|
Mục Lục:
- Giới thiệu
- Nội dung
Phần 1
- Lờimởđầu
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
Phần 2
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
Phần 3
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
Phần 4
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
Phần 5
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
Phần 6
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12
Phần 7
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
Phần 8
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
|
Mục Đọc Sách Trên Net:
MẸ MARIA, HIỀN MẪU CHÚA KITÔ
(hay THẦN ĐÔ HUYỀN NHIỆM)
Mẹ Bề Trên Maria d'Agreda
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi chuyển ngữ
CHƯƠNG 5, Phần Bốn
*
CÁC MỤC TỬ
THỜ LẠY CHÚA GIÁNG SINH;
* CHÚA HÀI ĐỒNG CHỊU PHÉP CẮT BÌ
Sau khi triều thần
thiên đàng đã mừng Thiên Chúa làm người giáng sinh
tại hang đá gần cổng thành Bethlehem, một số thiên
thần được phái đi các nơi đem tin vui mừng cho
những người, theo thánh ý Chúa, xứng đáng nhận tin
vui đó. Tổng lãnh thiên thần Micae đến báo cho các
thánh Tổ ở lâm bô biết Con Một Thiên Chúa Cha hằng
hữu đã sinh ra trong thế gian và đang nằm nghỉ
khiêm tốn hiền lành trong máng cỏ giữa hai con vật
như các thánh đã tiên tri. Theo lời Đức Hiền Mẫu
Maria, tổng lãnh thiên thần Micae nhân danh Mẹ đặc
biệt thông báo tin mừng cho hai thánh ngoại tổ
Joakim và Anna. Tổng lãnh thiên thần Micae chúc
mừng hai thánh tổ rằng Ái Nữ của các ngài lúc này
đang bồng ẵm Đấng muôn dân trông đợi và đã được
các thánh Tiên Tri loan báo (Is.7:14,9:7,v.v.).
Đây là ngày hết sức hân hoan vui mừng, ngày toàn
thể các người công chính và các thánh được hưởng
trong suốt cuộc lưu đầy lâu đời.
Một trong các thiên
thần được Mẹ Maria gởi tới báo tin cho bà
Elisabeth và hài nhi Gioan (Tẩy Giả). Khi được tin
Chúa Cứu Thế giáng sinh, bà Elisabeth và hài nhi
Gioan, mặc dầu hài nhi Gioan lúc này mới được sáu
tháng tuổi đời, đã phủ phục thờ lạy Thiên Chúa làm
người trong tinh thần và chân lý (Gioan. 4:23).
Hài nhi Gioan đã được hiến dâng làm Tiền Hô cho
Chúa Cứu Thế, được canh tân trong lòng một tinh
thần nồng cháy hơn tinh thần sốt sắng của tiên tri
Elias. Bà Elisabeth xin Mẹ Maria nhân danh hai mẹ
con bà thờ lạy Chúa Hài Đồng.
Trong số những
người được đặc biệt chúc phúc là các mục tử ở miền
lân cận thức đêm canh giữ bầy chiên khi Chúa Cứu
Thế giáng sinh (Lc 2:8). Những người này được chúc
phúc vì họ chấp nhận thân phận vất vả khổ cực vâng
theo thánh ý Thiên Chúa, sống nghèo nàn khiêm
nhượng, bị người đời khinh chê. Các mục tử này
thuộc hàng ngũ những người Do Thái có lòng chân
thành ngay thẳng, hằng tha thiết hy vọng trông chờ
Chúa Cứu Thế đến. Những người này đã nên giống như
Đấng tạo thành sự sống vì được làm cho xa cách của
cải phù vân hào nhoáng trần gian, tránh xa mưu mô
ác độc của nó (Gioan 10:14). Trong mọi hoàn cảnh,
các mục tử cho thấy họ sẵn sàng thi hành nhiệm vụ,
mà Mục Tử Tốt Lành tới để hoàn thành việc biết các
chiên của Ngài và chúng biết Ngài. Vì thế họ xứng
đáng được Chúa Cứu Thế mời gọi như hoa trái đầu
mùa trong số các thánh, là những người đầu tiên
Ngôi Lời Hằng Hữu Nhập Thể tỏ mình cho và muốn
được những người này chúc tụng, phụng thờ. Tổng
lãnh thiên thần Gabriel được phái đến với các mục
tử đang canh giữ đàn chiên.
Các mục tử ngỡ
ngàng sợ hãi khi bất thình lình được bao phủ trong
hào quang thiên đàng từ thiên thần Gabriel tỏa ra.
Tổng lãnh thiên thần trấn an họ: “Hỡi những người
ngay lành, đừng sợ, tôi báo cho các người tin vui
mừng vĩ đại: hôm nay Đức Kitô Chúa Cứu Thế đã
giáng sinh cho các người trong thành David. Để làm
dấu chỉ sự thực này, tôi cho các người biết: các
người sẽ thấy một Hài Nhi bọc trong khăn và nằm
trong máng cỏ” (Lc 2:10,12). Khi tổng lãnh thiên
thần Gabriel dứt lời, muôn vàn thiên thần hiện ra,
du dương hát ca chúc tụng Đấng Tối Cao: “Vinh Danh
Thiên Chúa trên các tầng trời và bình an dưới thế
cho người thiện tâm.” Hát xong lời quá sức lạ lùng
đối với trần gian này, các thiên thần biến đi. Tất
cả các việc này xảy ra lúc canh tư đêm đó. Nhờ
nhìn thấy các thiên thần, các mục tử khiêm tốn
nhưng tốt phúc được ơn soi sáng đã khao khát chứng
kiến tường tận mầu nhiệm cao cả vô cùng vừa mới
được cho biết.
Trao đổi với nhau
những ý nghĩ đầy hứng khởi do lời Thiên Sứ, các
mục tử quyết định lập tức đi Bethlehem chứng kiến
điều kỳ lạ được thiên thần báo tin. Vào trong hang
đá, các mục tử thấy Đức Maria, thánh Giuse, và
Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ. Nhìn thấy cảnh
này, họ nhận biết sự thực những lời đã được nghe
về Chúa Hài Đồng. Khi các mục tử nhìn Chúa, Chúa
cũng nhìn họ, toả ra từ gương mặt Chúa hào quang
vĩ đại làm cho trái tim chân thành của những người
nghèo khó nhưng hạnh phúc này tan biến trong yêu
thương. Ơn Chúa đã thay đổi, canh tân những người
này, tạo dựng trong họ tinh thần ân sủng thánh
thiện mới, ban cho họ sự hiểu biết đáng tôn vinh
về mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể và Ơn Cứu Độ cho
nhân loại.
Các mục tử phủ phục
thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa làm người. Không còn
dốt nát quê mùa, nhưng là những người khôn ngoan,
họ thờ lạy, nhận biết, tôn vinh Chúa là Thiên Chúa
thực và người thực, Đấng khôi phục và cứu chuộc
loài người. Đức Nữ Vương thiên đàng, Thánh Mẫu của
Chúa Hài Đồng, ghi nhận tất cả mọi việc các mục tử
làm trong lòng và bề ngoài; vì Mẹ nhìn rõ tận đáy
trái tim họ. Bằng sự khôn ngoan cẩn thận cao cả
nhất, Đức Maria ghi nhớ trong lòng mọi việc xảy
ra, suy gẫm (Lc 2:19), đối chiếu các mầu nhiệm
tích chứa trong những việc đó với các lời tiên tri
và Sách Thánh. Là thừa tác của Chúa Thánh Thần và
đại diện Chúa Hài Đồng, Mẹ Maria nói với các mục
tử, chỉ dẫn, khuyến khích họ kiên trì yêu mến
phụng sự Đấng Tối Cao. Các mục tử cũng nói với Mẹ
về phần họ; những lời đối đáp cho thấy họ hiểu
nhiều điều về các mầu nhiệm này. Các mục tử ở lại
hang đá từ rạng đông cho tới trưa mới ra về, được
đầy thánh sủng và an ủi từ thiên đàng.
Khi lần đầu tiên đặt Chúa Hài Đồng trong tay thánh
Giuse, Đức Mẹ nói: “Thưa phu quân và người giúp đỡ
thiếp, trong vòng tay người xin hãy nhận lấy Đấng
tạo thành trời đất, hãy vui hưởng sự đồng bạn hiền
hoà dịu dàng của Chúa, để Chúa và Thiên Chúa của
thiếp được hoan hỉ và đền đáp những phụng sự trung
tín của phu quân (Cn 8:31). Xin phu quân hãy giữ
lấy cho mình Kho Tàng của Thiên Chúa Cha hằng hữu,
thông phần trong đại hồng ân này dành cho nhân
loại.” Mẹ nói thầm với Chúa Hài Đồng: “Tình yêu vô
cùng ngọt ngào của linh hồn mẹ và ánh sáng mắt mẹ,
Con hãy nằm nghỉ trong tay Giuse, bạn và phu quân
của mẹ. Mẹ xin Con hiệp thông ngọt ngào với ngài,
mẹ xin Con tha thứ cho sự thiếu sót của mẹ. Mẹ cảm
thấy mất mát rất nhiều cho dù chỉ trong chốc lát,
nhưng mẹ ước ao truyền thông không chút ganh tị
những ơn lành Mẹ được cho tất cả những ai xứng
đáng” (Kn 7:13). Thánh Giuse hạnh phúc ý thức hồng
ân mới này, hạ mình tới đất, đáp lời: “Thưa Đức Nữ
Vương thế giới, hiền thê của tôi, tôi là kẻ bất
xứng, có thể nào dám bồng ẵm chính Thiên Chúa, mà
trước mắt Ngài mọi cột trời run rẩy dao động?
(Giób 26:11). Làm sao con trùng hèn hạ này có cam
đảm dám nhận đặc ân cao cả như thế? Tôi bất quá
chỉ là tro bụi, nhưng thưa Đức Nữ Vương, xin Người
giúp đỡ trong sự hèn hạ của tôi và xin Chúa nhân
từ đoái nhìn và làm cho tôi nên xứng đáng nhờ hồng
ân của Người.”
Khao khát được ẵm Chúa Hài Đồng và lòng kính sợ
Chúa gây ra trong thánh Giuse các hành động yêu
mến, tín trung, khiêm nhượng, anh hùng, kính trọng
thẳm sâu nhất. Run rẩy với lòng kính úy sâu xa và
trong hoan lệ, thánh Giuse quì gối đón Chúa Hài
Đồng từ tay Đức Hiền Mẫu Maria. Chúa Hài Đồng trìu
mến nhìn thánh Giuse đồng thời canh tân linh hồn
ngài bằng những hồng ân hết sức cao cả. Thánh
Giuse dâng lên những lời chúc tụng mới khi thấy
mình được ban cho hạnh phúc vĩ đại như thế. Sau
khi thánh Giuse đã sung sướng ẵm Chúa Hài Đồng,
Đấng chứa đựng cả trời đất (Is. 40:12) một lúc,
ngài đặt Chúa trở lại vòng tay Hiền Mẫu hạnh phúc
Maria. Đức Hiền Mẫu và thánh dưỡng phụ quì khi
nhận và trao Chúa cho nhau. Mỗi khi tới phiên được
hạnh phúc bồng ẵm Chúa, thánh Giuse bắt chước lòng
cung kính mà Mẹ Maria thực hành mỗi khi ẵm Chúa
Hài Đồng lên hoặc đặt Chúa nằm xuống.
Từ
giây phút được chọn làm Mẹ Ngôi Lời Thiên Chúa,
Đức Trinh Nữ luôn suy gẫm những vất vả khổ cực
dành sẵn cho Con cực châu báu. Vì thấu triệt Sách
Thánh, Mẹ Maria hiểu mọi mầu nhiệm về Ơn Cứu Chuộc
và cuộc sống trần gian của Chúa Cứu Thế. Mẹ thấy
trước và chuẩn bị cho những gì Con cực thánh sẽ
phải chịu để cứu chuộc nhân loại. Sự đau khổ thấy
trước mọi chi tiết cặn kẽ là cuộc tử đạo triền
miên đối với Đức Từ Mẫu hiền lành nhất của Chiên
Thiên Chúa hy sinh (Jer 11:19). Đức Maria không
nhận được lệnh truyền hoặc chỉ dạy về thánh ý
Thiên Chúa Cha đối với Nghi Lễ Cắt Bì, nghi lễ này
phải được thi hành tám ngày sau khi Chúa Hài Đồng
giáng sinh. Mẹ Maria nghĩ rằng Con cực thánh Mẹ
đến trần gian để tôn vinh và xác nhận Lề Luật Chúa
bằng việc chu toàn Lề Luật; hơn nữa Chúa đến để
chịu đau khổ vì nhân loại, hẳn lòng yêu thương
bừng bừng và những lý do khác thúc đẩy Chúa chịu
các đau đớn do nghi lễ này.
Tình mẫu tử và lòng
trắc ẩn của Mẹ Maria hẳn ước mong chước giảm cho
Chúa Hài Đồng khỏi phải chịu sự đau đớn cắt bì. Mẹ
biết nghi lễ cắt bì được thiết lập để thanh tẩy
các trẻ sơ sinh khỏi tội nguyên tổ; trái lại Chúa
Hài Đồng hoàn toàn không vương tội này. Lưỡng lự
giữa tình yêu Con cực thánh và sự vâng phục thánh
ý Thiên Chúa Cha, Đức Trinh Mẫu cực khôn ngoan đã
thi hành nhiều hành động nhân đức anh hùng, làm
hài lòng Thiên Chúa. Mặc dầu Mẹ Maria có thể thoát
khỏi sự phân vân này bằng cách xin Chúa cho biết
phải làm gì; nhưng vì khiêm nhượng và khôn ngoan,
Mẹ dằn lòng; Mẹ cũng không hỏi các thiên thần. Mẹ
chờ thời gian thuận tiện và cơ hội do Chúa Quan
Phòng mọi sự; Mẹ không dám tò mò tìm hiểu quyết
định của Thiên Chúa bằng cách tham khảo các nguồn
tin siêu nhiên, dù đặc biệt là để tránh khỏi bất
cứ sự đau buồn nào.
Khi cần phải biết
thánh ý Chúa về một vấn đề nghiêm trọng hoặc điều
hoài nghi, mà trong đó có sự nguy hiểm xúc phạm
đến Thiên Chúa, hoặc điều hiểu biết cấp thiết vì
ích lợi cho mọi người, trước tiên Mẹ Maria xin
được phép dâng lên lời cầu khẩn xin ơn soi sáng
làm đẹp lòng Chúa. Sau khi cầu nguyện, Mẹ Maria
yêu cầu thánh Giuse xúc tiến mọi thứ cần thiết cho
nghi lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Mẹ nói thời gian
theo luật cắt bì cho Chúa Hài Đồng đã tới và vì
không nhận được lệnh nào trái lại, thì chắc là cần
phải thi hành đúng luật đó. Mẹ Maria nói chính Mẹ
và thánh Giuse có nhiệm vụ phải làm vui lòng Thiên
Chúa hơn hết mọi người, mau mắn vâng theo thánh ý,
nhiệt thành trong tình yêu mến săn sóc Con cực
thánh của Thiên Chúa Cha hơn mọi thụ tạo khác, đền
đáp những hồng ân khôn sánh và chu toàn mọi điều
làm vui lòng Chúa. Thánh Giuse đáp lời Mẹ Maria:
“Vì không có lệnh nào trái lại được ban cho chúng
ta về Chúa Hài Đồng, Chúa muốn giữ mọi điều đúng
như trong luật chung. Là Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập
thể không lệ thuộc lề luật, nhưng lúc này Chúa mặc
lấy bản tính loài người, vì là Thầy cực trọn lành
và là Chúa Cứu Thế, rõ ràng Chúa muốn giữ đúng
luật đó như mọi người khác.” Kế đó thánh Giuse hỏi
Mẹ Maria về cách tiến hành Nghi Lễ Cắt Bì.
Mẹ Maria nói với
thánh Giuse rằng nghi lễ cắt bì sẽ được thi hành
cách đích thực cùng một thể thức như cho các trẻ
sơ sinh khác, nhưng Mẹ không trao hoặc ủy thác cho
bất cứ người nào khác mà chính Mẹ sẽ ẵm Chúa Hài
Đồng. Vì sự yếu ớt non ngày của Chúa Hài Đồng hẳn
nghi lễ này làm cho Chúa đau đớn, nên cần có sẵn
thuốc chống đau, thứ thuốc vẫn được dùng vào dịp
nghi lễ cắt bì. Mẹ Maria cũng xin thánh Giuse
chuẩn bị sẵn bình để trữ các thánh tích trong nghi
lễ cắt bì Chúa Hài Đồng. Đức Hiền Mẫu cẩn thận
chuẩn bị một ít khăn vải để thấm máu thánh, dịp
này đổ ra lần đầu tiên vì nhân loại, để không một
giọt máu thánh nào bị mất đi hoặc rơi xuống đất.
Sau các chuẩn bị, Mẹ Maria xin thánh Giuse thông
báo cho vị tư tế, yêu cầu ngài tới cử hành nghi lễ
ngay tại hang đá, mà không cần phải đưa Chúa Hài
Đồng đi nơi khác.
Đức Hiền Mẫu Maria và thánh Giuse trao đổi về
thánh danh đặt cho Chúa Hài Đồng trong Nghi Lễ Cắt
Bì. Thánh phu quân nói:
“Thưa bà chủ, khi
thiên thần Đấng Tối Cao cho tôi biết mầu nhiệm vĩ
đại này, ngài cũng cho tôi biết Con cực thánh của
hiền thê phải được đặt tên là GIÊSU” (Mt 1: 18-21)
Đức Trinh Mẫu Maria đáp: “Cũng thánh danh này được
tiết lộ cho thiếp khi Ngôi Lời mặc thân xác trong
dạ thiếp. Vì thế chúng ta nhận được thánh danh này
từ nơi Đấng Tối Cao qua miệng các thiên thần, các
thừa tác của Chúa. Thật là chính đáng, chúng ta
với lòng khiêm nhượng tôn kính thi hành đúng những
phân định huyền nhiệm khôn ngoan vô cùng của Chúa,
vì thế chúng ta đặt Tên cho Con Trẻ là GIÊSU.
Chúng ta sẽ đưa thánh danh này cho vị tư tế ghi
vào sổ các trẻ được cắt bì” (Lc 1:31).
Trong khi Mẹ Maria
và thánh Giuse trao đổi những lời này, muôn vàn
thiên thần mang hình người ta từ thiên đàng đến
hang đá Bethlehem. Các thiên thần cầm lá thiên
tuế, đội triều thiên tỏa ánh sáng chói chang, có
huy hiệu thánh danh GIÊSU trước ngực. Các ngài
chia làm hai ca đoàn ở trong hang đá, mắt không
rời Vua và Chúa của mình trên cánh tay Đức Trinh
Mẫu Maria. Thủ lãnh các đạo binh thiên quốc là hai
tổng lãnh thiên thần Micae và Gabriel, rực rỡ hơn
tất cả, mang nơi tay các ngài huy hiệu đặc biệt:
tên cực thánh Chúa GIÊSU, viết bằng đại tự vô cùng
rực rỡ.
Hai tổng lãnh thiên thần đến trình diện Đức Hiền
Mẫu: “Thưa Nữ Vương, đây là thánh danh Con của
Người (Mt. 1:21). Thánh danh này đã được viết
trong trí Thiên Chúa từ thuở đời đời, Thiên Chúa
ban cho Con Một của Nữ Vương và là Chúa của chúng
thần để là dấu báo Ơn Cứu Độ cho toàn thể nhân
loại; đồng thời đặt Con của Nữ Vương trên ngai tòa
David. Ngài sẽ thống trị, chiến thắng và trừng
phạt các kẻ thù, làm cho chúng trở thành bệ dưới
chân và Ngài sẽ phán xét chúng. Chúa sẽ nâng các
bạn hữu của Ngài lên vinh quang. Tuy nhiên mọi
việc này phải thực hiện bằng giá khổ đau và máu.
Ngay từ bây giờ Ngài phải đổ máu ra khi nhận thánh
danh, thánh danh Đấng Cứu Thế. Việc đổ máu này sẽ
là khởi đầu những đau khổ Chúa Cứu Thế phải chịu
vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa Cha hằng hữu. Tất
cả chúng thần, được tạo dựng để yêu mến tôn thờ và
phụng sự Đấng Tối Cao, được Thiên Chúa chỉ định
phái đi phụng sự Con Một Thiên Chúa Cha và của Nữ
Vương trong mọi mầu nhiệm bí tích thuộc Luật Ân
Sủng. Chúng thần theo hầu hạ Chúa Cứu Thế cho tới
khi Ngài vinh hiển ngự lên thành Jerusalem trên
trời và mở các cửa thiên đàng.”
Vị tư tế và hai phụ
tá tới hang đá Giáng Sinh, nơi Ngôi Lời Nhập Thể,
nằm trong cánh tay Đức Trinh Mẫu Maria, đang chờ
đợi ngài. Thoạt tiên sự tầm thường nghèo nàn của
nơi tạm trú đã khiến vị tư tế ngỡ ngàng và một
chút bối rối. Nhưng Đức Trinh Mẫu đã khiêm tốn
chào đón ngài và sự cao cả của Mẹ làm cho sự khó
chịu của vị tư tế mau lẹ đổi ra sự tận tụy kính
phục. Sự bình tĩnh, vẻ uy nghiêm cao quí nhất mực
của Mẹ Maria làm cho tư tế xúc động kính trọng đối
với nhân cách phi thường như thế mặc dù không biết
nguyên do. Khi nhìn gương mặt Mẹ Maria và gương
mặt Chúa Hài Đồng trong cánh tay Mẹ, vị tư tế được
lòng sốt mến mẫn cảm lạ lùng. Lập tức ông tiến
hành nhiệm vụ cắt bì Chúa Hài Đồng, Thiên Chúa
thật và người thật. Cùng lúc đó Con Thiên Chúa,
với lòng yêu mến khôn lường, đã dâng lên Thiên
Chúa Cha hằng hữu ba hy lễ vô giá mà mỗi hy lễ đó
đủ để cứu chuộc cả ngàn thế giới, nếu như có ngàn
thế giới khác.
Hy lễ thứ nhất là
chính Ngôi Lời, vô tội và là Con Thiên Chúa thật,
mặc lấy thân phận kẻ tội lỗi (Philip 2:7) bằng
việc tự mình khuất phục đối với nghi lễ được đặt
ra để làm thuốc chữa tội nguyên tổ, tuân theo các
luật lệ không ràng buộc Chúa (2 Cor. 5:21). Hy lễ
thứ hai là việc Ngôi Lời Thiên Chúa sẵn lòng chịu
đau đớn do nghi lễ cắt bì, mà Chúa cảm thấy là con
người đích thực và hoàn toàn. Hy lễ thứ ba là lòng
yêu mến nồng nàn do đó Chúa Hài Đồng đổ máu ra vì
loài người, tạ ân Thiên Chúa Cha đã cho Ngài bản
tính nhân loại có thể chịu đau khổ để chúc tụng
vinh danh Thiên Chúa Cha. Thiên Chúa Cha chấp nhận
hy lễ nguyện cầu này của CHÚA GIÊSU. Ngôi Lời nhập
thể đã dâng ba trái đầu mùa này của máu thánh Chúa
như lời hứa sẽ dâng hết đến giọt cuối cùng để hoàn
thành Công Cuộc Cứu Chuộc, xóa sạch nợ cho con
cháu Adong. Đức Hiền Mẫu Maria rất thánh nhìn thấy
tất cả mọi việc làm và chuyển động bề trong của
Con Một cực thánh. Mẹ Maria thấu triệt mầu nhiệm
trong hành động của Chúa Hài Đồng; Mẹ kết hợp với
Con và Chúa của Mẹ trong mọi việc Chúa đang làm và
đau đớn Chúa chịu.
Đúng với bản chất
loài người của mình, Chúa Hài Đồng đã khóc chảy
nước mắt như các trẻ sơ sinh khác. Mặc dầu lưỡi
dao bằng toại thạch cùn nhụt làm cho thân xác Chúa
Hài Đồng rất đau đớn, nước mắt Chúa trào ra do cái
đau cảm giác không nhiều bằng bởi sự buồn phiền
siêu nhiên vì trái tim chai đá của loài người. Đức
Hiền Mẫu Maria cũng khóc, như một con chiên trong
sạch, cất tiếng lên hợp với Con Chiên vôi tội.
Trong tình yêu trắc ẩn hỗ tương Chúa Hài Đồng níu
lấy Mẹ, trong khi Mẹ Maria âu yếm nhẹ nhàng ấp ủ
Chúa vào ngực trinh khiết, thâu các thánh tích và
máu thánh rơi xuống chiếc khăn.
Trong khi đó vị tư
tế hỏi Hai Đấng Cha Mẹ muốn đặt tên gì cho Chúa
Hài Đồng. Vì luôn quan tâm đến danh dự của đức phu
quân, Mẹ Maria đã xin thánh Giuse nói thánh danh
Chúa ra. Thánh Giuse quay sang Mẹ Maria cùng một
cách kính trọng như vậy để Mẹ hiểu rằng ngài nghĩ
thánh danh Chúa phải được Mẹ nói ra trước tiên thì
thích đáng hơn. Nhưng do thánh ý Chúa can thiệp,
cả Mẹ Maria và thánh Giuse cùng nói lên một lượt:
“GIÊSU là thánh danh của Con Trẻ.” Vị tư tế nói:
“Cả cha và mẹ đều đồng tâm đồng trí, Tên mà hai
người đặt cho Con Trẻ thật là vĩ đại.” Vị tư tế
khắc thánh danh GIÊSU vào tấm bảng hoặc sổ ghi
danh các trẻ chịu phép cắt bì. Đang khi viết thánh
danh GIÊSU, vị tư tế xúc động khiến nước mắt tuôn
rơi tầm tã. Bỡ ngỡ vì những gì cảm thấy mà không
giải thích được, vị tư tế nói: “Tôi tin chắc Con
Trẻ này sẽ là một Đại Tiên Tri của Chúa. Hãy cẩn
thận nuôi nấng Con Trẻ, và cho tôi biết tôi có thể
làm gì để làm nhẹ bớt nhu cầu của qúi vị.” Mẹ
Maria và thánh Giuse đáp lời vị tư tế với lòng
khiêm nhượng biết ơn và tiễn vị tư tế ra về sau
khi đã tặng quà gồm nến và những vật khác.
Mẹ Maria đắp vào
các vết thương cắt bì những thứ thuốc thường dùng
trong dịp này cho các trẻ sơ sinh. Hẳn là suốt
thời gian Chúa Hài Đồng còn đau đớn và vết thương
chưa lành, Mẹ Maria không rời Chúa một lúc nào.
Tình yêu nồng nàn của Mẹ Maria vượt qua mọi hiểu
biết của loài người vì tình yêu tự nhiên của Mẹ
vốn vĩ đại hơn tình yêu của bất cứ bà mẹ nào trên
trần gian; tình yêu siêu nhiên của Mẹ vượt hơn
tình yêu của tất cả mọi thần thánh hợp lại. Lòng
Mẹ Maria tôn kính thờ lạy Chúa không một thụ tạo
nào khác có thể so sánh. Đây là những điều làm cho
Ngôi Lời Nhập Thể hoan hỉ (Kn 8:31), mà Chúa ước
ao và trông chờ nơi con cái loài người. Đây là
phần thưởng, mà trái tim đầy yêu thương của Chúa
rút từ sự thánh hóa vượt bực của Đức Trinh Mẫu
Maria bù lại những đau buồn vì cách cư xử tệ bạc
con cái loài người gây ra.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, Mẹ ước muốn con suy xét cẩn thận đặc
ân biết về sự săn sóc, quan tâm lo lắng Mẹ đã dành
rất rộng rãi cho Con cực thánh hiền dịu nhất của
Mẹ trong các mầu nhiệm vừa mới được kể. Đấng Tối
Cao ban cho con ánh sáng đặc biệt hiểu biết các
mầu nhiệm này không phải để con được thỏa mãn,
nhưng để con bắt chước Mẹ trong mọi sự như một nữ
tì trung thành, để con dâng lời cảm tạ về các kỳ
công của Chúa theo cùng mức độ như con được làm
cho hiểu biết đầy đủ hơn. Con yêu quí, con hãy suy
nghĩ về sự đền đáp ít ỏi loài người đáp lại tình
yêu của Chúa Con Mẹ, người ta vong ân bội nghĩa
chừng nào cho dù Chúa vẫn trung thành. Con phải
coi đó là nhiệm vụ, với hết khả năng hạn hẹp của
con, dâng lên an ủi để đền bù sự xúc phạm nặng nề
này. Con hãy tận lực tận sức yêu mến, tạ ân, phụng
sự Chúa, để đền thay tất cả những kẻ không yêu
mến, không tạ ân, không phụng sự Chúa. Vì thế con
phải là một thiên thần sốt mến, nồng nàn và sẵn
sàng trong mọi trường hợp. Con phải chết đi đối
với mọi thứ ở đời, loại bỏ, chà đạp mọi khuynh
hướng loài người và với đôi cánh tình yêu bay lên
tới đỉnh cao yêu thương mà Thiên Chúa muốn cho
con.
Con biết rõ những
hiệu quả ngọt ngào tích chứa trong việc ghi nhớ
mọi điều Con chí thánh Mẹ đã làm. Con có thể lợi
dụng ánh sáng được ban cho con để biết ơn, để có
thể lo sợ vì sự nguy hiểm của tội quên ơn. Mẹ đặc
biệt cho con biết các thánh trên trời, nhờ ơn Chúa
cho hiểu các mầu nhiệm này, đều ngạc nhiên đối với
chính các ngài vì đã không chú ý nhiều hơn tới
những điều đó khi còn sống ở trần gian. Nếu các
thánh còn có thể chịu được đau đớn, hẳn các ngài
hết sức buồn phiền vì sự chậm trễ cẩu thả đã không
đánh giá đúng mức những việc phải làm để được Ơn
Cứu Độ, đã không bắt chước Chúa Kitô. Do ơn hiểu
biết thần linh, toàn thể các thần thánh ngỡ ngàng
vì sự ác độc của trái tim loài người đối với chính
họ và chống lại Chúa Kitô Đấng cứu độ họ. Loài
người không có lòng thương xót đối với các đau khổ
của Chúa, cũng không có lòng xót thương đối với
những đau khổ chính họ phải chịu. Khi những kẻ
biết trước bị luận phạt, trong nỗi đắng cay bất
tận, nhìn nhận sự vong ân bội bạc kinh khủng và sự
hững hờ đối với các việc làm của Chúa Kitô, sự bối
rối tuyệt vọng sẽ là hình phạt không chịu nổi, chỉ
một điều đó thôi đã là hình phạt không thể tưởng
tượng; vì khi đó họ sẽ thấy sự cao cả của Ơn Cứu
Chuộc mà họ khinh thường (Tv 44:11).
Con của Mẹ, hãy nghe Mẹ, lắng nghe các lời khuyên
và học thuyết sự sống đời đời. Con hãy xua đuổi
khỏi tâm trí con mọi hình ảnh và lòng quyến luyến
đối với loài người, hướng mọi khả năng trái tim,
linh hồn con về các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu
Độ. Con hãy chỉ để tâm trí con bận bịu cân nhắc
giá trị, tạ ân vì các mầu nhiệm và hồng ân Ơn Cứu
Độ như thể chỉ một mình con hiện hữu, như thể
những mầu nhiệm, các hồng ân đó chỉ được thực hiện
cho một mình con (Gal 2:20). Như vậy con sẽ tìm
thấy cuộc sống, cách sống, tiến hành như thế để
con không lầm lẫn; nhưng con sẽ tìm thấy ở đó ánh
sáng cho mắt con và bình an đích thực.
|