|
MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi
Chương 4
MẸ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN
TỘI
Chúng ta học hỏi giáo
huấn số 56 và 59 về Mẹ Maria Vô Nhiễm
Nguyên Tội, Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý
về Giáo Hội của Thánh Công Đồng Chung
Vatican II,
Đức Maria trong việc
truyền tin
(gh 56) Nhưng Chúa Cha
rất nhân từ đã muốn Đấng được tiền định
làm mẹ ưng thuận trước khi Chúa Con nhập
thể, như trước kia người phụ nữ đã hợp
tác cho sự chết, nay cũng có một người
nữ hợp tác cho sự sống. ... Do đó, không
có lạ gì khi các Thánh Giáo Phụ đã
thường ca tụng Mẹ Thiên Chúa là Đấng
toàn thánh, không vương nhiễm một tội
nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh
Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy
thánh thiện, có một không hai ngay từ
lúc mới thụ thai. Đức Trinh Nữ thành
Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh Chúa
đến truyền tin và kính chào là ‘Đấng đầy
ơn phúc’ (x. Lc 1:28). Và Trinh Nữ đã
đáp lời Thiên Sứ rằng ‘Này tôi là Tôi Tá
Chúa, tôi xin vâng theo lời ngài’ (Lc
1:38). Như thế, Đức Maria, con cháu
Adam, vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã
trở nên Mẹ Chúa Giêsu.. ...
(Xin đọc giáo huấn số 56
đầy đủ ở Phụ Lục 1)
Đức Maria sau khi Chúa
về trời
(gh 59 ... Sau cùng,
được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội
nguyên tổ [1]
và sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế,
Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên
hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn
xác [1],
và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương
vũ trụ để nên giống Con của Người trọn
vẹn hơn, là Chúa các Chúa (KH 19:16),
Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.”[1]
(Xin đọc giáo huấn 59 đầy
đủ ở Phụ Lục 1)
Qua hai giáo huấn số 57
và 59 Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về
Giáo Hội, Thánh Công Đồng Chung Vatican
II tái minh xác tín điều Mẹ Maria Vô
Nhiễm Nguyên Tội.
*
Năm 1854, Đức Thánh
Cha Piô IX minh định tín điều Mẹ Maria
Vô Nhiễm Nguyên Tội: "Chúng tôi công bố,
tuyên ngôn và định nghĩa rằng tín điều
Đức Trinh Nữ Maria từ giây phút đầu tiên
bẩm thai, do ân sủng duy nhất và đặc
biệt được Thiên Chúa Toàn Năng ban cho,
vì công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu
Chuộc nhân loại, được giữ không vương tì
vết tội nguyên tổ, là tín điều được
Thiên Chúa mạc khải và vì thế toàn thể
tín hữu phải kiên định xác tín."
[1]
Tín điều Mẹ Maria Vô
Nhiễm Nguyên Tội được tuyên bố năm 1854
sau khi niềm tin của các Kitô hữu phổ
biến khắp nơi, suy niệm Sách Thánh, các
thần học gia nghiên cứu, thảo luận, phát
triển phụng vụ và cầu nguyện suốt nhiều
thế kỷ. Đức Thánh Cha không đơn phương
áp đặt tín lý này trên Giáo Hội.[1]
Tuy vậy, những người
nghi vấn tín điều Mẹ Maria Vô Nhiễm
Nguyên Tội thường nhắm vào một số từ ngữ
Hy lạp mà chúng tôi sơ lược sau đây để
tìm hiểu và hy vọng làm sáng tỏ phần nào
vấn đề.
12.- Mẹ Maria vô nhiễm
nguyên tội:
“Kecharitomene”
có nghĩa là “Đầy ơn phước
= thoát khỏi
mọi tội lỗi”
Nghi Vấn: Những người
nghi vấn thường dựa vào phân từ
“echaritosen = ban tặng ân sủng” do động
từ (Hy lạp) “charitoo” dùng trong
Ephesô 1:6: “Theo ý muốn và lòng nhân ái
của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm
nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng
ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng
Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu
dấu” (Eph 1:5-6) để bác bẻ lời giải
thích của Karl Keating về nguồn gốc
“kecharitomene = được ban ân phước/được
đầy ân phước trọn vẹn” dùng trong Luca
1:28. Và “echaritosen” trong thơ gởi
giáo đoàn Ephesô, đoạn 1, câu 6 (Eph
1:6) không hàm ý hoàn toàn vô tội. Vì
thế phân từ “kecharitomene” dùng trong
Luca: ‘Thiên sứ vào nhà trinh nữ và nói:
‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân phước,
Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ” (Lc 1:28)
không hàm ý hoàn toàn vô tội.
[1]
Góp Ý: Phân từ
“echaritosen” do động từ “charitoo” dùng
trong thơ Ephesô 1:6 không ám chỉ hoàn
toàn vô tội, nhưng phân từ
“kecharitomene” cũng do “charitoo” dùng
trong Luca 1:28 thì có nghĩa hoàn toàn
vô tội, vì hai hình thức của động từ
dùng phân từ (stem) khác nhau. Mỗi động
từ (verb) tiếng Hy lạp thường có tới
chín (9) phân từ (stem) khác nhau, mỗi
phân từ diễn tả một hình thức khác biệt
của những nghĩa theo từ vựng học của
động từ (verb’s lexical meanings).
[1]
* Thơ Ephesô 1:6
dùng hình thức thứ nhất thời bất định
chủ động (the first aorist active
indicative form) của “charitoo” là
“echaritosen”, có nghĩa: ‘(ngài) ban đặc
ân, (ngài) giáng ân phước’. Hình thức
này (echaritosen), căn cứ vào phân từ
bất định (aorist stem), diễn tả hành
động nhất thời,[1]
hành động xảy ra rồi qua đi.[1]
“Echaritosen” trong Ephesô 1:6 không thể
diễn tả một ý nghĩa nào của việc ban ân
trọn vẹn (vĩnh cửu) vì thời bất định
(aorist tense) không cho thấy sự hoàn
tất với kết quả vĩnh viễn.
[1]
* Nhưng đoạn Phúc Âm
thánh Luca 1:28 dùng tiền quá phân từ
thụ động (the perfect passive
participle) là “kecharitomene”. Tiền quá
phân từ này của động từ tiếng Hy lạp mô
tả ‘tính cách vĩnh viễn của một hành
động được hoàn tất’[1];
một hành động được hoàn tất với kết quả
vĩnh viễn được biểu thị bằng tiền quá
phân từ (perfect stem)”[1].
Vì thế, trên căn bản hình thái học
(morphological grounds) thì
“kecharitomene = được ban ân sủng cách
đầy đủ, trọn vẹn, vĩnh viễn”. Điều này
càng rõ ràng hơn khi nghiên cứu những
thí dụ khác của động từ theo thời tiền
quá khứ (perfect tense), thí dụ:
* “... Nó đã xúc phạm
= làm ô uế (he has defiled) ... Nơi
Thánh này! ...” (CvTđ 21:28) – dùng thì
tiền quá khứ (perfect tense) biểu thị
việc xúc phạm (làm ô uế) có hiệu lực
vĩnh viễn. [1]
* “Con (trai) của người
nữ nô lệ đã được sinh ra (was born) theo
xác thịt” (Gal 4:23) – thời quá khứ
(past tense) dùng trong Cựu Ước có nghĩa
việc đó đã xảy ra trọn vẹn và hiệu lực
vĩnh viễn.[1]
* “Tôi đã không nhìn
thấy (gặp) (have I not seen) Đức Giêsu
Chúa chúng ta sao?” (1 Cor:9:1, CvTđ
22:15) - nghĩa là thánh Phaolô đã thấy
Chúa và việc đó đặt ngài vĩnh viễn là
tông đồ.[1]
* Chúng tôi mượn lời
Karl Keating để kết luận tiểu đề này:
"Ân phúc trọn đời của Đức Maria (thì)
lập tức vĩnh viễn và duy nhất. Tiếng Hy
lạp chỉ rõ tính cách tòan vẹn của ân
phúc. Tính cách toàn vẹn phải vĩnh viễn,
không phải chỉ thu gọn, mà phải rộng
rãi. Ân phúc Đức Maria được hưởng không
những chỉ ‘đầy’ hoặc ‘mãnh liệt’ hoặc
‘toàn vẹn’ như có thể vào thời gian ấn
định, nhưng ân phúc đó cũng phải kéo dài
từ khi bẩm thai tới trọn cuộc đời của
Người. Điều đó có nghĩa là Đức Maria
phải được ở trong tình trạng ân sủng
thánh hóa từ giây phút đầu tiên hiện
hữu để được gọi là 'đầy ơn phúc' hoặc
‘được đầy tràn sủng Thiên Chúa cách đặc
biệt’. Đây chính là điều mà tín điều Đức
Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội bao gồm."
[1]
**
Cũng có một số học giả
Công Giáo ngày nay nghĩ rằng "Gratia
Plena" là một chuyển ngữ sai.
Trái với lập luận
của những học giả Công Giáo trên đây và
những người khác, “Gratia Plena" là cách
nói rất khéo léo thích hợp, vì sát với
tiếng Hy lạp mà tiếng La tinh có thể đạt
được và được ưa chuộng hơn những cố gắng
sửa lại cách nói đó như "Đấng được sủng
ái = favored one" ( bản dịch NAB [1986],
RSV), "được hết sức sủng ái” hoặc “được
sủng ái cao độ = highly favored"
(bản dịch NIV), và "ái nữ
được hết sức sủng ái = highly favored
daughter" (bản dịch NAB [1970]).
[1]
* Trong Luca 1:28: “Sứ
thần vào nhà trinh nữ và nói: ‘Mừng vui
lên, hỡi Đấng đầy ân phước
(kecharitomene), Thiên Chúa ở với Trinh
Nữ”, Mẹ Maria được ca tụng là
“keratochemene” nghĩa là “được chúc
phúc,” “được phú cho ân phúc.” Cách nói
"đầy ân phước" đã hướng dẫn tư tưởng
thần học Công Giáo suốt nhiều thế kỷ từ
thời thánh Jêrônimô (Jerome) (347-420).
* Theo H.W. Smyth, mỗi
động từ tiếng Hy lạp thuờng có tới chín
phân từ (stem) khác nhau, mỗi phân từ
diễn tả một thể thức theo nghĩa từ vựng
học của động từ đó. So sánh với tiếng Hy
lạp, tiếng La tinh là một ngôn ngữ rắc
rối, nghèo nàn và chịu nhiều biến đổi.
Nhất là tiếng La tinh không có động từ
nào nói lên ý nghĩa của động từ tiếng Hy
lạp "charitoo." Nhưng sử dụng những
nguồn gốc mà tiếng La tinh có, thánh
Jêrônimô (Jerome) diễn tả ý nghĩa căn rễ
của động từ “charitoo” bằng danh từ la
tinh "gratisa = ân sủng, được sủng ái,"
với tính cách dồi dào phong phú và toàn
vẹn của thời tiền quá khứ bằng tĩnh từ
la tinh "plena = đầy". Tuy nhiên cách
nói theo tiếng La tinh không bao gồm
đúng được điều kiện vĩnh viễn, như tiền
quá phân từ "kecharitomene" của Hy lạp.
[1]
*
Kitô hữu Công Giáo
không đơn độc trong cách đọc (hiểu, giải
thích) phân từ “kecharitomene.” Trong
Sách Nguyện Riêng (Personal Prayer Book,
1552), ông Luther viết, "Đức Maria đầy
ơn phước, hoàn toàn không vương tội lỗi.
... Ân sủng của Thiên Chúa đổ tràn đầy
trên Người mọi sự tốt lành và làm cho
Người thoát khỏi mọi điều xấu xa. ...
Thiên Chúa ở với Người, có nghĩa rằng
mọi điều Người đã làm hoặc chưa hoàn tất
đều thiêng liêng và hành động của Thiên
Chúa ở trong Người. Hơn nữa, Thiên Chúa
canh giữ bảo vệ Người khỏi mọi điều có
thể làm tổn hại Người.”
[1]
*
Max Thurian, khi còn
là Tin Lành, viết, "Nơi những Người Cải
Cách, chúng tôi đã thấy mọi người đều
cùng một ý về mọi điều liên quan tới sự
thánh thiện và trọn đời trinh khiết của
Đức Maria. Ngày nay bất kể lập trường
thần học nào chúng ta có thể theo đối
với Ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội và Được
Rước Cả Hồn Xác về thiên đàng của Đức
Maria, ... hai tín điều này của Giáo Hội
Công Giáo được một số Người Cải Cách
chấp nhận, dĩ nhiên không phải những
giáo phái Tin Lành ngày nay."
[1]
* Những anh em nghi vấn
nhìn nhận: "Do bản tính thiên chúa và sự
trinh thai của Chúa Kitô (qua đó chính
Thiên Chúa, chứ không phải con cái
Adong, là Cha của Ngài), Chúa Kitô là
Đấng vô tội sống giữa chúng ta. ...”
Lời nhìn nhận trên đây
có nghĩa Chúa Kitô không mắc tội phần vì
Chúa không có người cha trần thế, không
có người con (trai tội lỗi) của Adam
trong huyết hệ của Ngài. Với tiền đề này
người ta có thể nghĩ những người này
phải tin Đặc Ân Bẩm Thai Vô Nhiễm Nguyên
Tội của Mẹ Maria là cần thiết: Làm cách
nào Chúa Kitô không vương nhiễm tội
(nguyên tổ) nếu Chúa rút lấy bản tính
nhân loại của Chúa từ một bà mẹ tội lỗi?
Tuy nhiên lý do đích
thực của việc Chúa Kitô không mắc tội
(nguyên tổ) là sự kết hiệp nhân tính và
thiên tính của Chúa, mà Chúa không chia
sẻ với bất cứ người nào sự kết hiệp này.
Chúa Kitô kết hiệp hai bản tính: thiên
tính và nhân tính trong một Ngôi Vị
Thiên Chúa. Chính do việc kết hiệp này
mà Chúa Kitô trở nên "con người duy nhất
tiêu biểu bản chất thánh thiện của Thiên
Chúa Cha, ánh sáng chói lọi của vinh
quang Thiên Chúa Cha, hình ảnh của chính
Thiên Chúa Cha" (DT 1:3), "vì trọn vẹn
Thần Tính ngự trong Chúa Kitô" (Col
2:9). Việc kết hiệp thần tính xức dầu
tấn phong Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai,
Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng ta, vị
tiên tri, vua, và tư tế của chúng ta,
trọn vẹn thiên tính ở trong Chúa Giêsu
vì chúng ta: "Chúng ta nhận được sự sung
mãn của Ngài" (Gioan 1:16); "anh chị em
chia sẻ sự sung mãn này nơi Ngài, Đấng
là thủ lãnh" (Col. 2:10).
* Chúng tôi mượn lời của
Thurian trước khi ông trở lại Công Giáo
viết về đề tài này để kết luận:
"Trong Chúa Kitô Yêu Dấu
... chúng ta được tràn đầy
ân sủng Thiên Chúa. ...
Vì thế, Đức Maria nhận được tước hiệu
'đầy ơn phước,' đồng thời Người được đặt
trong
tương quan tuyệt đối của
việc chia sẻ trong sự đầy ơn phước được
tìm thấy trong Thánh Tử Yêu Dấu, và kết
hiệp với toàn thể các Kitô hữu, những
người cũng tìm thấy nơi Đức Kitô sự sung
mãn này. Tuy nhiên, Đức Maria nhận được
đặc ân này như là một biểu hiệu: Có
nghĩa là, Người trở nên một dấu chỉ sinh
động và chắc chắn của tình trạng đầy
tràn ân sủng, mà tình trạng này chỉ phát
xuất từ chính Chúa Kitô mà thôi."
[1]
13. Mẹ Maria Vô
Nhiễm Nguyên Tội (tiếp theo):
Nghi Vấn: Lập luận hoài
nghi trích thơ thánh Phaolô: "Thiên Chúa
đã dồn tất cả mọi người vào tình trạng
bất tuân, ngõ hầu Ngài dủ lòng thương
hết mọi người," (Rom 11:32), cho rằng:
“tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
là phản nguyên tắc phúc âm căn bản này”;
và "dẫu chỉ một người khác ngoài Chúa
Kitô được sinh ra mà không vương mắc tội
là giảm thiểu ý nghĩa cao cả của Mầu
Nhiệm Nhập Thể.”
Góp Ý : Lần nữa giáo
huấn số 56 của Công Đồng Vatican II về
Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội được sơ
lược để soi sáng phần Góp Ý này:
(gh 56) Đức Maria
trong việc truyền tin
Nhưng Chúa Cha rất
nhân từ đã muốn Đấng được tiền định làm
mẹ ưng thuận trước khi Chúa Con nhập
thể, như trước kia một người nữ đã hợp
tác cho sự chết, nay cũng có một người
nữ hợp tác cho sự sống. Điều đó đặc biệt
thích hợp với Mẹ Chúa Giêsu, vì Người
đem đến cho thế giới chính Nguồn Sống
cải tạo mọi sự, nên đã được Chúa ban cho
nhiều ơn cân xứng với một vai trò cao cả
như thế. Do đó không lạ gì khi các Thánh
Giáo Phụ đã thường ca tụng Mẹ Thiên Chúa
là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm
một tội nào, như một thụ tạo mới do Chúa
Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn
đầy thánh thiện, có một không hai ngay
từ lúc mới được thụ thai. Đức Trinh Nữ
thành Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh
Thiên Chúa đến báo tin và kính chào là
“Đấng đầy ơn phúc” (x. Lc 1:28). ...
*
Người anh em có lập
luận nghi vấn về Mẹ Maria vô nhiễm
nguyên tôi quên ông Adong và bà Evà đã
được tạo dựng không vương mắc tội lỗi và
đã sống phần đầu cuộc đời các ngài không
vương tội lỗi (theo Stk 1:31). Và chúng
ta suy nghĩ về một vài ý kiến sau đây:
Thứ nhất: Mẹ Maria vô
nhiễm nguyên tội không phải vì sức hoặc
công nghiệp riêng mà do công nghiệp
Chúa-Con-nhập-thể được áp dụng cho Người
khi bẩm thai. Tính ưu việt hàng đầu, sự
cần thiết của Việc Nhập Thể và sự sung
mãn của Chúa Kitô không bị giảm thiểu do
việc Bẩm Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ
Maria, vì vượt trên hết mọi người khác,
Mẹ Maria nhận được sự sung mãn của chính
Chúa Kitô: "Từ nguồn sung mãn của Ngài,
chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn
khác" (Gioan 1:16).
* Thứ hai: Là con cháu
Adong và Evà, Mẹ Maria chia sẻ hoàn cảnh
sa ngã của chúng ta theo luật, nhưng
Người được cứu thoát khỏi tội (= tình
trạng sa ngã đó) khi bẩm thai. Tất cả
đều là hồng ân Thiên Chúa, nhưng nơi Mẹ
Maria hồng ân Thiên Chúa là thuốc ngừa
bệnh. Đối với chúng ta, ân sủng Thiên
Chúa là thuốc điều trị, chữa lành sự tổn
thất thực sự do tội lỗi, vì “Trên mặt
đất, chẳng có người công chính nào làm
điều thiện và không khi nào phạm tội”
(Gv 7:20); (đọc thêm Gal 3:22; Rom
3:22-23; 5:12; 11:22).
* Thứ ba: Nếu Thiên Chúa
không gìn giữ Mẹ Maria vô nhiễm nguyên
tội, thì thân xác Chúa Cứu Thế từ các
chất liệu của Mẹ có ảnh hưởng tới nhân
tính Chúa Cứu Thế không?
Nếu Mẹ Maria bị vướng
tội nguyên tổ, thì nhân tính của Chúa
Cứu Thế sẽ thế nào?
Nếu Mẹ Maria vướng tội
nguyên tổ, thì nhân tính Chúa Cứu Thế
cũng vướng tội nguyên tổ sao?
Có ai tin điều này!
* Kết luận: Tình trạng
tràn đầy ân sủng của Mẹ Maria trong
chương trình của Thiên Chúa (thì) cần
thiết cho điều mà John de Satgé, thần
học gia Tin Lành, gọi là "những đòi hỏi
lạ lùng đến kinh ngạc của chức năng làm
mẹ đặc biệt của Người, mà không tách rời
tính cách toàn hảo từ ân sủng phát xuất
từ Con của Người.
|