KỶ
NIỆM
40
NĂM
CÔNG
ĐỒNG
VATICANÔ
II
CÔNG
BỐ
HIẾN
CHẾ
VỀ
MẶC
KHẢI
CỦA
THIÊN
CHÚA
(18/11/1965
-
2005)
Năm
2005
là
chẵn
40
năm
Công
Đồng
Va-ti-ca-nô
II
kết
thúc.
Có
thể
nói
Công
Đồng
này
là
biến
cố
quan
trọng
nhất
của
lịch
sử
Giáo
Hội
Công
Giáo
trong
thế
kỷ
20.
Chỉ
ít
tháng
sau
khi
lên
kế
vị
Toà
Thánh
Phê-rô,
ngày
25-01-1959
Đức
Giáo
Hoàng
Gio-an
XXIII
đã
công
bố
ý
định
triệu
tập
Công
Đồng.
Sau
một
thời
gian
chuẩn
bị,
Công
Đồng
đã
khai
mạc
ngày
11-10-1962
và
sau
4
kỳ
họp,
mỗi
kỳ
kéo
dài
chừng
2
tháng,
trong
các
năm
1962,
1963,
1964,
1965,
với
khoảng
2000
-
2500
Giám
mục
từ
khắp
nơi
trên
thế
giới
về
tham
dự,
Công
Đồng
đã
bế
mạc
ngày
08-12-1965.
Thành
quả
cụ
thể
của
Công
Đồng
là,
sau
những
cuộc
tranh
luận
nhiều
khi
rất
sôi
nổi,
có
16
văn
kiện
chính
thức
được
công
bố.
Các
văn
kiện
này
đề
cập
đến
các
mặt
khác
nhau
trong
đời
sống
Giáo
Hội
và
được
chia
thành
3
loại
xếp
theo
tầm
quan
trọng
: 4
hiến
chế,
9
sắc
lệnh,
3
tuyên
ngôn.
Văn
kiện
về
Lời
Thiên
Chúa
trong
Kinh
Thánh
Dei
Verbum
thuộc
loại
thứ
nhất
và
mang
tên
là
“Hiến
chế
tín
lý
về
Mặc
khải
của
Thiên
Chúa”
(tạm
gọi
tắt
là
Hiến
chế
về
Mặc
khải).
Chúng
ta
tìm
hiểu
vắn
tắt
Hiến
chế
này.
I.
NGUỒN
GỐC
Ngay
từ
những
thế
kỷ
đầu
của
Giáo
Hội,
Kinh
Thánh
vẫn
được
suy
gẫm
và
học
hỏi.
Nhưng
từ
giữa
thế
kỷ
19,
việc
nghiên
cứu
Kinh
Thánh
theo
phương
pháp
phê
bình
-
lịch
sử
đã
đặt
ra
nhiều
vấn
đề
mới,
gây
nên
những
phản
ứng
bất
ổn.
Trong
hoàn
cảnh
đó,
năm
1943,
Đức
Giáo
Hoàng
Pi-ô
XII
ban
hành
thông
điệp
Divino
afflante
Spiritu
để
cổ
vũ
các
học
giả
Công
Giáo
nghiên
cứu
Kinh
Thánh;
tuy
nhiên
vẫn
còn
một
số
người
dè
dặt.
Mặt
khác,
có
một
số
yếu
tố
thúc
đẩy
việc
học
hỏi
Kinh
Thánh,
như
phong
trào
mục
vụ
Kinh
Thánh,
canh
tân
phụng
vụ,
việc
thành
lập
những
hiệp
hội
Kinh
Thánh
Công
Giáo,
và
những
tiếp
xúc
giữa
các
học
giả
Công
Giáo
và
Tin
Lành.
Trong
bối
cảnh
đó,
Uỷ
ban
chuẩn
bị
Công
Đồng
đã
soạn
ra
một
lược
đồ
“Về
các
nguồn
mặc
khải”.
Lược
đồ
này
được
đưa
ra
thảo
luận
trong
kỳ
họp
I
của
Công
Đồng
(1962).
Cuộc
tranh
luận
khá
sôi
nổi.
Các
ý
kiến
không
thuận
chiếm
đa
số
vì
cho
rằng
lược
đồ
quá
bảo
thủ.
Vì
thế
Đức
Giáo
Hoàng
Gio-an
XXIII
đã
giao
cho
một
Uỷ
ban
khác
soạn
lại.
Công
việc
kéo
dài
ba
năm,
mãi
đến
kỳ
họp
IV
(tức
kỳ
họp
cuối
cùng)
của
Công
Đồng,
lược
đồ
mới
được
đưa
ra
thảo
luận
và
được
công
bố
ngày
18-11-1965
với
2344
phiếu
thuận
và
6
phiếu
chống
:
đó
là
Hiến
chế
về
Mặc
khải.
II.
NHỮNG
NÉT
CHÍNH
CỦA
HIẾN
CHẾ
Hiến
chế
về
Mặc
khải
không
dài
lắm
(so
với
Hiến
chế
về
Giáo
Hội
hay
Hiến
chế
về
Giáo
Hội
trong
thế
giới
ngày
nay),
gồm
có
26
số
chia
thành
6
chương
:
ch.
I :
Về
chính
mặc
khải
(số
2-6);
ch.
II
:
Việc
lưu
truyền
mặc
khải
(số
7-10);
ch.
III
:
Ơn
linh
hứng
và
việc
giải
thích
Kinh
Thánh
(số
11-13);
ch.
IV
:
Cựu
Ước
(số
14-16);
ch.
V :
Tân
Ước
(số
17-20);
ch.
VI
:
Kinh
Thánh
trong
đời
sống
Giáo
Hội
(số
21-25).
Ở
đây
chúng
ta
không
thể
tóm
lược
lại
các
nét
chính
của
Hiến
chế,
chỉ
nêu
ra
hai
điểm.
1.
Ơn
linh
hứng
và
việc
giải
thích
Kinh
Thánh
Vấn
đề
này
được
trình
bày
ở
ch.
III
(số
11-13),
trước
hết
Hiến
chế
nói
ơn
linh
hứng
là
gì
:
“Trong
việc
soạn
thảo
các
Sách
Thánh,
Thiên
Chúa
đã
chọn
những
con
người
và
dùng
họ,
mà
họ
vẫn
sử
dụng
tài
năng
và
sức
lực
của
mình,
để
nhờ
chính
Chúa
hành
động
trong
họ
và
qua
họ,
họ
viết
ra,
với
tư
cách
là
những
tác
giả
đích
thực,
tất
cả
những
gì
Chúa
muốn
và
chỉ
viết
những
điều
đó
thôi”
(số
11).
Hiệu
quả
của
ơn
linh
hứng
là
:
Kinh
Thánh
dạy
sự
thật,
nhưng
không
phải
bất
cứ
loại
sự
thật
nào
(khoa
học,
lịch
sử,
địa
lý…),
mà
là
sự
thật
dẫn
đến
ơn
cứu
độ
:
“Phải
nhìn
nhận
rằng
:
các
sách
Kinh
Thánh
dạy
cách
vững
chắc,
trung
tín
và
không
sai
lầm,
sự
thật
mà
Thiên
Chúa,
vì
ơn
cứu
độ
chúng
ta,
đã
muốn
được
ghi
lại
trong
Kinh
Thánh”
(số
11).
Tiếp
đó,
Hiến
chế
nói
về
việc
giải
thích
Kinh
Thánh,
tức
là
tìm
xem
Thiên
Chúa
muốn
nói
gì
qua
lời
các
tác
giả
thánh
:
“Để
tìm
ra
chủ
ý
của
các
tác
giả
thánh,
giữa
những
cái
khác
cũng
phải
xét
đến
các
‘thể
văn’;
vì
sự
thật
được
trình
bày
và
diễn
tả
cách
khác
nhau
trong
các
bản
văn
lịch
sử,
hoặc
sứ
ngôn,
hoặc
thi
ca,
hoặc
trong
những
thể
văn
khác.
Do
đó,
nhà
chú
giải
cần
phải
tìm
tòi
ý
nghĩa
mà
tác
giả
thánh,
trong
những
hoàn
cảnh
nhất
định,
tuỳ
theo
điều
kiện
thời
đại
và
văn
hoá
riêng,
đã
có
ý
diễn
tả
và
đã
diễn
tả
qua
những
thể
văn
thời
đó
quen
dùng”
(số
12).
Nói
cách
khác,
việc
giải
thích
cần
phải
xét
đến
bối
cảnh
lịch
sử
và
tôn
giáo
trong
đó
các
bản
văn
Kinh
Thánh
đã
hình
thành.
Ngoài
ra
còn
phải
lưu
ý
đến
tính
duy
nhất
của
Kinh
Thánh,
truyền
thống
sống
động
và
phán
quyết
của
Giáo
Hội.
Qua
những
đường
hướng
trên,
Hiến
chế
về
Mặc
khải
đã
thúc
đẩy
mạnh
mẽ
khoa
nghiên
cứu
Kinh
Thánh
trong
giới
Công
Giáo.
2.
Mục
vụ
Kinh
Thánh
Toàn
bộ
chương
cuối
cùng
của
Hiến
chế
nói
về
tầm
quan
trọng
của
Kinh
Thánh
trong
đời
sống
Giáo
Hội
(số
21-25)
:
“Giáo
Hội
đã
luôn
luôn
tôn
kính
Kinh
Thánh
cũng
như
đã
tôn
kính
chính
Thánh
Thể
Chúa
:
nhất
là
trong
phụng
vụ
thánh,
Giáo
Hội
không
ngừng
lấy
bánh
sự
sống
từ
bàn
tiệc
Lời
Chúa
cũng
như
bàn
tiệc
Mình
Thánh
Chúa
Ki-tô
mà
trao
cho
các
tín
hữu.
Luôn
luôn
Giáo
Hội
đã
coi
và
còn
coi
Kinh
Thánh
là
quy
luật
tối
cao
cho
đức
tin
của
mình
(...).
Vì
vậy
tất
cả
việc
rao
giảng
trong
Giáo
Hội
cũng
như
chính
đạo
Ki-tô
phải
được
Kinh
Thánh
dưỡng
nuôi
và
hướng
dẫn”
(số
21).
Từ
những
nhận
định
căn
bản
trên
đây,
Hiến
chế
đưa
ra
những
hướng
dẫn
cụ
thể
:
a.
Dịch
Kinh
Thánh
“Lối
vào
Kinh
Thánh
cần
phải
rộng
mở
cho
các
tín
hữu
Ki-tô
(...).
Vì
thế
Giáo
Hội,
như
một
người
mẹ
ân
cần,
liệu
sao
để
có
những
bản
dịch
thích
hợp
và
chính
xác
sang
các
ngôn
ngữ
khác
nhau,
nhất
là
dịch
từ
nguyên
văn
các
Sách
Thánh.”
Hiến
chế
cũng
khuyến
khích
cộng
tác
dịch
Kinh
Thánh
chung
với
các
anh
em
thuộc
các
Giáo
Hội
khác
(số
22)
b.
Nghiên
cứu
Kinh
Thánh
Hiến
chế
khuyến
khích
các
nhà
nghiên
cứu
thần
học
và
Kinh
Thánh
kiên
trì
tiếp
tục
làm
việc
“hầu
có
thể
cung
cấp
hữu
hiệu
cho
dân
Thiên
Chúa
lương
thực
Kinh
Thánh
soi
sáng
trí
khôn,
tăng
cường
ý
chí,
thiêu
đốt
lòng
người
ta
yêu
mến
Thiên
Chúa”
(số
23).
c.
Giảng
dạy
dựa
trên
Kinh
Thánh
Hơn
nữa,
“việc
học
hỏi
Kinh
Thánh
phải
như
là
linh
hồn
của
khoa
thần
học.
Cả
thừa
tác
vụ
Lời
Chúa
-
nghĩa
là
việc
giảng
thuyết
của
các
mục
tử,
dạy
giáo
lý
và
toàn
bộ
giáo
huấn
Ki-tô
giáo,
trong
đó
bài
diễn
giảng
trong
phụng
vụ
phải
chiếm
địa
vị
quan
trọng
-
cũng
được
nuôi
dưỡng
cách
lành
mạnh
và
tươi
tốt
cách
thánh
thiện
nhờ
lời
Kinh
Thánh”
(số
24).
d.
Học
hỏi
và
suy
gẫm
Kinh
Thánh
Vì
“không
biết
Kinh
Thánh
là
không
biết
Chúa
Ki-tô”
(thánh
Giê-rô-ni-mô),
nên
Hiến
chế
ân
cần
khuyên
nhủ
các
hạng
người
trong
Giáo
Hội
:
giáo
sĩ,
linh
mục,
phó
tế,
giáo
lý
viên,
tu
sĩ
và
mọi
Ki-tô
hữu,
học
được
“sự
hiểu
biết
tuyệt
vời
Chúa
Giê-su
Ki-tô”
(Pl
3,8)
qua
việc
tiếp
xúc
với
chính
bản
văn
thánh
:
trong
phụng
vụ,
trong
việc
suy
gẫm,
qua
các
lớp
học,
hoặc
bằng
những
phương
tiện
khác.
Nhưng
lời
cầu
nguyện
phải
đi
kèm
theo
việc
đọc
Kinh
Thánh
để
có
cuộc
đối
thoại
giữa
Thiên
Chúa
và
con
người,
vì
“khi
cầu
nguyện,
ta
nói
với
Chúa;
còn
khi
đọc
lời
Kinh
Thánh,
ta
nghe
Chúa
nói”
(thánh
Am-rô-xi-ô).
Sau
cùng,
Hiến
chế
nhắc
nhở
nhiệm
vụ
của
các
giám
mục
là
đào
tạo
cho
các
tín
hữu
biết
sử
dụng
Sách
Thánh
nhờ
những
bản
dịch
có
kèm
những
chú
thích
cần
thiết.
Hơn
nữa
còn
nên
xuất
bản
Kinh
Thánh
với
những
ghi
chú
thích
hợp,
tiện
dụng
cho
cả
những
người
ngoài
Ki-tô
giáo
(số
25).
III.
40
NĂM
SAU
HIẾN
CHẾ
Có
thể
nói
Hiến
chế
về
Mặc
khải
đã
mở
một
giai
đoạn
mới
trong
liên
hệ
giữa
Giáo
Hội
Công
Giáo
với
Kinh
Thánh.
1.
Việc
nghiên
cứu
và
dịch
Kinh
Thánh
Các
học
giả
Công
Giáo
bớt
cảm
thấy
bị
gò
bó
trong
công
việc
và
có
thể
mạnh
dạn
nghiên
cứu
các
phương
pháp
tiếp
cận
Kinh
Thánh
mới.
Vì
Giáo
Hội
không
dè
dặt
như
xưa,
mà
trái
lại
khuyến
khích
người
Công
Giáo
đọc
Kinh
Thánh,
nên
các
bản
dịch
có
nhiều
hơn,
thích
hợp
cho
các
loại
đọc
giả
khác
nhau.
Ở
một
số
nước,
người
Công
Giáo
đã
cộng
tác
với
những
anh
chị
em
Ki-tô
hữu
khác
để
soạn
những
bản
dịch
đại
kết
(x.
II
2 a
trên
đây).
2.
Trong
đời
sống
Giáo
Hội
Có
thể
nói
:
điểm
quan
trọng
nhất
là
từ
nay
Kinh
Thánh
có
một
vị
trí
chủ
yếu
trong
phụng
vụ.
Trước
cuộc
canh
tân
phụng
vụ
của
Công
Đồng,
thì
số
các
bài
Kinh
Thánh
dùng
trong
thánh
lễ
rất
ít,
lại
đọc
bằng
tiếng
La-tinh,
hoạ
may
sau
đó
bài
“Evan”
(Tin
Mừng)
Chúa
nhật
được
đọc
bằng
tiếng
địa
phương.
Từ
sau
Công
Đồng,
thánh
lễ
cử
hành
bằng
tiếng
địa
phương
và
số
lượng
các
bài
Kinh
Thánh
được
chọn
cũng
rất
phong
phú,
nên
người
giáo
dân
dù
không
đọc
Kinh
Thánh
riêng
cũng
được
nghe
khá
nhiều.
Vấn
đề
là
bản
dịch
phải
vừa
chính
xác
vừa
dễ
hiểu,
và
họ
phải
được
giúp
đỡ
để
nắm
được
ý
nghĩa
và
đưa
vào
cuộc
sống
cá
nhân.
Các
văn
kiện
của
Công
Đồng
cũng
nhấn
mạnh
đến
vai
trò
của
Kinh
Thánh
trong
những
lãnh
vực
khác
của
đời
sống
Giáo
Hội,
cách
riêng
trong
khoa
thần
học
và
trong
việc
đào
tạo
linh
mục.
Như
đã
nói
trên
(II
2
c),
“việc
học
hỏi
Kinh
Thánh
phải
như
là
linh
hồn
của
khoa
thần
học”.
Các
môn
thần
học,
nhất
là
thần
học
tín
lý
và
thần
học
luân
lý,
phải
“thấm
nhuần
giáo
lý
Kinh
Thánh
nhiều
hơn”
(Sắc
lệnh
về
Đào
tạo
linh
mục,
số
16).
Đặc
biệt
môn
học
Kinh
Thánh,
trước
đây
được
coi
như
môn
học
“phụ”
trong
chương
trình
các
chủng
viện
và
học
viện,
nay
được
chú
trọng
hơn.
Hơn
nữa,
Kinh
Thánh
không
phải
chỉ
là
một
đề
tài
để
học,
mà
còn
phải
đi
vào
đời
sống
nữa.
Vì
thế,
nhiều
văn
kiện
Công
Đồng
nhắn
nhủ
mọi
hạng
người
trong
Giáo
Hội
:
linh
mục,
giáo
sĩ,
tu
sĩ,
chủng
sinh,
phó
tế,
giáo
lý
viên,
thừa
sai
và
mọi
Ki-tô
hữu
phải
năng
đọc,
học
hỏi
và
suy
gẫm
Lời
Chúa
để
nhận
được
ánh
sáng
và
sức
mạnh
cho
đời
sống
tâm
linh
và
hoạt
động
tông
đồ.
3.
Mục
vụ
Kinh
Thánh
Mục
vụ
Kinh
Thánh
phát
triển
mạnh
mẽ
trong
Giáo
Hội
nhằm
cung
cấp
những
phương
tiện
để
học
hỏi,
suy
gẫm
và
sống
Lời
Chúa.
Các
bản
dịch
Kinh
Thánh
với
nhiều
trình
độ
giải
thích
ra
đời.
Các
nhóm
chia
sẻ
Lời
Chúa,
các
lớp
học
Kinh
Thánh
-
đôi
khi
dưới
hình
thức
hàm
thụ
-
được
tổ
chức.
Các
hình
ảnh,
triển
lãm,
hoạt
cảnh
về
Kinh
Thánh
v.v.
cũng
được
sử
dụng.
Ngoài
ra,
các
phương
tiện
mới
nhất,
như
máy
vi
tính,
internet
cũng
được
dùng
để
phổ
biến
Lời
Chúa.
Để
phối
hợp
và
nâng
đỡ
mục
vụ
Kinh
Thánh,
Liên
Hiệp
Kinh
Thánh
Công
Giáo
(Catholic
Biblical
Federation)
được
thành
lập
năm
1969
với
mục
đích
quy
tụ
các
tổ
chức
Công
Giáo
phục
vụ
Lời
Chúa.
Hiện
nay
Liên
Hiệp
có
92
tổ
chức
là
thành
viên
thực
thụ,
và
219
thành
viên
liên
kết,
thuộc
127
nước.
Tại
Việt
Nam,
Hội
đồng
Giám
mục
là
thành
viên
thực
thụ,
và
Nhóm
Phiên
Dịch
Các
Giờ
Kinh
Phụng
Vụ
là
thành
viên
liên
kết.
Tháng
09-2005,
để
đánh
dấu
40
năm
Hiến
chế
về
Mặc
khải,
Liên
Hiệp
Kinh
Thánh
Công
Giáo
phối
hợp
với
Hội
đồng
Giáo
hoàng
Cổ
vũ
sự
Hợp
nhất
Ki-tô
hữu,
tổ
chức
tại
Rô-ma
Hội
nghị
Quốc
tế
với
đề
tài
“Kinh
Thánh
trong
đời
sống
Giáo
Hội”.
Hai
thành
viên
Việt
Nam
cũng
được
mời
tham
dự.
4.
Huấn
thị
về
việc
giải
thích
Kinh
Thánh
trong
Giáo
Hội
Huấn
thị
này
do
Uỷ
Ban
Giáo
Hoàng
về
Kinh
Thánh
công
bố
năm
1993
để
kỷ
niệm
50
năm
Đức
Pi-ô
XII
ban
hành
Thông
Điệp
Divino
afflante
Spiritu
(xem
I
trên
đây).
Huấn
thị
này
trước
hết
trình
bày
và
đánh
giá
các
phương
pháp
tiếp
cận
mới
trong
khoa
chú
giải
Kinh
Thánh;
sau
đó
nhắc
lại
những
nguyên
tắc
căn
bản
của
việc
giải
thích
Kinh
Thánh
trong
Giáo
Hội,
và
việc
sử
dụng
Lời
Chúa
trong
phụng
vụ,
trong
đời
sống
cá
nhân
và
trong
mục
vụ.
Văn
kiện
khá
quan
trọng
này
có
lẽ
chưa
được
học
hỏi
và
khai
thác
đúng
mức.
5.
Tại
Việt
Nam
Hiệu
quả
rõ
nhất
của
Hiến
chế
là
thúc
đẩy
việc
thực
hiện
các
bản
dịch
tiếng
Việt.
Trong
6
bản
dịch
toàn
bộ
Kinh
Thánh
do
các
tác
giả
Công
Giáo
ấn
hành
từ
đầu
thế
kỷ
20
đến
này,
có
đến
4
bản
được
in
sau
năm
1964.
Đó
là
các
bản
dịch
của
cha
Trần
Đức
Huân
(1970),
của
cha
Nguyễn
Thế
Thuấn
(1976),
của
Hồng
Y
Trịnh
Văn
Căn
(1985)
và
của
Nhóm
Phiên
Dịch
Các
Giờ
Kinh
Phụng
Vụ.
Nhóm
này
bắt
đầu
dịch
Kinh
Thánh
từ
năm
1971
và
cho
đến
nay
đã
ấn
hành
được
200.000
cuốn
Kinh
Thánh
trọn
bộ
và
1.285.000
cuốn
Tân
Ước;
hiện
Nhóm
đang
làm
công
việc
hiệu
đính
toàn
bộ
bản
dịch
và
các
chú
thích.
Ngoài
ra,
nhiều
sách
vở
tài
liệu
khác
giúp
học
hỏi
và
suy
niệm
Lời
Chúa
cũng
được
ấn
hành.
Sau
cùng,
cũng
nên
nhắc
tới
sự
kiện
ngày
càng
có
nhiều
lớp
học
hỏi
Kinh
Thánh,
nhóm
chia
sẻ
Lời
Chúa,
v.v...
THAY
LỜI
KẾT
Qua
cái
nhìn
sơ
lược
và
chắc
chắn
còn
thiếu
sót
trên
đây,
chúng
ta
thấy
Hiến
chế
về
Mặc
khải
đã
mở
đầu
một
giai
đoạn
mới
cho
vai
trò
của
Kinh
Thánh
trong
mọi
mặt
của
đời
sống
Giáo
Hội,
và
ước
nguyện
của
Hiến
chế
cho
“kho
báu
mặc
khải
đã
được
trao
gửi
cho
Giáo
Hội
ngày
càng
đổ
đầy
tâm
hồn
con
người”
(số
26),
đang
dần
dần
thực
hiện.
Tuy
nhiên,
còn
quá
nhiều
công
việc
phải
làm
trong
một
thế
giới
đang
biến
chuyển
từng
ngày,
với
bao
vấn
đề
được
đặt
ra,
như
:
môi
trường
và
thiên
tai,
toàn
cầu
hoá,
sự
cách
biệt
giàu
-
nghèo,
bạo
lực
và
khủng
bố,
khủng
hoảng
của
các
Giáo
Hội,
đối
thoại
liên
tôn
và
liên
văn
hoá,
v.v.
Các
tín
hữu
làm
thế
nào
để
thấy
được
trong
Lời
Chúa
những
đường
hướng
giúp
suy
nghĩ
và
tìm
ra
câu
trả
lời
cho
các
vấn
đề
của
thế
giới
hôm
nay
?
Lm
Trần
Phúc
Nhân
Vietcatholic
