh giác chúng ta bằng những lời sau đáy: "Mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà
phục vụ kẻ khác, như những người quản lý trung tín giữ mọi ân sủng của Thiên
Chúa" (1 Pt. 4:10).
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm

|