MLCN BácÁi
Hội Viên ÝKiến
Hìnhnh  VuiCười
LờiChứng TĐiển
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu LưuBút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu TViện Audio
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GiảiĐápThắcMắc
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHost Nối Kết
 

MỤC LỤC:

- Lời Giới thiệu, cám tạ

- Trước khi vào đề

- Chương 01
- Chương 02
- Chương 03
- Chương 04
- Chương 05
- Chương 06
- Chương 07
- Chương 08
- Chương 09
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12

 

MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi

 CHƯƠNG 11

    THIÊN CHÚA CHIA SẺ VINH QUANG VỚI THỤ TẠO

   Chúng ta dùng giáo huấn số 66 và 67, Chương VIII, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Thánh Công Đồng Vatican II soi sáng chủ đề này. Giáo huấn số 66 đã được nhắc tới hai lần, nhưng chúng tôi cố ý lặp lại để ý trình bày được liên tục.    

   ‘IV. VIỆC TÔN KÍNH ĐỨC MARIA TRONG GIÁO HỘI.

   Bản tính và nền tảng của việc tôn kính Đức Mẹ

(gh 66)    Nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh, sau Con của Người, vượt trên hết các thiên thần và loài người, vì Người là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và đã tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Kitô, do đó Người đáng được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính. Thực vậy, từ những thời rất xa xưa, Đức Trinh Nữ  đã  được tôn kính dưới tước hiệu ‘Mẹ Thiên Chúa’, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Người trong mọi cơn gian nan khốn khó. ...

(Xin đọc giáo huấn số 66 đầy đủ ở Phụ Bản 1)

*

   Lời chú giải giáo huấn số 66:

   Nền tảng việc tôn kính Đức Maria do việc Mẹ Thiên Chúa được gắn liền với mầu nhiệm cứu rỗi của Chúa Kitô. Vì Đức Maria được dự phần vào mầu nhiệm này hơn bất cứ người nào khác, nên Giáo Hội đặc biệt tôn kính Mẹ. Việc tôn kính – bản chất của việc sùng mộ – được gọi là đặc biệt (so sánh với việc tôn kính cách thánh), nhưng xét theo yếu tính thì hoàn toàn khác với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa.

(Xin đọc chú giải giáo huấn 66 đầy đủ ở Phụ Bản 1)

   *

   Chiều hướng mục vụ

   (gh 67)  “Thánh Công Đồng có ý dạy giáo lý công giáo đó, đồng thời Giáo Hội cũng khuyến khích hết mọi con cái nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Trinh Nữ, nhất là trong phụng vụ, coi trọng những việc thực hành và việc đạo đức nhắm suy tôn Người và đã được quyền Giáo Huấn của Giáo Hội cổ võ qua các thế kỷ, cũng như kính cẩn tuân giữ các quyết định của các thời đại trước liên quan đến việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ và các thánh. ... “

(Xin đọc giáo huấn  67 và chú giải  đầy đủ ở Phụ Bản 1)

  Sau đây chúng ta sơ lược chi tiết của chủ đề.

  A.- THIÊN CHÚA CHIA SẺ VINH QUANG

   39.-   Biệt kính Mẹ Maria và kính các thánh 

 Nghi Vấn:  Những lập luận nghi vấn việc “biệt kính” Mẹ Maria và “kính” các thánh viện dẫn lời trong tiên tri Isaiah: Thiên Chúa nói rõ rằng “không một thụ tạo nào được tôn vinh trước mặt Ngài, Ngài không chia sẻ vinh quang của Ngài với bất cứ ai" (theo Isaiah 42:8).

   Góp Ý.-   Nguyên văn trong Isaiah 42:8 là: "Chính ta là Yavê, đó là Danh Ta, vinh quang của Ta, Ta sẽ không ban cho người khác, cũng không ban vinh quang của Ta cho các thần tượng." Thiên Chúa không dung thứ việc cạnh tranh, Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Lời trong Isaiah 42:8 bác bỏ thuyết đa thần và ngẫu (= tà) thần.

   Theo lời quả quyết của lập luận “Không biệt kính Đức Maria và không kính các thánh”, thì có phải rõ ràng là Thiên Chúa không chia sẻ vinh quang của Ngài với bất cứ người nào khác không?

   Hiển nhiên, chỉ có một vinh quang Thiên Chúa mà đó là chính bản tính Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, Ngài không chia sẻ với bất cứ thụ tạo nào. Không một ai ngoại trừ Thiên Chúa là Thiên Chúa. Nhưng, (theo) một cách giới hạn, Thiên Chúa chia sẻ vinh quang của Ngài bằng việc chia sẻ bản tính của Ngài với các con cái được thừa nhận của Ngài là các anh chị em của Trưởng Tử của Ngài (Rom 8:29).

   Thánh Phêrô dạy: "Thật vậy, Đức Kitô đã lấy thần lực của Ngài mà ban tặng chúng ta tất cả những gì giúp chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Ngài cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quí báu và trọng đại Ngài đã hứa, để nhờ đó, anh chị em được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian" (2 Phêrô 1:3-4). Thánh Phaolô nói: "Cho nên, phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã bắt đầu rồi" (2 Cor 5:17).

   Sách Thánh dạy rằng Thiên Chúa ban vinh quang này cho con cái của Ngài:

   "Chính Yavê Thiên Chúa là thái dương, là khiên mộc, Ngài ban diễm lệ vinh quang, Ngài không nỡ khước từ hạnh  phúc  cho  những  ai  bước  đi  trọn lành" (ThV 84:12); 

  "Jerusalem  sẽ  là  mối hoan lạc, là lời ngợi khen, là trang điểm của Ta giữa mọi nước trên trần thế, khi chúng nghe biết tất cả phúc lành ta làm cho Jerusalem, chúng sẽ phải kinh khiếp rụng rời vì tất cả phúc lành và tất cả  sự  thịnh  vượng  Ta làm cho nó" (Jer 33:9); "...

  Ta sẽ thiết lập ơn cứu độ của Ta tại Jerusalem, và cho Israel vinh hiển của Ta" (Isaiah 46:13).

   Vì thế Giáo Hội Chúa Kitô nhận được ơn cứu độ và vinh hiển của Chúa, vì Giáo Hội là Jerusalem mới, là Israel mới (Gal 6:16; KhH 21:2,12, 3:12).

  Và chính Chúa Giêsu long trọng hứa chia sẻ vinh quang của Chúa với các môn đệ:

   “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22:28-30).

  *

   Kết luận: Toàn thể chương trình cứu độ của Thiên Chúa liên quan tới việc Ngài chia sẻ vinh quang (của Ngài) với những người được cứu độ và con cái được thừa nhận của Ngài. Chúng ta chúc mừng và kính các thánh trên trời, cầu xin các ngài, cùng với các ngài cầu nguyện xin Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và Chúa Thánh Linh. Thánh Phaolô dạy: "Anh chị em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh chị em trở nên xứng đáng chung hưởng gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng" (Col 1:12).

    Việc chúng ta “biệt kính” Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta, và “kính” các thánh là anh chị em của chúng ta, thì hoàn toàn vững chắc, khiêm tốn, và biết ơn, vì chúng ta đều biết cho dù Kitô hữu thánh thiện nhất và nhiệt thành nhất ở trần thế không thể nào tôn vinh các ngài nhiều bằng Thiên Chúa đã tôn vinh các ngài.

40.-   Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

          Việc mộ mến Mẹ Maria có căn bản từ Phúc Âm

 Nghi Vấn:  Nghi vấn đối với các giáo lý Công Giáo liên quan đến Mẹ Maria cho rằng những lời trong Phúc Âm ca tụng Mẹ Maria: "Kính mừng, Đấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà"  (Lc 1:28) và "Bà có phước hơn mọi phụ nữ và phúc thay hoa trái của lòng Bà" (Lc 1:42), không đưa ra bằng chứng Phúc Âm xác thực cho việc Kitô hữu Công Giáo mộ mến Đức Maria. (Dĩ nhiên, khi kết hợp, hai câu này tạo thành phần thứ nhất của kinh Kính Mừng Maria.) Và khẳng định "Sự kiện Giáo Hội Công Giáo đã dùng những lời này cho mục đích cầu nguyện sùng tín không chứng minh rằng những lời đó nguyên thủy được nói lên theo cũng tinh thần đó. Những lời đó chỉ được dùng để minh định ý định chắc chắn là hướng đến việc tôn thờ."[1]

  Góp Ý:  Từ ngày Lễ Hiện Xuống, khai sinh Giáo Hội, theo lời Chúa Giêsu hứa, Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn Giáo Hội:

   “Chúa Thánh Thần dạy chúng ta mọi điều và nhắc chúng  ta  nhớ  mọi  điều  Chúa  Giêsu  đã  dạy”  (theo Gioan 14:26).

   “Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta tới toàn chân lý” (theo Gioan 16:13).

     Vì thế, chắc chắn là Chúa Thánh Thần đã đem đến cho Giáo Hội ý thức sâu xa các ý nghĩa của Phúc Âm hơn là chính các tác giả Sách Thánh đã được hưởng.

   Hiển nhiên thánh Luca minh xác sự tôn kính đặc biệt đối với Mẹ Maria bằng ý thức sâu xa hơn khi ngài ghi lại lời Thiên Sứ:

   “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ” (Lc 1:28),

  “(Bà Elisabeth...,) liền lớn tiếng nói: ‘Em được chúc phúc hơn mọi phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến viếng thăm thế này?” (Lc 1:42-43).

**

  Chúng ta chia sẻ một vài ý nhỏ sau đây về phần I kinh Kính Mừng Maria mà nghi vấn nêu ở trên và về kinh Mân Côi.

* Phần thứ I kinh Kính Mừng Maria là tóm gọn Mầu Nhiệm Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể như được tường thuật trong Luca 1:26-55: “Kính mừng Maria, đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi phụ nữ và Giêsu Con lòng Bà gồm phúc lạ.”

  Với nội dung này, chúng ta nhắc lại lời Thiên Sứ Gabriel khi loan báo thánh ý Thiên Chúa cho Mẹ Maria; Mẹ Maria vâng thuận sau khi Mầu Nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể được làm sáng tỏ; và Chúa Ngôi Hai nhập thể trong lòng dạ trinh khiết của Mẹ.

*  Thoáng thấy phần thứ I kinh Kính Mừng, người ta nghĩ ngay đến mục đích ca tụng Mẹ Maria. Nhưng đi sâu vào diễn tiến, mục đích và kết quả, người ta nhận ra mục đích cao cả của lời chào mừng loan báo thánh ý Thiên Chúa do thiên sứ Gabriel đưa tới. Kết quả là Mẹ Maria vâng thuận.  Kết quả vô cùng quan trọng vô cùng lạ lùng của việc Mẹ Maria vâng thuận là Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thế làm người trong lòng dạ trinh khiết Mẹ. Một biến cố vô cùng vĩ đại, sự việc vô cùng lạ lùng, khởi đầu Công Cuộc Cứu Chuộc, làm hòa nhân loại với Thiên Chúa, nhưng diễn ra âm thầm.

  Qua phần I kinh Kính Mừng Maria, chúng ta ca tụng và cám ơn Mẹ Maria, vì lời Mẹ “xin vâng” mà Chúa Ngôi Hai xuống thế làm người cứu chuộc chúng ta và, nhờ Chúa Cứu Thế, chúng ta lại có Phước Thiên Đàng.

  Điều quan trọng nữa là, nhờ Mẹ Maria, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi trong việc Chúa Ngôi Hai nhập thể. Mẹ Maria luôn chuyển dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi mọi lời chúc tụng Mẹ như Mẹ đã làm, Mẹ đã qui mọi vinh quang về Thiên Chúa. Chúng ta sơ lược sự việc sau khi bà Elisabeth ca tụng Mẹ Maria trong Lc 1:39-55:

  ... Bà Elisabeth được tràn đầy Thánh Thần, liền lớn tiếng nói: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến viếng thăm thế này? ... Em thật có phúc, vì đã tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài nói với Em.”

 Bấy giờ Đức Maria nói:

  •  “ Linh hồn tôi ngợi khen Chúa
  •  thần trí tôi hớn hở vui mừng
  •   vì Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi;
  •  Phận nữ tỳ hèn mọn,
  •  Ngài đoái thương nhìn tới;
  •  từ nay, hết mọi thế hệ
  • sẽ khen tôi diễm phúc.
  • Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
  • những điều vô cùng cao cả,
  • danh Ngài thật chí thánh chí tôn!
  • Đời nọ đến đời kia,
  • Chúa hằng xót thương những người kính sợ Ngài. “ (Lc 1:39-55)

  Mẹ Maria đã qui mọi ân sủng, hạnh phúc về Thiên Chúa, và biến lời chúc tụng Mẹ thành lời tạ ân dâng lên Thiên Chúa như Mẹ đã làm. Mẹ cũng tiếp tục làm như vậy khi con cái ở trần gian dâng lời tạ ơn và chúc tụng lên Mẹ.

*  Kinh Mân Côi chính là cuộc đời Chúa Cứu Thế và Mẹ Maria trong cuộc đời Chúa Cứu Thế ở trần gian. Kinh Mân Côi là Lịch Sử Ơn Cứu Độ, là Phúc Âm rút gọn được trải rộng trước tâm trí người cầu nguyện. Vì khi cầu nguyện và qua mười lăm Mầu Nhiệm Mân Côi, chúng ta làm sống lại, tưởng niệm cuộc đời trần thế, khổ hình cứu chuộc và vinh quang của Chúa Cứu Thế.

*  Kinh Mân Côi gồm: a) kinh Lạy Cha, b) kinh Kính Mừng Maria, c) kinh Sáng Danh, d) 15 mầu nhiệm Mân Côi.

* Kinh Lạy Cha đã được chính Chúa Cứu Thế dạy chúng ta để dâng lên Thiên Chúa Cha (theo Mt 6:7-13, Lc 11:2-4).

* Kinh Kính Mừng Maria gồm phần thứ I, đã sơ lược ở trên, và phần thứ II: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.” Trong phần này, người cầu nguyện nhìn nhận mình tội lỗi, kêu cầu Mẹ Maria, xin Mẹ cứu giúp trong cuộc sống hàng ngày và nhất là giờ phút quan trọng nhất  cuối cuộc đời, vì tin Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, và Mẹ xin giúp cho thì được Thiên Chúa nhận lời (x. Gioan 2:1-11).

*  Kinh Sáng Danh chính là kinh Tin Kính rút gọn, là lời tuyên xưng đức tin, tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi toàn năng hằng hữu.

** Mười lăm Mầu Nhiệm Mân Côi chia thành ba phần, cũng gọi là ba mùa: Vui Mừng, Thương Khó, Vinh Quang.

* Phần thứ I, còn gọi là Năm Mầu Nhiệm Vui Mừng, làm sống lại biến cố Chúa Ngôi Hai nhập thể, Chúa giáng sinh, dâng hiến Chúa Cứu Thế sơ sinh lên Thiên Chúa Cha trong đền thờ, và lạc ba ngày trong đền thờ khi Chúa mười hai tuổi.

*  Phần thứ II, còn gọi là Năm Mầu Nhiệm Thương Khó, tưởng niệm những thống khổ cực hình Chúa Cứu Thế phải chịu từ khi lập Nhiệm Tích Thánh Thể cho tới khi được an táng trong mồ.

*  Phần thứ III, còn gọi là Năm Mầu Nhiệm Vinh Quang, tưởng niệm biến cố Chúa Phục Sinh, Chúa lên trời, Chúa Thánh Thần ngự xuống với Mẹ Maria và các thánh tông đồ và môn đệ, mười ngày sau khi Chúa Cứu Thế về Thiên Đàng; Chúa Ba Ngôi đưa Mẹ Maria cả hồn xác về Thiên Đàng và đội triều thiên ân thưởng Mẹ là Nữ Vương.

*  Qua nội dung sơ lược ở trên, chúng ta kết luận rằng kinh Kính Mừng Maria nói riêng, và kinh Mân Côi nói chung, làm sống lại từ khởi đầu cho tới khi hoàn tất Mầu Nhiệm Chúa Ngôi Hai nhập thể cứu chuộc nhân loại. Kinh Kính Mừng và kinh Mân Côi có căn bản Phúc Âm hoàn toàn vững chắc.

 41.-   Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

           Lời Chúa Giêsu: “Đúng hơn phải nói phúc thay  kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11:27-28) ca tụng Mẹ Maria

Nghi Vấn:  Đoạn Phúc Âm thánh Luca 11:27-28: "Phúc thay lòng dạ đã cưu mang Thầy và đã cho Thầy bú mớm. Chúa Giêsu đáp lại: Đúng hơn phải nói: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” nhưng họ dịch là: “Trái lại phải nói: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” để dùng làm văn liệu chứng minh việc sùng kính Đức Maria là bằng chứng rõ rệt sự dốt nát (mù quáng) phúc âm về điều liên quan đến Đức Maria. ..."  [1]

  Góp Ý: Để đánh giá lập luận trên, chúng ta nghiên cứu phân từ "menoun" tiếng Hy lạp trong Luca 11:28, mà nhiều bản dịch là "đúng hơn = đúng hơn là."

   Margaret E. Thrall, một học giả Tin Lành, không nghiêng về lập trường của Giáo Hội Công Giáo, trong tài liệu nghiên cứu "Các liên / trạng từ tiếng Hy lạp trong Tân Ước” khuyến cáo dịch "menoun" trong Luca 11:27-28 là "đúng hơn (là)." [1]

     "Khi Đức Giêsu đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một phụ nữ lên tiếng nói với Ngài: 'Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! Nhưng Đức Giêsu đáp lại: 'Đúng hơn (menoun) phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa'" (Lc 11:27-28).

    (Lời Chúa Giêsu được hiểu là:

   "Điều bà vừa mới nói thì đúng như  thế. Nhưng ân phước Đức Maria được ân ban không chỉ gồm sự kiện liên hệ của Người với chính tôi (= Chúa Giêsu), nhưng menoun (đúng hơn là) vì Người chia sẻ ân phước của những người nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa, và chính từ điều này mà ân phúc đích thực phát nguồn.") [1] 

    Chúng tôi tin chắc đây là cách chuyển ngữ đúng nhất của bản văn này, diễn tả đúng nghĩa của phân từ “menoun = đúng hơn là”.

  **  "... Chúa Giêsu đáp, ‘Đúng hơn (menoun) là phải nói: Phúc thay những người lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa'" không áp dụng cách chính xác cho Mẹ Maria sao? Mẹ Maria được miêu tả là người gương mẫu lắng nghe lời Thiên Chúa, là nữ tì của Chúa, Người nói “xin vâng” đáp ứng thánh ý Thiên Chúa, là người được chúc phúc, Người không có thứ gì của riêng mình, nhưng Người nhận được mọi sự qua lòng nhân từ của Thiên Chúa. Mẹ Maria là gương mẫu cho những ai rộng mở tâm hồn và được Thiên Chúa ban ân, trong cộng đồng các tín hữu, trong Giáo Hội.”[1]

*

   Sách Giáo Lý dành cho người lớn của giáo hội Tin Lành nước Đức nói: "Đức Maria không phải chỉ của Kitô hữu Công Giáo mà Người cũng là của Kitô hữu Tin Lành  nữa.”[1] Những người hoài nghi có khuynh hướng quên điều đó. Tuy nhiên Mẹ Maria hiển nhiên là Mẹ Chúa Giêsu và mật thiết với Chúa hơn hết những môn đệ thân tín nhất.

  *  Kết luận: Những Kitô hữu thành tâm hiểu ý nghĩa Luca 11:27-28: “Khi Đức Giêsu đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng nói với Ngài: ‘Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớn!’ Nhưng Ngài đáp lại: ‘Đúng hơn phải nói rằng: ‘Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” là lời Chúa Giêsu ca tụng, chứ không phải hạ thấp Mẹ Maria. Điều đó chính xác vì là lời ca tụng của Phúc Âm và minh chứng việc Kitô hữu Công Giáo tôn kính Mẹ Chúa Kitô là đúng theo Phúc Âm.

  42.-    Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

     “Tôn thờ” khác với “biệt kính” và “kính”

Nghi Vấn:   Lập luận nghi vấn nói: "Chẳng bao lâu Đức Maria được hàng triệu Kitô hữu Công Giáo khắp thế giới tôn thờ (adored). ... Đức Maria được (đã được) hàng triệu người khắp thế giới tôn thờ, đặc biệt là tại các quốc gia Châu Mỹ Latinh. ... Lòng mộ mến Đức Maria quá độ tại các quốc gia Châu Mỹ Latinh và bất cứ đâu thuộc thế giới Công Giáo là việc sống đạo lệch lạc. ... Tất cả mọi tội lỗi đều hoạt động theo cùng một động lực 'sai một li đi một dặm' - và thờ ngẫu thần là tội lỗi - và lòng sùng  tín đối với bất cứ ai ngoài Thiên Chúa là thờ ngẫu thần. Điều này bị Phúc Âm lên án." [1]

   Góp Ý:   Chúng ta biết các nhà thần học Công Giáo và Chính Thống Giáo phân biệt rõ rệt:

  - LATRIA (tôn thờ, adore) là việc thờ phượng tối cao chỉ duy nhất dành cho Thiên Chúa;

  - HYPERDULIA (biệt kính, sùng kính và cầu khẩn) đối với Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là thụ tạo được ca tụng nhất của Thiên Chúa;

  - và DULIA (kính và cầu khẩn/cầu viện) đối với các thánh và thiên thần trên trời.

     * Chúng ta cầu xin Thiên Chúa trong khi trí khôn (chúng ta) ý thức Ngài là Đấng Tạo Thành, Đấng Cứu Độ, và Đấng thánh hóa chúng ta, ý thức này là TÔN THỜ (latria).

   * Chúng ta cầu nguyện với Mẹ Maria mà trí khôn (chúng ta) ý thức Người là thụ tạo cao cả nhất và thánh thiện nhất của Thiên Chúa, là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và Mẹ Giáo Hội của Chúa, ý thức này là BIỆT KÍNH (hyperdulia).

  *  Chúng ta cầu nguyện với anh chị em chúng ta là các thánh, và các thiên thần, mà trí khôn (chúng ta) ý thức rằng các ngài là gương mẫu, là quan thầy, là người bầu cử của chúng ta, các ngài dâng những lời cầu nguyện của chúng ta lên Thiên Chúa trước ngai Con Chiên (KhH 4:10, 5:6-14), ý thức này là KÍNH (dulia).

   *  Khi cầu nguyện, người ta không cần phải tách biệt cách rõ ràng các "từ  (ngữ)" có tính cách chuyên môn này. Điều cần thiết duy nhất là biết Thiên Chúa là Thiên Chúa và tất cả các vị khác không phải là Thiên Chúa. Các Kitô hữu Công Giáo chúng ta biết rõ điều này; chúng ta không nghi ngờ điều này; chúng ta biết rõ sự khác biệt - không phải vì chúng ta thông minh đặc biệt, mà vì "Chúng ta không phải là người xa lạ hay người tạm trú, mà là những đồng hương với các thánh và là người của gia đình Thiên Chúa,  (gia  đình  này) được xây dựng trên nền móng là các thánh Tông Đồ và các tiên tri, mà chính Chúa Giêsu là tảng đá góc tường" (Eph 2:19-20).

   *  Theo thần học và trong thực tế, Kitô hữu Công Giáo chúng ta đồng ý với Epiphanius nói về Mẹ Maria: "Theo bản chất tự nhiên của Người, Đức Maria vẫn còn là người ta và thuộc phái nữ. Vì thế, cũng như các thánh, Người không thích hợp để được thờ lạy, mặc dầu Người là một dụng cụ ưu tuyển, được tôn vinh cách cao cả hơn toàn thể thần thánh. ..."[1]

   *  Chúng tôi dùng lời ghi chú của John De Satgé để kết luận tiểu đề này: "Vị trí của chính Đức Maria trong tương quan đối với Thiên Chúa như thế nào? Chính Thiên Chúa đã tạo dựng Người từ hư không, như Ngài đã tạo dựng tất cả mọi con cái khác (của Ngài) ở trần gian. Mặc dầu Thiên Chúa đã tôn vinh Người tới độ ân sủng bao la và không thể tưởng tượng được, tuy thế, nếu so sánh với Đấng Tạo Hóa của Người, Người vẫn chỉ là không. Hiển nhiên, Đức Maria là thụ tạo của Thiên Chúa, vượt xa trên hết mọi thụ tạo khác, vì Thiên Chúa đã làm nơi Người nhiều kỳ công hơn nơi tất cả các thụ tạo của Ngài. Thiên Chúa làm cho Đức Maria càng nhiều điều cao cả, Người trở nên kỳ công càng vĩ đại của tay Ngài."[1]

  B.- THỜ NGẪU (= TÀ)  THẦN

   43.-  Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

             Kitô hữu Công Giáo không thờ ngẫu (tà) thần

Nghi Vấn:   Chúng tôi nhắc lại nghi vấn cho rằng Kitô hữu Công Giáo tôn kính Mẹ Maria và các thánh là thờ ngẫu (tà) thần. Vậy “thờ ngẫu thần” là gì?

   Góp Ý:  Chúng tôi sơ lược một vài dẫn chứng Phúc Âm để giải đáp tổng quát câu hỏi này, và chi tiết hơn được đề cập ở các tiểu đề từ số 46 đến số 50.  

  Thánh Phaolô nói:

  "Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các  loài  chim  chóc, thú vật, rắn rết" (Rom 1:23).

   "Thay vì Thiên Chúa thật, họ đã theo những thần giả; họ đã tôn thờ những loài thụ tạo, thay vì chính Đấng Tạo Hóa. ..." (Rom 1:25).

   Thánh Tông Đồ đã dùng chính động từ "tôn thờ = latria" để chỉ việc thờ ngẫu thần (hình tượng phàm nhân và súc vật).

 *

   Kitô hữu Công Giáo không thờ ngẫu (= tà) thần.  Chúng ta biết và kinh nghiệm hàng ngày rằng các thánh, nhất là Thánh Mẫu của chúng ta, chỉ dạy và soi sáng chúng ta bằng gương cuộc sống giống Chúa Kitô của các ngài; từng vị nói với chúng ta, như lời thánh Phaolô:

  "Anh chị em hãy bắt chước tôi" (1 Cor 4:16, Phil 3:17, 1 Thes 1:6).

*

  Cũng như thánh Phaolô, các thánh và các thiên thần hằng nói với chúng ta:

  - "Chúng tôi cầu xin Thiên Chúa giữ anh chị em khỏi làm điều sai trái ... mà để anh chị em làm những điều tốt lành ..." (2 Cor 13:7);

  - "... chúng tôi hằng cầu nguyện cho anh chị em" (2 Thes 1:11).

  *

  Việc chúng ta (biệt) kính và cậy nhờ Mẹ Maria, các thần thánh trên trời cầu xin Chúa cho chúng ta góp phần tôn vinh Thiên Chúa, Đấng là Cha chúng ta. Nếu chúng ta chểnh mảng kính mến cậy nhờ Mẹ Maria và kính các thần thánh trên trời, chúng ta khước từ Thiên Chúa lời chúc tụng tôn vinh và tạ ân mà chúng ta mắc nợ Ngài trong việc tôn kính các anh chị em trên trời của chúng ta.

    Kết luận: chúng ta không thờ ngẫu thần như bị cáo buộc. Lời cáo buộc chỉ là cách suy diễn để tạo ra điều mà Chúa Giêsu đã thấy và phải xin Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cho chúng nên một, như Cha và Con là một” (theo Gioan 17:22-23).

44.-    Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

           Sùng kính bất cứ ai ngoài Thiên Chúa  là thờ ngẫu (tà) thần ???

Nghi Vấn:   Có người cho rằng “sùng tín đối với bất cứ ai ngoài Thiên Chúa là thờ ngẫu (tà) thần. Đây là lời lên án của Phúc Âm.”  

   Góp Ý:  Chúng ta tìm hiểu những trích dẫn sau đây để coi xem lập luận cho rằng “sùng kính đối với bất cứ ai ngoài Thiên Chúa là thờ ngẫu thần” đúng, sai, thế nào.

   Chúng ta hàng ngày làm cho mọi hành động, mọi sự thống hối và đau đớn, những việc của lòng sùng tín, trở nên có kết quả cho phần rỗi (ơn cứu độ) cho chính mình  và cho phần rỗi của người khác. Thánh Phaolô nói: "Vì thế, dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh chị em hãy làm để tôn vinh Thiên Chúa" (1 Cor 10:31); "Bây giờ, tôi vui mừng chịu đau khổ vì anh chị em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang vào thân cho đủ mức, vì phúc lợi cho thân thể Ngài là Giáo Hội" (Col. 1:24, đọc thêm 2 Cor 1:3-7).

   Thơ thánh Phaolô gởi giáo đoàn Lamã (Rom 13:1-7) dạy chúng ta kính trọng và phục tòng quyền bính hợp pháp, vì mọi quyền bính đều từ Thiên Chúa mà đến. Bất cứ ai chống lại quyền bính (hợp pháp) này là chống lại Thiên Chúa. Vì thế nhiệm vụ dân sự và lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, nếu được hiểu đúng, đều là những hình thức của lòng sùng tín, được Thiên Chúa truyền phải trả cho (đối xử với) người khác. Dĩ nhiên, Chúa đã ấn định rõ điều này khi Ngài ban cho ông Maisen Giới Răn thứ Bốn: "Ngươi phải tôn (thảo) kính cha mẹ ngươi" (XH 20:12).

* Chúng ta nhớ khi gặp bào huynh Esau sau nhiều năm xa cách, Tổ Phụ Giacob đã nói với Esau:

  "... Đối với tôi, được diện kiến ngài thì tựa như được thấy thánh nhan Thiên Chúa!" (Stk 33:10).

*

   Kết luận: Phải chăng các Kitô hữu Công Giáo Mỹ Châu Latinh chất phác có thể cư xử và sử dụng ngôn từ khiêm tốn và dè dặt theo sách thánh như Tổ Phụ Giacob dùng, khi họ biểu lộ lòng kính mến Mẹ Maria và các thánh!

45.-  Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

          Tôn kính ảnh tượng thánh không phải là thờ ngẫu thần  

Nghi Vấn:   Lập luận nghi vấn nói: “việc Kitô hữu Công Giáo tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Mẹ Maria, và các thánh, là thờ ngẫu (tà) thần.”

   Góp Ý:  Ảnh tượng thánh là xúc tác giúp chúng ta nhớ đến Chúa Kitô, Mẹ Maria và các thánh. Kinh nghiệm hằng ngày, chúng ta có hình ảnh người thân yêu (còn sống hoặc đã quá vãng) trong túi, trong xắc tay, nơi bàn làm việc, trên vách tường, v.v. Hình ảnh đó không phải là chính người thân yêu của mình sống động trong đó, nhưng mỗi khi nhìn thấy hình ảnh người thân yêu, chúng ta nhớ đến người đó cách này hoặc cách khác, phương diện này hoặc phương diện khác.

   Ảnh tượng Chúa Kitô, Mẹ Maria và các thánh cũng thế. Các Kitô hữu Công Giáo không tin rằng các ảnh tượng là chính Chúa Kitô, Mẹ Maria, và các thánh sống động thực trong đó, nhưng để gợi nhớ, gợi lòng yêu mến, gợi ý cầu nguyện với Chúa, hoặc với Mẹ, hoặc với vị thánh đó.

*

   Trong lịch sử Giáo Hội đã một số lần Chúa làm phép la nhãn tiền (thấy được rõ ràng) qua các ảnh tượng thánh. Chúng tôi lược kể một vài trường hợp điển hình sau đây:

* Thánh Louis De Montfort thuật lại lời thánh Alan de la Roche tường thuật phép lạ khi thánh Đaminh rao giảng kinh Mân Côi lần thứ nhất tại Toulouse, Nước Pháp, năm 1214:

   “Ngay khi thánh Đaminh bắt đầu giảng Kinh Mân Côi

lần thứ nhất tại Đại Thánh Đường, một trận bão lớn nổi lên, đất động, mặt trời tối đi, rất nhiều sấm sét khiến mọi người sợ hãi. Dân chúng hết sức xúc động khi nhìn lên tượng Đức Mẹ đặt tại nơi tráng lệ, người ta thấy cử chỉ Đức Mẹ kêu xin Chúa ngưng hình phạt nếu họ ăn năn trở lại, sửa đổi cuộc sống và tìm sự bảo vệ của Mẹ.

 Thiên Chúa muốn qua những hiện tượng siêu nhiên này, truyền bá lòng mộ mến mới và phổ biến kinh Mân Côi rộng rãi hơn.” [1]

   * Tại Sicily, Nước Ý, năm 1953, ảnh Đức Trinh Nữ khóc nước mắt đầm đìa trong nhiều ngày. Thánh đường được xây cất tại Sicily để kỷ niệm và dâng kính Đức Mẹ Khóc đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khánh thành ngày 6 tháng 11 năm 1994. Dịp này Đức Thánh Cha so sánh Mẹ Maria với “bà mẹ khóc khi bà nhìn thấy con cái của bà bị đe dọa bởi những ác độc tinh thần và vật chất.”[1]

*  Từ 1974 đến 1981, tượng Đức Mẹ tại Akita, Nhật Bản, đã khóc 101 lần. Nhiều lần sự kiện này đã được chụp ảnh và chuyên viên truyền hình thu hình. Đức Mẹ cũng ban cho nữ tu Agnes Sasagawa Katsuko, ở tại tu viện nơi có tượng Đức Mẹ khóc, thông điệp kêu gọi thế giới ăn năn trở về với Thiên Chúa. [1]

* Và từ 1985 đến thời gian gần đây, tượng Đức Mẹ tại Naju, Nam Hàn, đã khóc 700 lần, được nhiều người chứng kiến, chụp ảnh, và huyết lệ đã từng được phân tích và nhìn nhận là nước mắt và máu người thật. Tại Naju, rất nhiều lần Đức Mẹ kêu gọi ăn năn thống hối. Thông tín viên của Đức Mẹ tại Naju là chị Julia Kim. Chị Julia Kim cho biết nhiều lần tượng Đức Mẹ trở nên sống động, với những cử chỉ như người ta thực. [1]

 **

   Trở lại với chủ đề “ảnh tượng thánh”, chúng tôi nhớ lại câu chuyện giữa một Kitô hữu Công Giáo và Tin Lành về ảnh tượng: một Kitô hữu Tin Lành nói lên ý kiến  không bằng lòng với việc Kitô hữu Công Giáo tôn kính ảnh tượng. Để trả lời, người Kitô hữu Công Giáo hỏi người anh em Tin Lành:

    ‘Trong tay tôi có hai tờ giấy, một tờ trắng không có hình ảnh gì trên đó hoặc hình ảnh người ta mà anh không quen biết gì cả, còn tờ kia có hình (ảnh) của cha hoặc mẹ của anh. Bây giờ tôi xé nát, nhổ nước miếng vào và chà dưới chân tôi tờ giấy trắng không có hình ảnh gì cả hoặc hình ảnh người xa lạ anh không quen biết, anh có phản ứng gì không? Người anh em Tin Lành đáp: ‘Không.’ 

   ‘Vậy nếu tôi xé nát, nhổ nước miếng vào và chà dưới chân tôi tờ giấy có hình của cha hoặc mẹ anh, anh có phản ứng gì không?’ Người anh em kia đỏ mặt đáp: ‘Không. Không được!" Vì sao?

   Câu chuyện trên giải thích cách giản dị lý do tại sao Kitô hữu Công Giáo tôn kính ảnh tượng Chúa Giêsu, Mẹ Maria, và các thánh.

   **

   Chúng ta nhớ trong Cựu Ước, Thiên Chúa đôi lần hiện ra với nguyên tổ Adong và Evà, với ông Noe, với Tổ Phụ Abraham, với ông Maisen, nhưng khi đó Thiên Chúa Ngôi Hai chưa nhập thể, Thiên Chúa chưa có thân xác nhân loại. Từ khi Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể, Ngôi Hai Thiên Chúa có thân xác, có căn cước, có lý lịch, có hình ảnh, y như chúng ta ngày nay. Nếu Chúa sống đồng thời với chúng ta, Chúa cũng có thẻ căn cước, bằng lái xe, có hình ảnh, dấu tay như chúng ta. Mẹ Maria và các thánh cũng vậy. Các ngài là người ta thực, có thân xác, có căn cước, có hình ảnh. Vậy thì ảnh tượng các Kitô hữu Công Giáo tôn kính là hình ảnh của Thiên Chúa Nhập Thể, Thánh Mẫu của Chúa, và các thánh là những người có thực, tuy không còn ở trần gian mà được ở với Thiên Chúa nơi vĩnh hằng.

  *

   Kitô hữu Công Giáo không thờ mà chỉ biểu lộ lòng tôn kính ảnh tượng Mẹ Maria và các thánh vì ảnh tượng thánh giúp chúng ta nhớ đến các ngài, bắc chước các ngài, và xin (= yêu cầu) các ngài cầu bầu (= chuyển cầu) xin với Thiên Chúa cho mình.

*  Chúng tôi xin thêm ý kiến như sau:

   Giáo Hội khuyên xin một linh mục hoặc ít nhất là phó tế làm phép ảnh tượng thánh để, về phía Giáo Hội, nhìn nhận rằng những ảnh tượng (xin làm phép) là hình ảnh của Chúa Cứu Thế, hoặc Mẹ Maria, hoặc thánh A/B, như được ghi chú, hoặc không ghi chú nhưng ai ai cũng nhận ra được hình ảnh đó tiêu biểu vị nào.

  Chúng ta có thể thêm: qua dấu chỉ bề ngoài của việc làm phép, chúng ta xin Chúa thánh hóa hình ảnh Chúa, hoặc Mẹ Maria, hoặc vị thánh được nêu danh.

 46.-  Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

   Ảnh tượng thánh bị (nghi vấn) đồng hóa với  hình ảnh súc vật  và hình ảnh dâm ô  của dân ngoại

Nghi Vấn:  Lập luận chống việc Kitô hữu Công Giáo kính ảnh tượng Chúa Cứu Thế, Mẹ Maria và các thánh, đồng hóa các ảnh tượng thánh này với hình ảnh súc vật, mặt trời, mặt trăng, những hình tượng dâm ô và viện dẫn lời thánh Phaolô nói trong thơ gởi giáo đoàn Galatha để làm bằng chứng:

    “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy (thờ ngẫu thần, tà thần), phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (Gal 5:19-21).

   Góp Ý:  Mục đích chính của lời thánh Phaolô trong Galatha 5:19-21 trích dẫn ở trên nói về cách sống Kitô hữu chính đáng. Ngài cho thấy những điều cần phải xa lánh trong cuộc sống của người theo Chúa Kitô.

*  Những người có quan niệm trên đây quên rằng danh từ ngẫu tượng nói trong thơ Thánh Phaolô gởi giáo đoàn Galatha 5: 19-21, trích dẫn ở trên, nói đến những hình ảnh dâm ô, hình ảnh thú vật mà dân ngoại thời các thánh Tông Đồ vẫn thường thờ tại các đền thờ của họ. Chúng ta lược qua một vài trường hợp điển hình sau đây.

  * 

    Sách Xuất Hành, Chương 32, kể lại việc dân Do Thái đúc và thờ tượng bò vàng và Thiên Chúa phẫn nộ muốn tiêu diệt họ; ông Maisen van xin Chúa xót thương không phạt dân Ngài; nhưng chính ông đã nổi giận khi thấy dân chúng bái lạy con bò vàng, và ông đã liệng vỡ hai tấm bia Thập Giới. Chúng tôi lược trích một vài phần để giúp chúng ta hiểu nghĩa “(hình tượng) ngẫu thần”:

    “Dân thấy ông Maisen ở trên núi lâu quá, đã đến nói với ông Aaron: ‘Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để lãnh đạo chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra cho  ông Maisen,  người  đã  đưa  chúng  tôi  từ  Ai cập’” (XH 32:1-2) ... “Ông Aaron lấy vàng từ tay những người đó, đúc và dùng dao gọt đẽo thành hình một con bê (bò con). Bấy giờ những người đó nói: ‘Hỡi dân Do Thái, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi khỏi đất Ai cập.’ Thấy vậy ông Aaron dựng một bàn thờ trước tượng con bê, rồi lớn tiếng nói: ‘Ngày mai có cử hành lễ kính Chúa’” (XH 32:4-5).

...

   “Thiên Chúa bảo ông Maisen: ‘Hãy đi xuống, vì dân ngươi đã hư hỏng rồi, dân mà ngươi đã đưa ra khỏi Ai cập. Chúng đã vội đi ra ngoài con đường Ta truyền cho chúng đi. Chúng đã đúc hình tượng một con bê, rồi sụp xuống thờ lạy nó, tế nó và nói: ‘Hỡi dân DoThái, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập’” (XH 32:7)

...

 ”Bây giờ cứ để mặc Ta, cứ để cơn thịnh nộ của Ta bừng lên phạt chúng, Ta sẽ tiêu diệt chúng...’”. (XH 32:10). ... “Khi đến gần trại, ông (Maisen) thấy con bê và những bọn người đang nhảy múa. Ông Maisen tức giận bừng bừng; ông ném các tấm bia (Thập Giới) đang cầm trong tay vỡ tan tành nơi chân núi. Ông lấy con bê họ đã làm, tán nhuyễn ra, rắc trên mặt nước, rồi bắt con cái Do thái uống” (XH 32:19-20).

   Thánh Phaolô khi rao giảng ở Nhã điển (Athen, thủ đô Hy lạp) thấy dân chúng tại đó thờ đủ loại tượng thần hình người, hình súc vật. Dân chúng tại đó, nhất là những người Phái Khoái Lạc còn thờ những hình tượng dâm ô, hình tượng bộ phận sinh dục phụ nữ.

    Chính những hình tượng súc vật và dâm ô này là điều Thiên Chúa cấm, vì người ta coi chúng ngang hàng với Thiên Chúa được Sách Thánh nhắc đến trong các thư  thánh Phaolô và thánh Gioan nói trong Khải Huyền, mà những người nghi vấn đã cố ý trích dẫn những đoạn có nghĩa chung chung.

*

    Chúng tôi kể thêm lời thánh Phaolô: “Thay vì Thiên Chúa vinh quang bất tử, họ đã thờ hình tượng người phàm là loài phải chết, hay hình tượng các loài chim chóc, thú vật, rắn rết” (Rom 1:18-23)  để hỏi:

   -  Thánh Phaolô nói về Chúa Kitô: 

   “Đức Kitô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Ngài, muôn vật được tạo thành, trên trời, nơi trần thế, hữu hình và vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hoặc bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài. Ngài có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Ngài. Ngài cũng là đầu của thân thể, là đầu Hội Thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho toàn thể sự viên mãn hiện diện nơi Ngài, cũng như làm cho muôn vật được hòa giải với Mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài nơi trần thế và muôn vật trên trời” (Col. 1:15-20).

    Như thế, hình (tượng) ảnh của Chúa Kitô có bị liệt vào “hình tượng phàm nhân” trong thơ Rom. 1:23 và Gal. 5:19-21  không?

   Đáp: KHÔNG!

   *

   - Mẹ Maria, tuy là thụ tạo, nhưng được thần linh hóa trong đức tin, trong ân sủng và cộng tác với Thiên Chúa trong Công Cuộc Cứu Chuộc, được chọn cưu mang và sinh hạ Chúa Cứu Thế, là Mẹ Thiên Chúa:

   “... Thiên sứ vào nhà trinh nữ (Maria) và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở với Trinh Nữ.’ Nghe lời ấy, Người rất bối rối, và tự hỏi lời chào đó có nghĩa gì? Thiên sứ liền nói: ‘Thưa Maria, xin đừng sợ, vì Trinh Nữ đẹp lòng Thiên Chúa. Này, Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh hạ  một  con  trai  và  đặt tên là Giêsu. Ngài sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai vàng David, tổ phụ Ngài. Ngài sẽ cai trị nhà Giacób đến muôn đời, và triều đại của Ngài sẽ vô cùng tận. ...” (Lc 1:26-38”

   Như thế hình ảnh của Mẹ có bị liệt vào “hình tượng phàm nhân” trong thơ Rom.1:23 và Gal. 5:19-21 không?

   Đáp: KHÔNG!

   *

   - Các thánh khác, tuy là thụ tạo, nhưng được thánh hóa, thần linh hóa, nhờ đức tin, lòng yêu mến Thiên Chúa, trong ân sủng,

     “... Vì những người mà Ngài đã biết từ trước, thì Ngài đã tiền định cho nên đồng hình động dạng với Con của Ngài, để Con của Ngài làm trưởng tử giữa một đàn em đông đảo. Những người Thiên Chúa đã tiền định, thì Ngài cũng làm cho nên công chính; những người Ngài đã làm cho nên công chính, thì Ngài cũng cho hưởng phúc vinh quang” (Rom. 8:28-30), 

  Như thế hình ảnh các ngài có bị liệt vào “hình tượng phàm nhân” trong thơ Rom.1:23 và Gal. 5:19-21 không?

   Đáp: KHÔNG!

 C.- THẬP GIÁ VÀ TƯỢNG CHỊU NẠN

47.-   Thiên Chúa chia sẻ vinh quang (tiếp theo):

   Thập Giá và hình ảnh Chúa Kitô  chịu khổ hình chết trên thập giá

Nghi Vấn:  Nhiều người chối bỏ thập giá và việc để hình ảnh Chúa Cứu Thế trần truồng trên thập giá.

Góp Ý:   Chúng tôi lược trích giáo huấn số 67, Chương VIII, Hiến Chế Đức Tin, Thánh Công Đồng Chung Vatican II để  dẫn phần giải đáp này. Chúng tôi chỉ trích phần đầu nói rõ về ảnh tượng Chúa Kitô, Mẹ Maria và các thánh:

 (gh 67)  “Thánh Công Đồng cố ý dạy giáo lý công giáo ấy, đồng thời Giáo Hội cũng khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Trinh Nữ, nhất là trong phụng vụ, hãy coi trọng những việc thực hành và việc đạo đức nhằm suy tôn Người và đã được quyền Giáo Huấn Giáo Hội cổ võ qua các thế kỷ, cũng như hãy kính cẩn tuân giữ những quyết định của các thời đại trước liên quan đến việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ và các thánh. ...”

   Sau đây chúng tôi trình bày ý kiến sơ thiển về Thập Giá (Thánh Giá = The Cross) và Tượng Chịu Nạn (The Crucifix),

  Thập Giá (the Cross) là biểu tượng khổ hình cứu chuộc vì được Thiên Chúa chọn để Chúa Cứu Thế hy sinh cứu độ nhân loại, do đó thập tự giá mới có giá trị cao cả linh thiêng. Chỉ có thập tự giá Chúa Kitô chịu đóng đanh chết trên đó, và những thập giá được làm ra với mục đích tiêu biểu Thập Giá Chúa Kitô mới là biểu tượng cứu độ. Chúng tôi trích thơ thánh Phaolô nói đến Thập Giá trong một trường hợp khác nhưng để cho thấy giá trị cứu độ của Thập Giá Chúa Kitô: “Chúng ta biết  rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Chúa Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa” (Rom 6:6).

    *  “Quả vậy, Chúa Kitô đã chẳng phái tôi đi làm phép rửa, nhưng phái tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Chúa Kitô không bị trở nên vô hiệu” (1 Cor 1:17).

* “ Vì khi còn ở với anh chị em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Chúa Giêsu Kitô, mà là Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cor 2:2).

  Tượng Chịu Nạn (the Crucifix) Hình ảnh Chúa Kitô quằn quại và chết trên Thánh Giá nhắc chúng ta nhớ Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, yêu đến độ chịu cực hình như thế để cứu độ chúng ta. Hình ảnh đó nhắc chúng ta nhớ Chúa toàn năng, theo nhiều thánh nhân đặc biệt là thánh Thoma Aquina, Chúa có thể làm dẫu chỉ một hành động nhỏ nhặt hoặc nói một lời cũng đủ cứu độ chúng ta, nhưng Chúa đã chọn cách chịu khổ hình thập giá. Chúa cho chúng ta bằng chứng không thể chối cãi Chúa yêu thương chúng ta vô cùng: "Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bằng hữu" (Gioan 15:13).

  Chúng ta đọc lại Phúc Âm thánh Mátthêu đoạn 27, từ câu 26 đến 50, để hình dung phần nào cực hình Chúa chịu vì yêu thương chúng ta:

     “Bấy giờ, tổng trấn phóng thích tên Baraba cho họ, còn Đức Giêsu, thì ông truyền đánh đòn, rồi trao cho đóng đinh vào thập giá.

   Bấy giờ bọn lý hình đem Đức Giêsu vào trong sân dinh Tổng Trấn, và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Đức Giêsu ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết vương mão bằng gai đặt trên đầu Ngài, trao vào tay mặt của Ngài cây sậy. Chúng quì gối trước mặt Ngài nhạo báng rằng: ‘Vạn tuế Vua Do Thái!’ Rồi chúng khạc nhổ vào Ngài, giựt cây sậy trong tay Ngài mà đánh trên đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Ngài đi đóng đinh vào thập giá.

   “Dọc đường, chúng gặp một người Cyrênê, tên là Simeon; chúng bắt ông này vác thập giá đỡ cho Ngài. Khi đến nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm mà không uống. Đóng đanh Ngài vào thập giá xong, chúng bắt thăm áo Ngài để chia nhau. Rồi chúng ngồi đó mà canh giữ.

    “Phía trên đầu Ngài, chúng đóng bản án viết : ‘Người này là Giêsu, Vua dân Do Thái.’ Cùng bị đóng đanh với Ngài, có hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

    “Kẻ qua người lại đều nhục mạ Ngài, vừa lắc đầu vừa nói: ‘Mi là kẻ phá được Đền Thờ và xây lại trong ba ngày, hãy cứu mình đi! Nếu mi là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá xem nào! Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế nhạo Ngài và nói: ‘Hắn cứu được được người khác, mà chẳng cứu được mình! Hắn là Vua Do Thái! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền! Hắn tin cậy Thiên Chúa, bây giờ xin Ngài cứu hắn đi, nếu quả thực Ngài thương hắn! Vì hắn đã nói: ‘Tôi là Con Thiên Chúa!’ Cả hai tên cướp cùng bị đóng đanh với Ngài cũng sỉ nhục Ngài.

  “Từ giờ thứ sáu, trời đất trở nên tối tăm, cho tới giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu lớn tiếng kêu: ‘Eli, Eli, lema sabachthani?’ có nghĩa: ‘Lạy Thiên Chúa, Lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ Con?’ Nghe vậy, một vài người đứng đó nói: ‘Hắn ta gọi ông Elia!’ Lập tức, một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Những người khác lại nói: ‘Khoan, để xem ông Elia có đến cứu Hắn không!’ Chúa Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.” (Đọc thêm Marcô 15:16-39; Luca 23:26-46; Gioan 19:1-37).

    Người nào chối bỏ hình ảnh Chúa Kitô quằn quại và chết trên thánh giá là từ chối tưởng niệm và nhắc lại tình yêu vô cùng của Chúa, tức là từ chối tình yêu vô cùng của Chúa.

 

Quý vị là vị khách Chúa Giêsu yêu.
Website được thăm viếng lần từ 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
| Home | | Email |