MLCN BácÁi
Hội Viên ÝKiến
Hìnhnh  VuiCười
LờiChứng TĐiển
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu LưuBút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu TViện Audio
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GiảiĐápThắcMắc
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHost Nối Kết
 

MỤC LỤC:

- Lời Giới thiệu, cám tạ

- Trước khi vào đề

- Chương 01
- Chương 02
- Chương 03
- Chương 04
- Chương 05
- Chương 06
- Chương 07
- Chương 08
- Chương 09
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12

 

MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi

Chương 4 

 MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

  Chúng ta học hỏi giáo huấn số 56 và 59 về Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội của Thánh Công Đồng Chung Vatican II,

   Đức Maria trong việc truyền tin

(gh 56)   Nhưng Chúa Cha rất nhân từ đã muốn Đấng được tiền định làm mẹ ưng thuận trước khi Chúa Con nhập thể, như trước kia người phụ nữ đã hợp tác cho sự chết, nay cũng có một người nữ hợp tác cho sự sống. ... Do đó, không có lạ gì khi các Thánh Giáo Phụ đã thường ca tụng Mẹ Thiên Chúa là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới thụ thai. Đức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và kính chào là ‘Đấng đầy ơn phúc’ (x. Lc 1:28). Và Trinh Nữ đã đáp lời Thiên Sứ rằng ‘Này tôi là Tôi Tá Chúa, tôi xin vâng theo lời ngài’ (Lc 1:38). Như thế, Đức Maria, con cháu Adam, vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Chúa Giêsu.. ...

(Xin đọc giáo huấn số 56 đầy đủ ở Phụ Lục 1)

   Đức Maria sau khi Chúa về trời

(gh 59   ...  Sau cùng, được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ [1] và sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác [1], và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con của Người trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (KH 19:16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.”[1]

(Xin đọc giáo huấn 59 đầy đủ ở Phụ Lục 1)

Qua hai giáo huấn số 57 và 59 Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Thánh Công Đồng Chung Vatican II tái minh xác tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

 * 

   Năm 1854, Đức Thánh Cha Piô IX minh định tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: "Chúng tôi công bố, tuyên ngôn và định nghĩa rằng tín điều Đức Trinh Nữ Maria từ giây phút đầu tiên bẩm thai, do ân sủng duy nhất và đặc biệt được Thiên Chúa Toàn Năng ban cho, vì công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, được giữ không vương tì vết tội nguyên tổ, là tín điều được Thiên Chúa mạc khải và vì thế toàn thể tín hữu phải kiên định xác tín." [1]

    Tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được tuyên bố năm 1854 sau khi niềm tin của các Kitô hữu phổ biến khắp nơi, suy niệm Sách Thánh, các thần học gia nghiên cứu, thảo luận, phát triển phụng vụ và cầu nguyện suốt nhiều thế kỷ. Đức Thánh Cha không đơn phương áp đặt tín lý này trên Giáo Hội.[1]

  Tuy vậy, những người nghi vấn tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội thường nhắm vào một số từ ngữ Hy lạp mà chúng tôi sơ lược sau đây để tìm hiểu và hy vọng làm sáng tỏ phần nào vấn đề.

12.-  Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội:

          “Kecharitomene” có nghĩa là “Đầy ơn phước
           = thoát khỏi mọi tội lỗi”

Nghi Vấn:  Những người nghi vấn thường dựa vào phân từ “echaritosen = ban tặng ân sủng” do động từ  (Hy lạp) “charitoo” dùng trong Ephesô 1:6: “Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Eph 1:5-6) để bác bẻ lời giải thích của Karl Keating về nguồn gốc “kecharitomene = được ban ân phước/được đầy ân phước trọn vẹn” dùng trong Luca 1:28. Và “echaritosen” trong thơ gởi giáo đoàn Ephesô, đoạn 1, câu 6 (Eph 1:6) không hàm ý hoàn toàn vô tội. Vì thế phân từ “kecharitomene” dùng trong Luca: ‘Thiên sứ vào nhà trinh nữ và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân phước, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ” (Lc 1:28) không hàm ý hoàn toàn vô tội. [1]

  Góp Ý:  Phân từ “echaritosen” do động từ “charitoo” dùng trong thơ Ephesô 1:6 không ám chỉ hoàn toàn vô tội, nhưng phân từ “kecharitomene” cũng do “charitoo” dùng trong Luca 1:28 thì có nghĩa hoàn toàn vô tội, vì hai hình thức của động từ dùng phân từ (stem) khác nhau. Mỗi động từ  (verb) tiếng Hy lạp thường có tới  chín  (9) phân  từ (stem) khác nhau, mỗi phân từ diễn tả một hình thức khác biệt của những nghĩa theo từ vựng học của động từ (verb’s lexical meanings). [1]

    *  Thơ Ephesô 1:6 dùng hình thức thứ nhất thời bất định chủ động (the first aorist active indicative form) của “charitoo” là “echaritosen”, có nghĩa: ‘(ngài) ban đặc ân, (ngài) giáng ân phước’. Hình thức này (echaritosen), căn cứ vào phân từ bất định (aorist stem), diễn tả hành động nhất thời,[1] hành động xảy ra rồi qua đi.[1]  “Echaritosen” trong Ephesô 1:6 không thể diễn tả một ý nghĩa nào của việc ban ân trọn vẹn (vĩnh cửu) vì thời  bất định (aorist tense) không cho thấy sự hoàn tất với  kết quả vĩnh viễn. [1]

  *  Nhưng đoạn Phúc Âm thánh Luca 1:28 dùng tiền quá phân từ thụ động (the perfect passive participle) là “kecharitomene”. Tiền quá phân từ này của động từ tiếng Hy lạp mô tả ‘tính cách vĩnh viễn của một hành động được hoàn tất’[1]; một hành động được hoàn tất với kết quả vĩnh viễn được biểu thị bằng tiền quá phân từ  (perfect stem)”[1]. Vì thế, trên căn bản hình thái học (morphological grounds) thì “kecharitomene = được ban ân sủng cách đầy đủ, trọn vẹn, vĩnh viễn”. Điều này càng rõ ràng hơn khi nghiên cứu những thí dụ khác của động từ theo thời tiền quá khứ (perfect tense), thí dụ:

   *  “... Nó đã xúc phạm = làm ô uế (he has defiled)  ... Nơi Thánh này! ...” (CvTđ 21:28) – dùng thì tiền quá khứ (perfect tense) biểu thị việc xúc phạm (làm ô uế) có hiệu lực vĩnh viễn. [1]

 *  “Con (trai) của người nữ nô lệ đã được sinh ra (was born) theo xác thịt” (Gal 4:23) – thời quá khứ (past tense) dùng trong Cựu Ước có nghĩa việc đó đã xảy ra trọn vẹn và hiệu lực vĩnh viễn.[1]

 * “Tôi đã không nhìn thấy (gặp) (have I not seen) Đức Giêsu Chúa chúng ta sao?” (1 Cor:9:1, CvTđ 22:15)  - nghĩa là thánh Phaolô đã thấy Chúa và việc đó đặt ngài vĩnh viễn là tông đồ.[1]  

  *   Chúng tôi mượn lời Karl Keating để kết luận tiểu đề này: "Ân phúc trọn đời của Đức Maria  (thì) lập tức vĩnh viễn và duy nhất. Tiếng Hy lạp chỉ rõ tính cách tòan vẹn của ân phúc. Tính cách toàn vẹn phải vĩnh viễn, không phải chỉ thu gọn, mà phải rộng rãi. Ân phúc Đức Maria được hưởng không những chỉ ‘đầy’ hoặc ‘mãnh liệt’ hoặc ‘toàn vẹn’ như có thể vào thời gian ấn định, nhưng ân phúc đó cũng phải kéo dài từ khi bẩm thai tới trọn cuộc đời của Người. Điều đó có nghĩa là Đức Maria phải được ở trong  tình trạng  ân  sủng  thánh  hóa  từ giây phút đầu tiên hiện hữu để được gọi là 'đầy ơn phúc' hoặc ‘được đầy tràn sủng Thiên Chúa cách đặc biệt’. Đây chính là điều mà tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội bao gồm." [1]

**

  Cũng có một số học giả Công Giáo ngày nay nghĩ rằng "Gratia Plena" là một chuyển ngữ sai.     

      Trái với lập luận của những học giả Công Giáo trên đây và những người khác, “Gratia Plena" là cách nói rất khéo léo thích hợp, vì sát với tiếng Hy lạp mà tiếng La tinh có thể đạt được và được ưa chuộng hơn những cố gắng sửa lại cách nói đó như "Đấng được sủng ái = favored one" ( bản dịch NAB [1986], RSV), "được hết sức sủng ái” hoặc “được sủng ái cao độ = highly favored"

(bản dịch NIV), và "ái nữ được hết sức sủng ái = highly favored daughter" (bản dịch NAB [1970]). [1]

 *  Trong Luca 1:28: “Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân phước (kecharitomene), Thiên Chúa ở với Trinh Nữ”, Mẹ Maria được ca tụng là “keratochemene” nghĩa là “được chúc phúc,” “được phú cho ân phúc.”  Cách nói "đầy ân phước" đã hướng dẫn tư tưởng thần học Công Giáo suốt nhiều thế kỷ từ thời thánh Jêrônimô (Jerome) (347-420).

*  Theo H.W. Smyth, mỗi động từ tiếng Hy lạp thuờng có tới chín phân từ (stem) khác nhau, mỗi phân từ diễn tả một thể thức theo nghĩa từ vựng học của động từ đó. So sánh với tiếng Hy lạp, tiếng La tinh là một ngôn ngữ rắc rối, nghèo nàn và chịu nhiều biến đổi. Nhất là tiếng La tinh không có động từ nào nói lên ý nghĩa của động từ tiếng Hy lạp "charitoo." Nhưng sử dụng những nguồn gốc mà tiếng La tinh có, thánh Jêrônimô (Jerome) diễn tả ý nghĩa căn rễ của động từ “charitoo” bằng danh từ la tinh "gratisa = ân sủng, được sủng ái," với tính cách dồi dào phong phú và toàn vẹn của thời tiền quá khứ bằng tĩnh từ la tinh "plena = đầy". Tuy nhiên cách nói theo tiếng La tinh không bao gồm đúng được điều kiện vĩnh viễn, như tiền quá phân từ "kecharitomene" của Hy lạp. [1]

*

   Kitô hữu Công Giáo không đơn độc trong cách đọc (hiểu, giải thích) phân từ “kecharitomene.” Trong Sách Nguyện Riêng (Personal Prayer Book, 1552), ông Luther viết, "Đức Maria đầy ơn phước, hoàn toàn không vương tội lỗi. ... Ân sủng của Thiên Chúa đổ tràn đầy trên Người mọi sự tốt lành và làm cho Người thoát khỏi mọi điều xấu xa. ... Thiên Chúa ở với Người, có nghĩa rằng mọi điều Người đã làm hoặc chưa hoàn tất đều thiêng liêng và hành động của Thiên Chúa ở trong Người. Hơn nữa, Thiên Chúa canh giữ bảo vệ Người khỏi mọi điều có thể làm tổn hại Người.” [1]

    Max Thurian, khi còn là Tin Lành, viết, "Nơi những Người Cải Cách, chúng tôi đã thấy mọi người đều cùng một ý về mọi điều liên quan tới sự thánh thiện và trọn đời trinh khiết của Đức Maria. Ngày nay bất kể lập trường thần học nào chúng ta có thể theo đối với Ơn Vô Nhiễm  Nguyên  Tội  và Được Rước Cả Hồn Xác về thiên đàng của Đức Maria, ... hai tín điều này của Giáo Hội Công Giáo được một số Người Cải Cách chấp nhận, dĩ nhiên không phải những giáo phái Tin Lành ngày nay." [1]

  * Những anh em nghi vấn nhìn nhận: "Do bản tính thiên chúa và sự trinh thai của Chúa Kitô (qua đó chính Thiên Chúa, chứ không phải con cái Adong, là Cha của Ngài), Chúa Kitô là Đấng vô tội sống giữa chúng ta. ...”

   Lời nhìn nhận trên đây có nghĩa Chúa Kitô không mắc tội phần vì Chúa không có người cha trần thế, không có người con (trai tội lỗi) của Adam trong huyết hệ của Ngài. Với tiền đề này người ta có thể nghĩ những người này phải tin Đặc Ân Bẩm Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria là cần thiết: Làm cách nào Chúa Kitô không vương nhiễm tội (nguyên tổ) nếu Chúa rút lấy bản tính nhân loại của Chúa từ một bà mẹ tội lỗi?

  Tuy nhiên lý do đích thực của việc Chúa Kitô không mắc tội (nguyên tổ) là sự kết hiệp nhân tính và thiên tính của Chúa, mà Chúa không chia sẻ với bất cứ người nào sự kết hiệp này. Chúa Kitô kết hiệp hai bản tính: thiên tính và nhân tính trong một Ngôi Vị Thiên Chúa. Chính do việc kết hiệp này mà Chúa Kitô trở nên "con người duy nhất tiêu biểu bản chất thánh thiện của Thiên Chúa Cha, ánh sáng chói lọi của vinh quang Thiên Chúa Cha, hình ảnh của chính Thiên Chúa Cha" (DT 1:3), "vì trọn vẹn Thần Tính ngự trong Chúa Kitô" (Col 2:9). Việc kết hiệp thần tính xức dầu tấn phong Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng ta, vị tiên tri, vua, và tư tế của chúng ta, trọn vẹn thiên tính ở trong Chúa Giêsu vì chúng ta: "Chúng ta nhận được sự sung mãn của Ngài" (Gioan 1:16); "anh chị em chia sẻ sự sung mãn này nơi Ngài, Đấng là thủ lãnh" (Col. 2:10).

 * Chúng tôi mượn lời của Thurian trước khi ông trở lại Công Giáo viết về đề tài này để kết luận:

"Trong Chúa Kitô Yêu Dấu ... chúng ta được tràn đầy

ân sủng Thiên Chúa. ... Vì thế, Đức Maria nhận được tước hiệu 'đầy ơn phước,' đồng thời Người được đặt trong

tương quan tuyệt đối của việc chia sẻ trong sự đầy ơn phước được tìm thấy trong Thánh Tử Yêu Dấu, và kết hiệp với toàn thể các Kitô hữu, những người cũng tìm thấy nơi Đức Kitô sự sung mãn này. Tuy nhiên, Đức Maria nhận được đặc ân này như là một biểu hiệu: Có nghĩa là, Người trở nên một dấu chỉ sinh động và chắc chắn của tình trạng đầy tràn ân sủng, mà tình trạng này chỉ phát xuất từ chính Chúa Kitô mà thôi." [1]

13.      Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (tiếp theo):

Nghi Vấn:   Lập luận hoài nghi trích thơ thánh Phaolô: "Thiên Chúa đã dồn tất cả mọi người vào tình trạng bất tuân, ngõ hầu Ngài dủ lòng thương hết mọi người," (Rom 11:32), cho rằng: “tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là phản nguyên tắc phúc âm căn bản này”; và "dẫu chỉ một người khác ngoài Chúa Kitô được sinh ra mà không vương mắc tội là giảm thiểu ý nghĩa cao cả của Mầu Nhiệm Nhập Thể.”

 Góp Ý :  Lần nữa giáo huấn số 56 của Công Đồng Vatican II về Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội được sơ lược để soi sáng phần Góp Ý này: 

  (gh 56)  Đức Maria trong việc truyền tin

   Nhưng Chúa Cha rất nhân từ đã muốn Đấng được tiền định làm mẹ ưng thuận trước khi Chúa Con nhập thể, như trước kia một người nữ đã hợp tác cho sự chết, nay cũng có một người nữ hợp tác cho sự sống. Điều đó đặc biệt thích hợp với Mẹ Chúa Giêsu, vì Người đem đến cho thế giới chính Nguồn Sống cải tạo mọi sự, nên đã được Chúa ban cho nhiều ơn cân xứng với một vai trò cao cả như thế. Do đó không lạ gì khi các Thánh Giáo Phụ đã thường ca tụng Mẹ Thiên Chúa là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một thụ tạo mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới được thụ thai. Đức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh Thiên Chúa đến báo tin và kính chào là “Đấng đầy ơn phúc” (x. Lc 1:28). ...

*

   Người anh em có lập luận nghi vấn về Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tôi quên ông Adong và bà Evà đã được tạo dựng không vương mắc tội lỗi và đã sống phần đầu cuộc đời các ngài không vương tội lỗi (theo Stk 1:31). Và chúng ta suy nghĩ về một vài ý kiến sau đây:

  Thứ nhất: Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội không phải vì sức hoặc công nghiệp riêng mà do công nghiệp Chúa-Con-nhập-thể được áp dụng cho Người khi bẩm thai. Tính ưu việt hàng đầu, sự cần thiết của Việc Nhập Thể và sự sung mãn của Chúa Kitô không bị giảm thiểu do việc Bẩm Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria, vì vượt trên hết mọi người khác, Mẹ Maria nhận được sự sung mãn của chính Chúa Kitô: "Từ nguồn sung mãn của Ngài, chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác" (Gioan 1:16).

  * Thứ hai: Là con cháu Adong và Evà, Mẹ Maria chia sẻ hoàn cảnh sa ngã của chúng ta theo luật, nhưng Người được cứu thoát khỏi tội (= tình trạng sa ngã đó) khi bẩm thai. Tất cả đều là hồng ân Thiên Chúa, nhưng nơi Mẹ Maria hồng ân Thiên Chúa là thuốc ngừa bệnh. Đối với chúng ta, ân sủng Thiên Chúa là thuốc điều trị, chữa lành sự tổn thất thực sự do tội lỗi, vì “Trên mặt đất, chẳng có người công chính nào làm điều thiện và không khi nào phạm tội” (Gv 7:20); (đọc thêm Gal 3:22; Rom 3:22-23; 5:12; 11:22).

 * Thứ ba: Nếu Thiên Chúa không gìn giữ Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, thì thân xác Chúa Cứu Thế từ các chất liệu của Mẹ có ảnh hưởng tới nhân tính Chúa Cứu Thế không?

   Nếu Mẹ Maria bị vướng tội nguyên tổ, thì nhân tính của Chúa Cứu Thế sẽ thế nào?

   Nếu Mẹ Maria vướng tội nguyên tổ, thì nhân tính Chúa Cứu Thế cũng vướng tội nguyên tổ sao?

   Có ai tin điều này!

  * Kết luận: Tình trạng tràn đầy ân sủng của Mẹ Maria trong chương trình của Thiên Chúa (thì) cần thiết cho điều mà John de Satgé, thần học gia Tin Lành, gọi là "những đòi hỏi lạ lùng đến kinh ngạc của chức năng làm mẹ đặc biệt của Người, mà không tách rời tính cách toàn hảo từ ân sủng phát xuất từ Con của Người.

 

Quý vị là vị khách Chúa Giêsu yêu.
Website được thăm viếng lần từ 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
| Home | | Email |