|
MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi
Chương 3
MẸ MARIA TRINH KHIẾT
TRỌN ĐỜI và ANH CHỊ EM CỦA CHÚA GIÊSU
A.- MẸ MARIA TRINH
KHIẾT TRỌN ĐỜI
Trong kinh Tin Kính,
chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người
chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Ngài
đã từ trời xuống thế, bởi phép Chúa
Thánh Thần, Ngài đã nhập thể trong lòng
Trinh Nữ Maria. ...” Chúng ta tin Mẹ
Maria trinh khiết trước khi, trong khi
và sau khi sinh hạ Thiên-Chúa-Làm-Người
và trọn đời (kinh Tin Kính Công Đồng
Nicea, giáo huấn 57, Chương VIII, Công
Đồng Vatican II)
Sau đây chúng ta lược
lại để học hỏi một vài phần trong giáo
huấn số 52, và trọn giáo huấn số 57,
Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về Giáo
Hội, Thánh Công Đồng Chung Vatican II.
I. LỜI MỞ ĐẦU
(gh 52) “Thiên Chúa là
Đấng vô cùng nhân hậu và khôn ngoan đã
muốn hoàn tất việc cứu chuộc thế giới,
nên ‘khi đến thời viên mãn, Ngài đã phái
Con Mình đến, sinh bởi người nữ ... để
chúng ta được nhận làm nghĩa tử (Gal
4:4-5). “Vì loài người chúng ta và để
cứu rỗi chúng ta, Ngài đã từ trời xuống
thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, Ngài đã
nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria”. Mầu
nhiệm cứu rỗi thần linh này được mạc
khải cho chúng ta và vẫn tiếp tục trong
Giáo Hội, Giáo Hội mà Chúa đã lập làm
thân thể Ngài. ...
(Xin đọc giáo huấn số 52
đầy đủ ở Phụ Lục 1)
*
Đức Maria và thời thơ
ấu Chúa Giêsu
(gh 57) Sự liên kết
giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi
được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai
Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc
Chúa Kitô chết. Thực vậy, trước hết, Đức
Maria vội vã đến thăm bà Elisabeth và
được bà ấy chào mừng là người có phúc vì
đã tin vào sự cứu rỗi Chúa đã hứa, và vị
tiền hô nhảy trong lòng mẹ (x. Lc
1:41-45). Rồi ngày Chúa giáng sinh, Mẹ
Thiên Chúa vui mừng giới thiệu với các
mục đồng và các nhà bác học người Con
đầu lòng của mình, mà khi sinh ra đã
không làm giảm bớt nhưng còn thánh hiến
sự trinh khiết toàn vẹn của Người. Trong
đền thánh, sau khi hiến tế lễ vật ấn
định cho người nghèo, Đức Maria dâng Con
lên Thiên Chúa và đã nghe Simeon báo
trước Con mình sẽ là dấu chỉ sự phản
kháng, và một lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng
mẹ nhờ đó tư tưởng trong lòng nhiều
người sẽ tỏ lộ ra (x. Lc 2:34-35). Khi
trẻ Giêsu lạc mất, cha mẹ Ngài đã lo âu
tìm kiếm và gặp lại Con trong đền thánh
đang bận tâm lo việc của Cha Ngài. Các
ngài không hiểu được lời Con nói; nhưng
Mẹ Chúa Giêsu giữ lấy tất cả các điều ấy
và suy gẫm trong lòng (x Lc 2:41-51).
Sau đây, chúng ta sơ
lược những nghi vấn (Phần A) về “Mẹ
Maria trọn đời Trinh Khiết”, và (Phần B)
về “Anh chị em (ruột) của Chúa Giêsu.”
(Chương 3) Phần A
5.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời:
Nghi Vấn: Có người hoài
nghi nói: “Tín điều Đức Maria trọn đời
trinh khiết” đã từng là một đề tài tranh
luận sôi nổi từ thế kỷ thứ bốn, và khẳng
định: "Niềm tin Đức Maria trinh khiết
trọn đời sau cùng thắng thế là nhờ việc
phát triển các phái khổ tu và tăng
viện".[1]
Góp Ý: Những sưu tập về
tu đức của các thánh giáo phụ chứng minh
Chúa Giêsu Kitô, chứ không phải Mẹ
Maria, là lý tưởng trinh khiết các tu sĩ
nam nữ noi theo từ những thời kỳ đầu
Giáo Hội. John Cassian trong luận án “Về
Tám Nết Hư Tật Xấu” (năm 425) viết:
"Nếu chúng ta thực sự
khao khát ... chiến đấu cách chính đáng
(= đúng luật) và được thưởng công (2 Tim
2:5) để chiến thắng thần dâm ô, chúng ta
không được cậy sức mình, mà phải trông
cậy ơn trợ giúp của Thiên Chúa."
[1]
* Lịch sử cuộc đời các
tu sĩ đầu tiên - như cuộc đời thánh
Antôn (Anthony) và luật tu của thánh
Benêđíctô (Benedict) do thánh Athanaxiô
(Athanasius) ghi lại thì chính Chúa
Giêsu là gương mẫu đời sống tu viện, chứ
không phải Mẹ Maria. Trong tu luật của
các thế kỷ sau này cũng thế. Chẳng hạn,
Công Đồng thứ 35 của Dòng Tên, năm 1965,
tuyên ngôn:
"Lời khấn khiết
tịnh vì nước trời ... cho thấy sự cao cả
trội vượt về quyền năng của Chúa Kitô
Vua và sức mạnh vô biên của Chúa Thánh
Linh hoạt động cách tuyệt vời trong Giáo
Hội." [1]
Hiển nhiên, Mẹ Maria
(thì) quan trọng đối với toàn thể tín
hữu Công Giáo và đặc biệt đối với những
người "theo Con Chiên bất cứ Ngài đi
đâu, vì họ trinh khiết" (KhH 14:4). Vì
nghi vấn về “Mẹ Maria trọn đời trinh
khiết” mà những người anh em đó gán cho
Mẹ Maria là tia lửa làm bừng cháy lối
sống ẩn tu hơn là chính Kitô hữu Công
Giáo quan niệm.
6.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
Nghi Vấn: Những anh em
nghi vấn niềm tin “Mẹ Maria trinh khiết
trọn đời” đưa ra thêm ba nghi vấn:
a/ Đời sống khổ tu có
phải là truyền thống phúc âm không?
b/ Phúc Âm có dạy về
sống độc thân trinh khiết không?
c/ Cuộc sống độc thân
trinh khiết có phải là tình trạng cao
hơn cuộc sống hôn nhân không?
Và trả lời "không" cho
cả ba câu hỏi này.[1]
Góp Ý: Chúng ta duyệt
sơ từng nghi vấn.
a/ Đời sống khổ tu
có phải là truyền thống phúc âm không?
Một vài trích dẫn từ
Phúc Âm sau đây trả lời câu hỏi này.
* Tiên tri Elijah
trong Cựu Ước (1 Vua 17:1-24) và thánh
Gioan Tẩy Giả trong Tân Ước là những
gương tiêu biểu đời sống khổ chế. Đọc
thoáng Tân Ước cũng tìm thấy bằng chứng
đời sống khổ chế là theo Chúa Kitô và,
tới mức nào, đó là phương tiện cứu độ.
Lần nữa chứng minh đời sống khổ tu là do
truyền thống Phúc Âm. Chúng tôi kể một
vài trích dẫn Phúc Âm về Thánh Gioan Tẩy
Giả và xin đọc Sách Các Vua 17:1-24 về
Tiên tri Isaiah.
* “Ông Gioan mặc áo da
lạc đà, thắt lưng bằng da thú vật, chỉ
ăn châu chấu và mật ong rừng” (Mt 3:4);
* “Ông Gioan đến, không
ăn uống, thì họ nói: ‘Ông ta bị quỉ
ám.’” (Mt 11:18)
* Chúa Giêsu dạy: “Ai
muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình,
vác thập giá mình hàng ngày mà theo”(Lc
9:23).
* Chúa nói với người muốn
làm môn đệ: "Con Người không có nơi tựa
đầu" (Mt 8:20).
* Thánh Phaolô nói:
"Những người thuộc về
Chúa Giêsu Kitô đều đã đóng đanh xác
thịt cùng với các dục vọng và đam mê vào
thánh giá" (Gal 5:24).
Một vài trích dẫn trên
đây cho thấy cuộc sống của chính Chúa và
môn đệ Chúa (thì) gian khổ vất vả.Và cho
thấy đời sống khổ tu là do truyền thống
Phúc Âm.
b/ Sách Thánh có dạy về
sống độc thân trinh khiết không?
Tiên tri Elijah,
Elisha, thánh Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu,
thánh Gioan Tông Đồ và thánh Phaolô -
đều là những gương mẫu về đời sống độc
thân trinh khiết mà không một Kitô hữu
nào có thể coi thường.
* Lời Chúa Giêsu:
"Quả thực, Thầy nói
cho anh em biết không một ai từ bỏ nhà
cửa, vợ, anh em, cha mẹ, con cái vì Nước
Thiên Chúa, mà không nhận được gấp trăm
ở đời này, và lại không được hạnh phúc
vĩnh cửu đời sau" (Lc 18:29-30).
Chúng ta hiểu lời Chúa
dạy:
“từ bỏ nhà cửa” là từ
bỏ tài sản vật chất, không sở hữu của
cải trần thế, sống cuộc sống thanh bần,
để tận hiến phụng sự Chúa;
“từ bỏ anh em, cha
mẹ” phải được hiểu là lìa xa cha mẹ, anh
chị em để tận hiến phụng sự Chúa;
“từ bỏ vợ, con cái”
phải được hiểu là không lập gia đình,
không kết hôn, không sinh con cái, để
sống độc thân tận hiến cuộc đời, thời
gian, sức lực để phụng sự Chúa; trong
trường hợp như thánh Phêrô, các thánh
Tông Đồ và môn đệ đã có gia đình trước
khi theo Chúa thì từ bỏ dưới hình thức
hy sinh nào đó mặc dầu Phúc Âm không nói
rõ.
* Chúa Giêsu dạy về
trinh khiết tự nguyện và nói trước là
việc các tu sĩ nam nữ theo Chúa sống độc
thân trinh khiết là điều hết sức cao,
vượt trên sự hiểu biết và chấp nhận
thông thường:
"... không phải mọi
người đều có thể hiểu điều này, chỉ có
những người nào được Thiên Chúa cho hiểu
thì mới hiểu. Quả vậy, có những người là
hoạn nhân từ bẩm sinh; có những người bị
người ta làm cho thành hoạn nhân; và có
những người tự nguyện là hoạn nhân và
sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được
thì hiểu" (Mt 19:11-12).
Chúng ta suy nghĩ thật
kỹ xem lời Chúa nói trong Mátthêu
19:11-12 và Luca 18:29-30 trên đây có áp
dụng cho Mẹ Maria và thánh dưỡng phụ
Giuse không? Chắc chắn NGÀN PHẦN TRĂM
là CÓ.
* Chúng ta đọc kỹ lời
Thánh Phaolô nói với tín hữu Corinthô:
“Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm
lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì
chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp
lòng Ngài. Còn người có vợ thì lo lắng
việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ,
thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà
không có chồng và người trinh nữ thì
chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về
Ngài cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng
thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm
đẹp lòng chồng. Tôi nói thế là để mong
tìm ích lợi cho anh chị em, tôi không có
ý gài bẫy anh chị em đâu, nhưng chỉ muốn
đề nghị với anh chị em một điều tốt, để
anh chị em được gắn bó cùng Chúa mà
không bị giằng co” (1 Cor 7:32-35).
* Qua những trích dẫn
trên đây, và còn rất nhiều nữa, chúng ta
thấy chính Chúa Giêsu và Thánh Phaolô đề
cao cuộc sống độc thân trinh khiết. Độc
thân trinh khiết là cuộc sống cao, đến
độ khó hiểu, chính Chúa Giêsu đã dạy rõ
ràng: “có những người tự nguyện là hoạn
nhân và sống như thế vì Nước Trời. Ai
hiểu được thì hiểu” (Mt 19:12)
và
“... tôi chỉ muốn đề
nghị với anh chị em một điều tốt, để anh
chị em được gắn bó cùng Chúa mà không bị
giằng co” (1 Cor 7: 35b).
Lần nữa, qua một vài
dẫn chứng đã trình bày, chúng ta thấy
giáo huấn về sống độc thân trinh khiết
được ghi rõ ràng trong Sách Thánh.
c/ Cuộc sống độc thân
trinh khiết có phải là tình trạng
cao hơn cuộc sống
hôn nhân không?
(Nghi vấn trên được
hiểu là Giáo huấn Phúc Âm về khổ chế và
độc thân trinh khiết có làm hạ giá hôn
nhân không? Đặc biệt là ơn gọi sống
trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria có hàm
ý coi thường cuộc sống hôn nhân của
Người không?)
Đáp: Ơn gọi sống trinh
khiết trọn đời của Mẹ Maria KHÔNG hàm ý
coi thường cuộc sống hôn nhân của Người.
*
Kitô hữu Công Giáo nhìn
nhận hôn nhân là ơn gọi cao cả, được
Chúa Kitô, qua tiệc cưới Cana, nâng lên
hàng nhiệm tích của Giao Ước Mới (x.
Gioan 2:1-10). Hiển nhiên, sự ràng buộc
bất khả tiêu giữa vợ chồng (thì) hết sức
thánh đến độ được so sánh với mối liên
kết hiệp nhất Chúa Kitô là Đầu của chúng
ta với Thân Thể của Ngài là Giáo Hội,
như lời thánh Phaolô dạy sau đây:
“Vì lòng kính sợ Chúa
Kitô, anh chị em hãy tùng phục lẫn nhau.
Người làm vợ hãy tùng phục chồng như
tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ
cũng như Chúa Kitô là đầu của Hội Thánh,
Chính Ngài là Đấng cứu chuộc Hội Thánh,
thân thể của Ngài. Và như Hội Thánh tùng
phục Chúa Kitô thế nào, thì vợ cũng phải
tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.
“Người làm chồng, hãy
yêu thương vợ, như chính Chúa Kitô yêu
thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội
Thánh. như vậy, Ngài thánh hóa và thanh
tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng
sống, để trước mặt Ngài, có một Hội
Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì ố,
không vết nhăn nheo hoặc bất cứ một
khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và
tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu
thương vợ như yêu chính thân thể mình.
Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai
ghét thân xác mình bao giờ; trái lại,
người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác
mình, cũng như Chúa Kitô nuôi nấng và
chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ
phận trong thân thể của Ngài. Sách Thánh
có lời chép rằng: Chính vì thế, người
đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ
mình, và cả hai sẽ thành một xương một
thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi
muốn nói về Chúa Kitô và Hội Thánh. Vậy
mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như
chính mình còn vợ thì hãy kính sợ chồng”
(Eph 5:21–33).
* Và lời thánh Phaolô
trong 1 Corinthô 7:1-10 dạy:
“ Bây giờ, tôi đề cập
tới những điều anh em đã viết cho tôi:
đàn ông không gần đàn bà là điều tốt.
Nhưng để tránh hiểm họa dâm ô, thì mỗi
người hãy có vợ có chồng. Chồng hãy làm
tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với
chồng cũng vậy. Vợ không có quyền trên
thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy,
chồng không có quyền trên thân xác mình,
nhưng là vợ. Vợ chồng đừng từ chối nhau,
trừ phi hai người đồng ý sống như vậy
trong một thời gian, để chuyên lo cầu
nguyện; rồi hai người lại ăn ở với nhau,
kẻo vì hai người không tiết dục nổi mà
Satan lợi dụng để cám dỗ. Điều tôi nói
là một sự nhân nhượng chứ không phải một
mệnh lệnh. Tôi ước muốn mọi người đều
như tôi; nhưng mỗi người được Thiên Chúa
ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này,
người thế khác. Với những người độc thân
và quả phụ, tôi nói thế này: họ cứ ở vậy
như tôi thì tốt cho họ. Nếu không tiết
dục được, họ cứ kết hôn, vì thà kết hôn
còn hơn là bị thiêu đốt.
Còn với những người đã
kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải
tôi, mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng,
mà nếu đã bỏ chồng thì phải ở độc thân
hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng
cũng không được rẫy (ly dị) vợ” (1 Cor
7:1-11).
Chúng ta thấy rõ ràng
kết luận Giáo huấn trên đây của thánh
Phaolô minh chứng việc Mẹ Maria và Thánh
Dưỡng Phụ Giuse giữ trọn đời Trinh Khiết
là điều chắc chắn đã xảy ra. Và việc
trinh khiết tự nguyện và đồng thuận giữa
vợ chồng không làm giảm giá trị hôn
nhân, vì “tiết dục một thời gian” như
lời thánh Phaolô (1 Cor 7:5) là điều có
thể xảy ra và được phép, thì “tiết dục
trọn đời trong hôn nhân như Mẹ Maria và
Thánh Dưỡng Phụ Giuse” là điều được phép
và chắc chắn xảy ra giữa hai Đấng thánh
trên hết các thụ tạo của Chúa.
7.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
Mẹ Maria khấn hứa
trinh khiết trọn đời trong hôn nhân
Nghi Vấn: Có người hoài
nghi và không đồng ý với Kitô hữu Công
Giáo về ý niệm "lời khấn giữ trinh khiết
trọn đời, ngay cả trong hôn nhân". Họ
nói lời khấn như thế "không hề nghe nói
tới và không thể nghĩ tới theo văn hóa
phúc âm".
Góp Ý: Chúng ta suy
nghĩ về lời Mẹ Maria hỏi Thiên Sứ
Gabriel khi ngài báo tin:
"Này Maria, đừng sợ.
Trinh Nữ được Thiên Chúa sủng ái. Trinh
Nữ sẽ mang thai và sinh con trai và đặt
tên là Giêsu."
Đức Maria hỏi:
"Việc này xảy ra thế
nào được? Tôi không biết nam nhân" (cách
nói của người Do thái để chỉ việc giao
hợp vợ chồng) (Lc 1:34).
Câu hỏi “’Việc này
xảy ta thế nào được? Tôi không biết nam
nhân?’ (Lc 1:34) không có nghĩa, trừ phi
Người quyết tâm duy trì tình trạng trinh
khiết ngay cả trong hôn nhân. Chỉ khi đó
Người mới ngạc nhiên làm cách nào lời
loan báo của thiên sứ hợp với quyết tâm
của Người. Khi được bảo đảm rằng việc
Người làm mẹ không có thánh Giuse can dự
mà hoàn toàn do Chúa Thánh Linh, Người
thuận theo chương trình của Thiên Chúa
với tư cách là ‘nữ tì của Chúa’" (Lc
1:38). [1]
**
Chúng ta học hỏi thêm
lần nữa lời Sách Thánh:
* Chúa Giêsu dạy về hy
sinh để theo Chúa: “Quả thực, Thầy nói
cho anh em biết không một ai từ bỏ nhà
cửa, vợ, anh em, cha mẹ, con cái vì Nước
Thiên Chúa, mà không nhận được gấp trăm
ở đời này, và không được hạnh phúc vĩnh
cửu đời sau” (Lc 18:29-30).
* Khi giải thích cho
các môn đệ lời Chúa giảng về “Tự Nguyện
Khiết Tịnh”, Chúa Giêsu nói: “... không
phải mọi người đều có thể hiểu điều này,
chỉ có những người nào được Thiên Chúa
cho hiểu thì mới hiểu. Quả vậy, có những
người là hoạn nhân từ bẩm sinh; có những
người bị người ta làm cho thành hoạn
nhân; và có những người tự nguyện là
hoạn nhân và sống như thế vì Nước Trời.
Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19:11-12).
* Thánh Phaolô cho
phép sự chay tịnh các quyền hôn nhân do
sự đồng thuận giữa vợ chồng. Lần nữa
chúng ta học hỏi:
“Vợ chồng đừng từ
khước nhau, trừ phi đã đồng tình, và tạm
thời, để anh chị em chuyên cần cầu
nguyện, nhưng rồi anh chị em lại xum vầy
với nhau, để Satan không thể lợi dụng
cám dỗ anh chị em vì không tiết dục nổi”
(1 Cor 7:5). Và thánh Tông Đồ nói tiếp:
“Tôi ước muốn mọi người đều như tôi;
nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho
ân sủng riêng, kẻ thế này, người thế
khác” (1 Cor 7:7).
Xuyên qua lời Chúa
Giêsu và thánh Phaolô trích dẫn trên
đây, chúng ta xác tín Mẹ Maria Trinh
Khiết Trọn Đời vì việc chay tịnh các
quyền hôn nhân đồng thuận giữa Mẹ Maria
và Thánh Dưỡng Phụ Giuse.
** Ngoài ra, vấn đề ở
đây không phải là văn hóa, mà là thần
học. Chúng ta tìm hiểu học hỏi Việc Ngôi
Lời Nhập Thể, mà Việc Ngôi Lời Nhập Thể
thì không hề nghe nói và không thể nghĩ
tới trong bất cứ nền văn hóa nào. Không
một nền văn hóa nhân loại nào, "phúc âm"
hoặc không, có thể tiên liệu hoặc hình
thành bất cứ một chi tiết nào của sự
việc độc nhất vô nhị như việc Con Thiên
Chúa nhập thể. Một phần toàn vẹn trong
chương trình của Thiên Chúa cho Việc
Ngôi Lời Nhập Thể là sự tận hiến duy
nhất của Mẹ Maria đối với Thiên Chúa Con
mà Người cưu mang trong dạ và đối với
Chúa Thánh Linh, Đấng chiếm hữu Người
trọn vẹn.
* Giáo lý của thánh
Phaolô về hôn nhân và trinh khiết không
căn cứ vào lời kêu gọi theo các nguyên
tắc văn hóa thịnh hành, mà căn cứ vào
quyền tông đồ của chính ngài:
“Về vấn đề độc thân,
tôi không có chỉ thị nào của Chúa, nhưng
tôi khuyên nhủ anh chị em với tư cách là
người – nhờ ơn Chúa thương – đáng được
anh chị em tín nhiệm” (1 Cor 7:25).
Các khuyến cáo của
Thánh Phaolô về đức trinh khiết thì theo
cách nào đó "không quan hệ gì với văn
hóa phúc âm" - và cũng chẳng quan hệ với
văn hóa đời! Thánh Phaolô biết rõ điều
này: “Nhưng theo ý kiến tôi, người ấy có
phúc hơn nếu cứ ở vậy = sống độc thân”
(1 Cor 7:40a); dẫu vậy ngài vẫn nhấn
mạnh quyết định của ngài trong vấn đề
này, và ngài còn nhấn mạnh thêm: "Tôi
cũng được Thánh Linh Thiên Chúa soi
sáng" (1 Cor 7:40b).
*
“Lời khấn giữ mình
trinh khiết trọn đời” là “hứa” với Thiên
Chúa sẽ đi theo một đường lối tốt lành
hơn đường lối thông thường. Mẹ Maria đã
làm điều này. Các điều kiện của lời khấn
đức trinh khiết hoàn toàn thích hợp nơi
Mẹ Maria, như giáo huấn từ thuở ban đầu
và không hề suy suyển của Giáo Hội minh
định.
* Chúng tôi nhắc lại lời
thánh Augustinô (đã ghi ở trang 48-49)
để kết luận tiểu đề này: "Hiển nhiên, Mẹ
Maria không nói: 'Việc này xảy ra thế
nào được vì tôi không biết việc vợ
chồng?' (Lc 1:34) nếu Người đã không hứa
với Thiên Chúa quyết sống trinh khiết
trọn đời. Nếu Người chủ trương giao hợp
vợ chồng, Người đã chẳng đưa ra câu hỏi
này!"
8.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
Mẹ Maria và
Thánh Dưỡng Phụ Giuse không
sinh hoạt hôn
nhân (= không ăn ở với nhau)
như người thường
sau khi Chúa Giêsu giáng sinh
Nghi Vấn: Nhiều lần
chúng tôi phải nghe và đối đáp nghi vấn:
“Đức Maria và dưỡng phụ Giuse có những
liên quan hôn nhân bình thường sau khi
Chúa Giêsu giáng sinh”, với viện dẫn:
“trước khi ông bà chung sống, bà đã có
thai" (Mt 1:18) và "ông không ăn ở với
bà cho tới khi bà sinh con" (Mt 1:25).
Chúng tôi cũng thường
nghe dẫn chứng lời thánh Phaolô: "Tôi
nói điều đó là để mong tìm lợi ích cho
anh chị em, tôi không có ý gài bẫy anh
chị em đâu, nhưng chỉ muốn đề nghị với
anh chị em một điều tốt, để anh chị em
được gắn bó cùng Chúa mà không bị giằng
co" (1 Cor 7:35) để khẳng định rằng
những giao hợp vợ chồng bình thường là
theo ý Thiên Chúa cho cặp vợ chồng đó
(ám chỉ Đức Maria và thánh Giuse)."[1]
Góp Ý: Chúng ta duyệt qua
những trích dẫn sau đây để trả lời nghi
vấn này.
Trong ngôn ngữ Hy lạp,
PRIN (trước khi) và HEOS (cho tới khi)
không hàm ý sự thay đổi hoàn toàn của
hoàn cảnh căn cứ vào sự hoàn tất của
liên từ "trước khi / cho tới khi."
[1]
Chúng ta đọc kỹ một
vài thí dụ sau đây:
* "Xin Thầy tới trước
khi con tôi chết" (Gioan 4:49) – nhưng
đứa trẻ đã không chết cho dù sau khi
Chúa Giêsu đã đến.
* "Cho tới khi tôi đến,
hãy chuyên cần đọc Sách Thánh, chuyên
cần khuyên nhủ và dạy dỗ" (1 Tim 4:13) -
nhưng ông Timôthêu đã không ngưng các
việc này sau khi thánh Phaolô đã đến.
* "Thật vậy, chúng ta
biết rằng: cho đến bây giờ, muôn loài
thọ tạo vẫn rên siết quằn quại như sắp
sinh nở" (Rom 8:22)...
* "Thật vậy, Đức Kitô
phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên
Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài" (1
Cor 5:25);
* "... hãy tuân giữ giới
răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền,
không chi đáng trách, cho đến ngày Đức
Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, xuất hiện" (1
Tim 6:14);
* "Nhưng cái gì các
ngươi đang có, hãy giữ cho chắc cho tới
khi Ta đến. Ai thắng và giữ cho đến cùng
các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho quyền
cai trị các dân" (KhH 2:25-26).
**
Có người nói: liên từ
“cho tới khi/cho tới lúc” dẫn đầu mệnh
đề khẳng định. Chúng ta thử so sánh một
vài thí dụ sau đây:
Thí dụ 1: Ông ấy không
ăn uống gì cho tới khi vợ về mới ăn.
Thí du 2: Ông ấy không
ăn uống gì cho tới khi vợ về.
Thí dụ 3: Các bé đó
không chịu đi mà chờ cho tới khi cha mẹ
các bé đó về.
* Ở thí dụ 1, mệnh đề:
“cho tới khi vợ về mới ăn.” xác định là
có ăn và chỉ ăn sau khi bà vợ đã về như
đã nói rõ “cho tới khi vợ về mới ăn”.
* Ở thí dụ thứ 2, mệnh
đề: “cho tới khi vợ về.” thì không chắc
là có ăn. Có thể sau khi vợ về thì ăn;
mà cũng có thể không.
* Ở thí dụ thứ 3, mệnh
đề: “cho tới khi cha mẹ các bé đó về”
không khẳng định rằng việc các bé đi sẽ
xảy ra. Có thể các bé đi; cũng có thể
các bé không đi, vì tùy thuộc quyết định
của cha mẹ các bé.
* Một vài thí dụ trên
(và còn nhiều nữa) cho thấy mệnh đề bắt
đầu bằng “trước khi, cho tới khi, sau
khi” chỉ được coi là mệnh đề khẳng định
khi được xác định bởi một mệnh đề khẳng
định khác đi kèm, như trong thí dụ số 1
trên đây.
* Thánh sử dùng cách
nói: “Ông không ăn ở với bà cho tới khi
bà sinh con” (Mt 1:25) chỉ có ý nhấn
mạnh là Thánh Dưỡng Phụ Giuse tôn trọng
Mẹ Maria, và nhất là ngài không dính líu
gì vào việc Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể
nơi lòng dạ trinh khiết Mẹ Maria.
* Lời thánh sử Mátthêu
“ông không ăn ở với bà cho tới khi bà
sinh con.”(Mt 1:25) chứng minh lòng can
đảm trong đức trinh khiết của Thánh
Dưỡng Phụ.
Tóm lại, lời Phúc Âm
theo thánh Mátthêu: “Ông không ăn ở với
bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và
ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu” (Mt
1:25) không chứng minh điều gì nghịch
với sự trinh khiết trọn đời của Mẹ
Maria. Lời Phúc Âm này cũng cho thấy
Thánh Dưỡng Phụ Giuse kết hôn với Mẹ
Maria không phải vì lý do bình thường
như mọi cuộc hôn nhân khác, mà chính là
theo thánh ý Chúa an bài để bảo vệ Mẹ
Maria, bảo vệ và tôn trọng Chúa Cứu
Thế.
**
Chúng ta so sánh và tìm
hiểu thêm hai đoạn Phúc Âm thánh Mátthêu
và Luca về “Truyền Tin” sau đây:
Phúc Âm theo thánh
Mátthêu: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu
Kitô giáng sinh: Mẹ Ngài là Maria đã
đính hôn với ông Giuse, nhưng trước khi
chung sống, Bà đã có thai do quyền năng
Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng Bà, là
người công chính và không muốn tố giác
Bà, nên định tâm bỏ Bà cách kín đáo. Ông
đang toan tính như vậy, thì sứ thần Chúa
đến báo cho ông trong giấc mơ: ‘Này
Giuse, con cháu David, đừng ngại đón
Maria, vợ ông về, vì người con Bà cưu
mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
Bà sẽ sinh con trai và ông sẽ đặt tên
cho con trẻ là Giêsu, vì chính Ngài sẽ
cứu dân Ngài khỏi tội lỗi.’ Tất cả sự
việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời
xưa Chúa phán qua miệng các tiên tri:
‘Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh
hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con
trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ơ-
cùng-chúng-ta.’ Khi tỉnh giấc, ông Giuse
thi hành như sứ thần Chúa dạy và đón vợ
về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến
khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên
cho con trẻ là Giêsu.” (Mt 1:18-25)
* Phúc Âm theo thánh
Luca: “Bà Elisabeth có thai được sáu
tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần
Gabriel đến một thành miền Galilea, gọi
là Nazareth, gặp một trinh nữ đã kết hôn
[1]
với một người tên là Giuse, thuộc dòng
dõi Vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria”
(Lc 1:26-27).
Sứ thần vào nhà trinh
nữ và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy
ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ ...’
(Lc 1:28)
Nghe lời ấy, Trinh Nữ rất
bối rối, và tự hỏi ‘lời chào như vậy có
nghĩa gì’ (Lc 1:29).
Sứ thần liền nói:
“Thưa (Trinh Nữ) Maria, xin đừng sợ, vì
Trinh Nữ đẹp lòng Thiên Chúa. Và này
Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con
trai và đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ nên
cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối
Cao. ...” (Lc 1:30-33)
Trinh Nữ Maria hỏi sứ
thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì
tôi không biết đến người nam (= không
biết việc vợ chồng)!” (Lc 1:34).
Sứ thần đáp: ‘Thánh
Thần sẽ ngự xuống trên Trinh Nữ, và
quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên
Trinh Nữ, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra
sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. ... Bấy
giờ Trinh Nữ Maria nói: ‘Vâng, tôi đây
là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho
tôi như lời sứ thần nói.’ Rồi sứ thần từ
biệt ra đi” (Lc 1:35-38).
* Chúng ta thấy rõ ràng
hai bản tường thuật trên đây chứng minh
Mẹ Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse thành
hôn, chung sống, nhưng không hề có liên
hệ phái tính truyền sinh. Mẹ Maria vẫn
còn là trinh nữ vào ngày “Truyền Tin” và
Mẹ quyết tâm giữ trinh khiết trọn đời
nên Mẹ mới khẳng định hỏi thiên sứ:
“Việc này xảy ra thế nào được vì tôi
không biết người nam (= không biết việc
vợ chồng = không sinh hoạt tính phái
truyền sinh)!” (Lc 1:34).
Chân lý vẫn là chân lý.
Chúng ta tin thì chúng ta làm đúng và
được phước vì tin; chúng ta chối bỏ
không tin thì chân lý vẫn là chân lý và
chúng ta thiệt vì tự mình gây ra.
Sau đây chúng ta đề
cập tới lời thánh Phaolô trong 1 Cor
7:35 mà nghi vấn nêu lên về niềm tin “Mẹ
Maria trọn đời trinh khiết”:
* Không có bằng chứng
nào là thánh Phaolô nghĩ tới Mẹ Maria và
thánh Giuse khi ngài viết: "Nếu ai đang
lúc quá dồi dào khí lực mà nghĩ rằng
mình khó có thể tôn trọng người trinh nữ
của mình, và cho rằng chuyện thường tình
sẽ phải xảy ra, thì người ấy cứ làm như
ý mình muốn, không mắc tội đâu: họ cứ
việc lấy nhau. Còn ai đứng vững, lòng
không nao núng, cũng chẳng miễn cưỡng,
lại làm chủ được ý chí của mình, và
quyết tâm tôn trọng người trinh nữ, thì
người ấy làm một việc tốt. Như thế, ai
cưới người trinh nữ của mình, thì làm
một việc tốt, nhưng ai không cưới, thì
làm một việc tốt hơn" (1 Cor 7:36 -38).
** Chúng ta tìm hiểu ý
nghĩa của “tôn trọng người trinh nữ của
mình ... họ cứ việc lấy nhau...” trong
thơ 1 gởi giáo đoàn Corinthô 7:36-38:
- “Người trinh nữ của
mình” (1 Cor 7:36), ngoài nghĩa thông
thường hiểu là “hôn thê / vợ chưa cưới”,
có thể hiểu là vợ đã cưới của mình,
nhưng chưa động phòng, chưa một lần giao
hợp tính phái.
- Trong “...người ấy cứ
làm như ý mình muốn, không mắc tội đâu:
họ cứ việc lấy nhau.” (1 Cor 7:36), động
từ “lấy nhau” ở đây, ngoài nghĩa thông
thường là “cưới nhau, lập gia đình, lấy
làm vợ, làm chồng,” còn hiểu là “chung
sống và sinh hoạt tính phái hôn nhân để
truyền sinh bình thường”, vì thánh
Phaolô nhấn mạnh: “không mắc tội đâu.”
-Và “Còn ai đứng vững,
lòng không nao núng, cũng chẳng miễn
cưỡng, lại làm chủ được ý chí của mình,
và quyết tâm tôn trọng người trinh nữ,
thì người ấy làm một việc tốt.” (1 Cor
7:37) có thể hiểu là đã cưới nhau, chung
sống, nhưng không ăn ở với nhau vì can
đảm, làm chủ được mình, và tôn trọng
nhau. Đây là trường hợp Mẹ Maria và
Thánh Dưỡng Phụ Giuse.
Và chúng ta tìm hiểu ý
nghĩa động từ “cưới” trong 1 Cor 7:38:
“Như thế, ai cưới người trinh nữ của
mình, thì làm một việc tốt, nhưng ai
không cưới thì làm một việc tốt hơn.”
Động từ “cưới” trong 1
Cor 7:38, ngoài nghĩa thông thường là
“lấy nhau làm chồng, làm vợ”, còn có thể
hiểu rõ hơn là “ăn ở với = giao hợp với”
vì “việc giao hợp với nhau” là trường
hợp thông thường và hợp pháp của “việc
cưới nhau.” Vì thế “..., nhưng ai không
cưới (người trinh nữ của mình) thì làm
một việc tốt hơn”( Cor 7:38) có thể được
hiểu theo nghĩa thông thường là không đi
đến hôn nhân; và cũng có thể hiểu là
cưới, chung sống, nhưng “không giao
hợp.”
Tóm lại đoạn Thánh Thư
1 Cor 7: 36-38 cho thấy thánh Phaolô
đồng ý và coi trọng tình trạng trinh
khiết trọn đời trong hôn nhân. Đây chính
là trường hợp Mẹ Maria và Thánh Dưỡng
Phụ Giuse.
** Thêm nữa, thánh
Phaolô cho phép và khuyến khích sự chay
tịnh các quyền hôn nhân do sự đồng thuận
giữa vợ chồng; ngài ước mong điều này
xảy ra trong một thời gian, ngài nói:
"Vợ chồng đừng từ
khước nhau, trừ phi đã đồng tình, và tạm
thời, để anh chị em chuyên chú cầu
nguyện, nhưng rồi anh chị em lại sum
vầy với nhau, để Satan không thể lợi
dụng cám dỗ anh chị em vì không tiết dục
nổi" (1 Cor 7:5).
* Hơn nữa, thánh Phaolô
nhìn nhận sự hiện hữu của các đặc sủng
cả trong và ngoài hôn nhân:
"Tôi ước muốn mọi
người đều như tôi; nhưng mỗi người được
Thiên Chúa ban cho ân sủng riêng, kẻ thế
này, người thế khác" (1 Cor 7:7).
* Kết luận: Những dẫn
chứng trên đây minh chứng rõ ràng sự
trinh khiết trọn đời do chay tịnh về
phần vợ chồng là ân sủng đặc thù. Vì thế
những điều thánh Phaolô viết không chống
đối mà còn góp phần minh chứng tình
trạng trinh khiết trọn đời của Mẹ Maria.
Đối với những cặp vợ chồng bình thường
còn có thể được phép và nên chay tịnh vì
mục đích thánh thiện, thì đối với Mẹ
Maria và thánh Giuse, việc chay tịnh
quyền sinh hoạt vợ chồng và Mẹ Maria
trọn đời trinh khiết phải là điều chắc
chắn xảy ra.
* Chúng tôi nhờ lời
Thánh Tiến Sĩ Ambrôsiô (338-397) để kết
luận: “Chúa Giêsu hẳn đã không chọn sinh
ra bởi một trinh nữ nếu Ngài thấy trinh
nữ đó sẽ có thể giao hợp tính phái thông
thường khiến có thể xâm nhập vào căn gốc
thân xác Chúa, là ngai tòa của Vua Muôn
Thuở.”[1]
Thánh Ambrôsiô cũng
cho rằng “Có hôn nhân thực sự giữa Mẹ
Maria và Thánh Dưỡng Phụ Giuse, nhưng
căn cốt cuộc hôn nhân này là vợ chồng
đồng thuận hỗ tương (pactio conjugalis)
chứ không phải là sự kết hợp thân xác.”[1]
Ngài cũng cho rằng mục đích cuộc hôn
nhân giữa Thánh Dưỡng Phụ Giuse và Mẹ
Maria là để bảo toàn thanh danh của Mẹ
Maria.
9.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
Quan điểm Tin Lành về sự trinh khiết trọn đời của Đức Maria
Nghi Vấn: Có lần chúng
tôi nghe người nghi vấn “Đức Maria trinh
khiết trọn đời” tự nhận là đại diện cho
"tư cách" hoặc "quan điểm”" hoặc "đáp
ứng của Tin Lành".
Góp Ý: Chúng ta sơ qua
một vài dẫn chứng sau đây để xem những
người tự xưng như trên có đúng là đại
diện cho “tư cách, hoặc quan điểm hoặc
đáp ứng của anh em Tin Lành về sự trinh
khiết trọn đời của Mẹ Maria” hay không.
* Ông Martin Luther
nói: "Chúa Kitô Đấng Cứu Chuộc chúng ta
là con thực sự và tự nhiên của lòng dạ
trinh khiết của Đức Maria ... Việc này
không có sự cộng tác của nam nhân, và
Người vẫn còn là trinh nữ sau khi sinh
con" [1].
* John Calvin cũng bênh
vực sự trinh khiết trọn đời của Mẹ
Maria, ông viết: "Helvidius (một người
dị giáo thế kỷ thứ bốn) đã tự tỏ ra quá
ngu dốt, khi ông ta nói Đức Maria có
nhiều con (trai), vì một vài đoạn Phúc
Âm nói tới các anh em của Chúa Kitô"
[1]. Theo Bernard Leeming,
Calvin chuyển ngữ Adelphoi là "anh em họ
gần" hoặc "bà con thân thuộc.”
[1]
* Ulrich Zwingli, nhà
cải cách Thụy Sĩ, viết: "Tôi xác tín
theo những lời trong Phúc Âm rằng một
trinh nữ trọn vẹn đã hạ sinh cho chúng
ta Con Thiên Chúa và vẫn còn toàn vẹn
trinh khiết trong khi sinh con và cả sau
khi sinh con cho đến trọn đời. Tôi xác
tín rằng Người đã được Thiên Chúa tôn
vinh hạnh phúc vĩnh cửu vượt trên mọi
thụ tạo, cả các thánh và các thiên
thần." [1]
* Chúng tôi kết luận
bằng lời John de Satgé sau đây:
“Hiển nhiên trong Sách
Thánh không có điều gì làm mất hiệu lực
kết luận của Giáo Hội, trong những ngày
trước khi có sự phân chia Đông và Tây,
rằng Đức Maria trinh khiết trọn đời ...
Vinh quang sung mãn trọn đời trinh khiết
có thể được thấy nơi ngôi vị của Chúa
chúng ta và nơi tình yêu phổ quát của
Chúa, mà mọi người có thể xin và nhận
lãnh, nhưng không một ai có thể độc
quyền. Trong môi trường Tự Do của Yêu
Thương này Đức Maria vui hưởng trọn vẹn
sự đồng nhất hóa với Chúa. Đức trinh
khiết trọn đời đã để Người tự do làm
thừa tác vụ toàn cầu."
(Chương 3) Phần B
Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
ANH CHỊ EM
(CỦA) CHÚA GIÊSU
Những trình bày về Mẹ
Maria trọn đời trinh khiết ở Chương 3,
Phần A, trang 39-63, đủ giải đáp các
nghi vấn về “anh chị em của Chúa Giêsu”.
Tuy nhiên để thêm ý kiến, chúng ta tìm
hiểu thêm Phần B như sau đây.
10.- Chúa Giêsu là con
duy nhất của Mẹ Maria
Nghi Vấn: Chúng tôi
thường phải đối đáp lập luận: “Chúa
Giêsu có nhiều anh chị em (ruột)” với
những trích dẫn, như:
"Ông ấy không phải là
con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không
phải là bà Maria, anh em của ông không
phải là các ông Giacôbê, Giuse, Simon và
Giuđa sao? Và chị em của ông không phải
là bà con lối xóm với chúng ta sao?" (Mt
13:55-56);
Và những anh em đó cố ý
chỉ trích dẫn câu thứ hai (câu 56) của
đoạn Phúc Âm thánh Mátthêu 27:55-56:
“Trong số những người đàn bà đó có bà
Maria Magdalena, bà Maria mẹ ông Giacôbê
– Giuse, cùng bà Maria mẹ của 2 con ông
Zebede”, và câu thứ nhất (câu 40) trong
2 câu của Phúc Âm thánh Marcô 15:40-41:
“Trong số ấy có Maria Magdalena, Maria
mẹ của Giacôbê và Giuse cùng bà Salomé”
để chứng minh lập luận Đức Maria không
trinh khiết trọn đời.
Góp Ý: Chúng ta đọc đủ
cả đoạn Phúc Âm để tìm hiểu lập luận
hoài nghi trên đây:
* “ (55) Ở đó, cũng có
nhiều phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các
bà này đã theo Đức Giêsu từ Galilêa để
giúp đỡ Ngài. (56) Trong số đó, có bà
Maria Magdala, bà Maria mẹ các ông
Giacôbê và Giuse, và bà mẹ các con
ông Zêbêđê “ (Mt 27:55-56).
* “(40) Nhưng cũng có
mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó
có bà Maria Magdala, bà Maria mẹ các ông
Giacôbê thứ và Giuse, cùng bà Salomé.
(41) Các bà này đã đi theo và giúp đỡ
Đức Giêsu khi Ngài còn ở Galilêa. Lại có
nhiều bà khác đã cùng với Ngài lên
Jerusalem cũng hiện diện tại đó" (Mc
15:40-41).
Những trích dẫn có
tính cách hoài nghi đã bỏ đi một nửa
(của) các đoạn Phúc Âm trên đây để chứng
minh Mẹ Maria là mẹ các ông Giacôbê và
Giuđa được kể trong Mátthêu 27:56 và
Marcô 15:40, và nói hai ông này là em
Chúa Giêsu. Sau đây chúng ta so sánh kỹ
một vài đoạn Phúc Âm liên hệ để tìm ra
chút ánh sáng cho nghi vấn này:
** Chúng ta tìm thấy
trong các văn liệu Phúc Âm: “Ông ấy
không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ
ông ấy không phải là bà Maria sao; anh
em ông ấy không phải là các ông Giacôbê,
Giuse, Simon và Giuđa sao? Và chị em ông
ấy không phải là bà con lối xóm với
chúng ta sao?” (Mt 13:55-56), thì
a) Ông Giacôbê trong Mt
13:55-56 (trích ở trên) cũng là Giacôbê
con ông Alphê trong Mt 10: “(2) Sau đây
là tên của mười hai Tông Đồ: đứng đầu là
ông Simon ...;(3) ông Philíphê và ông
Batôlômêô; ông Tôma và ông Mátthêu người
thu thuế; ông Giacôbê con ông Alphê và
ông Tađêô; ông Simon thuộc nhóm Quá
Khích, và ông Giuđa Iscariôt, là chính
kẻ nộp Ngài”; (đọc thêm Mc 3:16-19).
và
cũng chính là ông Giacôbê
và Giuse cùng với bà mẹ tên là Maria
được nói trong Mátthêu 27:55-56 và Marcô
15: 40-41: “Ở đó, cũng có nhiều phụ nữ
đứng nhìn từ xa. Các bà này đã theo Đức
Giêsu từ Galilêa để giúp đỡ Ngài. Trong
số đó, có bà Maria Magdala, bà Maria mẹ
các ông Giacôbê và Giuse, và bà mẹ các
con ông Zêbêđê.”
b) Ông Giuse trong Mt
13:55-56: “Ông ấy không phải là con bác
thợ mộc sao? Mẹ của ông ấy không phải là
bà Maria, anh em của ông không phải là
các ông Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa
sao?”
chính là
ông Giuse có anh em là
Giacôbê và bà mẹ tên là Maria trong “Ở
đó, cũng có nhiều phụ nữ đứng nhìn tứ
xa. Các bà này đã theo Đức Giêsu từ
Galilêa để giúp đỡ Ngài. Trong số đó, có
bà Maria Magđala, bà Maria mẹ các ông
Giacôbê và Giuse, và bà mẹ các con ông
Zêbêđê” (Mt 27:55-56)
và
cũng chính là ông Giuse
trong Mc 15:47 “Còn bà Maria Magdala và
bà Maria mẹ ông Giuse, thì để ý nhìn xem
chỗ họ mai táng Ngài.”
c) Ông Simon trong Mt
13:55-56 “Ông ấy không phải là con bác
thợ mộc sao? Mẹ của ông ấy không phải
là bà Maria; anh em của ông không phải
là các ông Giacôbê, Giuse, Simon và
Giuđa sao?”
cũng là
Simon quá khích trong Mt
10: “(2) Sau đây là tên của mười hai
Tông Đồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi
là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông;
sau đó là ông Gicôbê con ông Zêbêđe và
ông Gioan, em của ông; (3) ông Philiphê
và ông Batôlộmệô; ông Tôma và ông
Mátthêu người thu thuế; ông Giacôbê con
ông Alphê và ông Tađêô; (4) ông Simon
thuộc nhóm Quá Khích, và Giuđa Iscariôt,
là chính kẻ nộp Ngài”; và cũng ông
Simon thuộc nhóm Quá Khích trong Mc3:19.
d) Ông Giuđa trong Mt
13:55-56 “Ông không phải là con bác thợ
mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà
Maria; anh em của ông không phải là các
ông Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa sao?”
cũng là
Tađêô trong Mt 3: “(2)
Sau đây là tên mưới hai Tông Đồ: đứng
đầu là ông Simon cũng gọi là Phêrô, ...;
(3) ông Philíphê và ông Batôlômêô; ông
Tôma và ông Mátthêu người thu thuế; ông
Giacôbê con ông Alphê và ông Tađêô; ông
Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa
Iscariôt, là chính kẻ nộp Ngài.” (đọc
thêm Mt 10:4 và Mc 3:18);
cũng là
Giuđa con ông Giacôbê
trong Lc 6: “(13) Đến sáng, Ngài gọi các
ông lại để chọn mưới hai ông và gọi là
Tông Đồ. (14) Đó là ông Simon mà Ngài
gọi là Phêrô, ..., (15) Mátthêu, Tôma,
Giacôbê con ông Alphê, Simon biệt danh
là Quá Khích, (16) Giuđa con ông
Giacôbê, và Giuđa Iscariôt, ngừơi đã trở
thành kẻ nộp Ngài.”
** Lập luận nghi vấn
cũng trích câu số 56 đoạn 27 Phúc Âm
theo thánh Mátthêu: “Trong số những phụ
nữ đó có bà Maria Magdalena, bà Maria mẹ
các ông Giacôbê – Giuse, cùng bà Maria
mẹ của hai con ông Zêbêđê” để nói bà
Maria mẹ ông Giacôbê và Giuse là Mẹ
Maria, và các ông Giacôbê và Giuse này
là em ruột Chúa Giêsu.
Nhưng qua bằng chứng
Phúc Âm chúng ta đã tìm hiểu ở các mục
a), b), c) và d) trên đây, chúng ta quả
quyết các ông Giacôbê, Giuse, Simon và
Giuđa trong Mt 13:55-56 cũng như trong
Mt 27:56 không phải là em ruột của Chúa
Giêsu, và Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô, không
phải là mẹ bốn ông này. Các ông này chỉ
là em họ Chúa Giêsu.
Chúng ta cũng đọc
trong Gioan 19:15 “Đứng gần thập giá
Chúa Giêsu, có thân mẫu của Ngài, chị
của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cleopas,
cùng với bà Maria Magdala.” “Bà chị của
thân mẫu” ở đây là ai?
“Bà chị của thân mẫu” ở
đây có thể là “bà Maria vợ ông Cleopas”
theo lối hành văn giải thích
(descriptive adjective phrase), hoặc là
“bà Maria khác” trong "Còn bà Maria
Magdala và bà Maria khác ở lại đó, ngồi
đối diện với mồ" (Mt 27:61) và trong Mt
28:1; cũng có thể là bà Maria mẹ các ông
Giacôbê và Giuse trong Mt 27:55-56; Mc
15:40-41.
Bà "Maria khác" và Mẹ
Maria chỉ có liên hệ theo nghĩa rộng của
Adelphe (chị em họ).
*
Điểm chính của vấn đề
là từ ngữ Hy lạp ADELPHOS (anh em, thân
nhân, bà con (nam) và ADELPHE (chị em,
thân nhân, bà con (nữ) trong các bản văn
về "anh chị em (của) Chúa Giêsu.
Chính những người khởi
xướng Tin Lành cũng nhìn nhận bản Bảy
Mươi (Septuagint) bằng tiếng Hy lạp sử
dụng các từ ngữ này “không phải chỉ nói
về anh/chị em, mà cũng nói về anh em bà
con (họ hàng) xa”.[1]
**
Thêm nữa, nếu như Chúa
Giêsu có người anh em ruột nào khác cùng
do Mẹ Maria sinh ra thì tại sao trong
Tông Đồ Đoàn không có một vị nào hiện
diện? Vì nếu có những người là em ruột
của Chúa do Mẹ Maria sinh ra thì nhất
định các người em đó phải thánh thiện
cao độ và phải được ưu tiên chọn vào
Tông Đồ Đoàn trước những người khác chứ?
Thế mà lại không có lấy một vị nào cả!
(Xin coi lại phần “** Chúng ta tìm thấy
trong các văn liệu Phúc Âm ...” ở trang
65-68).
Và nếu Chúa có những
người em ruột khác cùng do Mẹ Maria sinh
ra thì tại sao không thấy một vị nào
theo Chúa trên đường Thánh Giá, và nơi
chân Thánh Giá chỉ có một người đàn ông
duy nhất được nói đến là thánh Gioan
Tông Đồ, và mấy phụ nữ đã được kể đích
danh? Và trong Gioan 19: (26) “Khi (Đức
Giêsu) thấy thân mẫu và môn đệ Ngài
thương mến, Đức Giêsu nói với thân mẫu:
‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ (27) “Rồi
Ngài nói với người môn đệ: ‘Đây là mẹ
của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ đưa
bà về nhà mình.”
Chúng ta hỏi: Nếu các
ông Giacôbê, Giuse, Simon, và Giuuđa
trong Mt 13:55 là em ruột của Chúa, mà
đã có em ruột, thì cần gì (tại sao) Chúa
lại phải ký thác Mẹ Chúa cho thánh Gioan
phụng dưỡng (Gioan 19:27)? Không lẽ các
em ruột của Chúa lại tệ đến thế sao? Bỏ
rơi anh mình giữa lúc khốn cùng như thế
sao? Bỏ rơi cả mẹ ruột của mình sao?
**
Cũng theo Phúc Âm thánh
Gioan, chính Chúa Giêsu Phục Sinh đã
dùng từ (ngữ) “Anh Em” để nói về các môn
đệ khi Chúa nói với thánh Maria
Magdalena:
“Đừng giữ Thầy lại vì
Thầy chưa lên cùng Cha Thầy, mà hãy đi
báo cho các anh em của Thầy: Thầy lên
với Cha của Thầy mà cũng là Cha của họ,
Thiên Chúa của Thầy mà cũng là Thiên
Chúa của họ” (Gioan 20:17).
* Chúng ta đọc tiếp Phúc
Âm thánh Gioan:
“... Khi trời đã sáng,
Chúa Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các
môn đệ không nhận ra đó chính là Chúa
Giêsu. Ngài hỏi các ông: ‘này anh em,
không có gì ăn ư?’ ... Bước lên bờ,
các ông thấy có sẵn than hồng và cá đặt
trên bếp, có cả bánh nữa. ... Chúa Giêsu
đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi
cá, Ngài cũng làm như vậy...Khi các môn
đệ ăn xong, Chúa Giêsu hỏi ông Simon
Phêrô: ‘Này Simon, con ông Gioan, anh
có mến Thầy hơn các anh em này không?
Ông đáp: ‘Thưa Thầy có, Thầy biết con
yêu mến Thầy.’ .... “ (Gioan 21:1-17).
Thánh sử Mátthêu tường
thuật:
Kế đó Chúa nói với các
bà: “Các chị em đừng sợ. Hãy bảo các anh
em của Thầy đi tới Galilea, và họ sẽ
gặp Thầy tại đó” (Mt 28:10).
Thánh Mátthêu tường
thuật tiếp:
“Mười một môn đệ đi tới
miền Galilea, đến ngọn núi Đức Giêsu đã
truyền cho các ông đến. Khi thấy Ngài,
các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại
hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với
các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền
trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và
làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm
phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ
mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và
đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến
tận thế” (Mt 28:16-20 và Lc 24:36-49;
CvTđ 1:6-8).
Những “anh em” được
Chúa Giêsu bảo bà Maria Magdala báo tin
để đi gặp Chúa ở Galilea ở núi Chúa chỉ
định (theo Mt 28:16-20), và những môn đệ
đã được Chúa Giêsu phục sinh đón trên
bãi biển, được Chúa nướng cá và bánh cho
ăn (theo Gioan 21:27) là những ai?
Người mà Chúa ba lần
hỏi ‘Simon, con ông Gioan, anh có mến
Thầy không?” (Gioan 21:16-18) là ai?
Tất cả các vị này có phải là các tông đồ
không? Có phải Chúa dùng cụm từ anh em
của Thầy đề nói về các vị này không?
Kết luận: “Các anh em
của Thầy” trong Mt 28:10 có phải là mười
một môn đệ trong Mt 28:16-20 không? Có
phải Chúa Giêsu dùng cách nói “các anh
em của Thầy” để nói các môn đệ này
không? Hiển nhiên là đúng vậy.
*** Điểm quan trọng nữa
chúng ta cần lưu ý là cách các Thánh Sử
nói đến Mẹ Maria, Hiền Mẫu Chúa Giêsu,
qua những câu trích trong Phúc Âm Chúa
Giêsu theo thánh sử Mátthêu, Luca, Gioan
và Tông Đồ Công Vụ sau đây:
* “Gia phả Đức Giêsu
Kitô
... Ông Eleazar sinh ra
ông Matthan; ông Matthan sinh ra ông
Jacob; ông Jacob sinh ra ông Giuse,
chồng của bà Maria. Bà là mẹ Đức Giêsu
cũng gọi là Đấng Kitô” (Mt 1:15b-16).
* “Truyền tin cho ông
Giuse
Sau đây là gốc tích Đức
Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Ngài, đã đính
hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai
ông bà về chung sống, bà đã có thai do
quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18).
* “... Trông thấy
ngôi sao, họ mừng rỡ. Họ vào nhà, thấy
Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền
sấp mình thờ lạy Ngài. Rồi họ mở bảo
tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà
dâng tiến” (Mt 2:10-11).
* “Khi các nhà đạo sĩ
đã ra về, sứ thần Chúa hiện ra báo trong
mộng cho ông Giuse rằng: ‘Này ông, dậy
đem Hài Nhi và mẹ Ngài trốn sang Aicập,
và cứ ở đó cho tôi khi báo lại, vì
Herode sắp tìm giết Hài Nhi đấy!’ Ông
Giuse liền trỗi dậy và đang đêm, đưa Hài
Nhi và mẹ Ngài trốn sang Aicập” (Mt
2:13-14).
* “’Này Giuse, dậy đem
Thiếu Nhi và mẹ Ngài về đất Israel, vì
những kẻ tìm giết Thiếu Nhi đều đã chết
cả rồi.’ Ông liền trỗi dậy đưa Thiếu Nhi
và mẹ Ngài về đất Israel” (Mt 2: 20-21).
* “Ông Simeon chúc
phúc cho ông bà, và nói với bà Maria, mẹ
của Hài Nhi: ‘Thiên Chúa đã đặt cháu bé
này làm cớ cho cho nhiều người Israel
ngã xuống hoặc đứng lên ...’” (Lc 2:34).
* “Tiệc cưới Cana.
Ngày thứ ba, có tiệc
cưới tại Cana miền Galilea. Trong tiệc
cưới có thân mẫu Đức Giêsu. Đức Giêsu và
các môn đệ cũng được mời tham dự. Khi
thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói
với Ngài: ‘Họ hết rượu rồi.’ Đức Giêsu
đáp: ‘Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà
và con? Giờ của con chưa đến.’ Thân mẫu
Ngài nói với gia nhân: ‘Ngài bảo gì, các
anh cứ việc làm theo.’ (Jn 2:1-5)
* “Đứng gần thập giá
Đức Giêsu, có thân mẫu của Ngài, chị của
thân mẫu, bà Maria vợ ông Cleopas, cùng
với bà Maria Magdala. Khi thấy thân mẫu
và người môn đệ mình thương mến đứng bên
cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng:
‘Thưa Bà, xin nhận con của Bà.’ Rồi Ngài
nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Từ
giờ phút đó người môn đệ đón bà về nhà
mình” (Jn 19:25-27).
* “Mọi người thường tụ
họp cầu nguyện cùng với các phụ nữ và
với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và với các
anh em của Ngài” (CvTđ 1:14)
*
Qua những dẫn chứng
trên đây, chúng ta thấy mỗi khi nói tới
Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu, các Thánh Sử
luôn nói rõ: “bà Maria, thân mẫu Chúa
Giêsu”, (hoặc cách nói có nghĩa tương
tự).
11.- Mẹ Maria trinh
khiết trọn đời (tiếp theo):
Bản Bảy Mươi
đồng hàng với Tân Ước
Nghi Vấn: Có lập luận
cho rằng: "Bản Bảy Mươi (Septuagint) là
bản chuyển ngữ Kinh Thánh từ tiêng Hi bá
(Do thái) ra tiếng Hy lạp và như thế
không đồng hàng với các bài tường thuật
và thơ đồng thời của Tân Ước.”
[1]
Góp Ý.- Bản Bảy Mươi
(Bản Chuyển Ngữ Kinh Thánh từ tiếng Hi
bá ra tiếng Hy lạp) là kim chỉ nam an
toàn và cần thiết cho việc giải thích
Tân Ước Hy lạp. Từ giữa thế kỷ thứ hai
Công Nguyên, nhiều người Do thái ở Ai
cập (nơi bản Bảy Mươi được chuyển ngữ)
và khắp các Diaspora (khu vực người Do
thái định cư rải rác ngoài Palestine) đã
dùng Bản Bảy Mươi đọc trong các buổi
phụng vụ tại hội đường. Đối với hầu hết
Kitô hữu Do thái thời đó, Bản Bảy Mươi
là Bản Sách Thánh duy nhất họ có thể
đọc. Điều này cũng đúng đối với nhiều
thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Bản Bảy Mươi
có ngôn từ rất sát với ngôn ngữ Hy lạp,
là ngôn ngữ nói và viết hàng ngày của
các Kitô hữu tiên khởi và người Do thái
ở các diaspora và cả ở Palestine nữa.
Khoảng 80 phần trăm các bài trích dẫn và
ngụ ngôn của Cựu Ước dùng trong Tân Ước
đều từ bản Bảy Mươi, chứ không phải từ
bản Phúc Âm Do thái. Nói theo tu từ,
phần lớn (bản dịch) Tân Ước, đặc biệt là
bản dịch bốn Phúc Âm và Tông Đồ Công Vụ,
tùy thuộc rất nhiều vào bản Bảy Mươi.[1]
* David Hill thuộc
Đại Học Sheffield nói: "Những từ vựng
thuộc Cựu Ước và Tân Ước tiếng Hy lạp có
tiêu chuẩn rất giống nhau; và khảo cứu
sâu vào cú pháp của bản Bảy Mươi Hy lạp
cho thấy tính cách giống nhau đáng chú
ý. Cú pháp của ngôn từ và từ vựng trong
Tân Ước cho thấy sắc thái ngôn ngữ
Semita, vì mức độ rộng lớn của ngôn ngữ
đó ảnh hưởng đối với bản Phúc Âm Bảy
Mươi bằng tiếng Hy lạp của người Do
thái." [1]
* A.T. Robertson, trong
cuốn Ngữ pháp Tân Ước Hy lạp dưới Ánh
Sáng Khảo Cứu Lịch Sử (1934), chú giải
về nhà từ điển và cú pháp học Gustav
Adolf Deissman thế kỷ 19:
"Ông (Gustav) lên án
cách chính đáng việc quá thông thường
tách biệt Tân Ước Hy lạp ra khỏi điều
gọi là 'Hy lạp ngoại đạo', ông nhấn mạnh
đặc tính thực tiễn của phúc âm với văn
phong đại chúng Hy lạp thời đó."
[1]
* Các tác giả Tân Ước
(trừ thánh Luca) và những người đầu tiên
đọc Tân Ước, là người Do thái vào thời
đó, đều sống trong "hoàn cảnh thời bản
Bảy Mươi." Các vị này quen với cách dùng
Adelphos và Adelphe (anh/chị em bà con
thân nhân) trong bản Bảy Mươi là ngôn
ngữ Hy lạp thông thường dịch sang tiếng
Do thái là ACH với tất cả các nghĩa
trong đại gia đình nói bao quát là
anh/chị em như trong ngôn ngữ Việt Nam
khi không cần nhấn mạnh anh chị em ruột
hoặc anh chị em họ.
* Kết luận: Những câu văn
gọi các ông Giacôbê, Giuse, Simon,
Giuđa, và những phụ nữ không nói rõ tên
(theo Mt 10:1-5; 13:55-56; 15:40-41; Mc
3:13-19; Lc 6:12-16) là Adelphoi và
Adelphai mà dịch là anh chị em (ruột)
của Chúa Giêsu thì không đúng, phải gọi
các vị này là anh chị em họ, là bà con
thân nhân, của Chúa Giêsu như đã nói ở
Tiểu Đề số 10, trang 64-74.
Và rõ ràng vì muốn
chứng minh ngược lại niềm tin “Mẹ Maria
trinh khiết trọn đời”, những người nghi
vấn đã cố ý bỏ qua tính cách quan trọng
của lịch sử và từ nguyên học của Bản Bảy
Mươi. Thêm nữa là không thể hiểu Tân Ước
Hy lạp nếu không dẫn chiếu ngôn ngữ Hy
lạp của Bản Bảy Mươi, cũng không thể
hiểu các đặc tính riêng biệt của Bản Bảy
Mươi, nếu không dẫn chiếu ngôn ngữ Hi bá
nguyên thủy.
|