|
TÔNG HUẤN
CHRISTIFIDELES LAICI
của Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II
Về ƠN GỌI và SỨ
MỆNH của NGƯỜI GIÁO DÂN
Trong Giáo Hội và giữa Trần
Thế
Bản dịch của
Gs. Nguyễn Đăng Trúc
Nhập
đề -
Chương:
Một -
Hai -
Ba -
Bốn -
Năm
Chương V
ĐÊ
CHÚNG CON MANG LẠI HOA TRÁI
Công việc đào cạo người tín hữu
giáo dân
PHẢl
LUÔN LUÔN ĐẠT ĐẾN MỨC TRƯỞNG THÀNH
57.
Hình ảnh cây nho và cành nho trong Phúc âm khai mở cho ta thấy một lãnh vực căn
bản khác của đời sống và sứ mạng người tín hữu giáo dân: lời mời gọi phải lớn
lên và không ngừng tăng trưởng để luôn mang lại hoa trái. Chúa Cha săn sóc vườn
nho của Ngài như một người trồng nho siêng năng. Israen khẩn khoản van xin Thiên
Chúa ân cần hiện díện, với lời cầu nguyện như sau: "Lạy Thiên chúa
của vũ trụ, xin Ngài hãy trở lại! Từ trời cao xin
Ngài hãy nhìn xem, thăm viêng cây nho này. Xin bảo vệ cây nho mà cánh tay quyền
lực của Ngài đã trồng" (Ps. 80.15-16). Đến
phiên Ngài, Chúa Giêsu nói về công việc của Chúa Cha:
"Ta là cây nho thật, và Cha Ta là người
trồng nho. Cành nào ở trong Ta mà không sinh hoa trái, Cha Ta sẽ chặt nó đí,
cành nào sinh hoa trái, Ngài cũng tỉa bớt đi cho càng sai trái hơn" (Jn.
15.1-2).
Sinh lực của các cành nho
tùy thuộc vào sự nối kết với thân cây, là Chúa Giêsu Kitô: "Ai Ở trong Ta và Ta
ở trong người ấy, người đó sẽ sinh
nhiều hoa trái; vì ngoài Ta ra, các con chẳng làm gì được" (Jn.15.5).
Con người được Thiên Chúa
kêu gọi trong sự tự do của mình để triển nở, phát huy và mang lại hoa trái. Con
người không thể không đáp lại lời mời gọi đó, không thể không chu toàn trách
nhiệm của chính mình. Những lời Chúa Giêsu sau đây nhằm nói đến trách nhiệm vừa
kinh hoàng vừa phấn khởi đó: "Nêú ai khơng ở trong Ta sẽ bị quăng
ra như cành khô héo, người ta sẽ thu lại bỏ vào lửa
mà đôt đi" (Jn.16. 6)
Cuộc đối thoại giữa Thiên
Chúa, Đấng kêu mời, và người được gọi trong trách nhiệm của mình, có thể và cần
phải có một sự đào tạo toàn diện và liên lỉ những tín hữu giáo dân, như các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng đã dành một phần lớn công việc của mình để khai triển vấn đề
này. Đặc biệt, sau khi mô tả việc đào tạo người Kitô hữu như "một tiên trình
liên tục của cá nhân để trưởng thành trong Đức Tin, và để nên giống với Đức Kitô
theo ý muốn của Chúa Cha dưới sự dìu dắt của Chúa Thánh Thần", các Ngài đã quả
quyết minh bạch rằng: "Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải nằm trong những ưu
tiên của giáo phận, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ, làm
thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn (linh mục, tu sỹ, giáo dân) quy hướng về
cùng đích này". (209)
KHÁM
PHÁ VÀ SỐNG ƠN GỌl VÀ SỨ MỆNH CỦA RlÊNG MÌNH
58.
Việc đào tạo các tín hữu giáo dân nhằm mục tiêu cơ bản là tìm ra ơn gọi riêng tư
của mỗi người, để càng ngày càng tỏ lộ và làm cho mỗi người luôn sẵn sàng hơn
nữa để sống ơn gọi đó, hầu chu toàn sứ mệnh riêng của mình.
Thiên Chúa gọi tôi và
Ngài gửi tôi đến làm người thợ trong vườn nho của Ngài, Ngài gọi tôi và sai tôi
đi để dọn đường cho nước Ngài đến trong lịch sử. Ơn gọi và sứ mệnh cá biệt đó
xác định phẩm giá và trách nhiệm mỗi tín hữu giáo dân và kết thành giềng môi của
chương trình đào luyện. Công việc đó nhằm mục đích giúp chân nhận phẩm giá của
người tín hữu giáo dân trong niềm hoan lạc và biết ơn, đồng thời giúp họ đương
đầu với trách nhiệm của mình một cách trung tín và đại độ.
Thật vậy Thiên Chúa đã
nghĩ đến chúng ta từ thuở đời đời, và Ngài đã thương yêu chúng ta như những nhân
vị duy nhất và bất khả thay thế. Ngài gọi mỗi người chúng ta bằng chính tên
chúng ta, như người Mục Tử tốt "gọi các con
chiên của mình bằng chính tên chúng" (Jn. 10.3).
Nhưng chương trình đời đời của Thiên Chúa chỉ được
mặc khải cho mỗi người chúng ta trong tiến trình phát triển lịch sử của cuộc
sống và các biến cố của mỗi người; một cách nào đó, nó tuần tự tiếp diễn ngày
này qua ngày khác.
Ngoài ra, trong đời sống
của mỗi tín hữu giáo dân, có những giai đoạn đặc biệt có ý nghĩa và mang tính
cách quyết định giúp ta chân nhận Lời Chúa gọi và đón nhận sứ mạng Chúa giao.
Trong những giai đoạn đó, có thời kỳ của tuổi trẻ và tuổi thành niên. Tuy nhiên
đừng ai quên rằng Chúa như người chủ vườn nho trong dụ ngôn, trong đường hướng
Ngài đã cho thấy thánh ý của Ngài một cách cụ thể và chính xác - gọi (chúng ta)
vào tất cả các giờ của cuộc sống. Do đó, phải luôn tỉnh thức, có nghĩa là phải
ân cần lắng nghe tiếng Chúa, đó chính là thái độ căn bản và kiên trì của môn đệ
Ngài.
Dầu thế nào, không phải
chỉ cần biết Chúa muốn gì nơi mỗi người chúng ta trong những hoàn cảnh khác biệt
của cuộc sống. Nhưng phải làm đìều Chúa muốn, đó là điều mà Maria, Mẹ Thiên Chúa
nhắc nhở chúng ta như đã nói với các người giúp tiệc cưới tại Cana: "Các ngươi
hãy làm những gì Ngài bảo " (Jn. 2:5) .
Và để hành động một cách
hoàn toàn trung tín với thánh ý của Thiên Chúa, cần phải có đủ khả năng, và phát
triển mỗi ngày một thêm khả năng này. Dĩ nhiên, với ơn của Chúa: ơn Chúa không
bao giờ thiếu, như Thánh Lêô Cả đã nói: "Đấng đã trao cho anh em phẩm chức, thì
cũng sẽ cho anh em sức mạnh". (210)
Nhưng cũng cần có sự hợp tác tự do và trách nhiệm của mỗi một ngườí chúng ta.
Đây là công tác tuyệt vời
và bận rộn đang chờ đón mọi tín hữu giáo dân, những người Kitô hữu không nghỉ
ngơi: luôn ý thức hơn nữa những kho tàng phong phú của Đức Tin và bí tích Rửa
Tội và sống những ơn huệ đó một cách hoàn hảo, như Thánh Phêrô Tông Đồ, khi nói
về sự sinh ra và lớn lên như là hai giai đoạn của đời sống Kitô hữu, đã khuyên
bảo chúng ta: "Anh em hãy giông như những
trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát Lối Chúa, như một giòng sữa trinh trong làm
cho anh em được lớn lên để đi đến sự cứu
độ,, (1 Pt. 2.2).
ĐÀO
LUYỆN TOÀN DlỆN ĐỂ SỐNG TRONG HỢP NHÂT
59.
Việe khám phá và thực hiện ơn gọi và sứ mệnh cá nhân đối với người tín hữu giáo
dân đòi buộc phải được đào tạo để sống trong hợp nhất. Họ đã mang ấn tín của sự
hợp nhất này ngay trong chính bản tính của họ là thành phần của Giáo Hội và công
dân của xã hội loài người.
Trong cuộc đời của họ
không thể có hai lối sống song song: một bên là "thiêng liêng" với những giá trị
và những bó buộc riêng; bên kia là "trần thê ', nghĩa là gia đình công việc làm
ăn, tương giao xã hội, dấn thân làm chính trị, sinh hoạt văn hoá. Nhánh nho được
ghép vào cây nho là Chúa Kitô mang hoa trái trong tất cả các lãnh vực sinh hoạt
và cuộc sống. Thật vậy, tất cả các lãnh vực của đời sống giáo dần đều quy hướng
vào ý định của Thiên Chúa, Ngài muốn tất cả chúng ta phải là "môi trường lịch
sử" để Đức ái của Chúa Kitô được mặc khải và thể hiện cho vinh danh Chúa Cha, và
phục vụ anh em mình. Tất cả các sinh hoạt, các hoàn cảnh, các cuộc dấn thân cụ
thể - khả năng và liên đới trong công việc làm ăn, tình yêu và sự tận tụy trong
gia đình hay trong việc giáo dục con cái, dịch vụ xã hội và chính trị, việc
triển khai chân lý trong thế giới của văn hoá - tất cả những việc đó là cơ hội
được quan phòng để thể hiên "việc thực hành liên tục Đức Tin, Đức Cậy và Đức
ái".(211)
Công Đồng Vaticanô II đã
kêu gọi người tín hữu giáo dân hướng đến sự hiệp nhất đó, và mạnh mẽ tố giác
tính cách nghiêm trọng của việc phân tách giữa Đức Tin và đời sống, giữa Phúc âm
và văn hoá: "Công Đồng khuyến khích người Kitô hữu, công dân của nước trần thế
và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của mình một cách nhiệt tình, trung
tín, và vâng theo sự hướng dần của tinh thần Phúc âm. Những ai, từng biết rằng
mình không có được nước vĩnh cửu dưới trần thế này, nhưng đang tiến về vương
quốc tương lai, lại cho rằng có thể coi thường những nghĩa vụ làm người của
mình, và không nhân ra rằng chính Đức Tin, tùy vào ơn gọi của mỗi người làm cho
những nghĩa vụ đó trở thành một bổn phận khẩn thiết. Những người như thế đi xa
khỏi chân lý. Ngược lại, những người tin rằng có
thể quên mình hoàn toàn cho các sinh hoạt trần thế,
cho hành động như thể các sinh hoạt đó hoàn toàn xa
lạ với cuộc sống tôn giáo của họ, một cuộc sống được họ giới hạn vào việc thực
hành việc phụng tự và một vài điều bó buộc có tính cách đạo đức cố định. Những
người này cũng lầm lẫn không kém. Tách rời Đức Tin mà họ tuyên xưng khỏi cách xử
sự hằng ngày của một số đông Kitô hữu hiện nay kể là một trong những lầm lẫn
nghiêm trọng của thời đại chúng ta đang sống."
(212)
Vì thế, Ta qủa quyết rằng
một Đức Tin không trở thành văn hóa là một Đức Tin "không được tiếp nhận đầy đủ,
không được suy nghĩ thấu đáo, không được sống một cách trung tín."
(213)
Các
phương diện của việc đào tạo
60.
Nhiều phương diện liên kết trong việc đào tạo toàn diện người tín hữu giáo dân
được lồng trong tổng hơp của đời sống đó.
Không có gì ái ngại khi
cho rằng việc đào tạo đời sống thiêng liêng phải chiếm một vị trí ưu tiên trong
cuộc đời mỗi người, bởi vì mỗi người đều được gọi để không ngừng lớn lên trong
sự kết hơp mật thiết với Đức Giêsu Kitô, trong sự hòa hơp với ý muốn của Chúa
Cha, trong việc tận tâm phục vụ anh em trong bác ái và công bình. Công Đồng viết
rằng: "Đời sống kết hơp chặt chẽ với Chúa Kitô trong Giáo Hội được nuôi dưỡng
bằng những của ăn thiêng liêng chung cho tất cả mọi tín hữu, đặc biệt sự hiệp
thông cách tích cực yào Phụng Vụ. Các giáo dân phải dùng những của ăn đó đề khi
chu toàn một cách hoàn hảo các nghĩa vụ trần thế trong những điều kiện thông
thường của cuộc sống, họ không phân tách việc kết hơp với Đức Kitô và đời sống
của họ, nhưng lớn lên trong sự kếp hợp với Ngài, đồng thời chu toàn các công
việc của họ như ý muốn Thiên Chúa." (214)
Việc dạy giáo lý cho
người tín hữu ngày nay càng lúc càng trở nên khẩn thiết, không phải chỉ do những
năng động tự nhiên thôi thúc việc đào sâu Đức Tin, nhưng còn do việc cần thiết
phải "chứng thực niềm tin" mà họ ấp ủ trong mình khi đôi diện thế giới với các
vấn đề nghiêm trọng và phức tạp của nó. Do vậy, một lôí dạy giáo lý có hệ thống,
thích ứng riêng cho từng lứa tuổi và hoàn cảnh sống khác nhau, và một cuộc cổ
động văn hoá Công Giáo sâu rộng được xem là tuyệt đôí cần thiết, để đáp ứng
những thắc mắc muôn thuở và những vấn đề mới mẻ đang làm cho con người và xã hội
ngày nay giao động.
Đặc biệt là làm sao cho
người tín hữu giáo dân, nhất là người dấn thân bằng những cách khác nhau trong
lãnh vực xã hội và chính trị, có được sự hiểu biết chính xác hơn học thuyết xã
hội của Giáo Hội, là một vấn đề tôí ưu cần thiết, như các Nghị Phụ Thượhg Hội
Đồng đã nhiều lần đòi hỏi trong các lần phát biểu. Khi nói về việc tham gia
chính trị của người tín hữu giáo dân, Thượng Hội Đồng đã diễn tả ý kiến của mình
như sau: "Để các gíáo dân có thể thể hiện tích cực dự án cao đẹp của mình trong
chính trị (có nghĩa là dự án làm cho các giá trị con người và Công Giáo được
nhìn nhận và ham mộ), không phải chỉ khuyến khích họ là đủ, mà phải đem đến cho
họ những phương tiện cần thiết đề đào tạo lương tâm xã hội của họ; đặc biệt
trong học thuyết xã hội của Giáo Hội, chứa đựng những nguyên tắc suy tư, những
tiêu chuẩn phán đoán và những hướng dấn để hành động (Thánh bộ Tín Lý, "Giáo
Huấn về Tự do Công Giáo và giải phóng", 72. Học thuyết đó phải hiện diện ngay
trong chương trình giáo lý căn bản và phải được giải thích trong các khóa huấn
luyện đặc biệt cũng như trong các trường học và đại học. Nên lưu ý rằng, học
thuyết xã hội của Giáo Hội có tính năng động, nghĩa là nó thích ứng với những
hoàn cảnh, không gian và thời gian khác nhau. Những chủ chăn có quyền và có bổn
phận đề nghị những nguyên tắc luân lý thuộc lãnh vực xã hội cũng như trong các
lãnh vực khác. Kitô hữu phải đặt mình vào việc bảo vệ nhân quyền, dấn thân tích
cực vào các đảng phái chính trị đành riêng cho giáo dân".
(215)
Trong khuôn khổ của việc
đào tạo toàn diện và hợp nhất người tín hữu giáo dân, chúng ta phải ưu tư tài
bồi các giá trị con người; nó cần thiết cho sinh hoạt truyền giáo và tông đồ.
Chính trong ý nghĩa đó, Công Đồng đã viết: "(Giáo dân) sẽ yêu thích nhiều khả
năng nghề nghiệp, ý nghĩa gia đình và công dân, và các nhân đức liên quan đến
đời sống xã hội như thanh liêm, tinh thần công lý, thành thật, tế nhi, khẳng
khái. Không có những nhân đức đó thì không có đời sống Kitô hữu chân thật."
(216)
NHỨNG
CỘNG TÁC VlÊN CỦA THlÊN CHÚA LÀ NHÀ GlÁO DỤC
61.
Đào tạo tín hữu ở những nơi đâu và bằng phương tiện nào? Những ai và những cộng
đoàn nào được kêu gọi để đảm trách bổn phận đào tạo giáo dân một cách toàn diện
và hiệp nhất?
Cũng như việc giáo dục
con người liên hệ mật thiết vào tương quan của tình mầu tử, việc đào tạo ngườí
Kitô hữu cũng bám rễ và hút lấy nguồn sinh lực nơi Thiên Chúa: Ngài là Người Cha
yêu thương và giáo dục con cái. Vâng, Thượng Đế là nhà giáo dục lớn lao và cao
cả đôi với Dân Ngài, như đoạn văn kỳ diệu sau đây trích từ Bài ca của Môisen:
"Nơi hoang vu, trong cảnh cô quạnh bao la của sa mạc, Ngài nhận nó làm con: Ngài
bao bọc, Ngài nuôi dưỡng nó. Ngài gìn giữ nó như con ngươi của mắt Ngài. Như đại
bàng canh chừng ổ chim con, bay lượn bên trên đàn con dại. Ngài trương đôi cánh
và nhắc nó lên. Ngài nâng nó đặt lên bộ lông của Ngài. Chúa là vị độc nhất dần
dắt nó, chứ không phải là một Chúa nào khác" (Dt. 32:10-12, xem 8. 5).
Công trình giáo dục của
Thiên Chúa được mặc khải và hoàn thành trong Chúa Giêsu là Thầy dạy, và tác động
bên trong tầm hồn của tất cả mọi người, nhờ sự hiện diện linh động của Chúa
Thánh Thán. Giáo Hội Mẹ chúng ta được gọi để kết hợp với công trình giáo dục của
Chúa, bằng chính danh nghĩa của mình cũng như bằng các giáo huấn và hành động
của mình. Chính vì thế mà nhứng tín hữu giáo dân được đào tạo do bởi Giáo Hội và
trong Giáo Hội, trong sự hợp thông và công tác hổ tương giữa tất cả các phần tử
của Giáo Hội: linh mục, tu sĩ và tín hữu giáo dân. Nhờ vậy, toàn thể cộng đoàn
Giáo Hội trong sự khác biệt giữa các phần tử của mình, nhận lầý nguồn phong phú
của Thánh Thần và cộng tác vào kho tàng ơn ích đó. Chính trong ý nghĩa này
Methodius thành Olympo đã viết: "Những người chưa hoàn hảo được đón nhận và đào
tạo bởi những kẻ hoàn hảo hơn, như trong lòng bà mẹ, để họ được cưu mang và khai
sinh nhờ sự cao cả và đẹp đẽ của nhân đức".
(217) Sự kiện đó đã xảy đên cho Thánh
Phaolô, từng được các Kitô hưũ hỉểu biết hơn (qua chính nhần vật Anania) đón
nhận và đưa vào Giáo Hội, và sau đó, đến phiên Ngài, đã trở nên toàn hảo và làm
cha linh hướng cho biết bao nhiêu con cái khác!
Công trình giáo dục trước
hết là một sự kiện của Giáo Hội hoàn vũ, trong đó Giáo Hoàng đóng vai trò giáo
dục quan trọng hơn cả đôi với tín hữu giấo dân. Vì là người kế vị Thánh Phêrô,
Ngài nhận lấy trách vụ "làm cho anh em mình vững mạnh trong Đức Tin" , khi dạy
dỗ cho tất cả các tín hữu những yếu tố cán thiết của ơn gọi và sứ mệnh làm người
Kitô hữu và làm con cái Giáo Hội. Người tín hữu giáo dân không những cần phải
lắng nghe với thái độ tuân phục và mến chuộng những lời Ngài nói mà thôi, mà còn
phải lắng nghe những lời dạy được ban bố qua các văn kiện của các Thánh bộ trong
Giáo Hội.
Giáo Hội duy nhất và phổ
quát hiện diện trong mỗi một phần tử khác nhau của thế giới, trong các Giáo Hội
địa phương. Trong mỗi Giáo Hội đó, Giám Mục mang trách nhiệm riêng đối với các
tín hữu giáo dân, ngài phải đào tạo họ qua việc loan tin mừng, cử hành bí tích
Thánh Thể và các Bí Tích khác, sinh hoạt và hướng dấn đời sống công giáo của họ.
Giáo xứ được thiết lập và
hoạt động trong lòng Giáo Hội địa phương hay Giáo phận, mang một vai trò thiết
yếu trong việc đào tạo trực tiếp những tín hữu giáo dân. Thật vậy họ đạo có cơ
hội gặp gỡ dễ dàng từng người và từng nhóm, nên được kêu gọi để đào tạo các phần
tứ của mình biết lắng nghe Lời Chúa, tham dự phụng vụ, đôí thoại trực tiếp với
Thiên Chúa, dấn thân vào công tác bác ái đôí với anh em, và cảm nhận cách trực
tiếp và cụ thể hơn ý nghĩa sự hiệp thông của Giáo Hội và trách mhiệm truyền
giáo.
Bên trong một số giáo xứ,
nhất là những giáo xứ lớn và tản mác còn có sự hiện diện của những cộng đoàn
giáo hội nhỏ. Chúng có thể rất hữu ích trong việc đào tạo những người Kitô hữu,
vì nhờ đó ý thức và kinh nghiệm về sự hợp thông và sứ mệnh Giáo Hội được thể
hiện một cách sắc bén và sâu đậm hơn. Cũng như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã
từng tuyên bố, một hình thức hổ trợ khác được cống hiến qua việc dạy giáo lý sau
bí tích Rửa Tội dưới hình thức lớp giáo lý khai tâm nhằm trình bày lại cho những
người lớn một vài yếu tố của Nghi thức Khai tâm đời sống Công Giáo, giúp họ đón
nhận và sống những ơn phong phú và kỳ diệu của phép Rửa tội họ đã lãnh nhân,
cũng như những trách nhiệm phát sinh từ ân huệ đó.
(218)
Trong việc đào tạo mà tín
hữu giáo dân lãnh nhận trong giáo phận hoặc trong giáo xứ của mình, đặc biệt về
những điều liên quan đến ý nghĩa cuộc sống hiệp thông và sứ mệnh của mình, sự
nâng đớ mà các phần tử khác nhau trong Giáo Hội liên đới thực hiện cho nhau mang
tính cách quan trọng đặc biệt. Sự nâng đỡ này giúp khám phá và đồng thời giúp
thể hiện mầu nhiệm của Gìáo HỘÌ là Mẹ và là Thầy giáo dục. Cảc linh mục và các
tu sỹ phải giúp tín hữu giáo dân trong công trình đào tạo của họ. Trong đường
hướng đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã yêu cầu các linh mục và các ứng viên
vào các chức Thánh phải "chuẩn bị chu đáo để có đủ khả năng tiếp ứng ơn gọi và
sứ mệnh của giáo dân".(219)
Vê phần mình, chính tín hữu giáo dân cũng có thể và phải giúp các linh mục và
các tu sĩ trong bước đường thiêng liêng và mục vụ của họ.
Những
môi trừơng giáo dục khác
62.
Gia đình công giáo, như là "Giáo Hội tại gia" cũng
cần thành một trường học tự nhiên và cơ bản trong việc đào tạo Đức Tin: bậc làm
cha mẹ nhận nơi bí tích Hôn nhân ân sủng và tác vụ giáo dục Công Giáo đôi với
con cái mình, làm chứng trước con cái họ và thông đạt những giá trị con người và
đồng thời giá trị tôn giáo. Khi tập nói những tiếng đầu tiên, trẻ con cũng học
ca tụng Thiên Chúa, Đấng mà chúng cảm thấy gần gũi như người cha đầy yêu thương
và ân cần; khi học biết những cử chỉ thân ái đầu tiên, trẻ em cũng học tiếp nhận
kẻ khác và nhận ra ý nghĩa cuộc sống con ngừơl trong sự trao ban chính mình.
Chính cuộc sống thường ngày của một gia đình Công Giáo chân thực tạo thành "kinh
nghiệm Giáo Hội" đầu tiên nhằm giúp trẻ con vững mạnh phát triển trong việc hội
nhập tích cực và có trách nhiệm vào một cộng đoàn Giáo Hội rộng lớn hơn và vào
xã hội. Vợ chồng và cha mẹ Công Giáo càng ý thức rằng "Giáo Hội tại gia" của
mình tham dự vào cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội hoàn vũ, thì con cái họ càng
có thể được đào tạo để hiểu "ý nghĩa của Giáo Hội", và chúng càng ý thức sự cao
đẹp của việc hiến dâng sức lực mình để phục vụ Nước Chúa.
Những trường học và đại
học công giáo, cũng như những trung tâm canh tân đời sống thiêng liêng ngày nay
đang gia tăng số lượng và ngày càng trở thành quan trọng. Các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã nêu lên cho thấy rằng, trong khung cảnh xã hội và lịch sử ngày nay
chúng ta đang sống, được chứng kiến một cuộc biến đổi văn hóa sâu rộng, việc
tham gia của phụ huynh Công Giáo và đời sống của học đường chưa lấy gì làm đủ.
Cần phải chuẩn bị các tín hữu giáo dân để họ hiến thân vào công tác giáo dục như
hiến thân vào một công tác của chính Giáo Hội. Cần thành lập và phát tnển "những
đoàn thể giáo dục" gồm thành phần phụ huynh, nhà giáo, linh mục, tu sĩ, nam nữ,
và đại diện giới trẻ. Và để trường học có thể thi hành chức phận giáo dục của
mình một cách xứng đáng, các tín hữu giáo dân cần phải ý thức rằng việc dấn thân
đòi buộc mọi người, cũng như cổ động cho mọi người biết về quyền tự do giáo dục
thật sự, kể cả việc (thể hiện nền tự do đó qua phương tiện của qui chế lập pháp
dân sự thích ứng.(220)
Các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng tỏ ra ưu ái và khích lệ tất cả những tín hữu giáo dân, nam nứ, đang đảm
trách công tác giáo dục trong trường học hay các cơ sở huấn luyện, với một tinh
thần công dân và Kitô hữu sâu sắc. Ngoài ra, các Ngài đã nhấn mạnh rằng các tín
hữu giáo dân làm giáo viên hoặc giáo sư tại các trường học khác nhau, Công Giáo
hay không Công Giáo, cần gấp trở thành những người chứng trung thực của Phúc âm,
bằng gương sáng của đời mình, khả năng và lương tâm chức nghiệp, cảm hứng Công
Giáo trong việc giảng dạy - dĩ nhiên - cần tôn trọng tính cách độc lập của các
ngành và bộ môn khoa học khác nhau. Vấn đề đặc biệt quan trọng là việc nghiên
cứu khoa học và kỹ thuật do các tín hữu giáo dân đảm trách phải lấý việc phục vụ
con người toàn diện với các giá trị và yêu sách của nó làm tiêu chuẩn: Giáo Hội
trao phó cho các tín hữu giáo dân này nhiệm vụ giải thích cho mọi người hiểu
được mối tương quan mật thiết giữa Đức Tin và khoa học, giữa Phúc âm và văn hóa
con người. (221)
Chúng ta đọc thấy đoạn
văn này: "Thượng Hội Đồng này kêu gọi đến vai trò rao giảng của các trường học
và đại học Công Giáo và ca ngợi sự tận tâm của các giáo chức và thành phần giáo
sư, phần lớn ngày nay là giáo dân, để họ có thể đào tạo tại các cơ sở giáo dục
Công Giáo những con người, nam cũng như nữ, biết thâm nhập: "điều răn mới". Sự
hiện diện đồng thời của các linh mục và giáo dân, cũng như nam nữ tu sĩ cống
hiến cho sinh viên một hình ảnh sống động của Giáo Hội, và làm cho họ ý thức dễ
dàng hơn kho tàng phong phú đó. (Bộ Giáo dục Công Giáo, "Người giáo dân trong
ngành giáo dục, chứng tá Đức Tin trong các trường học").(222)
Các nhóm, các hiệp hội và
các phong trào cũng có một chỗ đứng trong việc đào tạo các tín hữu giáo dân.
Thật thế, mỗi một tập thể có những phương pháp riêng, tất cả có thể cống hiến
một lôí đào tạo đi sát với chính kinh nghiệm của đời tông đồ. Chúng lại có cơ
hội để bổ túc, cụ thể và chuyên biệt hóa công việc đào tạo mà các thành phần
trong đó thu thái được do những bậc thầy khác nhau và đoàn thể khác nhau.
VlỆC
ĐÀO TẠO HỖ TƯƠNG GlỮA: CHO VÀ NHẬN
63.
Công trình đào tạo không phải là đặc ân của một nhóm người, nhưng là một quyền
lợi và bổn phận của mọi người. Vê vấn đê này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã
yêu cầu " phải làm sao để mọi người , nhất là những kẻ nghèo khó có thể hưởng
được công trình đào tạo, để mọi người chính mình có thể trở thành những nguồn
đào tạo cho tất cả"; và các Ngài nói thêm: "Đối với việc đào tạo, nên xử dụng
các phương thế thích ứng giúp cho Kitô hữu thể hiện hữu hiệu hơn ơn gọi toàn vẹn
làm người và làm Kitô hữu nơi họ." (223)
Để thực thi một đường lôí
mục vụ thật sự hữu hiệu, cần cổ động việc đào tạo những nhà giáo dục bằng cách
tổ chức các chương trình và các trường chuyên môn. Đào tạo những người để sau đó
đến phiên họ lại đào tạo các tín hữu giáo dân khác là một yêu sách tôí cần thiết
để bảo đảm công việc đào luyện sâu rộng, toàn thể những người tín hữu giáo dân.
Trong công trình đào
luyện, cần lưu ý đặc biệt đến văn hóa địa phương, thể theo lời yêu cầu công khai
của Thượng Hội Đồng "việc đào tạo các Kitô hữu sẽ phải lưu ý nhiều hơn nữa về
nền văn hóa địa phương, vì chính nền văn hóa đó đóng góp vào việc đào tạo; và
công việc đào tạo phải hướng dẫn ta thẩm định các giá trị đã hàm chứa trong nền
văn hóa cổ truyền cũng như những gìá trị tìm thấy trong nền văn hóa tân thời.
Phải lưu ý đến tình trạng có nhiều nền văn hóa khác nhau, có thể đang cùng sinh
tồn trong một dân tộc, trong một quốc gia. Giáo Hội Mẹ và Thầy của các dân tộc,
phải cố gắng cứu vãn (nếu có trường hợp đó xảy ra) nền văn hóa của các nhóm
thiểu số đang sống ở giữa các quốc gia rộng lớn."
(224)
Trong công trình đào tạo,
một vài điều xác tín đặc biệt được xem là cần thiết và hữu ích. Trước hết cần
xác tín rằng không thể có việc đào tạo thật sự và hữu hiệu nếu mỗi người không
tự đảm trách và khai triển trách nhiệm đào tạo chính mình. Vì tất cả các công
trình đào tạo thiết yêú phải là "tự đào tạo lầý mình".
Sau đó, xác tín rằng mỗi
người trong chúng ta là kết qủa và là nguyên tắc của việc đào tạo: Chúng ta càng
được đào tạo hoàn hảo bao nhiêu, thì chúng ta lại càng có khả năng đào tạo kẻ
khác bấy nhiêu.
Điểm quan trọng đặc biệt
là nên ý thức rằng công trình đào tạo, dĩ nhiên không thể bỏ qua việc cần đến
trí thông minh con người nhờ vào các phương tiện và phương pháp của các nền khoa
học nhân văn. Nhưng nó chỉ có thể hữu hiệu một khi ta sẵn sàng tiếp nhận tác
động của Thiên Chúa. Chỉ có cành nào không sợ để cho người làm vườn nho cắt tỉa
mới mang nhìêu hoa tráì cho chính mình và cho kẻ khác.l
TIẾNG
GỌI VÀ LỜI CẦU NGUYỆN
64.
Để kết luận văn kiện hậu Thượng Hội Đồng này, một lần nữa Ta nhắc lại lời mời
gọi của "Người chủ vườn nho" mà Phúc âm nói đến: Các người cũng thế, hãy đi đến
vườn nho của Ta. Ta có thể nói ý hướng của Thượng Hội Đồng về ơn gọi và sứ mệnh
của giáo dân thực sự nằm trong lời mời mà Chúa nói với tất cả mọi người, và đặc
biệt với người tín hữu giáo dân, nam cũng như nữ.
Những công việc của
Thượng Hội Đồng đã đem lại cho tất cả các vị tham dự một kinh nghiệm thiêng
liêng sâu đậm: kinh nghiệm của Giáo Hội, dưới ánh sáng và sức mạnh của Chúa
Thánh Thần, hằng lưu ý tìm tòi và đón nhận lời kêu gọi liên lỉ của Chúa, để đem
lại cho thế giới ngày nay một lần nữa cuộc sống thông hiệp của mình và sức năng
động của sứ mệnh cứu độ nơi mình. Công việc đó được thể hiện qua việc chân nhận
chỗ đứng và vai trò đặc biệt của người tín hữl giáo dân.
Thượng Hội Đồng này mà
Tông Huấn của Ta muốn phổ biến cho các Giáo Hội rải rác khắp thế giới, sẽ có
hiệu quả bằng hành động tiêp nhận thực sự của toàn Dân Chúa, và đặc biệt các tín
hữu giáo dân.
Vì thế, Ta kêu gọi tất cả
và mỗi một người hãy luôn làm cho ý thức của mình về cuộc sống Giáo Hội được
sống động trong tầm hồn và trong đời sống của mình, ý thức mình là phần tử của
Giáo Hội của Chúa Giêsu Kitô, tham dự vào mầu nhiệm hiệp thông và sức-năng-động
trong công tác tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội.
Điều quan trọng hơn hêt
là, tất cả Kìtô hữu phải ý thức về phẩm gìá kỳ diệu mà bí tích Rửa Tội đem lại
cho họ: nhờ ân sủng, chóng ta được gọi để trở nên những ngườí con sủng ái của
Chúa Cha, những chi thể gắn líền với Chúa Kitô và Giáo Hội Ngàì, nhưng đền thờ
sống động và thánh thiện của Chúa Thánh Thần. Một lần nữa, một cách xúc động và
đầy lòng biết ơn, chúng ta hãy lắng nghe những lời nói cúa Thánh Gioan Tông Đồ
Thánh Sử: "Anh em hãy xem tình yêu mà Chúa Cha đấ ban eho chúng ta lớn lao ngày
nào, đên nỗi chúng ta được gọi làm con cái của Thiên Chúa, và chúng ta là con
thật!" (1 Jn. 3:l).
"Đìêu mới lạ này của Công
giáo" ban cho các phần tử Giáo Hội đối với mọi người là nền tảng của việc tham
dự vào chức tư tê, rao giảng và vương giả của Chúa Kitô, và cũng là nền tảng của
ơn gọi ơn thánh trong tình yêu. Điều mới lạ đó được biểu lộ và thể hiện trong
những người tín hữu giáo dân thể theo "tính cách trần thể' , là đặc nét riêng tư
và cá biệt của họ".
Ý thức Giáo Hội bao gồm
sự hìểu biết về Mầu Nhiệm Gìáo Hội Hỉệp Thông, đồng thời vởi ý thức gỉá trì Công
Gìáo của mọi người. Đó là một khía cạnh căn bản và quyết định cho đời sóng và sứ
mệnh của Giáo Hội. Đôí với mọi người cũng như từng người một, lời cầu khẩn khoản
của Chúa Giêsu trong buổi Tiệc ly: "Xin cho họ nên một! " (Jn.17.21),
phải trở nên một chương trình bó buộc không thể sao lãng trong đời sống và hành
động hằng ngày.
Ý nghĩa sống động của
việc thông hiệp trong Giáo Hội là ơn của Chúa Thánh Thần, đòi hỏi ta một sự đáp
ứng tự do. Nó sẽ làm nẩy sinh hoa trái quí giá, tức là việc phôí hơp nhịp nhàng,
trong Giáo Hội "duy nhất và Công Giáo", tính cách khác biệt phong phú của các ơn
gọi và các hoàn cảnh sống, các đoàn sủng, các thừa-tác-vụ, các công tác và trách
nhiệm; hoa trái đó cũng là việc hợp tác đầy xác tín và quyết tâm hơn nơi các
nhóm, các hiệp hội và các phong trào của các tín hữu giáo dân trong việc liên
đới chu toàn sứ mạng cứu độ chung của chính Giáo Hội. Sự hiệp thông đó, tự nó đã
là một dấu chỉ lớn lao đầu tiên sự hiện diện của Chúa Kitô Cứu Độ nơi trần thê,
đồng thời, nó trợ lực và khích lệ hoạt động tông đồ trực tiêp và sinh hoạt
truyền giáo của Giáo Hội.
Trước ngưỡng cửa của đệ
tam thiên niên, toàn thể Giáo Hội, Chủ chăn, cũng như tín hữu, phải nhận ra một
cách mạnh mẽ hơn nữa trách nhiệm của mình là vâng theo mệnh lệnh của Chúa Kitô:
"Các con hãy đi khắp thế giới và rao giảng Tin Mừng cho muôn dân" (Mk. 16.15),
là tái tạo một phương pháp truyền giáo mới. Giáo Hội được giao phó để thực hiện
một công trình có tầm vóc lớn lao, khó khăn và cao cả: đó là việc tiến hành "một
hình thức rao giảng Phúc âm mới" mà thế giới ngày nay đòi hỏi một cách cấp
thiết. Tín hữu giáo dân phải thấy rằng mình là phần tử tích cực trong công cuộc
đó. Họ được gọi để loan báo và sống Phúc âm, bằng công tác phục vụ con người và
xã hội trong tất cả những giá trị và đòi hỏl của nó. Thượng Hội Đồng các Giám
Mục, đấ được tổ chức vào tháng Mười năm Thánh Đức Mẹ, đặc biệt giao phó các công
việc của mình vào sự cầu bầu của Thánh Nứ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Nay Ta cũng
xin chính Ngài cầu bầu cho các thành quả của Thượng Hội Đồng được gặt hái những
hoa trái thiêng liêng. Đến phần cuôí văn kiện hậu Thượng Hội Đồng này, hiệp
thông với các Nghị Phụ và các tín hữu giáo dân hiện diện trong Thượng Hội Đồng,
và với tất cả các thành phần khác của Dân Chúa, Ta dâng lên Đức Trinh Nữ lời
khẩn cầu sau đây:
Lạy Nữ Trinh rất thánh,
Mẹ
Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội,
Chúng con vui mừng và phấn khởi,
Hiệp thông với lời kinh Ngợi Khen của Mẹ,
Một bài ca tình yêu và cảm tạ.
Cùng với Mẹ, chúng con cảm tạ Thiên Chúa,
"Tình yêu của Ngài trải qua đời nọ đên đời kia"
Cảm tạ Chúa vì ơn gọi vinh quang,
Và
vì nhiều sứ mệnh Chúa đã giao phó cho
người tín hữu giáo dân,
Chúa gọi họ, gọi đích danh từng người một,
để
họ sống thông hiệp tình yêu
và
thánh thiện với Chúa,
để
họ liên kết vđi nhau trơng tình anh em
trong đại gia đình con Chúa.
Chua cũng sai họ đi chiếu giãi
ánh sáng của Đức Kitô,
và
đôt ngọn lửa của Thần Linh Thiên Chúa
trong tât cả các lãnh vực
của cuộc sống trần thế
bằng chính đời sống Phúc âm của mình.
Lạy Trinh Nữ của bài ca Ngợi Khen,
xin hãy đổ đầy tâm hồn họ
lòng biết ơn và niềm hứng khởi
đôí với ơn gọi và sứ mệnh này.
Mẹ
đầy khiêm tốn và độ lượng,
là
"Nữ Tỳ của Thiên Chúa"
xin trao ban cho chúng con lòng khao khát
phục vụ Thiên Chúa và cứu độ
thế giới của Mẹ.
Xin mở rộng lòng chúng con,
để
đón nhận những chân trời bao la
của
Nước Chúa
và
của việc truyền bá Phúc âm
cho mọi tạo vật.
Môí từ tâm của Mẹ
không ngừng lo lắng
khi chứng kiến nhiều nguy nan,
nhiều sự dữ vô kể,
đang đè nặng trên anh chị em chúng con
trong thời đại hôm nay.
Nhưng Trái Tim của Mẹ cũng lưu ý đến
nhiều sáng kiên,
được khởi xướng để thực hiện những lợi ích
những nguyện vọng lớn lao
thực hiện các giá trị
và
những tiến bộ khả quan
phát sinh hiệu quả Cứu Độ.
Lạy Đức Trinh Nữ can trường,
xin thêm sức mạnh cho tâm hồn chúng con.
Xin hướng niềm trông cậy của chúng con
vào nơi Chúa,
để
chúng con thắng vượt
được tất cả những trở ngại
mà
chúng con gặp phải
trên bước đường hoàn thành sứ mệnh của chúng con
Xin
dạy chúng con biêt sống
những thực tại trần thế, với tinh thần sâu sắc
và
trong niềm hy vọng hoan hỷ
Ngày Nước Chúa đên,
và
ngày Trời Mới và Đất Mới được mở ra.
Mẹ
cùng với các Tông Đồ cầu nguyện,
nơi nhà Tiệc Ly trông chờ Thánh Thần Chúa hiện xuống,
Mẹ
hãy xin Ngài, ngự xuống tràn đầy
trên tất cả tín hữu giáo dân nam nữ,
để
họ hết lòng đáp lại ơn gọi và sứ mệnh của họ.
Như cành nho của cầy nho thật,
được gọi để mang nhiều hoa trái
cho cuộc sống trần thế.
Lạy Mẹ Đồng Trinh,
Mẹ
hãy dẫn dắt và nâng đỡ chúng con
để
chúng con luôn sống
như những người con nam, nữ
của Giáo Hội của Con Mẹ,
và
để chúng con có thể tiếp tay
vào việc xây dựng nền văn minh của chân lý
và
của tình yêu trên thế giới,
theo ước nguyện của Thiên Chúa
và
để làm Sáng Danh Ngài muơn đời. Amen
Ban hành tại Rôma cạnh
Đền Thờ Thánh Phêrô,
ngày 30 tháng 12 năm 1988
Lễ Thánh Gia Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse
Năm thứ Mười Một triều
đại Giáo Hoàng của Ta
JOANNES PAULUS PP II
CHÚ
THÍCH
1- Vaticanô II - Lumen
Gentium, số 48.
2- Thánh Grêgôriô Cả -
Bài giảng I, XIX, 2.
3- Vaticanô II - Sắc lệnh
Tông đồ Giáo dân Apostolicam
Actuositatem, SỐ 33.
4- Gioan-Phaolô II - Bài
gíảng lễ bế mạc kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục VII - (30.10.1987). ASS 80 (/988),
598.
5- Xem Propositio
1.
6- Vaticanô II - Hiến chế
Mục vụ Gaudium et Spes, số 11
7- Sau khi quả quyết lại
"tầm quan trọng và thời sự của Hiến chế Gaudium et Spes". Các Giám mục tham dự
Thượng Hội đồng nói tiếp: "Tuy thế, chứng tôi nhận thấy những dấu chỉ ngày nay
có phần khác với các dấu chỉ thời Công đồng, và còn mang nhiều vấn đề và nhiều
nỗi khắc khoải lớn hơn. Thật thế, đâu đâu cũng thấy gia tăng tình trạng đói
khát, bỉ áp bức, bất công, chiến tranh đau khổ và nhiều loại bạo hành khác".
(Relatio finalis II D1).
8- Vaticanô II - Gaudium
et Spes, số 7.
9-Thánh Augustinô -
Confessiones, 1,1.
10 Xem Instrumentum
laboris " ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế, 20 năm
sau Vaticanô II ' 5-10.
11- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, số 1 .
12- Vaticanô II - Hiến
chếLumen Gentium, số 6.
13- Xem Propositio, số 8.
14- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, số 81.
15- tld
16- Piô XII - Diễn văn
đọc trước các Hồng Y mới nhậm chức (20-02-1946) - AAS. 38 (1946) 149.
17- Công đồng Florentiô,
Sắc lệnh Pro Armentis - DS 1314.
18- Vaticanô II - Hiến
Chế Lumen Gentium, số 10.
19- Thánh Augustinô -
Ennar-in PS XXVI, II,2.
20- Xem Vaticanô II -
Hiến chế Lumen Gentium, số 10.
21- Gioan-Phaolô II - Bài
giảng ngày nhậm chức Giáo Hoàng (22-10-1978)- AAS 70 (1978) 946.
22- Xem lại giáo huấn này
trong Instrumentum laboris "ơn gọi và sứ mạng...", số 25.
23- Vaticanô II - Hiên
chế Lumen Gentium, số 34.
24- tld - 35
25- tld - 12
26- tld - 35
27- Thánh Augustinô - De
Civitate Dei - XX, 10.
28- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, số 32.
29- tld - 31
30- Phaolô VI . Bài giảng
trước các Bề trên và Hội viên của các Tu hội đời (02-02-1972). AAS. 64 (1972)
208.
31- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuasitatem, 5.
32- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, số 31.
33- tld - 31
34- tld - 31
35- Xem tld
48.
36- Vaticanô II - Hiến
chế Gaudium et Spes, số 32.
37- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, số 31.
38- tld -
39- Propositio, 4.
40- "Là thành phần của
Dân Chúa và Thân thể Mâu nhiệm, qua Bí tích Thánh tẩy tham dự vào ba chức vụ Tư
tế, Ngôn sứ và Vương giả của Chúa Kitô, gìáo dân diễn tả và thể hiện những kho
tàng của phẩm giá đó khi sống giữa trần
thế. Đôí với những ai có chức thừa tác vụ được phong
chức thánh, đó là một phận vu bổ sung hoặc đặc biệt
khác thường, thì đôí với người giáo dân lại là một sứ mệnh đặc loại của họ, Ơn
gọi riêng cửa họ là "tìm Nước Chúa trong việc quản iý thế sự theo ý Chúa" (Lumen
Gentium, số 31), (Gioan-Phaolo II Kinh Truyền tin (15-3-1987),
Insegnamenti.
X,1 (1957), 566)."
41- Xem Chương V - Hiến
chế Lumen Gentium, số 39-42. - "Ơn gọi nên thánh của mọi người trong Giáo hội".
42- Buổi họp lần II
Thượng Hội Đồng Giám mục (1985) Relatio finalis II. A,4.
43- Vaticanô II - Hiên
chế Lumen Gentium, số 40.
44- tld - 42 - Những xác
quyết của Công đồng, nói lên một cách long trọng và rõ rệt, nhắc lại một chân lý
nền tảng của Đức tin Kitô giáo. Chẳng hạn, Đức Piô XI trong Thông điệp Casti
Connubii nói với vợ chồng Kitô giáo như sau: "Bất cứ ở hoàn cảnh nào, ở bậc sống
nào tùy ý mình chọn, mọi người có thể và phải bắt chước mẫu mực hoàn hảo về sự
thánh thiện mà Chúa muốn con người thực hiện, mẫu mực đó là Chúa Giêsu Kitô; và
với ơn Chúa giúp họ có thể và phải đạt đến mức sống trọn lành của Kitô giáo, như
các Thánh đã làm gương cho chúng ta" AAS - 22 (1980), 548.
45- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem, 4.
46- Propositio, 5.
47- Propositio, 8.
48- Thánh Lêo Cả - Bài
giảng XXI
49- Thánh Maximô - Luận
giải III về Bí tích Rửa tội.
50- Thánh Augustinô -
Luận giải về Phúc âm Thánh Gioan - 21,8.
51- Vaticanô II - Hiên
chế Lumen Gentium, số 33.
52- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium,số 4
53- Kỳ họp II Thượng Hội
đồng Giám mục - (1985) - Relatio finalis II, C, I.
54- Phaolô VI - Bài nói
chuyện ngày thứ tư (8-6-1966). Insegnamenti IV (1966). 794.
55- Xem Vaticanô, Hiến
chế Lumen Gentium, số 6,
56- Xem tld 7 và kế tiếp
57- tld 9
58- tld 1
59- tld 9
60- tld 7
61- tld
62- tld 4 .
63- Gioan-Phaolô II - Bài
giảng Thánh lễ bê mạc kỳ họp thứ 7 Thượng Hội đồng Giám mục. (30-1O-1987) AAS 80
(1988) 600.
64- Xem Vaticnô II - Hiên
chế Lumen Gentium, số 4
65- Xem Vaticanô II . Sắc
lệnh Ad Gentes, số 5
66- Xem Vaticanô II - Sắc
lệnh Presbyterorum ordinis. 2-, xem Vaticanô II - Hiến chế Lumen Gentium, số 10.
67- Xem Vaticanô II -
Hiến chếLumen Gentium, sô'10.
68- Xem Gioan-Phaolô II -
Thư trong ngày thứ Năm Tuần Thánh gửi các Linh mục của Giáo hội (9-4-1979) -
3-4. Insegnament II,l (1979), 844-847.
69- C. 1-C. Can. 230
#
3
70- Xem Vaticanô II - Sắc
lệnh Presbyterorum ordinis, 2 & 5.
71- Xem Vaticanô II - SL.
Apostolicam actuositatem, số 24
72- BỘ Giáo luật kể một
số chức vụ và hành động riêng thuộc các thừa tác
viên có chức thánh; những việc này có thể được
giáo dân hành xử trong một thời gian vào những hoàn cảnh đặc biệt và nghiêm
trọng, với sự cho phép đúng theo luật định đi trước và với ủy quyền của giáo
quyền hợp cách: xem Can. 280 # 3; 517 # 2; 776; 861 # 2; 910 # 2; 943;
1112; v.v....
73- Xem Vaticanô II - HC.
Sacrosanctum Consilium, số 28; C.l.C Can. 230 # 2: "với năng cách được cử tạm
thời, giáo dân có thể hành xử chức vụ Đọc Sách trong các hành vi phụng vụ; cũng
thế, tất cả giáo dân có thể hành xử các chức vụ bình giải, ca ngâm, hoặc những
chức vụ khác nữa, theo luật định".
74- BỘ Giáo luật trình
bày nhiều chức vụ và bổn phận khác nhau mà giáo dân có thể chu toàn trong các cơ
cấu của Giáo hội: xem Can. 228; 229 # 3; 317 # 3; 436 # 1 số 5 và # 2; 483; 494;
537; 759; 776, 784, 785; 1282, 1421 # 2; 1424; 1428
# 2; 1435; v.v....
75- Xem Propositio,
18.
76- Phaolô VI - Tông huấn
Evangelii Nuntiandi, 70, AAS
68 (1960), 60.
77- C.I.C Can. 230
#
1
78- Propositio, 18
79- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam, 3.
80- "Từ việc lãnh nhận
các đoàn sủng này, dẫu đơn sơ nhất, mỗi người giáo dân có quyền và bổn phận thực
hiện các ơn đó trong Giáo hội và giữa trần thế vì lợi ích con người và xây dựng
Giáo hội, trong sự tự do của Chúa Thánh Linh "Đấng thổi nơi nào Ngài muốn"
(Gioan 8,8), và đồng thời hiệp thông với anh em mình trong Đức Kitô và đặc biệt
với các vị chủ chăn của mình" (tld).
81- Propositio, 9.
82- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, 12.
83- xem tld 30
84- Vaticanô II - Sắc
lệnh Christus Dominus, 11
85- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium. 23.
86- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem, 10
87- Xem Propositio,
10.
88- Xem C.I.C Can. 443 #
4; 468 # 1 và 2.
89- Xem Propositio,
10.
90- Tài liệu Công đồng
viết: "Vì Giám mục trong Giáo hội mình không thể chỉ huy toàn đoàn chiên mọi
lúc, mọi nơi, người cần thiết lập nhiều giáo đoàn tín hữu, trong đó quan trọng
hơn cả là giáo xứ, được tổ chức tại địa phương dưới quyền dẫn dắt của một vị chủ
chăn thay mặt Giám mục, một cách nào đó, các họ đạo tiêu biểu cho Giáo hội hữu
hình được thiết lập trong hoàn vữ" (Vaticanô II - Hiến
chế Sacrosanctum Consilium, 42).
91- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, 28.
92- Gioan-Phaolô II -
Tông huấn Catechesi Tradendae, 67 AAS 71 (1979); 1333.
93- CIC Can. 515
#
1.
94- Xem Propositio,
10.
95- Xem Vatieanô II- HC.
Sacrosanctum Consilium, 42.
96- Xem Can. 555
#
1.1
97- Xem Can. 383 #
1
98- Phaolô VI - Bài diễn
văn đọc trước Giáo sĩ Roma (24-6-1963): AAS 55 (1963) 6711.
99- Propositio, 11
100- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem, 10
101- ltd
102- Xem Propositio,
10.
103- Thánh Grêgôriô Cả -
Bài giảng về Ez II,l.5.
104- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem, 16.
105- Gioan Phaolô II -
Kinh Truyền Tin (23-8-1987). Insegnamenti
X,3 (1987), 240.
106- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam actuositatem, 18.
107- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam actuositatem, 19. - xem tld, 15; Hiến chế Lumen Gentium, 37.
108- CIC Can. 215
109- Vaticanô II - Hiến
chếLumen Gentium, 39.
110- Xem tld
40
111- Xem Vaticanô II -
SL. Apostolicam Actuositatem, 19
112- Vaticanô II - Hiến
chếLumen Gentium, 23
113- Xem tld
114- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem,
115- tld 20
116- tld 24
117 Propositio, 13.
118- Xem Propositio,
15
119- Gioan-Phaolô II -
Diễn văn trước Hội nghị quốc gia Giáo hội Ý tại Lorette (10.4.1985) AAS 77
(1985) 964.
120-Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, 1.
121- tld 30
122- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam actuositatem, 10
123- Phaolô VI - Tông
huấn Evangelii Nuntiandi, l4 AAS 68 (1976), 13
124- Gioan-Phaolô II -
Bài giảng vào ngày nhận chức Giáo hoàng (22-10-1978), AAS 70 (1978) 947.
125- Propositio,
10
126- Vaticanô II - Sắc
lệnh Ad Gentes, 20; xem tld 37
127- Propositio, 29.
128- Vaticanô II - Sắc
lệnh Ad Gentes, 21.
129- Prơposito, 30 bis
130- Vaticanô II - Hiến
chế Lumen Gentium, 5
131- Vaticanô II - Hiến
chế Gaudium et Spes, 22
132- tld
133- Gioan-Phaolô II .
Thông điệp Redemptor hominis, 14, AAS 71 (1979) 284-285.
134- Vaticanô II - Hiến
chế Gaudium et Spes, 40
135- Xem tld 12
136- "Nếu chúng ta long
trọng mừng ngày Sinh nhật của Chúa Giêsu, đó là vì chúng ta muốn làm chứng rằng
mỗi người là duy nhất và không thể thay thê. Nếu các thống kê của con người, các
cách xêp loại, hệ thống vì chính trị, kinh tế, xã hội, nghĩa là chỉ dựa vào sức
người không bảo đảm cho con người có thể sinh ra, sống và hành động như một hữu
thể duy nhất và không thể thay thế, thì Chúa lại bảo đảm việc đó vì Chúa và
trước mặt Chúa, con người luôn là duy nhất và không thể thay thê , là kẻ đã được
Chúa nghĩ đến từ đời đời, được chọn từ thuở đời đời; là kẻ đã được gọi và kêu
chính bằng tên của mình" (Gioan-Phaolô II- Sứ điệp đầu tiên trong ngày Sinh nhật
gửi thế giới: AAS 71, (1979), 66).
137- Vaticanô II - Hiên
chế Gaudium et Spes, 27.
138- Gioan-Phaolô II -
Tông huấn Familiaris Consortio, 30: AAS 74 (1982) 116.
139- Xem Thánh Bộ Đức tin
- Huấn thị Donum vitae về sự tôn trọng đời sống con người, quyền sinh ra và phẩm
giá của việc sinh sản. Trả lời cho một số ván đề thời sự (22-202-1987): AAS
80 (1988) 70-102.
140- Propositio, 36.
141- Gioan-Phaolô II - Sứ
điệp ngày thế giới hòa bình lần thứ 21-(8-12-1987) AAS 80 (1988) 278-280.
142- Thánh Augustinô - De
Cathech-Rud, XXIV,44.
143- Propositio, 32
144- Vaticanô II - Hiến chế Gaudium
et Spes, 24
145- tld 12
146- Gioan-Phaolô II -
Tông huấn Familiaris Consortio, 42-48. AAS 74
(1982) 134-140.
l47- tld 85. AAS 74 (1982) 188
148- Vaticanô II - Sắc
lệnh Apostolicam Actuositatem,
149- Vl tương quan giữa
công bình và nhân hậu - Xem Tđ Dives in misericordia, 12, AAS 72 (1980),
1215-1217.
|