MLCN BácÁi
Hội Viên ÝKiến
Hìnhnh  VuiCười
LờiChứng TĐiển
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu LưuBút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu TViện Audio
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GiảiĐápThắcMắc
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHost Nối Kết
 

MỤC LỤC:

- Lời Giới thiệu, cám tạ

- Trước khi vào đề

- Chương 01
- Chương 02
- Chương 03
- Chương 04
- Chương 05
- Chương 06
- Chương 07
- Chương 08
- Chương 09
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12

 

MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi

Chương  3   

 MẸ MARIA TRINH KHIẾT TRỌN ĐỜI và ANH CHỊ EM CỦA CHÚA GIÊSU

A.- MẸ MARIA TRINH KHIẾT TRỌN ĐỜI

  Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Ngài đã từ trời xuống thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, Ngài đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria. ...” Chúng ta tin Mẹ Maria trinh khiết trước khi, trong khi và sau khi sinh hạ Thiên-Chúa-Làm-Người và trọn đời (kinh Tin Kính Công Đồng Nicea, giáo huấn 57, Chương VIII, Công Đồng Vatican II)

   Sau đây chúng ta lược lại để học hỏi một vài phần trong giáo huấn số 52, và trọn giáo huấn số 57, Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Thánh Công Đồng Chung Vatican II.

     I. LỜI MỞ ĐẦU

 (gh 52) “Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu và khôn ngoan đã muốn hoàn tất việc cứu chuộc thế giới, nên ‘khi đến thời viên mãn, Ngài đã phái Con Mình đến, sinh bởi người nữ ... để chúng ta được nhận làm nghĩa tử (Gal 4:4-5). “Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Ngài đã từ trời xuống thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, Ngài đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria”. Mầu nhiệm cứu rỗi thần linh này được mạc khải cho chúng ta và vẫn tiếp tục trong Giáo Hội, Giáo Hội mà Chúa đã lập làm thân thể Ngài. ...

(Xin đọc giáo huấn số 52 đầy đủ ở Phụ Lục 1)

   Đức Maria và thời thơ ấu Chúa Giêsu

   (gh 57)  Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết. Thực vậy, trước hết, Đức Maria vội vã đến thăm bà Elisabeth và được bà ấy chào mừng là người có phúc vì đã tin vào sự cứu rỗi Chúa đã hứa, và vị tiền hô nhảy trong lòng mẹ (x. Lc 1:41-45). Rồi ngày Chúa giáng sinh, Mẹ Thiên Chúa vui mừng giới thiệu với các mục đồng và các nhà bác học người Con đầu lòng của mình, mà khi sinh ra đã không làm giảm bớt nhưng còn thánh hiến sự trinh khiết toàn vẹn của Người. Trong đền thánh, sau khi hiến tế lễ vật ấn định cho người nghèo, Đức Maria dâng Con lên Thiên Chúa và đã nghe Simeon báo trước Con mình sẽ là dấu chỉ sự phản kháng, và một lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng mẹ nhờ đó tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ tỏ lộ ra (x. Lc 2:34-35). Khi trẻ Giêsu lạc mất, cha mẹ Ngài đã lo âu tìm kiếm và gặp lại Con trong đền thánh đang bận tâm lo việc của Cha Ngài. Các ngài không hiểu được lời Con nói; nhưng Mẹ Chúa Giêsu giữ lấy tất cả các điều ấy và suy gẫm trong lòng (x Lc 2:41-51).

  Sau đây, chúng ta sơ lược những nghi vấn (Phần A) về “Mẹ Maria trọn đời Trinh Khiết”, và (Phần B) về “Anh chị em (ruột) của Chúa Giêsu.”

(Chương 3) Phần A

5.-   Mẹ Maria trinh khiết trọn đời:

Nghi Vấn:  Có người hoài nghi nói: “Tín điều Đức Maria trọn đời trinh khiết” đã từng là một đề tài tranh luận sôi nổi từ thế kỷ thứ bốn, và khẳng định: "Niềm tin Đức Maria trinh khiết trọn đời sau cùng thắng thế là nhờ việc phát triển các phái khổ tu và tăng viện".[1]

 Góp Ý:  Những sưu tập về tu đức của các thánh giáo phụ chứng minh Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải Mẹ Maria, là lý tưởng trinh khiết các tu sĩ nam nữ noi theo từ những thời kỳ đầu Giáo Hội. John Cassian trong luận án “Về Tám Nết Hư Tật Xấu” (năm 425) viết:

  "Nếu chúng ta thực sự khao khát ... chiến đấu cách chính đáng (= đúng luật) và được thưởng công (2 Tim 2:5) để chiến thắng thần dâm ô, chúng ta không được cậy sức mình, mà phải trông cậy ơn trợ giúp của Thiên Chúa." [1]

 *  Lịch sử cuộc đời các tu sĩ đầu tiên - như cuộc đời thánh Antôn (Anthony) và luật tu của thánh Benêđíctô (Benedict) do thánh Athanaxiô (Athanasius) ghi lại thì chính Chúa Giêsu là gương mẫu đời sống tu viện, chứ không phải Mẹ Maria. Trong tu luật của các thế kỷ sau này cũng thế. Chẳng hạn, Công Đồng thứ 35 của Dòng Tên, năm 1965, tuyên ngôn:

         "Lời khấn khiết tịnh vì nước trời ... cho thấy sự cao cả trội vượt về quyền năng của Chúa Kitô Vua và sức mạnh vô biên của Chúa Thánh Linh hoạt động cách tuyệt vời trong Giáo Hội." [1]

  Hiển nhiên, Mẹ Maria (thì) quan trọng đối với toàn thể tín hữu Công Giáo và đặc biệt đối với những người "theo Con Chiên bất cứ Ngài đi đâu, vì họ trinh khiết" (KhH 14:4). Vì nghi vấn về “Mẹ Maria trọn đời trinh khiết” mà những người anh em đó gán cho Mẹ Maria là tia lửa làm bừng cháy lối sống ẩn tu hơn là chính Kitô hữu Công Giáo quan niệm.

 6.-  Mẹ Maria trinh khiết trọn đời (tiếp theo):

Nghi Vấn:  Những anh em nghi vấn niềm tin “Mẹ Maria trinh khiết trọn đời” đưa ra thêm ba nghi vấn:

a/ Đời sống khổ tu có phải là truyền thống phúc âm  không?

 b/  Phúc Âm có dạy về sống độc thân trinh khiết không?

 c/  Cuộc sống độc thân trinh khiết có phải là tình trạng cao hơn cuộc sống hôn nhân không?

  Và trả lời "không" cho cả ba câu hỏi này.[1]

  Góp Ý: Chúng ta duyệt sơ từng nghi vấn.

     a/  Đời sống khổ tu có phải là truyền thống phúc âm không?

   Một vài trích dẫn từ Phúc Âm sau đây trả lời câu hỏi  này.

  *  Tiên tri Elijah trong Cựu Ước (1 Vua 17:1-24) và thánh Gioan Tẩy Giả trong Tân Ước là những gương tiêu biểu đời sống khổ chế. Đọc thoáng Tân Ước cũng tìm thấy bằng chứng đời sống khổ chế là theo Chúa Kitô và, tới mức nào, đó là phương tiện cứu độ. Lần nữa chứng minh đời sống khổ tu là do truyền thống Phúc Âm. Chúng tôi kể một vài trích dẫn Phúc Âm về Thánh Gioan Tẩy Giả và xin đọc Sách Các Vua 17:1-24 về Tiên tri Isaiah.

* “Ông Gioan mặc áo da lạc đà, thắt lưng bằng da thú vật, chỉ ăn châu chấu và mật ong rừng” (Mt 3:4);

* “Ông Gioan đến, không ăn uống, thì họ nói: ‘Ông ta bị quỉ ám.’” (Mt 11:18)

 *  Chúa Giêsu dạy: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo”(Lc 9:23).

* Chúa nói với người muốn làm môn đệ: "Con Người không có nơi tựa đầu" (Mt 8:20).

*  Thánh Phaolô nói:

  "Những người thuộc về Chúa Giêsu Kitô đều đã đóng đanh xác thịt cùng với các dục vọng và đam mê vào thánh giá" (Gal 5:24).

   Một vài trích dẫn trên đây cho thấy cuộc sống của chính Chúa và môn đệ Chúa (thì) gian khổ vất vả.Và cho thấy đời sống khổ tu là do truyền thống Phúc Âm.

b/  Sách Thánh có dạy về sống độc thân trinh khiết không?

   Tiên tri Elijah, Elisha, thánh Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu, thánh Gioan Tông Đồ và thánh Phaolô - đều là những gương mẫu về đời sống độc thân trinh khiết mà không một Kitô hữu nào có thể coi thường.

 *  Lời Chúa Giêsu:

   "Quả thực, Thầy nói cho anh em biết không một ai từ bỏ nhà cửa, vợ, anh em, cha mẹ, con cái vì Nước Thiên Chúa, mà không nhận được gấp trăm ở đời này, và lại không được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau" (Lc 18:29-30).

  Chúng ta hiểu lời Chúa dạy:

   “từ bỏ nhà cửa” là từ bỏ tài sản vật chất, không sở hữu của cải trần thế, sống cuộc sống thanh bần, để tận hiến phụng sự Chúa;

    “từ bỏ anh em, cha mẹ” phải được hiểu là lìa xa cha mẹ, anh chị em để tận hiến phụng sự Chúa;

   “từ bỏ vợ, con cái” phải được hiểu là không lập gia đình, không kết hôn, không sinh con cái, để sống độc thân tận hiến cuộc đời, thời gian, sức lực để phụng sự Chúa; trong trường hợp như thánh Phêrô, các thánh Tông Đồ và môn đệ đã có gia đình trước khi theo Chúa thì từ bỏ dưới hình thức hy sinh nào đó mặc dầu Phúc Âm không nói rõ.

  *  Chúa Giêsu dạy về trinh khiết tự nguyện và nói trước là việc các tu sĩ nam nữ theo Chúa sống độc thân trinh khiết là điều hết sức cao, vượt trên sự hiểu biết và chấp nhận thông thường:

    "... không phải mọi người đều có thể hiểu điều này, chỉ có những người nào được Thiên Chúa cho hiểu thì mới hiểu. Quả vậy, có những người là hoạn nhân từ bẩm sinh; có những người bị người ta làm cho thành hoạn nhân; và có những người tự nguyện là hoạn nhân và sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu" (Mt 19:11-12).

   Chúng ta suy nghĩ thật kỹ xem lời Chúa nói trong Mátthêu 19:11-12 và Luca 18:29-30 trên đây có áp dụng cho Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ Giuse không? Chắc chắn NGÀN PHẦN TRĂM  là  CÓ.

  * Chúng ta đọc kỹ lời Thánh Phaolô nói với tín hữu Corinthô: “Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Ngài. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Ngài cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng. Tôi nói thế là để mong tìm ích lợi cho anh chị em, tôi không có ý gài bẫy anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co” (1 Cor 7:32-35).

* Qua những trích dẫn trên đây, và còn rất nhiều nữa, chúng ta thấy chính Chúa Giêsu và Thánh Phaolô đề cao cuộc sống độc thân trinh khiết. Độc thân trinh khiết là cuộc sống cao, đến độ khó hiểu, chính Chúa Giêsu đã dạy rõ ràng: “có những người tự nguyện là hoạn nhân và sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19:12) 

 “... tôi chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co” (1 Cor 7: 35b).  

   Lần nữa, qua một vài dẫn chứng đã trình bày, chúng ta thấy giáo huấn về sống độc thân trinh khiết được ghi rõ ràng trong Sách Thánh.

  c/  Cuộc sống độc thân trinh khiết có phải là tình trạng

       cao hơn cuộc sống hôn nhân không?

   (Nghi vấn trên được hiểu là Giáo huấn Phúc Âm về khổ chế và độc thân trinh khiết có làm hạ giá hôn nhân không? Đặc biệt là ơn gọi sống trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria có hàm ý coi thường cuộc sống hôn nhân của Người không?)  

  Đáp: Ơn gọi sống trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria KHÔNG hàm ý coi thường cuộc sống hôn nhân của Người.

*

  Kitô hữu Công Giáo nhìn nhận hôn nhân là ơn gọi cao cả, được Chúa Kitô, qua tiệc cưới Cana, nâng lên hàng nhiệm tích của Giao Ước Mới (x. Gioan 2:1-10). Hiển nhiên, sự ràng buộc bất khả tiêu giữa vợ chồng (thì) hết sức thánh đến độ được so sánh với mối liên kết hiệp nhất Chúa Kitô là Đầu của chúng ta với Thân Thể của Ngài là Giáo Hội, như lời thánh Phaolô dạy sau đây:

    “Vì lòng kính sợ Chúa Kitô, anh chị em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Chúa Kitô là đầu của Hội Thánh, Chính Ngài là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Ngài. Và như Hội Thánh tùng phục Chúa Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.

   “Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. như vậy, Ngài thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Ngài, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì ố, không vết nhăn nheo hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu thương vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Chúa Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài. Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Chúa Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình còn vợ thì hãy kính sợ chồng” (Eph 5:21–33).

* Và lời thánh Phaolô trong 1 Corinthô 7:1-10 dạy:

 “ Bây giờ, tôi đề cập tới những điều anh em đã viết cho tôi: đàn ông không gần đàn bà là điều tốt. Nhưng để tránh hiểm họa dâm ô, thì mỗi người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau, trừ phi hai người đồng ý sống như vậy trong một thời gian, để chuyên lo cầu nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau, kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà Satan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói là một sự nhân nhượng chứ không phải một mệnh lệnh. Tôi ước muốn mọi người đều như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác. Với những người độc thân và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy như tôi thì tốt cho họ. Nếu không tiết dục được, họ cứ kết hôn, vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu đốt.

   Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng thì phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy (ly dị) vợ” (1 Cor 7:1-11).

   Chúng ta thấy rõ ràng kết luận Giáo huấn trên đây của thánh Phaolô minh chứng việc Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse giữ trọn đời Trinh Khiết là điều chắc chắn đã xảy ra. Và việc trinh khiết tự nguyện và đồng thuận giữa vợ chồng không làm giảm giá trị hôn nhân, vì “tiết dục một thời gian” như lời thánh Phaolô (1 Cor 7:5) là điều có thể xảy ra và được phép, thì “tiết dục trọn đời trong hôn nhân như Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse” là điều được phép và chắc chắn xảy ra giữa hai Đấng thánh trên hết các thụ tạo của Chúa. 

 7.-   Mẹ Maria trinh khiết trọn đời (tiếp theo):

       Mẹ Maria khấn hứa trinh khiết trọn đời  trong hôn nhân

Nghi Vấn:  Có người hoài nghi và không đồng ý với Kitô hữu Công Giáo về ý niệm "lời khấn giữ trinh khiết trọn đời, ngay cả trong hôn nhân".  Họ nói lời khấn như thế "không hề nghe nói tới và không thể nghĩ tới theo văn hóa phúc âm".

  Góp Ý:  Chúng ta suy nghĩ về lời Mẹ Maria hỏi Thiên Sứ Gabriel khi ngài báo tin:

   "Này Maria, đừng sợ. Trinh Nữ được Thiên Chúa sủng ái. Trinh Nữ sẽ mang thai và sinh con trai và đặt tên là Giêsu."

   Đức Maria hỏi:

   "Việc này xảy ra thế nào được? Tôi không biết nam nhân" (cách nói của người Do thái để chỉ việc giao hợp vợ chồng) (Lc 1:34).

    Câu hỏi “’Việc này xảy ta thế nào được? Tôi không biết nam nhân?’ (Lc 1:34) không có nghĩa, trừ phi Người quyết tâm duy trì tình trạng trinh khiết ngay cả trong hôn nhân. Chỉ khi đó Người mới ngạc nhiên làm cách nào lời loan báo của thiên sứ hợp với quyết tâm của Người. Khi được bảo đảm rằng việc Người làm mẹ không có thánh Giuse can dự mà hoàn toàn do Chúa Thánh Linh, Người thuận theo chương trình của Thiên Chúa với tư cách là ‘nữ tì của Chúa’" (Lc 1:38). [1]

** 

  Chúng ta học hỏi thêm lần nữa lời Sách Thánh:

  * Chúa Giêsu dạy về hy sinh để theo Chúa: “Quả thực, Thầy nói cho anh em biết không một ai từ bỏ nhà cửa, vợ, anh em, cha mẹ, con cái vì Nước Thiên Chúa, mà không nhận được gấp trăm ở đời này, và không được hạnh phúc vĩnh cửu đời sau” (Lc 18:29-30).

   * Khi giải thích cho các môn đệ lời Chúa giảng về “Tự Nguyện Khiết Tịnh”, Chúa Giêsu nói: “... không phải mọi người đều có thể hiểu điều này, chỉ có những người nào được Thiên Chúa cho hiểu thì mới hiểu. Quả vậy, có những người là hoạn nhân từ bẩm sinh; có những người bị người ta làm cho thành hoạn nhân; và có những người tự nguyện là hoạn nhân và sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19:11-12).

   *  Thánh Phaolô cho phép sự chay tịnh các quyền hôn nhân do sự đồng thuận giữa vợ chồng. Lần nữa chúng ta học hỏi:  

   “Vợ chồng đừng từ khước nhau, trừ phi đã đồng tình, và tạm thời, để anh chị em chuyên cần cầu nguyện, nhưng rồi anh chị em lại xum vầy với nhau, để Satan không thể lợi dụng cám dỗ anh chị em vì không tiết dục nổi” (1 Cor 7:5). Và thánh Tông Đồ nói tiếp: “Tôi ước muốn mọi người đều như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho ân sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác” (1 Cor 7:7).

   Xuyên qua lời Chúa Giêsu và thánh Phaolô trích dẫn trên đây, chúng ta xác tín Mẹ Maria Trinh Khiết Trọn Đời vì việc chay tịnh các quyền hôn nhân đồng thuận giữa Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse.

 **  Ngoài ra, vấn đề ở đây không phải là văn hóa, mà là thần học. Chúng ta tìm hiểu học hỏi Việc Ngôi Lời Nhập Thể, mà Việc Ngôi Lời Nhập Thể thì không hề nghe nói và không thể nghĩ tới trong bất cứ nền văn hóa nào. Không một nền văn hóa nhân loại nào, "phúc âm" hoặc không, có thể tiên liệu hoặc hình thành bất cứ một chi tiết nào của sự việc độc nhất vô nhị như việc Con Thiên Chúa nhập thể. Một phần toàn vẹn trong chương trình của Thiên Chúa cho Việc Ngôi Lời Nhập Thể là sự tận hiến duy nhất của Mẹ Maria đối với Thiên Chúa Con mà Người cưu mang trong dạ và đối với Chúa Thánh Linh, Đấng chiếm hữu Người trọn vẹn.

  *  Giáo lý của thánh Phaolô về hôn nhân và trinh khiết không căn cứ vào lời kêu gọi theo các nguyên tắc văn hóa thịnh hành, mà căn cứ vào quyền tông đồ của chính ngài:

   “Về vấn đề độc thân, tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng tôi khuyên nhủ anh chị em với tư cách là người – nhờ ơn Chúa thương – đáng được anh chị em tín nhiệm” (1 Cor 7:25).

   Các khuyến cáo của Thánh Phaolô về đức trinh khiết thì theo cách nào đó "không quan hệ gì với văn hóa phúc âm" - và cũng chẳng quan hệ với văn hóa đời! Thánh Phaolô biết rõ điều này: “Nhưng theo ý kiến tôi, người ấy có phúc hơn nếu cứ ở vậy = sống độc thân” (1 Cor 7:40a); dẫu vậy ngài vẫn nhấn mạnh quyết định của ngài trong vấn đề này, và ngài còn nhấn mạnh thêm: "Tôi cũng được Thánh Linh Thiên Chúa soi sáng" (1 Cor 7:40b).

*

   “Lời khấn giữ mình trinh khiết trọn đời” là “hứa” với Thiên Chúa sẽ đi theo một đường lối tốt lành hơn đường lối thông thường. Mẹ Maria đã làm điều này. Các điều kiện của lời khấn đức trinh khiết hoàn toàn thích hợp nơi Mẹ Maria, như giáo huấn từ thuở ban đầu và không hề suy suyển của Giáo Hội minh định.

* Chúng tôi nhắc lại lời thánh Augustinô (đã ghi ở trang 48-49) để kết luận tiểu đề này: "Hiển nhiên, Mẹ Maria không nói: 'Việc này xảy ra thế nào được vì tôi không biết việc vợ chồng?' (Lc 1:34) nếu Người đã không hứa với Thiên Chúa quyết sống trinh khiết trọn đời. Nếu Người chủ trương giao hợp vợ chồng, Người đã chẳng đưa ra câu hỏi này!"

 8.-   Mẹ Maria trinh khiết trọn đời (tiếp theo):

          Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse không
          sinh hoạt hôn nhân (= không ăn ở với nhau)
          như người thường sau khi Chúa Giêsu giáng sinh

Nghi Vấn:   Nhiều lần chúng tôi phải nghe và đối đáp nghi vấn: “Đức Maria và dưỡng phụ Giuse có những liên quan hôn nhân bình thường sau khi Chúa Giêsu giáng sinh”, với viện dẫn: “trước khi ông bà chung sống, bà đã có thai" (Mt 1:18) và "ông không ăn ở với bà cho tới khi bà sinh con" (Mt 1:25).

  Chúng tôi cũng thường nghe dẫn chứng lời thánh Phaolô: "Tôi nói điều đó là để mong tìm lợi ích cho anh chị em, tôi không có ý gài bẫy anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với anh chị em một điều tốt, để anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng co" (1 Cor 7:35) để khẳng định rằng những giao hợp vợ chồng bình thường là theo ý Thiên Chúa cho cặp vợ chồng đó (ám chỉ Đức Maria và thánh Giuse)."[1]

Góp Ý: Chúng ta duyệt qua những trích dẫn sau đây để trả lời nghi vấn này.

  Trong ngôn ngữ Hy lạp, PRIN (trước khi) và HEOS (cho tới khi) không hàm ý sự thay đổi hoàn toàn của hoàn cảnh căn cứ vào sự hoàn tất của liên từ "trước khi / cho tới khi." [1]

     Chúng ta đọc kỹ một vài thí dụ sau đây:

  * "Xin Thầy tới trước khi con tôi chết" (Gioan 4:49) – nhưng đứa trẻ đã không chết cho dù sau khi Chúa Giêsu đã đến.

 * "Cho tới khi tôi đến, hãy chuyên cần đọc Sách Thánh, chuyên cần khuyên nhủ và dạy dỗ" (1 Tim 4:13) - nhưng ông Timôthêu đã không ngưng các việc này sau khi thánh Phaolô đã đến.

*  "Thật vậy, chúng ta biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo vẫn rên siết quằn quại như sắp sinh nở" (Rom 8:22)...

*  "Thật vậy, Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài" (1 Cor  5:25);

* "... hãy tuân giữ giới răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách, cho đến ngày Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuất hiện" (1 Tim 6:14); 

   *  "Nhưng cái gì các ngươi đang có, hãy giữ cho chắc cho tới khi Ta đến. Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho quyền cai trị các dân" (KhH 2:25-26).

**

   Có người nói: liên từ “cho tới khi/cho tới lúc” dẫn đầu mệnh đề khẳng định. Chúng ta thử so sánh một vài thí dụ sau đây:

 Thí dụ 1:  Ông ấy không ăn uống gì cho tới khi vợ về mới ăn.
 Thí du 2:  Ông ấy không ăn uống gì cho tới khi vợ về.

 Thí dụ 3:  Các bé đó không chịu đi mà chờ cho tới khi cha mẹ các bé đó về.

* Ở thí dụ 1, mệnh đề: “cho tới khi vợ về mới ăn.” xác định là có ăn và chỉ ăn sau khi bà vợ đã về như đã nói rõ “cho tới khi vợ về mới ăn”.

 * Ở thí dụ thứ 2, mệnh đề: “cho tới khi vợ về.” thì không chắc là có ăn. Có thể sau khi vợ về thì ăn; mà cũng có thể không.

*  Ở thí dụ thứ 3, mệnh đề: “cho tới khi cha mẹ các bé đó về” không khẳng định rằng việc các bé đi sẽ xảy ra. Có thể các bé đi; cũng có thể các bé không đi, vì tùy thuộc quyết định của cha mẹ các bé.

  * Một vài thí dụ trên (và còn nhiều nữa) cho thấy mệnh đề bắt đầu bằng “trước khi, cho tới khi, sau khi” chỉ được coi là mệnh đề khẳng định khi được xác định bởi một mệnh đề khẳng định khác đi kèm, như trong thí dụ số 1 trên đây.

   *  Thánh sử dùng cách nói: “Ông không ăn ở với bà cho tới khi bà sinh con” (Mt 1:25) chỉ có ý nhấn mạnh là Thánh Dưỡng Phụ Giuse tôn trọng Mẹ Maria, và nhất là ngài không dính líu gì vào việc Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể nơi lòng dạ trinh khiết Mẹ Maria.

  *  Lời thánh sử Mátthêu “ông không ăn ở với bà cho tới khi bà sinh con.”(Mt 1:25) chứng minh lòng can đảm trong đức trinh khiết của Thánh Dưỡng Phụ.

   Tóm lại, lời Phúc Âm theo thánh Mátthêu: “Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt 1:25) không chứng minh điều gì nghịch với sự trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria.  Lời Phúc Âm này cũng cho thấy Thánh Dưỡng Phụ Giuse kết hôn với Mẹ Maria không phải vì lý do bình thường như mọi cuộc hôn nhân khác, mà chính là theo thánh ý Chúa an bài để bảo vệ Mẹ Maria, bảo vệ và tôn trọng Chúa Cứu Thế. 

 **

  Chúng ta so sánh và tìm hiểu thêm hai đoạn Phúc Âm thánh Mátthêu và Luca về “Truyền Tin” sau đây:

  Phúc Âm theo thánh Mátthêu: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô giáng sinh: Mẹ Ngài là Maria đã đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi chung sống, Bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng Bà, là người công chính và không muốn tố giác Bà, nên định tâm bỏ Bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì sứ thần Chúa đến báo cho ông trong giấc mơ: ‘Này Giuse, con cháu David, đừng ngại đón Maria, vợ ông về, vì người con Bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông sẽ đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi.’ Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa Chúa phán qua miệng các tiên tri: ‘Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ơ- cùng-chúng-ta.’ Khi tỉnh giấc, ông Giuse thi hành như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu.” (Mt 1:18-25)

* Phúc Âm theo thánh Luca: “Bà Elisabeth có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Galilea, gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ đã kết hôn [1] với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi Vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria” (Lc 1:26-27).

   Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ ...’ (Lc 1:28)

Nghe lời ấy, Trinh Nữ rất bối rối, và tự hỏi ‘lời chào như vậy có nghĩa gì’ (Lc 1:29).

  Sứ thần liền nói:  “Thưa (Trinh Nữ) Maria, xin đừng sợ, vì Trinh Nữ đẹp lòng Thiên Chúa. Và này Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. ...” (Lc 1:30-33)

 Trinh Nữ Maria hỏi sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến người nam (= không biết việc vợ chồng)!” (Lc 1:34).

  Sứ thần đáp: ‘Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Trinh Nữ, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Trinh Nữ, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. ... Bấy giờ Trinh Nữ Maria nói: ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.’ Rồi sứ thần từ biệt ra đi” (Lc 1:35-38).

* Chúng ta thấy rõ ràng hai bản tường thuật trên đây chứng minh Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse thành hôn, chung sống, nhưng không hề có liên hệ phái tính truyền sinh. Mẹ Maria vẫn còn là trinh nữ vào ngày “Truyền Tin” và Mẹ quyết tâm giữ trinh khiết trọn đời nên Mẹ mới khẳng định hỏi thiên sứ: “Việc này xảy ra thế nào được vì tôi không biết người nam (= không biết việc vợ chồng = không sinh hoạt tính phái truyền sinh)!” (Lc 1:34).

  Chân lý vẫn là chân lý. Chúng ta tin thì chúng ta làm đúng và được phước vì tin; chúng ta chối bỏ không tin thì chân lý vẫn là chân lý và chúng ta thiệt vì tự mình gây ra.

   Sau đây chúng ta đề cập tới lời thánh Phaolô trong 1 Cor 7:35 mà nghi vấn nêu lên về niềm tin “Mẹ Maria trọn đời trinh khiết”:

*  Không có bằng chứng nào là thánh Phaolô nghĩ tới Mẹ Maria và thánh Giuse khi ngài viết: "Nếu ai đang lúc quá dồi dào khí lực mà nghĩ rằng mình khó có thể tôn trọng người trinh nữ của mình, và cho rằng chuyện thường tình sẽ phải xảy ra, thì người ấy cứ làm như ý mình muốn, không mắc tội đâu: họ cứ việc lấy nhau. Còn ai đứng vững, lòng không nao núng, cũng chẳng miễn cưỡng, lại làm chủ được ý chí của mình, và quyết tâm tôn trọng người trinh nữ, thì người ấy làm một việc tốt. Như thế, ai cưới người trinh nữ của mình, thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì làm một việc tốt hơn" (1 Cor 7:36 -38).

  ** Chúng ta tìm hiểu ý nghĩa của “tôn trọng người trinh nữ của mình ... họ cứ việc lấy nhau...” trong thơ 1 gởi giáo đoàn Corinthô 7:36-38:

- “Người trinh nữ của mình” (1 Cor 7:36), ngoài nghĩa thông thường hiểu là “hôn thê / vợ chưa cưới”, có thể hiểu là vợ đã cưới của mình, nhưng chưa động phòng, chưa một lần giao hợp tính phái.

-  Trong “...người ấy cứ làm như ý mình muốn, không mắc tội đâu: họ cứ việc lấy nhau.” (1 Cor 7:36), động từ “lấy nhau” ở đây, ngoài nghĩa thông thường là “cưới nhau, lập gia đình, lấy làm vợ, làm chồng,” còn hiểu là “chung sống và sinh hoạt tính phái hôn nhân để truyền sinh bình thường”, vì thánh Phaolô nhấn mạnh: “không mắc tội đâu.”

-Và “Còn ai đứng vững, lòng không nao núng, cũng chẳng miễn cưỡng, lại làm chủ được ý chí của mình, và quyết tâm tôn trọng người trinh nữ, thì người ấy làm một việc tốt.” (1 Cor 7:37) có thể hiểu là đã cưới nhau, chung sống, nhưng không ăn ở với nhau vì can đảm, làm chủ được mình, và tôn trọng nhau. Đây là trường hợp Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse.

  Và chúng ta tìm hiểu ý nghĩa động từ “cưới” trong 1 Cor 7:38:  “Như thế, ai cưới người trinh nữ của mình, thì làm một việc tốt, nhưng ai không cưới thì làm một việc tốt hơn.”

   Động từ “cưới” trong 1 Cor 7:38, ngoài nghĩa thông thường là “lấy nhau làm chồng, làm vợ”, còn có thể hiểu rõ hơn là “ăn ở với = giao hợp với” vì “việc giao hợp với nhau” là trường hợp thông thường và hợp pháp của “việc cưới nhau.” Vì thế “..., nhưng ai không cưới (người trinh nữ của mình) thì làm một việc tốt hơn”( Cor 7:38) có thể được hiểu theo nghĩa thông thường là không đi đến hôn nhân; và cũng có thể hiểu là cưới, chung sống, nhưng “không giao hợp.”

  Tóm lại đoạn Thánh Thư 1 Cor 7: 36-38 cho thấy thánh Phaolô đồng ý và coi trọng tình trạng trinh khiết trọn đời trong hôn nhân. Đây chính là trường hợp Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse.

 **  Thêm nữa, thánh Phaolô cho phép và khuyến khích sự chay tịnh các quyền hôn nhân do sự đồng thuận giữa vợ chồng; ngài ước mong điều này xảy ra trong một thời gian, ngài nói:

   "Vợ chồng đừng từ khước nhau, trừ phi đã đồng tình, và tạm thời, để anh chị em chuyên chú cầu nguyện, nhưng rồi anh chị  em  lại  sum  vầy  với  nhau, để Satan không thể lợi dụng cám dỗ anh chị em vì không tiết dục nổi" (1 Cor 7:5).

  * Hơn nữa, thánh Phaolô nhìn nhận sự hiện hữu của các đặc sủng cả trong và ngoài hôn nhân:

    "Tôi ước muốn mọi người đều như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho ân sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác" (1 Cor 7:7).

* Kết luận: Những dẫn chứng trên đây minh chứng rõ ràng sự trinh khiết trọn đời do chay tịnh về phần vợ chồng là ân sủng đặc thù. Vì thế những điều thánh Phaolô viết không chống đối mà còn góp phần minh chứng tình trạng trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria. Đối với những cặp vợ chồng bình thường còn có thể được phép và nên chay tịnh vì mục đích thánh thiện, thì đối với Mẹ Maria và thánh Giuse, việc chay tịnh quyền sinh hoạt vợ chồng và Mẹ Maria trọn đời trinh khiết phải là điều chắc chắn xảy ra.

*  Chúng tôi nhờ lời Thánh Tiến Sĩ Ambrôsiô (338-397) để kết luận: “Chúa Giêsu hẳn đã không chọn sinh ra bởi một trinh nữ nếu Ngài thấy trinh nữ đó sẽ có thể giao hợp tính phái thông thường khiến có thể xâm nhập vào căn gốc thân xác Chúa, là ngai tòa của Vua Muôn Thuở.”[1]

   Thánh Ambrôsiô cũng cho rằng “Có hôn nhân thực sự giữa Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse, nhưng căn cốt cuộc hôn nhân này là vợ chồng đồng thuận hỗ tương (pactio conjugalis) chứ không phải là sự kết hợp thân xác.”[1] Ngài cũng cho rằng mục đích cuộc hôn nhân giữa Thánh Dưỡng Phụ Giuse và Mẹ Maria là để bảo toàn thanh danh của Mẹ Maria.

9.-      Mẹ Maria trinh khiết trọn đời (tiếp theo):

          Quan điểm Tin Lành về sự trinh khiết  trọn đời của Đức Maria

Nghi Vấn:   Có lần chúng tôi nghe người nghi vấn “Đức Maria trinh khiết trọn đời” tự nhận là đại diện cho "tư cách" hoặc "quan điểm”" hoặc "đáp ứng của Tin Lành".

Góp Ý:  Chúng ta sơ qua một vài dẫn chứng sau đây để xem những người tự xưng như trên có đúng là đại diện cho “tư cách, hoặc quan điểm hoặc đáp ứng của anh em Tin Lành về sự trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria” hay không.

   * Ông Martin Luther nói: "Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc chúng ta là con thực sự và tự nhiên của lòng dạ trinh khiết của Đức Maria ... Việc này không có sự cộng tác của nam nhân, và Người vẫn còn là trinh nữ sau khi sinh con" [1].

*  John Calvin cũng bênh vực sự trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria, ông viết: "Helvidius (một người dị giáo thế kỷ thứ bốn) đã tự tỏ ra quá ngu dốt, khi ông ta nói Đức Maria có nhiều con (trai), vì một vài đoạn Phúc Âm nói tới các anh em của Chúa Kitô" [1]. Theo Bernard Leeming, Calvin chuyển ngữ Adelphoi là "anh em họ gần" hoặc "bà con thân thuộc.” [1]

 * Ulrich Zwingli, nhà cải cách Thụy Sĩ, viết: "Tôi xác tín theo những lời trong Phúc Âm rằng một trinh nữ trọn vẹn đã hạ sinh cho chúng ta Con Thiên Chúa và vẫn còn toàn vẹn trinh khiết trong khi sinh con và cả sau khi sinh con cho đến trọn đời. Tôi xác tín rằng Người đã được Thiên Chúa tôn vinh hạnh phúc vĩnh cửu vượt trên mọi thụ tạo, cả các thánh và các thiên thần." [1]

*  Chúng tôi kết luận bằng lời John de Satgé sau đây:

  “Hiển nhiên trong Sách Thánh không có điều gì làm mất hiệu lực kết luận của Giáo Hội, trong những ngày trước khi có sự phân chia Đông và Tây, rằng Đức Maria trinh khiết trọn đời ... Vinh quang sung mãn trọn đời trinh khiết có thể được thấy nơi ngôi vị của Chúa chúng ta và nơi tình yêu phổ quát của Chúa, mà mọi người có thể xin và nhận lãnh, nhưng không một ai có thể độc quyền. Trong môi trường Tự Do của Yêu Thương này Đức Maria vui hưởng trọn vẹn sự đồng nhất hóa với Chúa. Đức trinh khiết trọn đời đã để Người tự do làm thừa tác vụ toàn cầu."

(Chương 3) Phần B  

         Mẹ Maria trinh khiết trọn đời (tiếp theo):

          ANH CHỊ  EM (CỦA) CHÚA GIÊSU

   Những trình bày về Mẹ Maria trọn đời trinh khiết ở Chương 3, Phần A, trang 39-63, đủ giải đáp các nghi vấn về “anh chị em của Chúa Giêsu”. Tuy nhiên để thêm ý kiến, chúng ta tìm hiểu thêm Phần B như sau đây.

 10.-   Chúa Giêsu là con duy nhất của Mẹ Maria

Nghi Vấn:  Chúng tôi thường phải đối đáp lập luận: “Chúa Giêsu có nhiều anh chị em (ruột)” với những trích dẫn, như:

   "Ông ấy không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria, anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa sao? Và chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?" (Mt 13:55-56);

  Và những anh em đó cố ý chỉ trích dẫn câu thứ hai (câu 56) của đoạn Phúc Âm thánh Mátthêu 27:55-56: “Trong số những người đàn bà đó có bà Maria Magdalena, bà Maria mẹ ông Giacôbê – Giuse, cùng bà Maria mẹ của 2 con ông Zebede”, và câu thứ nhất (câu 40) trong 2 câu của Phúc Âm thánh Marcô 15:40-41: “Trong số ấy có Maria Magdalena, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse cùng bà Salomé” để chứng minh lập luận Đức Maria không trinh khiết trọn đời.

  Góp Ý:  Chúng ta đọc đủ cả đoạn Phúc Âm để tìm hiểu lập luận hoài nghi trên đây:

 *  “ (55) Ở đó, cũng có nhiều phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Đức Giêsu từ Galilêa để giúp đỡ Ngài. (56) Trong số đó, có bà Maria Magdala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê và Giuse,  và  bà  mẹ  các  con  ông Zêbêđê “ (Mt 27:55-56).

  *  “(40) Nhưng cũng có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Maria Magdala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê thứ và Giuse, cùng bà Salomé. (41) Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giêsu khi Ngài còn ở Galilêa. Lại có nhiều bà khác đã cùng với Ngài lên Jerusalem cũng hiện diện tại đó" (Mc 15:40-41).

   Những trích dẫn có tính cách hoài nghi đã bỏ đi một nửa (của) các đoạn Phúc Âm trên đây để chứng minh Mẹ Maria là mẹ các ông Giacôbê và Giuđa được kể trong Mátthêu 27:56 và Marcô 15:40, và nói hai ông này là em Chúa Giêsu. Sau đây chúng ta so sánh kỹ một vài đoạn Phúc Âm liên hệ để tìm ra chút ánh sáng cho nghi vấn này:

** Chúng ta tìm thấy trong các văn liệu Phúc Âm: “Ông ấy không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ ông ấy không phải là bà Maria sao; anh em ông ấy không phải là các ông Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa sao? Và chị em ông ấy không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” (Mt 13:55-56), thì