MLCN BácÁi
Hội Viên ÝKiến
Hìnhnh  VuiCười
LờiChứng TĐiển
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Tài Liệu LưuBút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu TViện Audio
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần  GiảiĐápThắcMắc
MụcVTrẻ - 1001 PhòngThánhCa GởiThiệp Ecards Trang MMaria WebHost Nối Kết
 

MỤC LỤC:

- Lời Giới thiệu, cám tạ

- Trước khi vào đề

- Chương 01
- Chương 02
- Chương 03
- Chương 04
- Chương 05
- Chương 06
- Chương 07
- Chương 08
- Chương 09
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12

 

MẸ MARIA TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN

Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi

 Chương 12

      Một vài Vấn Đề Linh Tinh

   Chúng tôi nêu lên một vài nghi vấn khác nữa, tuy không liên quan tới Mẹ Maria và các thánh, nhưng liên quan đến Giáo Hội và Kitô hữu Công Giáo để chúng ta nhận định.

48.-   Ơn Công Chính Hóa và Ơn Cứu Độ

Nghi Vấn:  Một đôi lần chúng tôi nghe và phải trả lời những người công kích đề cập vấn đề "công chính hóa và ơn cứu độ", một vấn đề mà các Kitô hữu Công Giáo và Tin Lành có khuynh hướng bất đồng ý kiến. Theo quan điểm của các Kitô hữu Tin Lành, ơn cứu độ (= ơn cứu chuộc) được “đoan (= hứa) chắc” cho các tín hữu đích thực, vì ơn cứu độ đã được “nhận lãnh” như là “hồng ân” nhờ đức tin (theo Eph 2:8-9; Rom 3:21-24). Như thế, các Kitô hữu đã được cứu độ rồi, v.v., tức là đã chắc chắn sẽ về thiên đàng hưởng phúc trường sinh.  [1]

 Góp Ý.-  Vấn nạn này đã là một trong những cản trở chính của việc hiệp nhất Kitô hữu và đã được đề cập trong phạm vi rộng lớn và giữa các nhà thần học. Chúng tôi với thân phận kém cỏi, kiến thức như hư không, chỉ xin đưa ra một vài ý kiến sơ thiển của mình; và xin được tha thứ cho việc múa rìu qua mắt thợ.

    Chúng ta học hỏi một vài trích dẫn Phúc Âm sau đây để xem quan niệm “niềm tin thì ‘đủ’ để được cứu độ và mỗi cá nhân sở đắc ‘chắc chắn’ ơn cứu độ của mình” như lập luận công kích nêu ra (thì) thế nào.  

 *  Thánh Phaolô đích thực là một Kitô hữu tin vào "ơn cứu độ qua niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô và dạy người khác: “..., anh đã biết Sách Thánh có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô” (2 Tim 3:!5).

    Nhưng thánh Phaolô không tự mãn, đến độ nói ngài biết chắc chắn ngài sẽ lên trời:

   "Tôi không thấy lương tâm áy náy điều gì, nhưng đâu phải vì thế mà tôi đã được kể là người công chính. Đấng xét xử tôi chính là Chúa. Vì thế, xin anh chị em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hẹn, trước ngày Chúa đến. Chính Chúa sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Lúc đó, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng thích đáng" (1 Cor 4:4-5).

*

  Thánh Phaolô lại nói:

   "Vì thế, tôi đây cũng chạy như thế, chứ không chạy mà không xác tín; tôi đấm như thế, chứ không phải đánh vào không khí. Tôi bắt thân thể tôi phải chịu cực và phục tòng, kẻo sau này khi rao giảng cho người khác, tôi lại bị loại" (1 Cor 9:26-27; đọc thêm Rom 11:22).

*

  Thánh Phêrô nhấn mạnh thêm: “Nếu người công chính còn khó được cứu độ, thì người vô đạo, kẻ tội lỗi sẽ ở đâu? Vì vậy, những ai chịu khổ theo ý Thiên Chúa, hãy phó mạng sống mình cho Đấng Tạo Hóa trung thành, và cứ làm điều thiện” (1 Phêrô 4: 18-19).

*

  Chúa Kitô dạy (rằng) nỗ lực trong các việc lành và đền tội (thì) cần thiết để được cứu độ:

    "Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá hàng ngày mà theo" (Lc 9:23).

   "Ai không vác thập giá mình mà theo Tôi, thì không thể làm môn đệ Tôi được" (Lc 14:27), (đọc thêm Lc 13:3-5).

*

   Thánh Phaolô nói: “chúng ta chứa đựng kho tàng ân sủng của Thiên Chúa trong bình sành” (2 Cor 4:7). Chỉ duy điều này thôi ĐỦ giữ chúng ta khỏi tự mãn trong niềm tin của mình. "Ai tưởng mình đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã" (1 Cor 10:12).

*

  Thánh Phaolô dạy sự cần thiết đối với việc kiểm thảo lương tâm cá nhân, đặc biệt là trước khi rước (đón nhận) Chúa  Kitô  trong  Nhiệm  Tích Thánh Thể: 

  "Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Mình Máu Thánh Chúa, là ăn và uống án phạt mình. Vì lẽ đó, trong anh em, có nhiều người ốm đau suy nhược, và cũng có nhiều người đã chết. Giả như chúng ta tự xét mình, thì chúng ta đã không bị xét xử. Nhưng khi Chúa xét xử là Ngài sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian. (1 Cor 11:28-32).

   Thánh Phaolô cũng đưa ra lời kêu gọi tha thiết chống lại lòng tự mãn: "... Anh chị em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ" (Phil 2:12).

Thánh Phêrô dạy chúng ta sự cần thiết phải tiết độ và cảnh giác chống lại cám dỗ, và ngài cảnh cáo chúng ta phải đạt được ơn cứu độ trong đau khổ cùng với Chúa Kitô: 

    "Anh chị em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh chị em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh chị em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh chị em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế. Thiên Chúa, nguồn mọi ân sủng, là Đấng đã kêu gọi anh chị em vào vinh quang đời đời của Ngài trong Đức Kitô, sẽ cho anh chị em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường" (1 Phêrô 5:8-10).

  * 

  Thánh Giacôbê dạy rõ ràng hơn cả rằng lòng tin không đủ để được cứu độ trong Giacôbê 2:19-22,24:

   "(19) Bạn tin chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn làm đúng. Cả ma quỉ cũng tin như thế, và chúng run sợ. (20) Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không? (21) Ông Abraham tổ phụ chúng ta, đã chẳng được nên công chính nhờ hành động, khi ông hiến dâng con mình là Isaac trên bàn thờ đó sao? (22) Bạn thấy đó: đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành động mà đức tin nên hoàn hảo. (24) Anh em thấy đó, nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi.”

    Giáo huấn của thánh Giacôbê hợp với lời thánh Phaolô dạy nếu chúng ta muốn được cứu độ, cần phải sống tốt lành, kiên nhẫn và bền chí trong các việc lành:

   "Những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời" (Rom 2:7);

    *

    Thánh Phaolô cảnh cáo:

 "Anh chị em đừng có lầm tưởng: Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu! Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu chúng ta không sờn lòng" (Gal 6:7-9)

*

   Chúng ta cần phải tin vào Chúa Giêsu, chứ không tin vào lòng tin. Đức tin là liên tục tái ký thác cho Chúa, chứ không phải chỉ ký thác một lần là đủ. Đức tin sống và trưởng thành cũng như chúng ta sống và trưởng thành. Đức tin là tập trung vào Chúa Kitô, ký thác chính bản thân chúng ta và ơn cứu độ đời đời của chúng ta trong tay Chúa vì chúng ta tin chắc Ngài yêu thương chúng ta. Tính tự cao tự đại, lòng ích kỷ, không thể sống chung  với đức tin Phúc Âm đích thực, nhưng nó dễ dàng lẻn vào chỉ một lần là đủ tạo ra niềm tin tự mãn.

   Chúng tôi mạn phép kết luận đề mục này bằng lời Thánh Giacôbê, đã trích dẫn ở trên: “Bạn tin chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, bạn làm phải. Cả ma quỉ cũng tin như thế, và chúng run sợ” (Giacôbê 2:19).

49.-  CẤM ĂN HUYẾT

Nghi Vấn:   Một người, trong dịp trao đổi ý kiến, đọc lên một vài lời trong Cựu Ước về việc Thiên Chúa cấm ăn huyết, và hỏi: “Người Công giáo ăn huyết như vậy có tự mang lấy lý đoán cho mình không?”

    Góp Ý: Chúng ta, dù không phải là linh mục, đều thuộc lòng lời Chúa Giêsu khi lập Nhiệm Tích Mình và Máu Thánh:  “Cũng trong bữa ăn, Chúa Giêsu cầm tấm bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy.’ Rồi Ngài cầm chén rượu (nho), dâng lời chúc tụng, trao cho các môn đệ và nói: ‘Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước mới, đổ ra cho mọi người được tha tội. ...(Mt 26:26-29; Mc 17:21; Lc 22:21, 1 Cor 11:23-27).

    *

   Trong thơ thứ I gởi giáo đoàn Corinthô, thánh Phaolô nhắc lại lời Chúa khi lập Nhiệm Tích Mình và Máu Thánh: 

  “Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa mới làm để tưởng nhớ đến Thầy.’ Cũng thế, cuối bữa ăn, Ngài nâng chén và nói: ‘Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước mới; mỗi khi uống, anh em làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ Thầy’. ... Vì thế bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén (= Máu) của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa” (1 Cor 11:23-27).

     Như thế, Chúa Cứu Thế truyền cho các môn đệ UỐNG MÁU Ngài, (MÁU GIAO ƯỚC MỚI) thì Chúa có vi phạm lời Thiên Chúa trong Cựu Ước cấm ăn uống huyết không? 

   Hiển nhiên là không.

    *

   Trong Cựu Ước, Thiên Chúa cấm ăn huyết vì huyết được dùng vào việc tế lễ và xá tội. Huyết dê bò được dùng đổ trên bàn thờ khi tế lễ và vảy trên dân chúng trong nghi lễ xá tội. Máu dê bò trong việc này đã được thay thế bằng Máu Chúa Kitô dâng hiến lên Thiên Chúa Cha thay cho máu dê bò, và để chuộc tội nhân loại theo chương trình Thiên Chúa ấn định. Từ khi Chúa Cứu Thế chịu khổ hình và hiến dâng Máu cực châu báu trên Thánh Giá lên Thiên Chúa Cha để chuộc tội và xá giải cho nhân loại thì máu chiên bò không còn được dùng vào việc tế lễ và xá giải nữa.

    Máu Chúa trong Nhiệm Tích Thánh Thể là GIAO ƯỚC MỚI chính Chúa Cứu Thế thiết lập thay cho máu chiên bò để dâng hiến lên Thiên Chúa và cho các tín hữu được ăn uống làm lương thực thiêng liêng và thể chất  (theo 1 Cor 11: 23-27) .

 50.-  Hàng Giáo Phẩm Phải Lập Gia Đình??? 

Nghi Vấn:   Có lập luận nghi vấn tình trạng độc thân của hàng  giáo phẩm và nói: “Hàng Giáo Phẩm phải Lập Gia Đình, Chúa đòi buộc hàng giáo phẩm phải lập gia đình” và trích thơ thánh Phaolô:  “Giám mục không chê trách được là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí xứng đáng, hiếu khách và có khả năng giảng dạy; người ấy không được nghiện ngập, không hiếu chiến, nhưng hiền hòa, không hay gây sự, không tham lam, biết điều khiển gia đình mình, biết giáo dục con cái cách nghiêm chỉnh, vì ai không biết điều khiển gia đình mình, thì làm sao có thể lo cho Hội Thánh được?” (1 Tim. 3:2-5).

   Góp Ý: Chúng ta nghĩ những người chủ trương hàng giáo phẩm phải có gia đình quên hai điều:

    thứ nhất.- Những lời trích dẫn trên đây áp dụng cho các giám mục và trưởng lão (tức hàng giáo phẩm) thời Giáo Hội sơ khai, thời các thánh Tông Đồ còn tại thế. Các vị này hầu hết là những người trưởng thành khi tòng giáo. Nếu không chọn các vị đó vào hàng giáo phẩm thì lấy đâu ra người đức độ già dặn đảm trách các chức vụ đó. Nếu chọn những người độc thân lúc đó, thì chỉ toàn những vị thành niên hoặc mới đáo tuế (= tới tuổi được coi là trưởng thành) .

    thứ hai.-  Những người không đồng ý với cuộc sống độc thân của hàng giáo phẩm và tu sĩ Công Giáo cố quên lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ về TỰ NGUYỆN SỐNG KHIẾT TỊNH lược trích sau đây.

    Các môn đệ hỏi Đức Giêsu: “Nếu làm chồng mà phải như vậy, thì thà đừng lấy vợ còn hơn” (đọc Mt 10:1-10). Nhưng Ngài nói với các ông: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy  (Lời Chúa về vấn đề ly dị trong Mátthêu 19:1-9), nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn  vì  từ  khi  lọt lòng mẹ,  họ  đã  không có khả năng; có những người không kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có  những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19:10-12).

   Có phải Chúa Giêsu nói: “... lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. ...” (Mt 19:12) là nói về những người tự nguyện sống độc thân trong cuộc sống tu trì, và trong hàng giáo phẩm không?

    Chính vì thế, Giáo Hội Công Giáo La mã chủ trương hàng giáo phẩm là những người tự nguyện sống độc thân.

 51.-  Ly Dị

    Chúng ta cùng đọc lại lời Chúa Giêsu nói về ly dị: “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy (ly dị) vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà đã bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5:31-32).

    *

    “Các ông không đọc thấy điều này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng người ta có nam có nữ” và Ngài phán: ‘Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.’ Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly’”

... “Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19:4-9).

... Vậy sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly. Khi về đến nhà, các môn đệ lại hỏi Ngài về điều ấy (vấn đề ly dị). Ngài nói: “Ai rẫy vợ mà cưới người khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình” (Mc 10:9-12).

  Thánh Phaolô nói nhiều về vấn đề ly dị, chúng ta sơ lược một vài giáo huấn của ngài: “Còn với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi mà là Chúa: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy  vợ” (1 Cor 7:11).  Xin đọc đủ lời thánh Phaolô về Hôn Nhân và Độc Thân, 1 Cor 7:1-40, chúng tôi không trích đủ ở đây.

  Chúng tôi mạo muội hỏi: ngoại trừ trường hợp giao ước hôn phối bất hợp pháp, bất thành, vì lý do chính đáng và được Giáo Quyền cho tiêu hôn, “Lời Chúa trong Phúc Âm Mt 5:31-32; 19:4-9, Mc 10:9-12 và giáo huấn thánh Phaolô trong 1 Cor 7:11 về ly dị” trích dẫn trên đây, có còn hiệu lực hay không?

  52.-  Tảng Đá Phêrô

Nghi Vấn:  Một số lần trao đổi về các hệ phái trong Kitô giáo, chúng tôi hỏi những người không nhận quyền kế vị thánh Phêrô:

 “Chúa Giêsu lập mấy giáo hội?”

Những lời Chúa Giêsu nói với thánh Phêrô và các tông đồ lược trích sau đây có còn hiệu lực không?:

    Chúa Giêsu nói với ông Phêrô: “Này anh Simon, anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực toàn thể hỏa ngục không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: điều gì anh cầm buộc dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy ...”(Mt 16:18-19).

   “... ‘Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?’ Ông đáp: ‘Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.’ Đức Giêsu nói với ông: ‘Hãy chăm sóc (nuôi dưỡng = feed) chiên con của Thầy.’ Ngài lại hỏi: ‘Này Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?’ Ông đáp: ‘Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy.’ Ngài nói: ‘Hãy chăn dắt (tend = care for = look after = minister)  chiên  của  Thầy.’ Ngài hỏi lần thứ ba: ‘Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?’ Ông Phêrô buồn vì Ngài hỏi tới ba lần: ‘Anh có yêu mến Thầy không?’ Ông đáp: ‘Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy’ Đức Giêsu bảo: hãy nuôi dưỡng (feed = care for, minister = chăm sóc) chiên của Thầy” (Gioan 21:15-17). Mà động từ chăm sóc = nuôi dưỡng = chăn dắt có nghĩa chung gồm lo lắng cho, hướng dẫn, nuôi dưỡng, dạy dỗ, bảo vệ, v.v.

   Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ, và nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã phái Thầy đi, Thầy cũng phái anh em đi.” Nói xong, Ngài thổi hơi vào các ông và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Gioan 20: 21-23).

    Những người anh em này ngần ngừ không muốn trả lời. Nhưng rồi có người nói: “’KHÔNG’ vì những điều đó chấm dứt với cái chết của ông (= thánh) Phêrô”.

    Góp Ý: Chúng tôi trả lời những anh em đó lúc này cũng như trong những lần đối thoại trong quá khứ: Điều đó vô lý. Nếu quí vị tin như thế thì đó là quyền tự do của quí vị, nhưng xin đừng quên chúng ta có trách nhiệm về quyền tự do của mình.

    Chúng tôi hỏi: Có đúng là Chúa Giêsu chỉ có ý định thiết lập và để Giáo Hội của Ngài tồn tại chỉ trong một giai đoạn hết sức ngắn khoảng mấy chục năm, cho tới khi thánh Phêrô chết là chấm dứt như lời mấy anh em đó nói, không?

   Ai có thể tin lập luận là Giáo Hội của Chúa Giêsu chỉ kéo dài và chấm dứt ngay với cái chết của thánh Phêrô?


PHỤ LỤC  1

Thánh Công Đồng Chung Vatican II

   Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội

        (Lumen Gentium)

       Chương VII

Đặc Tính Cánh Chung của Giáo Hội

   Lữ Hành và Sự Hiệp Nhất với

       Giáo Hội trên trời

Đặc tính cánh chung của ơn gọi chúng ta

48   Tất cả chúng ta được mời gọi gia nhập Giáo Hội   trong Chúa Kitô, và nhờ ân sủng Thiên Chúa, chúng ta nên thánh trong Giáo Hội. Và Giáo Hội này chỉ kết thúc trong vinh quang trên trời, khi thời cải tạo mọi sự đến (CvSđ 3:21) và khi toàn thể vũ trụ cùng với loài người được thiết lập toàn vẹn trong Chúa Kitô, vì vũ trụ liên kết mật thiết với con người và nhờ con người đạt được cùng đích của mình (Eph 1:10; Col 1:20; 2 P 3:10-13).

  Thực vậy, Chúa Kitô, khi bị treo lên khỏi đất, đã kéo mọi người đến với mình (Jn 12:32, bản Hy lạp). Khi từ kẻ chết sống lại (Rm 6:9), Ngài đã phái Thánh Thần ban sự sống đến với các môn đệ và nhờ Thánh Thần thiết lập thân thể Ngài là Giáo Hội như bí tích phổ quát cứu rỗi. Nay đang ngự bên hữu Chúa Cha, Ngài không ngừng tác động trong thế giới để dẫn đưa mọi người về với Giáo Hội, và qua Giáo Hội, kết hợp họ mật thiết với Ngài; Ngài còn lấy chính Mình Máu Ngài nuôi họ, cho họ tham dự vào cuộc sống vinh hiển của Ngài. Vì vậy, sự cải tạo Chúa đã hứa và chúng ta đang mong đợi đã khởi sự nơi Chúa Kitô, được xúc tiến trong sứ mệnh của Thánh Thần và nhờ Ngài được tiếp diễn trong Giáo Hội. Nhờ đức tin trong Giáo Hội, chúng ta còn hiểu được ý nghĩa cuộc sống trần thế, ngay khi chúng ta lo hoàn tất công việc Chúa Cha trao phó ở đời này trong niềm hy vọng hạnh phúc mai sau cũng như khi chúng ta lo phần rỗi của mình ( Ph 2:12).

  Như vậy, thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta rồi (1 Cor 10:11) và việc canh tân thế giới được thực hiện một cách bất khả phục hồi và thực sự đã bắt đầu một cách nào đó ngay từ bây giờ vì Giáo Hội trên mặt đất đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn toàn. Dù vậy, cho tới khi có trời mới và đất mới, nơi công lý ngự trị (2 P 3:13), Giáo Hội lữ hành vẫn mang khuôn mặt chóng qua của đời này, qua các bí tích và định chế là những điều thuộc thời đại này. Giáo Hội vẫn sống giữa các thụ sinh tới nay còn rên siết quằn quại trong cơn đau đớn lúc sinh con và mong đợi con cái Thiên Chúa xuất hiện (Rm 8:19-22).

  Bởi vậy, được nối kết với Chúa Kitô trong Giáo Hội và được in dấu của Thánh Thần là “bảo chứng của cơ nghiệp chúng ta” (Eph 1:14), chúng ta thực sự được gọi là con Thiên Chúa và chúng ta là con Chúa thật  (1 Jn 3:1); nhưng chúng ta chưa được xuất hiện với Chúa Kitô trong vinh quang (Col 3:4), trong đó chúng ta sẽ nên giống Thiên Chúa và trông thấy Ngài như Ngài thật sự (1 Jn 3:2). Vì thế, “đang khi chúng ta còn ở trong xác này là phải lưu đày xa Chúa” (2 Cor 5:6)  và được hưởng hoa quả đầu mùa của Thánh Thần, chúng ta âm thầm than vãn (Rm 8:23)  và khao khát được ở với Chúa Kitô (Ph 1:23). Chính đức ái đó thúc bách chúng ta sống cho Ngài hơn nữa vì Ngài đã chết và sống lại cho chúng ta (2 Cor 5:15). Do đó chúng ta gắng sức làm đẹp lòng Chúa trong mọi việc (2 Cor 5:9) và mặc lấy binh giáp Thiên Chúa hầu có thể đứng vững trước những cạm bẫy của ma quỉ và kháng cự chúng trong ngày gian truân (Eph 6:11-13). Đàng khác, vì không biết ngày và giờ, chúng ta phải luôn tỉnh thức theo lời Chúa dạy để khi cuộc đời độc nhất của chúng ta ở trần gian chấm dứt (Dth 9:27), chúng ta xứng đáng vào dự tiệc cưới với Ngài và được liệt vào sổ những người được chúc phúc (Mt 25:31-46), chứ không như những tôi tớ khốn nạn và lười biếng (Mt 25:26) sẽ bị đẩy vào lửa đời đời (Mt 25:41), vào chốn tối tăm, nơi “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 22:13; 25:30). Thật vậy, trước khi ngự trị với Chúa Kitô vinh hiển, mọi người chúng ta đều phải trình diện “trước tòa Chúa Kitô, để mọi người lãnh nhận những thành quả đời mình đã làm trong thân xác hoặc lành hoặc dữ” (2 Cor 5:10), và ngày tận thế “người đã làm lành sẽ sống lại hầu được sống, còn người làm ác sẽ sống lại để chịu luận phạt” (Jn 5:29; Mt 25:46). Bởi đó, tin rằng “những đau khổ hiện thời chẳng thấm vào đâu với vinh quang sắp tới sẽ được giãi bày cho chúng ta” (Rm 8:16; 2 Tm 2:11-12), chúng ta mạnh mẽ tin tưởng trông đợi “niềm hy vọng hạnh phúc và ngày trở lại vinh quang của Thiên Chúa cao cả và Đấng cứu chuộc chúng ta là Chúa Giêsu Kitô” (Tit 2:13). “Ngài sẽ cải tạo thân xác hèn mạt của ta ra giống thân xác sáng láng của Ngài” (Ph 3:21) và sẽ ngự đến “để được vinh quang trong các Thánh của Ngài và được thán phục trong mọi người đã tin” (2 Th 1:10).

*

Sự hiệp thông giữa Giáo Hội trên trời và Giáo Hội lữ hành

 Bởi thế, cho tới khi Chúa ngự đến trong uy nghi, có

tất cả các Thiên Thần theo Ngài (Mt 25:31), và khi sự chết đã bị hủy diệt, mọi vật đều qui phục Ngài (1 Cor 15:26-27), thì trong số các môn đệ Chúa, có những người vẫn còn tiếp tục cuộc hành trình nơi trần thế, có những người đã hoàn tất cuộc sống này và đang được tinh luyện, và có những người được vinh hiển đang chiêm ngưỡng “rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có”. Nhưng hết thảy mọi người chúng ta, tùy cấp bậc và cách thức khác nhau, đều hiệp thông trong cùng một đức mến Chúa yêu người, cùng hát lên một bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa chúng ta, vì tất cả những người thuộc về Chúa Kitô và nhận lãnh Thánh Thần của Ngài, đều hợp thành một Giáo Hội duy nhất và liên kết với nhau trong Ngài (Eph 4:16). Bởi vậy, sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh chị em đã yên nghỉ trong anh bình Chúa Kitô không hề bị gián đoạn, trái lại, Giáo Hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Quả thực, nhờ kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô hơn, các người ở trên trời củng cố toàn thể Giáo Hội vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng hiện nay Giáo Hội tại thế dâng lên Thiên Chúa, được cao cả hơn, và các vị đó góp phần phát triển Giáo Hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách (1 Cor 12:12-27). Được về quê trời và hiện diện trước nhan Chúa (2 Cor 5:8) nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài, các Thánh không ngừng cầu bầu cho chúng ta bên Chúa Cha, bằng cách trình bày các công nghiệp đã lập được khi còn ở trần thế, nhờ Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người là Chúa Giêsu Kitô (1 Tm 2:5), khi các vị đó đã phục vụ Chúa trong mọi sự, và hoàn tất nơi thân xác mình những gì còn thiếu sót trong các đau khổ của Chúa Kitô, hầu mưu ích cho Thân Thể Ngài là Giáo Hội (Col 1:24). Do đó, với tình huynh đệ, các ngài lo lắng giúp đỡ chúng ta rất nhiều vì chúng ta yếu hèn.

*

Chú thích giáo huấn 49:

   Nền tảng tín lý được trình bày rõ ràng và chính xác để tránh những khuynh hướng cực đoan và để giúp cho nhu cầu hiệp nhất được dễ dàng hơn. Công Đồng dạy rằng cho tới khi Chúa Kitô lại đến trong vinh quang, một số người đã được ở trên Nước Trời, một số khác trong luyện ngục, một số khác nữa đang trên đường tiến về đời sau, nhưng tất cả đều kết hiệp với Chúa Kitô làm nên một Giáo Hội duy nhất. Công Đồng cũng dạy rằng các thánh trên trời lấy tình thương phù trợ đặc biệt cho những người anh em khác và củng cố cũng như làm đẹp Giáo Hội trần gian.

*

Tương quan giữa Giáo Hội lữ hành và Giáo Hội trên trời    

50        Nhận biết đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn

Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết, “vì cầu nguyện cho người chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh” (2 Mac 12:45). Đối với các tông đồ và những vị tử đạo của Chúa Kitô, là những nhân chứng cao cả đã đố máu vì đức tin và đức ái, Giáo Hội luôn tin rằng các ngài liên kết với chúng ta mật thiết hơn trong Chúa Kitô: với lòng yêu mến đặc biệt, Giáo Hội tôn kính các ngài cùng với Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh Thiên Thần, và sốt sắng nài xin các ngài trợ giúp và cầu bầu cho. Sau đó không bao lâu, thêm vào số các vị trên, Giáo Hội còn tôn kính những người đã nhiệt thành noi gương khiết trinh và khó nghèo của Chúa Kitô; sau cùng, có những người vì đã thực hành cách phi thường các nhân đức Kitô giáo và được Chúa ban nhiều ân điển, nên được các tín hữu thành tâm tôn kính và noi theo.

  Quả thực, khi ngắm nhìn đời sống những người đã trung thành bước theo Chúa Kitô, chúng ta khám phá ra một lý do mới thúc đẩy chúng ta tìm kiếm Thành Thánh tương lai (Dth 13:14; 10:11), đồng thời chúng ta cũng biết con đường chắc chắn nhất giúp chúng ta đạt tới sự kết hiệp hoàn toàn với Chúa Kitô, nghĩa là đạt tới sự thánh thiện, giữa bao thăng trầm trần thế, tùy theo bậc sống và hoàn cảnh riêng của mỗi người. Qua cuộc sống của những người cùng mang một bản tính nhân loại như chúng ta, những đã được biến đổi nên giống hình ảnh Chúa Kitô hơn (2 Cor 3:18), Thiên Chúa tỏ lộ rõ ràng cho con người thấy dung nhan và sự hiện diện của Ngài. Chính Ngài nói với chúng ta qua các vị ấy và ban cho chúng ta thấy dấu chỉ Nước Ngài, và mãnh liệt lôi cuốn chúng ta tới Nước ấy nhờ số những nhân chứng đông đảo như mây trời (Dth 12:1) và nhờ chân lý Phúc Âm được chứng thật như thế.

  Tuy nhiên, chúng ta kính nhớ các Thánh trên trời không chì vì gương lành các ngài mà thôi, nhưng đúng hơn để sự hiệp nhất của toàn thể Giáo Hội trong Thánh Thần được bền vững nhờ thực hành đức bác ái huynh đệ (Eph 4:1-6). Thực vậy, cũng như mối hiệp thông giữa các Kitô hữu còn sống trên dương thế đưa chúng ta tới gần Chúa Kitô hơn, thì sự liên kết với các Thánh cũng hiệp nhất chúng ta với Ngài, là Đầu và là Nguồn phát sinh mọi ân sủng và sự sống của chính Dân Thiên Chúa. Do đó, điều hết sức thích đáng là chúng ta yêu mến các bạn hữu và những người đồng thừa tự của Chúa Kitô, cũng là anh chị em và ân nhân đặc biệt của chúng ta, đồng thời chúng ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì các ngài và “thành khẩn van nài, chạy đến xin các ngài cầu nguyện và trợ lực, giúp đỡ, hầu Chúa Cha ban cho nhiều ơn lành, nhờ Chúa Giêsu Kitô, Con Chúa, Chúa chúng ta, Đấn Cứu Chuộc và Giải Thoát duy nhất của chúng ta”. Thực vậy, tự bản chất mọi bằng chứng đích thực biểu lộ tình yêu chúng ta đối với các Thánh trên trời luôn qui hướng và kết thúc nơi Chúa Kitô là “triều thiên của toàn thể các Thánh”, và nhờ Ngài qui hướng và kết thúc nơi Thiên Chúa, Đấng đáng ca tụng và tôn vinh trong các Thánh.

   Hơn nữa, sự hiệp nhất của chúng ta với Giáo Hội trên trời được thực hiện cách hết sức cao cả, đặc biệt trong Phụng Vụ; ở đó quyền năng Thánh Thần hoạt  động trên chúng ta qua các dấu chỉ bí tích, ở đó chúng ta cùng lớn tiếng ngợi khen Thiên Chúa uy linh, và tất cả mọi người thuộc mọi chi tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia được cứu chuộc trong máu Chúa Kitô (Kh 5:9), hợp nhau trong một Giáo Hội duy nhất, đồng thanh chúc tụng một Thiên Chúa Ba Ngôi. Bởi vậy, khi cử hành lễ hy tế tạ ơn, chúng ta kết hợp rất mật thiết với việc thờ phượng của Giáo Hội trên trời, vì hiệp cùng Giáo Hội, chúng ta kính nhớ trước hết Đức Maria vinh hiển, trọn đời Đồng Trinh, sau là Thánh Giuse, các Thánh Tông Đồ và Tử Đạo cùng toàn thể các Thánh.

*

Hướng dẫn mục vụ của Công Đồng

51      Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao

trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh chị em được vinh hiển trên trời hoặc còn phải tinh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của các thánh Công Đồng Nicea II, Firenze và Tridentinô. Đồng thời, vì quan tâm đến mục vụ, Công Đồng khuyên nhủ tất cả những vị hữu trách hãy hết sức ngăn cản và sửa dạy những ai lạm dụng cách thái quá hoặc bất cập, và hãy tái lập mọi sự để Thiên Chúa và Chúa Kitô được ngợi khen cách trọn hảo hơn. Bởi vậy, các vị cần dạy cho tín hữu biết rằng việc tôn kính các Thánh đích thực không hệ tại nhiều ở những việc bề ngoài cho bằng ở cường độ tình yêu tích cực của chúng ta. Tình yêu ấy giúp chúng ta tìm thấy “một gương mẫu trong khi gặp gỡ các ngài, được thông hiệp qua việc kết hợp với các ngài và được các ngài cầu bầu trợ giúp”, để đem lại nhiều lợi ích cho Giáo Hội và cho chúng ta. Đàng khác, ước gì các vị cũng tích cực giúp các tín hữu hiểu rằng mối liên lạc giữa chúng ta và Thánh trên trời, hiểu theo ánh sáng trọn vẹn của đức tin, không hề làm suy giảm việc tôn thờ dành riêng cho Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, nhưng trái lại còn làm cho việc tôn thờ ấy thêm phong phú hơn.

  Vì tất cả chúng ta đều là con cái Thiên Chúa và hợp thành một gia đình trong Chúa Kitô (Dth 3:6), nên khi hiệp thông với nhau trong tình yêu qua lời đồng thanh ca tụng Chúa Ba Ngôi chí thánh, chúng ta cùng đáp lại lời mời gọi thân tình của Giáo Hội, và được tham dự, cảm nếm trước phụng vụ vinh hiển toàn hảo. Vì khi Chúa Kitô hiện đến và khi người chết sống lại trong vinh quang, ánh sáng Thiên Chúa sẽ chiếu soi Thành Thánh trên trời và Con Chiên sẽ là đuốc sáng (Kh 21:24). Toàn thể Giáo Hội các Thánh sẽ thờ lạy Thiên Chúa và “Con Chiên đã bị giết” (Kh 5:12) trong hạnh phúc sung mãn của đức ái và đồng thanh ca tụng rằng: “Ngợi khen, danh dự, vinh hiển, quyền năng muôn đời cho Đấng ngự trên ngai và Con Chiên” (Kh 5:13-14).

                 CHƯƠNG VIII

    ĐỨC TRINH NỮ MARIA  MẸ THIÊN CHÚA

       TRONG MẦU NHIỆM CHÚA KITÔ VÀ

                          GIÁO HỘI

I. LỜI MỞ ĐẦU

52    Thiên Chúa là Đấng vô cùng nhân hậu và khôn ngoan đã muốn hoàn tất việc cứu chuộc, nên “khi đến thời viên mãn, Ngài đã phái Con Mình đến, sinh bởi người nữ ... để chúng ta được nhận làm nghĩa tử (Gal 4:4-5). “Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Ngài đã từ trời xuống thế, bởi phép Chúa Thánh Thần, Ngài đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria”. Mầu nhiệm cứu rỗi thần linh này được mạc khải cho chúng ta và vẫn tiếp tục trong Giáo Hội, Giáo Hội mà Chúa đã lập làm thân thể Ngài. Trong Giáo Hội ấy, liên kết với Chúa Kitô Thủ Lãnh và hiệp thông với toàn thể các Thánh của Ngài, các tín hữu cũng phải kính nhớ “trước hết Đức Maria vinh hiển, trọn đời Đồng Trinh, Mẹ Thiên Chúa Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

*

Đức Maria và Giáo Hội

53      Thực vậy, khi sứ thần truyền tin, Đức Trinh Nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn cùng thân xác, và đem Sự Sống đến cho thế gian nên được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu Thế. Được cứu chuộc cách kỳ diệu hơn nhờ công nghiệp Con của Người và hiệp nhất mật thiết và bền chặt với Con, Đức Maria đã lãnh nhận nhiệm vụ và vinh dự cao cả là được làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng vô cùng cao quí này, Người đã trội vượt mọi tạo vật khác trên trời dưới đất. Nhưng đồng thời, vì thuộc dòng dõi Adam, Người cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu rỗi; hơn nữa, “Người thật là Mẹ các chi thể (của Chúa Kitô) ... vì đã cộng tác trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội là những chi thể của Đầu ấy”. Vì thế, Người cũng được chào kính như chi thể siêu quần, hết sức đặc biệt của Giáo Hội và như mẫu mực, gương sáng phi thường của Giáo Hội trên phương diện đức tin và đức ái, và Giáo Hội công giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, dâng lên Người tình con thảo, như đối với một người Mẹ rất yêu dấu.

*

Ý hướng của Công Đồng

    Bởi thế, khi trình bày giáo lý về Giáo Hội – trong

Giáo Hội này Chúa Cứu Thế thực hiện việc cứu độ – Thánh Công Đồng ân cần mong muốn làm sáng tỏ vai trò của Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể và Nhiệm Thể, cũng như làm sáng tỏ bổn phận những người được cứu chuộc đối với Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ Chúa Kitô và Mẹ nhân loại, cách riêng Mẹ các tín hữu. Tuy nhiên, Công Đồng không có ý đưa ra một học thuyết đầy đủ về Đức Maria cũng không có ý giải quyết các vấn đề chưa được sáng tỏ trọn vẹn trong việc nghiên cứu của các nhà thần học. Những ý kiến được tự do trình bày trong các trường phái công giáo về Đấng có địa vị cao cả nhất trong Hội Thánh sau Chúa Kitô và cũng là Đấng rất gần chúng ta, đều được duy trì cách hợp pháp.

*

II. VAI TRÒ ĐỨC TRINH NỮ TRONG NHIỆM CUỘC CỨU RỖI

Mẹ Đấng Cứu Thế trong Cựu Ước

Thánh Kinh, Cựu Ước cũng như Tân Ước, và Thánh

Truyền đáng kính, trình bày ngày một sáng tỏ hơn vai trò của Mẹ Đấng Cứu Thế trong nhiệm cuộc cứu rỗi và đưa vai trò ấy ra cho chúng ta chiêm ngắm. Thực vậy, các sách Cựu Ước thuật lại lịch sử cứu rỗi, trong đó ngày Chúa Kitô xuất hiện trên thế giới dược chuẩn bị cách tiệm tiến. Các tài liệu tiên khởi này, như Giáo Hội vẫn đọc và về sau hiểu theo ánh sáng mạc khải trọn vẹn, dần dần cho thấy rõ ràng hơn hình ảnh của người nữ, Mẹ Đấng Cứu Thế. Theo ánh sáng mạc khải ấy, người nữ này đã được phác họa trước trong lời hứa chiến thắng con rắn, lời hứa mà Nguyên Tổ đã nhận được sau khi phạm tội (Stk 3:15). Cũng thế, Người là Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh Con Trai tên là Emmanuel (Is 7:14; Mik 5:2-3; Mt 1:22-23). Người trội vượt trên các người khiêm nhượng và khó nghèo của Chúa, là những người tin tưởng hy vọng và lãnh nhận ơn cứu độ nơi Chúa. Cuối cùng, sau thời mong đợi lời hứa được thực hiện, thời gian đã nên trọn và Nhiệm Cuộc mới được thiết lập với Người, người Thiếu Nữ  Sion cao sang khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi Người để giải thoát con người khỏi tội lỗi nhờ các mầu nhiệm của thân xác Chúa. 

*

Đức Maria trong việc truyền tin

56    Nhưng Chúa Cha rất nhân từ đã muốn Đấng được tiền định làm mẹ ưng thuận trước khi Chúa Con nhập thể, như trước kia một người nữ đã hợp tác cho sự chết, nay cũng có một người nữ hợp tác cho sự sống. Điều đó đặc biệt thích hợp với Mẹ Chúa Giêsu, vì Người đem đến cho thế giới chính Nguồn Sống cải tạo mọi sự, nên  đã được Chúa ban cho nhiều ơn cân xứng với vai trò cao cả như thế. Do đó, không lạ gì khi các Thánh Giáo Phụ đã thường ca tụng Mẹ Thiên Chúa là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới thụ thai. Đức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên Thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và kính chào là “Đấng đầy ơn phúc” (Lc 1:28). Và Trinh Nữ đã đáp lời Thiên Sứ rằng: “Này tôi là Nữ Tì của Chúa, tôi xin vâng theo lời ngài” (Lc 1:38). Như thế, Đức Maria, con cháu Adam, vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Chúa Giêsu. Hết lòng đón lấy ý định cứu rỗi của Thiên Chúa, vì không một tội nào ngăn trở Người, Đức Maria đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp Con của Người, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con của Người. Bởi vậy, các Thánh Giáo Phụ đã nghĩ rất đúng rằng: Thiên Chúa đã không thu dụng Đức Maria các thụ động, nhưng đã để Người tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Người. Thực vậy, Thánh Irene nói: “Chính Người, nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại”. Và cùng với thánh Irene, còn có rất nhiều Thánh Giáo Phụ thời xưa cũng không ngần ngại giảng dạy rằng: “Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân của Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria; điều mà trinh nữ Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, Đức Trinh Nữ Maria đã tháo gỡ ra nhờ lòng tin; và so sánh với Evà, các ngài gọi Đức Maria là “Mẹ kẻ sống”, và thường quả quyết rằng: “Sự chết đến vì Evà, sự sống đến nhờ Đức Maria”.     

*

Đức Maria và thời thơ ấu Chúa Giêsu

57   Sự  liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi

được tỏ rõ từ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết. Thực vậy, trước hết, Đức Maria vội vã đến thăm bà Elisabeth và được bà ấy chào mừng là người có phúc vì đã tin vào sự cứu rỗi Chúa đã hứa, và vị tiền hô nhảy trong lòng mẹ (Lc 1:41-45). Rồi ngày sinh nhật, Mẹ Thiên Chúa đã vui mừng giới thiệu với các mục đồng và các nhà bác học người Con đầu lòng của mình, mà khi sinh ra đã không làm giảm bớt nhưng còn thánh hiến sự trinh khiết toàn vẹn của Người. Trong đền thánh, sau khi hiến tế lễ vật ấn định cho người nghèo, Đức Maria dâng Con lên cho Thiên Chúa và đã nghe Simeon báo trước Con mình sẽ là dấu chỉ sự phản kháng, và một lưỡi gươm sẽ đâm thấu lòng mẹ, nhờ đó tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ tỏ lộ ra (Lc 2:34-35). Khi trẻ Giêsu lạc mất, cha mẹ Ngài đã lo âu tìm kiếm và gặp lại Con trong đền thánh đang bận tâm lo việc của Cha Ngài. Các Vị không hiểu được lời Con nói; nhưng Mẹ Chúa Giêsu giữ lấy tất cả các điều ấy và suy gẫm trong lòng (Lc 2:41-51).

*

Đức Maria và đời sống công khai của Chúa Giêsu

58   Trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, Mẹ Ngài cũng đã xuất hiện rõ ràng và ngay từ đầu, trong tiệc cưới thành Cana, xứ Galilea, vì động lòng thương xót Người đã cầu bầu, khiến Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai, làm phép lạ đầu tiên của Ngài (Jn 2:1-11). Trong thời gian Chúa truyền đạo, Đức Maria đá đón nhận lời Con của Người, những lời cho thấy Nước Trời vượt lên khỏi các mối bận tâm và liên hệ huyết nhục, và tuyên dương những người nghe và giữ lời Thiên Chúa là có phúc (Mc 3:35; Lc 11:27-28) như chính Người hằng thực hành điều đó cách trung tín (Lc 2:19,51). Như thế Đức Trinh Nữ cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, và Người đã đứng ở đó theo ý Chúa muốn (Jn 19:23). Đức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hy lễ của Con với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế hy lễ do lòng mình sinh ra. Cuối cùng chính Chúa Giêsu Kitô khi hấp hối trên thập giá đã trối Người làm Mẹ của môn đệ qua lời này: “Thưa Bà, đây là con Bà” (Jn 19:26-27).

Đức Maria sau khi Chúa lên trời

59    Vì Thiên Chúa không muốn tỏ bày mầu nhiệm cúu rỗi nhân loại cách long trọng trước khi Ngài đổ tràn Thánh Thần Chúa Kitô đã hứa, nên chúng ta thấy các Tông Đồ trước ngày lễ Ngũ Tuần “đã kiên tâm hiệp ý cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, với Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu và với anh em Ngài (CvSđ 1:14). Đức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Đấng đã bao phủ Người trong ngày Truyền Tin. Sau cùng, được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ và sau khi hoàn tất cuộc đời nơi trần thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con của Người trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (Kh 19:16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết.

III. ĐỨC TRINH NỮ VÀ GIÁO HỘI

Đức Kitô, Đấng trung gian duy nhất và Mẹ Maria

 Chúng ta chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất, như lời Thánh Tông Đồ dạy: “Thực vậy, chỉ có một Thiên Chúa, và chỉ có một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa với nhân loại, đó là Con Người Giêsu Kitô đã dâng mình làm giá chuộc mọi người” (Tm 2:5-6). Nhưng vai trò làm mẹ của Đức Maria đối với loài người không làm lu mờ hoặc giảm bớt vai trò trung gian duy nhất của Chúa Kitô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Thật thế, mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô. Ảnh hưởng ấy nương tựa và hoàn toàn tùy thuộc vào sự trung gian của Chúa Kitô, nguồn phát sinh tất cả ảnh hưởng đó. Ảnh hưởng này không cản trở gì, trái lại còn giúp đỡ các tín hữu kết hiệp trực tiếp với Chúa Kitô.

*

Cộng tác vào việc cứu chuộc

61      Từ muôn đời, Đức Trinh Nữ đã được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, và theo chương trình của Chúa Quan Phòng, Người trở nên Mẹ cao trọng của Đấng Cứu Chuộc thần linh trên trần gian, và cách đặc biệt hơn mọi người khác. Người là cộng sự viên quảng đại và nữ tì khiêm tốn của Chúa. Vì đã cưu mang sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh và cùng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng, Người thật là Mẹ chúng ta.

*

Vai trò tùy thuộc trong việc cứu rỗi

62  Nhưng trong nhiệm cục ân sủng, Đức Maria luôn tiếp

tục thiên chức làm mẹ, từ khi Người tin tưởng ưng thuận trong ngày Truyền Tin – sự ưng thuận mà Người đã không ngần ngại giữ vững bên thập giá - cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn. Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Người trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Người vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Người chăm sóc những anh em Con của Người đang lữ hành trên dương thế và đang gặp bao nguy hiểm, thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời. Vì thế, trong Giáo Hội, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng Sư, Vị Bảo Trợ, Đấng Phù Hộ và Đấng Trung Gian. Tuy nhiên phải hiểu các tước hiệu ấy thế nào để không thêm bớt gì vào vinh dự và quyền năng của Đức Kitô Đấng Trung Gian duy nhất.

  Thực vậy, không bao giờ có thể đặt một thụ tạo ngang hàng với Ngôi Lời nhập thể và cứu chuộc; nhưng cũng như chức tư tế của Chúa Kitô được thông ban dưới nhiều hình thức cho các thừa tác viên và các giáo dân, và cũng như sự tốt lành duy nhất của Thiên Chúa được ban phát nhiều cách cho các tạo vật, thì sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu Thế không những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ sinh cộng tác, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất.

  Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng vai trò tùy thuộc ấy của Đức Maria. Giáo Hội thường cảm nghiệm được và nhắn nhủ các tín hữu ghi nhớ vai trò ấy trong lòng để nhờ Mẹ nâng đỡ và phù hộ, họ gắn bó mật thiết hơn với Đấng Trung Gian và Cứu Thế.

*

Đức Maria trinh nữ và người mẹ là mẫu mực của Giáo Hội

63      Đức Trinh Nữ nhờ ơn huệ và vai trò làm Mẹ Thiên Chúa, nhờ đó Người được hiệp nhất với Con là Đấng Cứu Chuộc cũng như nhờ các ơn và nhiệm vụ đặc biệt khác, Người còn kết hiệp mật thiết với Giáo Hội. Như Thánh Ambrosio đã dạy, Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo Hội trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô. Thực vậy, trong mầu nhiệm Giáo Hội, chính Giáo Hội cũng được gọi cách hợp pháp là Mẹ và Trinh Nữ. Đức Trinh Nữ Maria đi tiên phong, tỏ ra là một người mẹ và một trinh nữ gương mẫu tuyệt vời và hiếm có. Vì, bởi lòng tin và vâng phục, Người đã sinh chính Con Chúa Cha nơi trần gian mà không hề biết đến người nam, nhưng được Chúa Thánh Thần bao phủ. Như một Evà mới, Người đã đặt niềm tin vào sứ giả của Thiên Chúa, chứ không đặt vào con rắn xưa, một niềm tin không bị một nghi ngờ nào làm phai nhạt. Nhưng Người Con mà Đức Maria sinh ra đã được Thiên Chúa đặt làm Trưởng Tử trong nhiều anh em (Rm 8:29), nghĩa là các tín hữu, và Người cộng tác vào việc sinh hạ và giáo dục họ với tình mẹ thương con.

Chú thích giáo huấn số 63

   Trước hết là đức trinh khiết, nhưng hiểu theo chiều hướng thiêng liêng. Nó hệ tại đức tin và đức cậy nhờ đó Đức Maria đã sinh Con Chúa do quyền phép Chúa Thánh Thần mà không có sự  liên  lạc xác thịt nào với người nam, và như vậy đã trở thành người Mẹ. Đức Maria đã thụ thai Ngôi Lời trong tâm hồn trước khi thụ thai trong lòng. Đức trinh khiết đi đôi với sự chấp thuận không thể thiếu của đức tin. Đức Maria đã đi trước Giáo Hội ở điểm này. Chính do Mẹ mà Chúa Kitô được sinh ra, Đấng sẽ làm cho Giáo Hội thành thân thể của Ngài.

*

Giáo Hội là trinh nữ và là mẹ

64     Tuy nhiên, khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện kỳ diệu và noi gương bác ái của Đức Maria cũng như trung thành chu toàn thánh ý Chúa Cha, Giáo Hội vì trung thành lãnh nhận lời Thiên Chúa, nên cũng được làm mẹ. Thực vậy, nhờ việc rao giảng và ban phép rửa, Giáo Hội sinh ra những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra do Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt. Giáo Hội cũng là trinh nữ đã giữ gìn toàn vẹn và tinh tuyền lòng trung nghĩa đã hiến cho Phu Quân; và noi gương Mẹ Chúa của mình, nhờ thần lực của Thánh Thần, Giáo Hội bảo tồn cho tinh tuyền một đức tin toàn vẹn, một đức cậy vững vàng và một đức mến chân thành.

Giáo Hội phải bắt chước nhân đức của Mẹ Maria

65     Tuy nhiên, Giáo Hội, qua Đức Trinh Nữ diễm phúc

đã đạt tới sự toàn thiện làm cho mình không còn vết nhơ hoặc nét nhăn (Eph 5:27), nhưng Kitô hữu vẫn còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi để lớn lên trong sự thánh thiện. Vì thế, họ ngước mắt nhìn lên Đức Maria là một gương mẫu nhân đức sáng ngời cho toàn thể cộng đoàn những người được chọn. Nhờ thành kính tưởng nhớ Đức Maria và chiêm ngưỡng Người dưới ánh sáng của Ngôi Lời nhập thể, Giáo Hội cũng tiến sâu hơn vào mầu nhiệm nhập thể cao siêu, và càng ngày càng nên giống Phu Quân mình hơn. Thực vậy, Đức Maria đã mật thiết gắn liền với lịch sử cứu rỗi và có thể nói là Người đã qui tụ và phản chiếu nơi mình những đòi hỏi cao cả nhất của đức tin, và khi  các tín hữu nghe rao giảng về Người và tôn sùng Người, họ được Người mời gọi đến kết hiệp với hy lễ Con của Người và yêu mến Chúa Cha. Phần Giáo Hội càng tìm kiếm vinh quang Chúa Kitô càng nên giống Khuôn Mẫu cao cả của mình, nhờ luôn tiến tới trong đức tin, đức cậy, đức mến, và tìm kiếm cùng vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự. Do đó, trong công cuộc tông đồ, Giáo Hội có lý để nhìn lên Đấng đã sinh Chúa Kitô là người được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Nữ Trinh sinh ra để nhờ Giáo Hội, Ngài cũng sinh ra và lớn lên trong lòng các tín hữu. Đời sống của Đức Trinh Nữ là một gương sáng của tình mẫu tử thắm thiết. Tình mẫu tử ấy phải là động lực của tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội để tái sinh nhân loại.

 IV. VIỆC TÔN KÍNH ĐỨC TRINH NỮ TRONG GIÁO HỘI

Bản tính và nền tảng của việc tôn kính Đức Mẹ

66    Nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Maria được tôn vinh,

sau Con mình, vượt trên hết các thiên thần và loài người, vì Người là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và đã tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Kitô, do đó Người đáng được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính. Thực vậy, từ những thời rất xa xưa, Đức Trinh Nữ đã được tôn kính dưới tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Người trong mọi cơn gian nan khốn khó. Nhất là từ công đồng Ephesô, Dân Thiên Chúa đã gia tăng lòng tôn kính Đức Maria cách lạ lùng: họ sùng kính mến yêu, cầu khẩn và noi gương đúng như lời Người đã tiên báo: “Muôn đời sẽ khen tôi có phúc, vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc trọng đại” (Lc 1:48-49). Sự tôn kính ấy, như vẫn luôn có trong Giáo Hội, tuy hoàn toàn đặc biệt, nhưng tự bản chất vẫn khác biệt với sự thờ phượng dâng lên Ngôi Lời nhập thể và lên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, việc tôn kính Đức Maria còn khuyến khích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi. Giáo Hội đã chấp nhận nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa trong giới hạn của giáo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo hoàn cảnh, thời gian và nơi chốn, hợp với tính khí cùng tinh thần của tín hữu; những hình thức ấy, qua việc tôn vinh Mẹ, cũng làm cho tín hữu đúng đắn nhận biết mến yêu, làm vinh danh, và tuân giữ giới răn Chúa Con, vì Ngài muôn vật được tạo thành (Col 1:15-16) và nơi Ngài, Chúa Cha hằng hữu “muốn có đầy đủ mọi sự” (Col 1:19).

Chú thích giáo huấn số 66

Nền tảng việc tôn kính Đức Maria là do việc Mẹ Thiên Chúa được gắn liền với mầu nhiệm cứu rỗi của Chúa Kitô. Vì Đức Maria được dự phần vào mầu nhiệm này hơn bất cứ ai khác, nên Giáo Hội đặc biện tôn kính Mẹ. Việc tôn kính – bản chất của việc sùng mộ – được gọi là đặc biệt (so sánh với việc tôn kính các thánh), nhưng xét theo yếu tính thì hoàn toàn khác với việc tôn thờ chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Tiêu chuẩn của việc tôn kính là phải phù hợp với giáo lý chính thống. Việc tôn kính chỉ có bảo đảm khi trung thành với ơn linh ứng riêng và phải hoàn toàn hướng về Con duy nhất mà trong Ngài, Chúa Cha tác thành mọi sự. Việc sùng mộ sẽ trở nên ảo tưởng nếu không đưa đến việc tuân giữ các giới răn Chúa. Giả thiết như thế rồi, cũng còn phải lưu ý đến những hình thức tôn kính khác nhau nhưng vẫn hợp pháp, do hoàn cảnh thời gian và nơi chốn tạo ra hoặc do những tâm tình khác nhau của mỗi dân tộc. Vậy phải thận trọng nhưng đừng có đầu óc thiển cận. Việc tôn kính với cùng một hình thức như nhau sẽ trở nên nghèo nàn; phải đề quyền cho công giáo tính.

*

Chiều hướng mục vụ

67       Thánh Công Đồng cố ý dạy giáo lý công giáo ấy, đồng thời Giáo Hội cũng khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Đức Trinh  Nữ, nhất là trong phụng vụ, cần coi trọng những việc thực hành và việc đạo đức nhằm suy tôn Người và đã được Huấn Quyền của Giáo Hội cổ võ qua các thế kỷ, cũng như cần phải kính cẩn tuân giữ những quyết định của các thời đại trước liên quan đến việc tôn kính ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Trinh Nữ và các Thánh. Công Đồng cũng hết lòng khuyến khích các nhà thần học và những người rao giảng lời Chúa, khi xét đến phẩm chức phi thường của Mẹ Thiên Chúa, cần phải cẩn thận tránh mọi tư tưởng phóng đại sai lầm cũng như mọi tư tưởng hẹp hòi quá đáng. Nhờ học hỏi Thánh Kinh, các Thánh Giáo Phụ, các tiến sĩ và học hỏi các phụng vụ trong Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, họ cần làm sáng tỏ đúng mức những vai trò và đặc ân của Đức Trinh Nữ: những chức vụ và đặc ân này luôn quy hướng về Chúa Kitô, nguồn mạch toàn thể chân lý, thánh thiện và đạo đức. Họ phải cẩn thận tránh xa mọi lời nói hoặc việc làm có thể làm cho anh em ly khai hoặc bất cứ ai khác hiểu sai giáo lý đích thực của Giáo Hội. Phần các tín hữu, cần nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính không hệ tại tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta.

V.   ĐỨC MARIA, DẤU CHỈ LÒNG CẬY TRÔNG VỮNG VÀNG  VÀ NIỀM AN ỦI CHO DÂN CHÚA ĐANG LỮ HÀNH

Đức Maria, dấu chỉ của Dân Thiên Chúa

68   Ngày nay Mẹ Chúa Giêsu đã được vinh hiển hồn xác trên trời, là hình ảnh và khởi thủy của Giáo Hội phải hoàn thành đời sau; cũng thế, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2 P 3:10), Người chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành.

*

Đức Maria chuyển cầu cho sự hiệp nhất các Kitô hữu

69   Thánh Công Đồng rất vui mừng và được an ủi khi thấy ngay giữa các anh em ly khai không thiếu những người dâng lên Mẹ Chúa Cứu Thế vinh dự Người đáng được, nhất là các anh em Đông Phương, những người nhiệt thành và hết lòng sùng kính Mẹ Thiên Chúa trọn đời Đồng Trinh. Tất cả mọi Kitô hữu hãy thiết tha khẩn nguyện Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ loài người, để như Người đã trợ giúp Giáo Hội sơ khai bằng lời cầu nguyện của mình, ngày nay được tôn vinh trên các Thần Thánh trên trời. Người cũng cầu bầu cùng Con của Người trong sự hiệp thông toàn thể các Thánh cho tới khi mọi gia đình dân tộc hoặc đã mang danh hiệu Kitô hữu, hoặc chưa biết Đấng Cứu Chuộc mình, đều hân hoan đoàn tụ trong an bình và hòa thuận, hợp thành một dân Thiên Chúa duy nhất, làm vinh danh Ba Ngôi Thiên Chúa chí thánh và không phân chia.

 

Quý vị là vị khách Chúa Giêsu yêu.
Website được thăm viếng lần từ 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
| Home | | Email |