|
MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi
Chương 5
MẸ MARIA HỒN XÁC LÊN
TRỜI
Chúng ta nhắc lại để
học hỏi giáo huấn số 59, Chương VIII,
Hiến Chế Tín Lý và Giáo Hội, Thánh Công
Đồng Vatican II, dạy về Mẹ Maria lên
trời cả hồn xác.
Đức Maria sau khi Chúa
về trời
(gh 59) Vì Thiên Chúa
không muốn tỏ bày mầu nhiệm cứu rỗi nhân
loại cách long trọng trước khi Ngài đổ
tràn Thánh Thần Chúa Kitô đã hứa, nên
chúng ta thấy các Tông Đồ trước ngày lễ
Ngũ Tuần “đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện,
cùng với các phụ nữ, với Đức Maria Mẹ
Chúa Giêsu, và với anh em Ngài” (CvSđ
1:14). Đức Maria cùng tha thiết cầu xin
Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã
bao phủ Người trong ngày Truyền Tin. Sau
cùng, được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi
vết nhơ tội nguyên tổ và sau khi hoàn
tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô
Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang
trên trời cả hồn lẫn xác và được Thiên
Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để
nên giống Con của Người trọn vẹn hơn, là
Chúa các Chúa (KhH 19:16) , Đấng đã
chiến thắng tội lỗi và sự chết.”
Thánh Công Đồng Vatican
II công khai long trọng lặp lại tín điều
Thiên Chúa Ba Ngôi đưa Mẹ Maria cả hồn
xác về Thiên Đàng đã được Đức Piô XII
minh định ngày 1 tháng 11 năm 1950.
Ngày 1 tháng 11 năm
1950, Đức Thánh Cha Piô XII minh định
tín điều "Mẹ Maria Linh Hồn và Xác Về
Thiên Đàng" bằng những lời sau đây:
"Chúng tôi tuyên xưng, công bố và minh
định một Tín Điều đã được Thiên Chúa mạc
khải: Đức Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa,
Đấng không hề mắc tội nguyên tổ, trinh
khiết trọn đời, sau khi đã hoàn tất cuộc
đời trần thế, hồn xác đã được rước lên
trời vinh hiển."
[1] "Tín điều được mạc khải" ở
đây có nghĩa một sự kiện bao gồm trong
kho tàng mạc khải được Thiên Chúa ban
cho chúng ta, lúc này được Đức Thánh Cha
long trọng đưa ra để "các tín hữu" tin
theo.[1]
Theo Hiến Chế Lumen
Gentium (Ánh Sáng Muôn Dân) của Công
Đồng Vatican thì:
“Đức Maria là môn đệ
đầu tiên, là gương mẫu trong đức tin và
đức phục tòng của toàn thể các tín hữu,
là Mẹ và là thành viên đầu tiên của Giáo
Hội. Trong việc Đức Maria Hồn Xác lên
Trời chúng ta nhìn thấy lời hứa, những
thành quả đầu tiên của hạnh phúc vinh
quang của chính chúng ta. Trong sự kiện
Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, chúng ta hân
hoan mừng đặc ân của Người và vinh quang
được hứa cho chúng ta. Mầu nhiệm Đức
Maria Hồn Xác Lên Trời là một mầu nhiệm
của và cho toàn thể Giáo Hội. ‘Nơi Đức
Trinh Nữ rất thánh, Giáo Hội (đã) đạt
tới sự toàn thiện không tì ố, không vết
nhăn’ (theo Eph 5:27).”
[1] “Chúng ta nghĩ rằng Đức
Maria, Đấng đã đi trước Giáo Hội bằng
đức tin, đã đi trước Giáo Hội trong việc
kết hiệp với Chúa Kitô, đã hiện diện với
Chúa Kitô
khi sinh ra Giáo Hội
nhiệm tích và phẩm trật, cũng đã đi
trước Giáo Hội trong hạnh phúc vĩnh
cửu." [1]
Sau đây chúng ta đề
cập tới những hoài nghi thường được nói
về tín điều này.
14.- Mẹ Maria hồn xác
lên trời:
Tín điều Mẹ
Maria hồn xác lên trời không căn cứ vào Ngụy Kinh
Nghi Vấn: Nhiều người
hoài nghi niềm tin Công Giáo về “Mẹ
Maria hồn xác lên trời” nhắc lại lập
luận của Victor Buksbazen: “Không có
chứng tích hùng hồn nào về cuộc đời và
cái chết của Đức Maria, mà chỉ có những
huyền thoại [1]
được gọi là ‘ngụy kinh = apocrypha’, là
sự tưởng tượng quá đáng tạo ra nhiều
huyền thuyết."
Ý kiến của Karl Rahner
cũng được nói đến trong lập luận nghi
vấn “Đức Maria hồn xác lên trời” như
sau: "Không có điều gì có giá trị lịch
sử trong những truyền thuyết ngụy kinh
đầy dẫy những phép lạ kỳ quái, lố bịch,
được viết ra cách trơ trẽn và bao gồm
thần học ngờ nghệch.”[1]
Dẫu vậy các sử gia nhìn nhận các ngụy
kinh đó là nguồn gốc phát xuất tín điều
“Đức Maria Hồn Xác Lên Trời."
[1]
Góp Ý: Chúng tôi nghĩ
sử gia không có thẩm quyền đưa ra những
nhận xét (= phê phán) về thần học vì
không phải là lãnh vực của các vị đó.
Tín điều Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời là
một cứ điểm (datum) thần học và phải
được chứng minh hoặc bác bỏ trên căn bản
thần học chứ không trên căn bản sử học.
Có hoặc không có bằng chứng sử liệu thì
hoàn toàn không thích đáng thảo luận ở
đây.
Đức Piô XII không đề
cập tới Ngụy Kinh khi minh định tín điều
Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời. Công Đồng
Vatican II cũng không nói tới Ngụy Kinh
khi minh xác Thiên Chúa Ba Ngôi đã đưa
Mẹ Maria cả hồn xác về Thiên Đàng. Tín
điều và định nghĩa tín điều này không
căn cứ vào Ngụy Kinh.
Điểm đáng chú ý duy
nhất là "các ngụy kinh (apocrypha) làm
chứng một niềm tin phổ thông giữa các
tín hữu [thế kỷ thứ năm] vào tín điều Mẹ
Maria Hồn Xác Lên Trời."[1]
Các ngụy kinh phát xuất từ niềm tin này,
chứ niềm tin không phát xuất từ ngụy
kinh.
* Học giả Thomas Mozley
thuộc Anh Giáo viết, "Niềm tin Đức Maria
Hồn Xác Lên Trời không khi nào được xây
dựng trên ngụy kinh. Ngụy kinh được xây
dựng trên niềm tin đó (= Đức Maria Hồn
Xác Lên Trời). Niềm tin phổ thông đó đòi
phải có một hình thức rõ ràng, và hình
thức đó sau cùng đã tìm được."
[1]
* J. Carol viết: "Ngụy
Kinh không có giá trị lịch sử. Nhưng
Ngụy Kinh là bằng chứng những giải đáp
rõ rệt đầu tiên vấn đề hạnh phúc đời đời
của Đức Maria. Những giải đáp đó cho
thấy cách xác thực sự hiểu biết sâu sắc
của Kitô hữu: Nếu thân xác Đức Maria mà
phải bị hư nát thì không chính đáng.
Quan trọng hơn nữa, giải đáp được đưa ra
là thân xác Đức Maria không bị hư nát
được coi là đúng theo các qui tắc thần
học: Các nguyên tắc của giải đáp này là
Tính Cách Mẹ Thiên Chúa, Sự Trinh Khiết
vô song và Sự Thánh Thiện vô song của
Người." [1]
** Thêm nữa, thánh sử
Mátthêu ghi sự việc đặc biệt khi Chúa
Cứu Thế trút hơi thở trên thánh giá:
“... Mồ mả bật tung, và xác nhiều vị
thánh đã an nghỉ được sống lại. Sau khi
Chúa sống lại, các ngài ra khỏi mồ, vào
thành thánh và hiện ra với nhiều người”
(Mt 27:51-53). Các thánh nhân này đã
phục sinh. Chắc chắn! Mặc dầu thánh
Mátthêu không nói rõ các thánh đã phục
sinh này phải chết trở lại hoặc được
theo Chúa Kitô Khải Hoàn lên thiên đàng,
chúng ta có thể tin Chúa đã cho các ngài
cả hồn xác theo Chúa lên thiên đàng để
đặc biệt ân thưởng các ngài. Như thế các
thánh này được ở thiên đàng cả hồn xác.
Đối với một số thánh nhân được như thế,
thì không thể nào tin Chúa Giêsu không
rước Hiền Mẫu rất yêu dấu của Chúa cả hồn
xác lên thiên đàng. Vì Mẹ Maria được
Thiên Chúa Ba Ngôi yêu thương đặc biệt;
Mẹ yêu mến, tuân theo, phục vụ Chúa tận
tụy hơn toàn thể các thụ tạo có thể làm.
...
Chúa Cứu Thế chỉ không
rước Đức Hiền Mẫu Maria cả hồn xác lên
thiên đàng nếu Chúa không phải là Thiên
Chúa toàn năng yêu thương và hiếu thảo
vô cùng.
15.- Mẹ Maria hồn xác
lên trời (tiếp theo):
Truyền Thống =
Khẩu Truyền
Trước khi đi vào chi
tiết của đề tài này, chúng ta học hỏi
giáo huấn số 55, Chương VIII, Hiến Chế
Tín Lý về Giáo Hội, Thánh Công Đồng
Chung Vatican II.
II. VAI TRÒ ĐỨC TRINH
NỮ
TRONG NHIỆM CỤC CỨU RỖI
Mẹ Đấng Cứu Thế trong
Cựu Ước
(gh 55) Thánh Kinh,
Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh
Truyền đáng kính, trình bày ngày một
sáng tỏ hơn vai trò của Mẹ Đấng Cứu Thế
trong nhiệm cuộc cứu rỗi và đưa vai trò
ấy ra cho chúng ta chiêm ngắm. Thực vậy,
các sách Cựu Ước thuật lại lịch sử cứu
rỗi, trong đó ngày Chúa Kitô xuất hiện
trên thế giới được chuẩn bị cách tiệm
tiến. Các tài liệu tiên khởi này, như
Giáo Hội vẫn đọc và về sau hiểu theo ánh
sáng mạc khải trọn vẹn, dần dần cho thấy
rõ ràng hơn hình ảnh của người nữ, Mẹ
Đấng Cứu Thế. Theo ánh sáng mạc khải ấy,
người nữ này đã được phác họa trước
trong lời hứa chiến thắng con rắn, lời
hứa mà Nguyên Tổ đã nhận được sau khi
phạm tội (x. Stk 3:15). Cũng thế, Người
là Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh Con Trai
tên là Emmanuel (x. Is 7:14; Mik 5:2-3;
Mt 1:22-23). Người trội vượt trên các
người khiêm nhượng và khó nghèo của
Chúa, là những người tin tưởng hy vọng
và lãnh nhận ơn cứu độ nơi Chúa. Cuối
cùng sau thời mong đợi lời hứa được thực
hiện, thời gian đã nên trọn và Nhiệm
Cuộc mới được thiết lập với Người, người
Thiếu Nữ Sion cao sang khi Con Thiên
Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi
Người để giải thoát con người khỏi tội
lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác
Chúa.”
Công Đồng Vatican II
theo sát lịch sử cứu độ như thấy trong
Cựu Ước để chúng ta thấy rằng người phụ
nữ làm Mẹ Chúa Kitô trong Phúc Âm cũng
là Mẹ Thiên Chúa mà chúng ta nhận biết
qua thần học và qua việc tôn kính của
các dân Kitô giáo. Giáo Hội trình bày
một “bản tiểu sử” về Người Phụ Nữ, dựa
trên toàn thể chứng từ được linh ứng của
Mạc Khải và bằng chứng của đời sống Giáo
Hội.
Sau đây chúng tôi trở
lại với chi tiết của chủ đề.
Nghi Vấn: Chúng tôi có
lần nghe nói: "Điều sai lầm của Giáo Hội
Công Giáo là coi các truyền thống đồng
hàng với Lời Thiên Chúa."
Và nghi vấn: "Phải
chăng Lời Thiên Chúa đồng hàng và cùng
một nghĩa với Sách Thánh (Phúc Âm ký
sự)? Phải chăng chỉ Chỉ Duy Sách Thánh
(Sola Scriptura) là Lời Thiên Chúa và
toàn thể kho tàng mạc khải của Chúa?"
[1]
Góp Ý: Lời Thiên Chúa
và kho tàng mạc khải được tích
chứa trong Phúc Âm Ký Sự (Ký Truyền) và
Truyền Khẩu (Truyền Thống); không phải
Chỉ Duy Sách Thánh (Sola Scriptura) là
lời Thiên Chúa và kho tàng mạc khải.
[1]
Trong thơ thứ hai gởi
giáo đoàn Thessalônica, thánh Phaolô
nói:
"Thiên Chúa cũng đã
dùng Tin Mừng chúng tôi loan báo mà kêu
gọi anh chị em để anh chị em được hưởng
vinh quang của Chúa Giêsu Kitô Chúa
chúng ta. Vì thế, thưa anh chị em, anh
chị em hãy đứng vững và nắm giữ các
"truyền thống" chúng tôi đã dạy anh chị
em, bằng "lời nói" hoặc bằng "thơ từ" (2
Thes 2:14-15).
Ở đây, thánh Phaolô
đồng hóa giá trị Lời Thiên Chúa mà ngài
giảng dạy với "truyền thống". Như thế,
thánh Tông Đồ phân biệt và chia các
truyền thống này thành hai: "Khẩu Truyền
(Truyền Thống)" và "Thơ (Ký Truyền)", mà
"Ký Truyền" dần dần được Giáo Hội nhìn
nhận là "Sách Thánh".
* Khước từ giáo huấn
này của Phúc Âm minh chứng giá trị bằng
nhau giữa "Khẩu Truyền" và "Ký Truyền =
Sách Thánh" là điều sai lầm. Và thêm
nữa, người ta cũng quên: "Khẩu Truyền
(Truyền Thống)" giữ vai trò đặc biệt
quan trọng trong đời sống Giáo Hội sơ
khai vì các Kitô hữu tiên khởi cho tới
khoảng năm 51 sau Công Nguyên không hề
có sách vở nào về Tân Ước, vì các sách
đó chưa được viết ra. Dĩ nhiên, các Kitô
hữu tiên khởi trong giai đoạn này có Cựu
Ước, nhưng toàn thể các lời Chúa Giêsu
giảng dạy và những điều về Chúa Giêsu
được duy trì dưới hình thức (= dạng)
"Khẩu Truyền (Truyền Thống)”.
* Giáo Hội, thời đó
cũng như ngày nay, coi "Khẩu Truyền
(Truyền Thống)" có giá trị là Lời Thiên
Chúa. "Truyền Thống (Khẩu Truyền)" của
Giáo Hội thời đó chính là Giao Ước Mới
của Thiên Chúa. Khi Tân Ước được thành
hình (viết ra) đã phải được Giáo Hội
nhìn nhận. Việc này đã đòi hỏi một thời
gian dài.
* Sách Thánh không đặt
các qui điển của chính Sách Thánh - mà
Giáo Hội đã làm việc này. Chúng ta không
tìm thấy nơi bất cứ sách nào thuộc Cựu
Ước và Tân Ước nguyên tắc "Chỉ duy Sách
Thánh (sola scriptura)" là nguồn mạc
khải duy nhất. Nguyên tắc sola scriptura
(chỉ duy sách thánh) đã bị thánh Phaolô
lên án:
"Tôi ngạc nhiên khi
thấy anh chị em trở mặt mau lẹ như thế
với Đấng đã kêu gọi anh em nhờ ân sủng
của Chúa Kitô để theo một Tin Mừng khác.
Không có Tin Mừng nào khác, mà chỉ có
một số người phá rối anh chị em, và muốn
làm xáo trộn Tin Mừng của Chúa Kitô.
Nhưng nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc
một thiên thần từ trời xuống, loan báo
cho anh chị em Tin Mừng khác với Tin
Mừng anh chị em đã nhận, thì xin Thiên
Chúa loại trừ kẻ đó! Vậy, giờ đây tôi
tìm cách lấy lòng người đời, hay lấy
lòng Thiên Chúa? Phải chăng tôi tìm cách
lấy lòng người đời? Nếu tôi còn muốn làm
đẹp lòng người đời, thì tôi không phải
là tôi tớ của Đức Kitô" (Gal 1:6-10).
16.- Mẹ Maria hồn xác
lên trời (tiếp theo):
Huấn Quyền
của Giáo Hội
Nghi Vấn: Một nghi vấn
khác liên quan tới Ký Truyền và Khẩu
Truyền là: “Giáo Hội Công Giáo tuyệt đối
hóa cả Sách Thánh và Truyền Thống (Khẩu
Truyền) và dành quyền tuyệt đối giải
thích Sách Thánh bằng việc xác định tín
điều, đặc biệt là tín điều Đức Maria Hồn
Xác Lên Trời.”
[1]
Góp Ý: Nếu trong thời
gian sơ khai Giáo Hội đã tuyệt đối hóa
việc giải thích của mình, (là) những
giải thích do các nhà giáo huấn chính
thức của Giáo Hội, tức là của các thánh
Tông Đồ đưa ra, thì đương nhiên ngày nay
Giáo Hội cũng phải làm như thế. Chúng ta
cần nhớ rõ Kho Tàng Mạc Khải được hoàn
tất với cái chết của thánh Tông Đồ cuối
cùng. Từ ngày đó Giáo Hội không đưa ra
một giáo lý (tín điều) nào mới, mà chỉ
khai triển những điều hàm chứa trong mạc
khải đã được ký thác cho các thánh Tông
Đồ. Giáo Hội chỉ lấy từ kho tàng Sách
Thánh ra cả những điều cũ (= đã biết) và
điều mới (biết = mới lộ ra/mới hiểu ra)
(theo Mt 13:52).
* Ngay từ khởi đầu, do
Huấn Quyền của mình từ nơi các thánh
Tông Đồ trao lại cho các Đấng Kế Vị,
Giáo Hội đã khai triển mọi tiềm ý của
tín điều và tuyệt đối hóa các Truyền
Thống (của mình). Cần nhớ rằng từ khởi
đầu Giáo Hội tức là từ ngày Chúa Thánh
Thần ngự xuống, Giáo Hội chỉ có Khẩu
Truyền về Chúa Kitô và các giáo huấn của
Chúa, cho tới khi các Sách Phúc Âm được
viết ra.
* Xin đọc Công Vụ
Tông Đồ các chương 10, 11 và 15, sơ lược
sau đây:
"Ông (Phêrô) thấy trời
mở ra và một vật gì sà xuống, trông như
một tấm khăn (lưới) lớn buộc (túm) bốn
góc, đang được thả xuống. Trong đó có
mọi giống vật bốn chân và rắn rết
sống trên đất, cùng mọi thứ chim trời.
Có tiếng phán bảo ông: 'Phêrô, đứng dậy,
làm thịt mà ăn!" Ông Phêrô thưa: 'Lạy
Chúa, không thể được, vì không bao giờ
con ăn những thứ ô uế và không sạch'.
Lại có tiếng phán bảo ông lần thứ hai:
'Những thứ gì Thiên Chúa đã tuyên bố là
sạch, thì ngươi chớ gọi là ô uế'. Việc
ấy xảy ra ba lần, và lập tức vật ấy được
đưa lên cao" (CvTđ 10:11-14).
Thánh Phêrô suy nghĩ
về thị kiến này. Ngài nhận ra trong thị
kiến này Thiên Chúa bãi bỏ luật về những
gì bị coi là không sạch của người Do
thái. Kế đó ngài tiếp phái đoàn đại diện
Dân Ngoại, được gởi tới thỉnh cầu ngài
đến nhà viên sĩ quan bách quân
Cornelius, một Dân Ngoại (theo CvTđ
10:17-23). Thánh Phêrô trở nên kiểu mẫu
và hình ảnh về Huấn Quyền của Giáo Hội
khi Giáo Hội suy nghĩ và giải thích ý
nghĩa các mạc khải.
* Tại sao thánh Phêrô
đi với họ, mặc dầu luật cấm người Do
thái hợp tác với hoặc thăm viếng (một)
Dân Ngoại (theo CvTđ 10:28)? Thánh Phêrô
đã đi vì "Thiên Chúa đã cho tôi thấy
rằng tôi không được coi bất cứ ai là
không sạch" (CvTđ 10:28). Thánh Phêrô
dấn thân vào việc khai triển tín lý. Do
quyền tông đồ của mình, thánh Phêrô rút
ra từ hàm ý của thị kiến liên quan đến
súc vật rằng “không một ai là không
sạch.”
Về sau tại Jerusalem,
các Kitô hữu gốc Do thái lên án thánh
Phêrô (theo CvTđ 11:2-5); ngài giải
thích những sự việc đã xảy ra khiến họ
im tiếng. Mọi sự việc được kể lại trong
Công Vụ Tông Đồ chương 10 và 11 kế tiếp
xảy ra đều được tiến hành theo Khẩu
Truyền (Truyền Thống). Ghi chép các việc
đó dưới ánh sáng thần linh, như thánh
Luca về sau đã làm, không tăng thêm giá
trị tính cách hữu hiệu của các sự việc
đó.
* Khẩu Truyền và Ký
Truyền đồng giá trị, ngày đó cũng như
ngày nay. Công Vụ Tông Đồ chương 10 và
11 cho thấy rằng chối bỏ Truyền Thống
(Khẩu Truyền) là phi phúc âm.
* Công Vụ Tông Đồ
chương 15 là một hỗn hợp Khẩu Truyền và
Ký Truyền. Có rất nhiều bàn cãi về Khẩu
Truyền, mà thánh Luca dệt thành bản ký
thuật của ngài, và bản ký thuật đó trở
thành Ký Truyền hoặc Sách Thánh.
17.- Mẹ Maria hồn xác
lên trời (tiếp theo):
Thiên Chúa Ba
Ngôi đưa Đức Maria cả hồn xác lên trời là điều thích hợp
Nghi Vấn: Một lập luận
hoài nghi khác về tín điều Đức
Maria hồn xác lên trời là: "Căn bản đích
thực của tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên
Trời là một hình thức lý luận thường
được ngành thần học Công Giáo sử dụng
... Thiên Chúa có thể làm mọi sự; Đức
Maria phải được đưa cả Hồn Xác Lên Trời
là điều thích hợp; vì thế, Thiên Chúa đã
làm việc đó."
[1]
Góp Ý: Lập luận trên
đây là sự chống đối "lý lẽ của sự thích
đáng” vì dựa trên căn bản: những nhà
thần học nào sử dụng “lý lẽ của sự thích
đáng” tự cho rằng họ biết điều gì thích
hợp với Thiên Chúa, trong khi những
đường lối của Thiên Chúa thì không phải
là những đường lối của loài người (theo
Is. 55:8-9).
[1]
Chúng ta phải tôn trọng
lý luận phát xuất từ tính chất thích hợp
có nguồn gốc. Lý luận đó rõ ràng trong
chính Phúc Âm, chẳng hạn như trong thơ
thánh Phaolô:
"Quả thế, chính vì
Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích
mọi loài, muốn đưa muôn vàn con cái đến
vinh quang, nên đã làm một việc thích
đáng, là cho Đức Giêsu trải qua gian khổ
mà trở thành vị lãnh đạo thập toàn, dẫn
đưa họ tới nguồn ơn cứu độ" (Dt 2:10);
và
"..., đó chính là vị
Thượng Tế mà chúng ta cần đến: một vị
Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội,
tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng
cao vượt các tầng trời" (Dt 7:26).
* Hơn nữa, lý luận
được sử dụng đúng, không những chỉ là
một bằng chứng quan trọng của tín điều,
mà còn có khả năng thuyết phục hùng hồn
về một tín điều đã được chấp nhận. Tính
cách hợp lý không do các nhà thần học
sáng chế, mà do Chúa Thánh Linh hoạt
động trong Giáo Hội đưa ra, hướng dẫn
Giáo Hội tới toàn chân lý:
"Giáo Hội nhìn thấy Tín
Điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời ... cách
rõ ràng trong ý niệm toàn vẹn về chức
năng Mẹ Thiên Chúa. 'Giáo Hội thấy điều
đó, không phải chỉ là kết quả của lý
luận, không phải chỉ thuần túy thích
hợp, mà là một yếu tố của phép lạ trong
các phép lạ mà Thiên Chúa muốn cho Mẹ
của Chúa được hưởng. Giáo Hội thấy việc
Đức Maria Hồn Xác Lên Trời bằng tri thức
siêu nhiên được Chúa Thánh Thần Đấng ngự
trong Giáo Hội soi dẫn."
[1]
" Khi minh định một
chân lý, Giáo Hội không dựa vào qui mục
lý luận của loài người, nhưng nhờ sự
hướng dẫn của Chúa Thánh Linh mà nhận
thức rõ chân lý. ... Giáo Hội đưa ra
điều giải thích rõ ràng siêu nhiên phát
xuất từ đức tin, ân sủng, và ơn Chúa
Thánh Thần, một hiểu biết siêu nhiên có
khả năng làm cho các tín hữu (hiệp thông
với Giáo Hội) nhận thức rõ những hàm ý
trong mạc khải được Huấn Quyền (của Giáo
Hội) đưa ra (cho người tín hữu)."
[1]
* Kitô hữu Công Giáo
chấp nhận những chỉ dạy của Huấn Quyền
vì chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô và
tin vào những lời Chúa hứa với chúng ta
về công việc của Chúa Thánh Linh làm
trong Giáo Hội:
"Đấng Bầu Cử, Chúa
Thánh Linh, mà Thiên Chúa Cha sẽ gởi đến
nhân danh Thầy, Ngài sẽ dạy anh em mọi
điều và nhắc anh em nhớ tất cả các điều
Thầy đã nói với anh em" (Gioan 14:26);
. . .
"Khi Chúa Thánh Linh,
Thần Chân Lý, đến, Ngài sẽ hướng dẫn anh
em tới toàn chân lý" (Gioan 16:13);
. . .
"Người nào nghe lời
anh em là nghe lời Thầy; người nào khước
từ anh em là khước từ Thầy" (Lc 10:16).
* Chúa Giêsu long
trọng hứa:
"... các cửa hỏa ngục
không khi nào thắng được Giáo Hội của
Thầy" (Mt 16:18). Lời hứa này hẳn đã
không tròn nếu Giáo Hội đã từng hoặc có
thể sai lầm về giáo lý (Kitô).
Nếu như Chúa Giêsu đã
không có thể, đã không, hoặc chẳng khi
nào có ý định giữ các lời Chúa đã hứa,
mà để cho Giáo Hội của Chúa sai lầm bất
cứ điều gì về giáo lý hoặc luân lý, thì
hẳn phải xét lại quyền năng (của Chúa),
sự tốt lành (của Ngài), sự chân thành
(của Ngài), và nhất là Thiên Tính của
Ngài.
* Thánh Phaolô dạy Giáo
Hội của Thiên Chúa hằng sống là cột trụ
và nền tảng của chân lý:
“Tôi viết cho anh
những điều này, tuy vẫn tin rằng tôi sẽ
sớm đến thăm anh. Nhưng nếu tôi bị trì
hoãn, thì tôi viết thế để anh biết phải
cư xử như thế nào trong Nhà Thiên Chúa
tức là Hội Thánh của Thiên Chúa hằng
sống, cột chống và tường móng cho sự
thật” (1 Tim 3:14-15).
* Thánh Phaolô dạy mối
liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội là
mối liên hệ của chàng rể và cô dâu:
“Vì chồng là đầu của
vợ, cũng như Chúa Kitô là đầu của Hội
Thánh, và Ngài là Đấng Cứu Độ của thân
mình. Dù sao, như Hội Thánh tòng phục
Chúa Kitô, thì người vợ cũng hãy phục
tòng chồng như vậy trong mọi sự! Chồng
hãy yêu mến vợ, cũng như Đức Kitô đã yêu
mến Hội Thánh, và đã nạp mình, ngõ hầu
tác thánh Giáo Hội, thanh tẩy Giáo Hội
bằng nước và lời, hầu (tự) đem lại cho
chính Chúa một Hội Thánh quang vinh,
không tì ố không vết nhăn, hoặc chút gì
như thế..... Đó là một mầu nhiệm lớn,
tôi muốn nói Chúa Kitô và Hội Thánh”
(Eph 5: 23-32).
Giáo huấn này đúng,
Sách Thánh không thể sai: “Giáo Hội
phải phục tùng Chúa Kitô" (Eph 5:24) –
không phải là “đã” hoặc “có thể” hoặc
“đã phải” - mà là “phải”, “luôn luôn
phải”. "Chúa Kitô nuôi dưỡng và chăm sóc
Giáo Hội như chính mình Ngài" (Eph
5:29). Chúa Kitô và Giáo Hội là một.
* Sáng Thế Ký 2:24
nói: "hai người trở nên một xương một
thịt," được dùng chỉ giao ước giữa vợ
chồng, có ý nghĩa toàn thành và tuyệt
đối trong sự kết hiệp giữa Chúa Kitô và
Giáo Hội của Ngài. "Mầu nhiệm" cao cả
này là giao ước hôn nhân giữa Chúa Kitô
và Giáo Hội (của Chúa) (Eph 5:32).
* Chúng tôi kết luận tiểu
đề này bằng lời của Cyril Vollert trong
“A Theology of Mary”: "Chúa Thánh Linh,
Đấng mạc khải cho các thánh Tông Đồ, sau
đó luôn trợ giúp Giáo Hội, để Giáo Hội
nhớ toàn bộ chân lý, thấm nhuần sâu xa
vào chân lý, và chỉ giảng dạy chân lý."
|