|
Mục Lục:
- Giới thiệu
- Nội dung
Phần 1
- Lờimởđầu
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
Phần 2
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
Phần 3
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
Phần 4
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
Phần 5
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
Phần 6
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
- Chương 10
- Chương 11
- Chương 12
Phần 7
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
Phần 8
- Chương 1
- Chương 2
- Chương 3
- Chương 4
- Chương 5
- Chương 6
- Chương 7
- Chương 8
- Chương 9
|
Mục Đọc Sách Trên Net:
MẸ MARIA, HIỀN MẪU CHÚA KITÔ
(hay THẦN ĐÔ HUYỀN NHIỆM)
Mẹ Bề Trên Maria d'Agreda
Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi chuyển ngữ
CHƯƠNG 1, Phần Sáu
MẸ MARIA ĐỒNG HÀNH
VỚI CHÚA GIÊSU
TRÊN MỌI NẺO ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO
Mô
tả các phép lạ, các việc làm vô cùng cao cả của
Chúa Kitô trong Lịch Sử Cuộc Đời Mẹ Maria là điều
hết sức thích hợp vì Mẹ Maria chia sẻ hầu hết các
phép lạ và kỳ công đại cuộc cứu độ nhân loại.
Nhưng tác giả không dám mạo muội làm một việc quá
sức khó khăn, hết sức xa vời vượt trên khả năng
loài người. Vì sau khi kể lại nhiều phép lạ Chúa
Kitô đã làm, Thánh Sử Gioan kết thúc Sách Phúc Âm
của ngài: “Chúa Giêsu đã làm nhiều việc khác, mà
nếu kể lại hết, thì thế giới này không đủ chỗ chứa
các sách ghi chép” (Gioan 21:25). Nếu nhiệm vụ như
thế hầu như không thể nào thực hiện được đối với
Thánh Sử Gioan, thì đối với một phụ nữ dốt nát, vô
dụng hơn bụi đất là tác giả lại càng không thể nào
làm được. Tất cả những điều cần thiết cho việc
thiết lập và duy trì Giáo Hội đều đã được bốn
Thánh Sử viết đầy đủ và không cần nhắc lại. Tuy
nhiên cần ghi lại một vài trường hợp hết sức đặc
biệt trong số rất nhiều việc vĩ đại Mẹ Maria đã
làm nhưng chưa được đề cập tới trong Phúc Âm.
Tuy nhiên, để có thứ tự, tác giả phải sơ lược phép
lạ đầu tiên Chúa làm tại Cana do lời Đức Hiền Mẫu
xin. Sau khi kể lại việc Chúa kêu gọi môn đệ thứ
năm là ông Nathanael, Thánh Sử Gioan mở đầu chương
hai Sách Phúc Âm: “Vào ngày thứ ba, Thân Mẫu Chúa
Giêsu dự tiệc cưới tại Cana xứ Galilea. Chúa Giêsu
được mời cùng với các môn đệ” (Gioan 2:1). Đám
cưới này của người cháu họ về phía thánh tổ mẫu
Anna. Chúa nhận lời mời tham dự tiệc cưới cùng với
năm môn đệ. Chúa đến dự tiệc cưới để công nhận và
thánh hóa Hôn Nhân, để khởi đầu củng cố giáo huấn
của Chúa. Chúa đã xưng mình là Thầy và nhận môn
đệ, Chúa muốn củng cố ơn gọi và lòng tin của các
ông bằng những phép lạ Chúa sẽ làm công khai.
Thầy hằng sống bước vào nhà có tiệc cưới, chào và
chúc mọi người hiện diện: “Chúc mọi người bình an
và ánh sáng Thiên Chúa.” Ngay sau đó, Chúa chỉ dạy
và khuyến khích chú rể về sự trọn lành thánh thiện
cuộc sống hôn nhân. Trong khi đó, Đức Hiền Mẫu dịu
dàng nhưng hết sức hùng hồn chỉ dạy, khuyến khích
cô dâu về các bổn phận của cô. Sau đó, Chúa Cứu
Thế và Đức Hiền Mẫu chuyện trò với mọi người tới
dự tiệc, trút đầy trái tim họ sự khôn ngoan và ơn
soi sáng. Đức Hiền Mẫu nói rất ít, chỉ khi nào
Người được hỏi hoặc hết sức cần thiết. Người luôn
lắng nghe, theo dõi mọi việc làm và lời nói của
Chúa Cứu Thế. Mẹ ghi nhớ trong trái tim và suy
gẫm.
Tại bàn tiệc, Chúa Cứu Thế và Đức Hiền Mẫu dùng
rất ít thực phẩm, nhưng mọi người không nhận ra sự
tiết chế đặc biệt. Giữa buổi tiệc, rượu hết. Đức
Hiền Mẫu nói với Chúa Cứu Thế: “Họ hết rượu rồi.”
Chúa đáp: “Thưa Bà, điều đó can hệ gì đến Bà và
Con? Giờ của Con chưa tới” (Gioan 2: 3-4). Lời
Chúa đáp không chủ ý khước từ, nhưng tiềm ẩn một
điều huyền nhiệm, vì Mẹ Maria không xin Chúa làm
phép lạ chỉ vì họ hết rượu, nhưng do ánh sáng thần
linh, Mẹ biết đã đến thời điểm thích hợp cho việc
biểu lộ quyền năng Con Mẹ. Mầu nhiệm tiềm ẩn trong
lời Chúa Kitô là củng cố lòng tin nơi các môn đệ
vào Thiên Tính của Chúa và cho thấy Chúa là Thiên
Chúa thực. Chúa nói: “Thưa Bà, điều đó can gì đến
Bà...” cho hiểu: Quyền làm phép lạ của Con không
phải từ Mẹ, mặc dầu Mẹ cho Con nhân tính mà qua đó
Con làm phép lạ. Chỉ Thiên Tính của Con làm phép
lạ và giờ Con làm phép lạ chưa tới. Từ đó Chúa đổ
đầy trí khôn các Tông Đồ ánh sáng mới giúp các
ngài hiểu sự kết hiệp hai bản tính của Chúa.
Đức Hiền Mẫu hiểu rõ mầu nhiệm này. Mẹ nhã nhặn
nói với các người giúp việc: “Ngài bảo gì, các anh
hãy làm theo” (Gioan 2:5). Và Chúa đã làm phép lạ
biến nước lã thành rượu hảo hạng như thánh Gioan
tường thuật (Gioan 2: 6-11).
Từ
Cana, xứ Galilea, Chúa Kitô tới Capharnaum, một
thành phố lớn đông dân cư gần biển hồ Tiberias.
Theo thánh Gioan (Gioan 2:12), Chúa ở lại ít ngày.
Vì gần tới Lễ Vượt Qua, Chúa đi dần đến Jerusalem
để mừng lễ vào ngày Mười Bốn trăng tròn tháng Ba.
Đức Hiền Mẫu Maria rời khỏi Nazareth, đồng hành
với Chúa khắp nẻo đường rao giảng dạy dỗ và tới
tận chân Thánh Giá. Mẹ chỉ không ở bên Chúa một
vài dịp, chẳng hạn như lần Chúa nói chuyện với
người phụ nữ Samaria, hoặc khi Mẹ Maria ở lại phía
sau với một vài người để chỉ bảo và dạy họ giáo
lý. Nhưng lần nào cũng vậy, chỉ trong thời gian
ngắn, Mẹ Maria trở lại bên Chúa và Thầy của Mẹ, đi
theo Mặt Trời Công Chính cho tới khi Mặt Trời đó
lặn xuống mồ Kẻ Chết.
Suốt các hành trình này, Mẹ Maria đi chân trần,
giống hệt Con cực thánh. Nếu ngay đến Chúa đã từng
mỏi mệt vì lặn lội ngược xuôi (Gioan 4:61), thì Mẹ
Maria còn mỏi mệt biết chừng nào? Có khó khăn vất
vả nào Mẹ Maria lại không chịu đựng trong những
hành trình như thế thuộc mọi loại thời tiết! Chỉ
những khổ cực Mẹ Maria phải chịu vì những hành
trình ngược xuôi này thôi cũng đã quá vĩ đại, nhân
loại không thể đền đáp thỏa đáng. Đôi khi Chúa để
cho Mẹ chịu những trạng thái suy nhược và đau đớn
đến độ Chúa phải làm phép lạ để giảm bớt đau đớn
cho Mẹ. Có những lần Chúa muốn Mẹ nghỉ ngơi tại
địa điểm dừng chân nào đó vài ngày.
Như đã nói, Mẹ Maria có toàn bộ Tín Lý của Luật
Phúc Âm được viết trong trái tim. Dẫu vậy, Mẹ
Maria khao khát, chăm chú như một môn đệ mới tới
ước mong nghe lời giảng dạy và giáo lý của Con cực
thánh. Mẹ yêu cầu các thiên thần tường thuật lại,
nếu cần, những lời Thầy chí thánh đã giảng bất cứ
khi nào Mẹ không hiện diện bên Chúa. Mẹ Maria luôn
luôn quì gối nghe lời Con chí thánh giảng dạy, như
thế, bằng hết khả năng, Mẹ cho mọi người thấy lòng
tôn kính phụng thờ phải được dành cho Ngôi Vị và
Giáo Huấn của Chúa. Nhiều lần Mẹ Maria biết những
hoạt động trong linh hồn Chúa Kitô, những lời cầu
nguyện liên tục Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa Cha
hằng hữu để xin cho việc chuẩn bị thích ứng tâm
hồn người nghe giảng, xin cho hạt giống giáo lý
mọc lên tới đời sống vĩnh cửu. Mẹ Maria, với lòng
yêu mến tột đỉnh, lòng bác ái nồng nàn và chan hòa
nước mắt, đã kết hợp với Thầy chí thánh trong lời
cầu nguyện và xin mọi hồng ân cho các linh hồn.
Do
sự chăm chú tôn kính, Mẹ Maria dạy và làm cho
những người khác xúc động đánh giá cách chính đáng
lời giảng dạy và giáo huấn của Chúa Cứu Thế. Mẹ
Maria cũng biết nội tâm những người nghe Chúa
giảng dạy, tình trạng ân sủng họ được, hoặc tội
lỗi hoặc các tật xấu và thánh đức nơi họ. Sự hiểu
biết đa dạng ẩn nhiệm này, vượt quá khả năng loài
người, tạo ra trong lòng Mẹ Maria nhiều hiệu lực
kỳ diệu của đức bác ái cao cả và các thánh đức
khác. Sự hiểu biết này làm bừng cháy trong Mẹ
Maria lòng khao khát mãnh liệt muốn vinh danh Chúa
và xin cho thành quả Ơn Cứu Chuộc không bị lãng
phí nơi các linh hồn. Việc cấp cứu các linh hồn
lâm nguy hư mất vì tội lỗi thúc đẩy Mẹ Maria dâng
lên những lời cầu nguyện tha thiết. Mẹ Maria cảm
thấy đau buồn ác nghiệt xuyên thấu trái tim vì sợ
rằng Thiên Chúa không được mọi thụ tạo nhận biết,
thờ lạy và phụng sự. Sự phiền sầu của Mẹ tỉ lệ
thuận với sự hiểu biết của Mẹ về tất cả mọi mầu
nhiệm này. Đối với những linh hồn không đón nhận
hồng ân Chúa và thánh đức, Mẹ buồn rầu khôn tả, và
thường nhỏ huyết lệ khi nghĩ đến bất hạnh của họ.
Những đau buồn lo âu này và những cực nhọc Mẹ
Maria phải chịu vượt xa mọi mức độ đau đớn toàn
thể các thánh tử đạo khắp thế giới trải qua.
Mẹ
Maria đối xử hết sức khôn ngoan với tất cả những
người theo và được nhận vào đoàn môn đệ Chúa.
Những người được Mẹ tỏ lòng kính trọng quí mến đặc
biệt là các Tông Đồ. Là Mẹ, Mẹ Maria săn sóc tất
cả mọi người. Là Nữ Vương quyền thế, Mẹ xin được
mọi ơn cần thiết, ơn an ủi và của nuôi thân xác
cho mọi người. Đôi khi không còn nguồn tiếp tế nào
khác, Mẹ Maria yêu cầu các thiên thần đem đồ tiếp
tế đến cho các Tông Đồ và môn đệ nam nữ. Để giúp
mọi người thăng tiến trong đời sống tinh thần, Mẹ
Maria đã vất vả không phải chỉ bằng lời cầu nguyện
liên tục cho mọi người mà còn do gương sáng và
những lời chỉ bảo quí báu nữa. Bằng những sự việc
đó, Mẹ Maria, Đấng là Hiền Mẫu và Giáo Sư cực khôn
ngoan, nuôi dưỡng và củng cố sức mạnh cho mọi
người. Khi các Tông Đồ hoặc môn đệ bị bất cứ sự
hoài nghi nào xâm chiếm, việc này thường xảy ra
vào thời kỳ đầu, hoặc khi các vị đó bị cám dỗ bí
mật nào đó tấn công, Mẹ Maria lập tức tiếp sức soi
sáng, khuyến khích các ngài bằng ánh sáng và lòng
bác ái vô song. Các Tông Đồ và môn đệ được soi
sáng nhờ sự khôn ngoan, được uốn nắn nhờ lòng
khiêm nhượng, được làm cho trầm tĩnh nhờ sự nhún
nhường, được làm cho sung túc nhờ mọi ân sủng tuôn
tràn từ Mẹ. Bằng tâm tình tạ ân, Mẹ Maria vui mừng
dâng lên Thiên Chúa mọi phúc lộc việc kêu gọi các
môn đệ, thành quả ơn cải hoá và kiên trì cho người
công chính, và mọi ân sủng vô cùng dư đầy khác.
Một số phụ nữ từ Galilea theo Chúa Cứu Thế trong
các hành trình rao giảng. Các Thánh Sử Matthêu,
Marcô và Luca kể lại một số bà, đã được Chúa chữa
khỏi quỉ ám và những tật bệnh khác, đi theo phục
vụ Chúa (Mt 27, Mc 15, Lc 8). Thầy hằng sống không
phân biệt tính phái trong việc noi theo, bắt chước
và giáo huấn của Ngài. Vì thế một số phụ nữ chăm
sóc phục vụ Chúa ngay từ khi Chúa mới khởi đầu
hành trình rao giảng. Sự khôn ngoan vô cùng của
Thiên Chúa đã an bài điều đó để chuẩn bị sẵn những
người đồng hành thích hợp với Mẹ rất thánh trong
các hành trình này và những mục đích huyền nhiệm
cao cả khác. Mẹ Maria đặc biệt săn sóc những phụ
nữ nhiệt thành thánh thiện này. Mẹ qui tụ các bà,
chỉ bảo, dạy giáo lý, hướng dẫn các bà về những
lời Con cực thánh Mẹ giảng dạy. Mẹ Maria được soi
sáng, được chỉ dẫn hoàn toàn đầy đủ về giáo lý
Phúc Âm, Mẹ có thể dạy đường lối cuộc sống đời đời
cách trọn hảo, nhưng Mẹ luôn dùng những lời Chúa
giảng dạy công khai làm căn bản cho những điều Mẹ
chỉ dạy và khuyến đức. Mẹ Maria chỉ bảo những điều
này cho các phụ nữ hàng ngày theo Chúa trên đường
rao giảng và cho các phụ nữ khác nữa, trước hoặc
sau khi họ đã nghe Chúa giảng.
Tất cả những người được Chúa Cứu Thế thâu nhận đều
tiếp xúc và đối xử thân mật với Mẹ. Chúa trút vào
trái tim họ lòng tôn kính chân thành đặc biệt đối
với Mẹ Maria. Tuy nhiên, cho dù lòng kính trọng
này được ban chung cho mọi người, ơn đó không đồng
đều nơi tất cả các môn đệ; vì Chúa ban phát ơn
theo ý Ngài, tùy theo sự sẵn sàng của tâm hồn, tùy
chức vụ và trách nhiệm người đó được chỉ định. Nhờ
gặp gỡ đối thoại và thường xuyên tiếp xúc với Mẹ
Maria, lòng kính yêu thành tâm của các Tông Đồ và
Môn Đệ đối với Mẹ mỗi ngày mỗi gia tăng. Mẹ Maria
nói với tất cả mọi người, chỉ dạy, giúp đỡ mọi nhu
cầu, không bao giờ Mẹ để họ rời khỏi cuộc tiếp xúc
đối thoại với Mẹ mà không được đầy ắp niềm vui
trong lòng và an ủi lớn lao hơn họ xin. Tuy nhiên
mức độ hiệu quả tốt lành từ những lần hàn huyên
với Mẹ tùy thuộc vào sự sẵn sàng của trái tim
người nhận các đặc ân này.
Mọi người đều được ban ơn khởi đầu tiếp xúc với Mẹ
Thiên Chúa bằng lòng thán phục cao độ của họ đối
với sự khôn ngoan, thông thái, trinh khiết, thánh
thiện, cao cả của Mẹ; được làm cho cảm thấy sự dịu
hiền nơi đức khiêm nhượng và vui vẻ khôn tả của
Mẹ. Vì chưa tới thời điểm tiết lộ Hòm Bia huyền
nhiệm Tân Ước cho nhân loại, nên chính Chúa Giêsu,
dù rất ao ước ca tụng Mẹ Maria, đã không biểu lộ
việc đó bằng lời mà giữ kín nơi trái tim. Các Tông
Đồ cũng thế, đã sung sướng giữ kín lời ca tụng Mẹ
trong tim; các ngài hướng những cảm giác nồng cháy
trong tình yêu mãnh liệt đối với Mẹ Maria vào việc
ca tụng Đấng tạo dựng Mẹ. Do sự hiểu biết vô song,
Mẹ biết rõ tình trạng tự nhiên của từng môn đệ,
biết rõ mức độ ân sủng của từng người. Mẹ thích
nghi hoàn cảnh từng người trong lời Mẹ cầu nguyện,
trong lời Mẹ chỉ dạy và nói chuyện với họ; và tùy
theo những đặc ân Mẹ xin được cho từng người để hỗ
trợ ơn gọi nơi người đó. Lòng hăng say yêu thương
tột đỉnh trong cách cư xử của Mẹ Maria hầu thoả
mãn trọn vẹn các ước vọng của Chúa như thế đã gợi
lên sự thán phục vô bờ bến nơi các thiên thần.
Đặc biệt đáng kể trong việc tiếp nhận các ân sủng
huyền nhiệm này là thánh Phêrô và Gioan. Thánh
Phêrô được chỉ định làm Đại Diện Chúa Kitô, là Thủ
Lãnh Giáo Hội chiến đấu, nên ngài xứng đáng được
sự kính trọng và yêu mến đặc biệt của Mẹ Maria.
Thánh Gioan thế vị Chúa Giêsu, sau khi Chúa chịu
Khổ Hình Cứu Chuộc, săn sóc phụng dưỡng Mẹ Maria
còn ở trần thế. Vì thế việc quản trị và coi sóc
nhiệm thể Giáo Hội, như về Mẹ Maria Vô Nhiễm
Nguyên Tội, về Giáo Hội chiến đấu hữu hình và các
tín hữu trần thế, phải được phân chia giữa hai
thánh Tông Đồ này; không lạ gì thánh Phêrô và
Gioan được Mẹ Maria dành cho biệt ân. Thánh Gioan,
được chọn phụng dưỡng Mẹ Maria và được địa vị
dưỡng tử, lập tức được hưởng những ơn thúc đẩy tận
tụy phục vụ Mẹ. Mặc dầu tất cả các thánh Tông Đồ
đều có lòng tận tụy đối với Mẹ Maria, thánh Gioan
thấm nhuần sâu xa hơn vào những mầu nhiệm Thành
Thánh Thiên Chúa và được ban ơn soi sáng siêu
nhiên vượt trội hơn tất cả các Tông Đồ khác. Thánh
Gioan nhận được qua Mẹ Maria tất cả mọi hiểu biết
siêu nhiên ngài nói trong Phúc Âm, đặc biệt là
tước hiệu đặc biệt “người môn đệ yêu dấu của Chúa
Giêsu” vì ngài yêu mến Mẹ Maria.
Ngoài đức trinh khiết, thánh Gioan còn có những
thánh đức khác rất vui lòng Mẹ Maria là tính đơn
sơ thật thà, như thấy rõ trong văn từ của ngài; sự
tế nhị, khiêm nhượng cao độ, và thánh Gioan hiền
lành, thuận thảo nhất. Mẹ Maria luôn coi những
người hiền lành khiêm nhượng là những người bắt
chước Con chí thánh Mẹ trung thành nhất. Vì thế Mẹ
Maria ưu ái thánh Gioan hơn các Tông Đồ khác; và
chính thánh Gioan lo lắng phục vụ Mẹ Maria bằng
tình yêu thương quyến luyến kính trọng mãi tăng
thêm. Ngay từ khởi đầu ơn gọi, thánh Gioan đã vượt
hơn các Tông Đồ khác về lòng yêu mến sốt sắng đối
với Mẹ Maria và hoàn thành những ước nguyện nhỏ
nhặt nhất của Mẹ. Bất cứ khi nào có thể, thánh
Gioan tìm đến Mẹ Maria và phụ giúp Mẹ. Đôi khi vị
Tông Đồ tốt phước này tranh đua với các thiên thần
về lòng hăng say phụng sự giúp đỡ Đức Nữ Vương cao
cả. Vị môn đệ yêu dấu này hết sức chuyên cần kể
lại cho Mẹ Maria các việc và phép lạ Chúa Cứu Thế
đã làm mỗi khi Mẹ không hiện diện bên Chúa, và nói
cho Mẹ biết những môn đệ mới trở lại nhờ lời Chúa
giảng dạy.
Tuy nhiên cần phải kể đôi điều về những gì tác giả
được dạy cho biết về Tông Đồ gian ác Juda
Iscariot; vì các việc của y đều liên quan tới lịch
sử này và ít được biết về hắn. Người Tông Đồ bất
hạnh Juda Iscariot đã đi lạc xa chánh lộ tình yêu
Thiên Chúa và những hồng ân của tình yêu đó. Trong
đoạn sau đây tác giả sẽ trình bày những điều tác
giả được cho biết liên quan đến sự phản bội này.
Đây sẽ là lời cảnh cáo dành cho những người ngoan
cố, bướng bỉnh, cứng lòng và ít yêu mến Mẹ Maria.
Juda Iscariot được lôi cuốn theo Chúa Kitô, Thầy
chí thánh, do những giáo lý tuyệt vời của Chúa.
Ngay từ đầu, Juda Iscariot đã được những ơn đặc
biệt và tiến vượt một số môn đệ khác, xứng đáng
được kể trong số mười hai Tông Đồ. Chúa Cứu Thế
yêu thương ông ta theo tình trạng ân sủng linh hồn
và những việc làm tốt lành của ông ta lúc đó, y
như Chúa đối xử với mọi người khác. Đức Hiền Mẫu
Maria cũng đối xử với Juda Iscariot y như thế, mặc
dầu, với sự hiểu biết được Chúa soi dẫn, Mẹ lập
tức nhận thấy sự phản bội xảo trá do đó sẽ chấm
dứt chức Tông Đồ của y. Trong trường hợp này, Mẹ
Maria cực độ bác ái đã không từ chối Juda Iscariot
lời cầu bầu và tình yêu hiền mẫu. Mẹ hết sức biện
minh sự nghiệp Con chí thánh Mẹ chống lại con
người bất hạnh bội bạc này. Mẹ Maria biết rõ một
tính tình như của Juda Iscariot không thể khắc
phục được bằng sự nghiêm khắc vì chỉ có thể bị đưa
tới trình trạng bướng bỉnh hơn nữa. Mẹ đã hết lòng
lo lắng đến mức không một nhu cầu hoặc phúc lộc
nào của Juda Iscariot bị bỏ qua. Mẹ bắt đầu săn
sóc chữa trị ông ta; Mẹ nói và lắng nghe ông ta
cách dịu dàng yêu thương hơn đối với những người
khác. Mẹ Maria thi hành việc này cao độ đến mức có
lần khi các môn đệ nói với nhau về vị thế của họ
đối với Chúa Cứu Thế và với Mẹ (Lc 22:24) Juda
Iscariot đã không bao giờ cho tỏ ra ghen tị hoặc
hoài nghi chút nào. Ngay từ buổi đầu Mẹ Maria đã
đặc biệt chiếu cố ông ta bằng những dấu của tình
yêu thương đặc biệt và lúc đó chính Juda Iscariot
cũng tỏ ra biết ơn về những đặc ân này.
Nhưng khi Juda Iscariot để cho khuynh hướng tự
nhiên hoạt động (các môn đệ khi chưa được củng cố
về thánh đức và ân sủng đều mắc phải một số lỗi
lầm của loài người), con người thiếu khôn ngoan
thận trọng đó bắt đầu tự phụ về sự trọn lành cá
nhân và để ý đến lỗi lầm nơi anh em hơn của chính
mình (Lc 4:41). Chính ông ta tự để mình bị lừa
dối, không cố gắng sửa chữa hoặc ăn năn, để cho
cái xà trong mắt mình lớn dần lên mãi trong khi để
ý tìm kiếm cọng rác trong mắt người khác. Trong
khi kêu ca những lỗi lầm nhỏ mọn của anh em khác
và với lòng tự phụ hơn là thiện chí sửa chữa người
khác, chính Juda Iscariot phạm những lỗi lầm lớn
hơn. Trong số các Tông Đồ, ông ta tách riêng thánh
Gioan ra, coi thánh Gioan là người hay xía vào
chuyện người khác; ông ta kết tội thánh Gioan lập
công với Thầy và Mẹ Maria. Thực ra Juda Iscariot
đã nhận được rất nhiều đặc ân của Chúa Giêsu và Mẹ
Maria mà không đem lại kết quả gì trong việc ngăn
cản hắn khỏi kiêu căng. Tuy vậy tới nay Juda
Iscariot chỉ mới phạm những lỗi nhẹ và chưa mất ơn
thánh hoá. Nhưng các lỗi đó chứng tỏ tình trạng
hết sức tồi tệ mà y nhất quyết theo đuổi. Từ đó
hắn nuôi dưỡng một số điều tự mãn phù phiếm trong
lòng. Lập tức điều này tạo ra một số đố kỵ nghi
ngờ, dẫn tới tinh thần vu khống và tàn nhẫn trong
việc bắt lỗi anh em. Những lỗi lầm này mở đường
cho những lầm lỗi trầm trọng hơn. Lòng sốt sắng
tận hiến nơi Juda Iscariot suy giảm, lòng yêu mến
đối với Thiên Chúa và người ta trở nên nguội lạnh,
ánh sáng soi trong lòng hắn bị mất dần rồi tắt
hẳn. Juda Isacariot bắt đầu nhìn các Tông Đồ và Mẹ
Maria với lòng chán ghét, ít hài lòng trong việc
giao tiếp với Mẹ và các Tông Đồ.
Mẹ
Maria nhìn thấy sự phản bội gia tăng trong lòng
Juda Iscariot. Mẹ tha thiết tìm kiếm việc phục hồi
và ơn cứu độ cho y trước khi y gieo mình hoàn toàn
vào sự chết của tội lỗi. Với sự dịu dàng và sức
mạnh lý luận, Mẹ nói và khuyến khích hắn như đứa
con yêu dấu. Mặc dầu đôi khi trận bão tư tưởng
xoáy lốc trong lòng Juda Iscariot được làm cho dịu
đi, nhưng chỉ được thời gian ngắn, rồi cơn giông
tố lại khơi dậy khiến y đảo điên. Y mở đường cho
ma quỉ vào trái tim. Y để mình bị chiếm hữu bởi sự
giận dữ sôi sục chống lại Mẹ Maria. Với sự giả
hình xảo trá, hắn tìm cách chối hoặc làm nhẹ các
lỗi lầm bằng cách viện dẫn những lý do khác để bào
chữa hạnh kiểm, che giấu những bí ẩn trong tim,
làm như thể hắn có thể lừa dối được Chúa Giêsu và
Mẹ Maria. Hắn mất lòng tôn kính bề trong đối với
Mẹ Maria từ bi, ghét những lời khuyên bảo, và công
khai chỉ trích những lời nói và lý luận dịu dàng
của Mẹ. Lòng quá tự phụ bội bạc này làm cho y xa
khỏi tình trạng ân sủng. Chúa hết sức buồn và để
mặc hắn với những ý định ác độc của hắn. Việc Juda
Iscariot chán ghét Mẹ Maria đã sớm phát sinh trong
lòng ghét cay ghét đắng đối với Thầy chí thánh.
Càng ngày Juda Iscariot càng bất mãn với những
giáo huấn của Chúa, bắt đầu coi đời sống Tông Đồ
và tiếp xúc với các môn đệ là quá sức nặng nề.
Dẫu vậy Chúa nhân từ không bỏ Juda Iscariot ngay,
mà vẫn tiếp tục ban cho hắn ơn giúp đỡ trong lòng,
mặc dầu nếu so với những ơn trước kia thì những ơn
mới này chỉ là những ơn thông thường hơn. Tuy
nhiên, chỉ những ơn đó cũng dư đủ cho việc cứu rỗi
y, nếu y chịu sử dụng. Thêm vào với các ơn này là
những lời của Vị Nữ Giáo Sư cực độ hiền từ khuyên
nài hắn tự chế và hạ mình xin Thầy chí thánh tha
thứ. Mẹ Maria đã cho Juda Iscariot lòng thương xót
nhân danh Chúa Giêsu và sự giúp đỡ nhân từ của Mẹ
để đạt được ơn tha thứ, hứa làm việc đền tội thay
cho hắn, nếu hắn bằng lòng ăn năn hối lỗi, sửa lại
đời sống. Mẹ Maria đã làm hết mọi việc này để ngăn
cản sự sa ngã của Juda Iscariot. Mẹ Maria biết rõ
nếu người ta không tìm cách chỗi dậy từ một lần sa
ngã mà cứ lì lợm trong tội là điều ác độc lớn lao
hơn việc sa ngã nhiều. Lương tâm người môn đệ kiêu
căng này chẳng những đã không trách mắng hắn vì sự
ác độc của mình, mà còn làm cho trái tim hắn trở
nên chai đá. Hắn bắt đầu khinh ghét sự khiêm tốn,
mà nhân đức này đáng lẽ ra phải là điểm tốt cho
hắn. Vì kiêu căng, hắn khước từ các lời khuyên tốt
lành của Mẹ Chúa Kitô và thích chọn việc chối lỗi,
chống chế bằng miệng lưỡi ngụy biện dối trá rằng
hắn yêu mến Thầy và những người khác, không có gì
để phải sửa đổi cách cư xử về phương diện này.
Để
không phải chịu lỗi vì che giấu những gì thuộc
chương này, tác giả xin nêu ra thêm lý do khác nữa
của việc Juda Iscariot sa ngã. Khi số lượng Tông
Đồ và môn đệ gia tăng, Chúa Giêsu muốn một trong
các Tông Đồ và môn đệ phụ trách các của bố thí
nhận được để cung cấp nhu cầu chung và đóng thuế
cho hoàng đế. Chúa Giêsu cho mọi người biết việc
này, nhưng không phân biệt ai mà cũng không nhắm
hẳn vào ai. Trong khi mọi người sợ tìm cách tránh
khỏi chức vụ đó, Juda Iscariot cố gắng giành cho
được. Để giành được việc chỉ định hắn vào chức vụ
quản lý, hắn tự hạ tới mức yêu cầu thánh Gioan xin
Mẹ Maria dàn xếp việc này với Chúa Giêsu cho hắn.
Thánh Gioan nhận lời xin với Mẹ Maria, nhưng Mẹ
không muốn đề nghị điều đó với Chúa, vì biết lời
Juda Iscariot yêu cầu phát xuất từ tham vọng không
chính đáng. Cùng cách như thế hắn nhờ thánh Phêrô
và các Tông Đồ khác, nhưng không thành công. Vì
nhân từ, Chúa muốn ngăn chận sự tự hủy diệt của
hắn, và nếu Chúa ban cho điều hắn xin, Chúa biện
hộ cho trường hợp của hắn trước loài người. Trước
sự đề kháng này, trái tim Juda Iscariot đã bị sụp
đổ vì tham lam, thay vì âm thầm qui phục, hắn bị
thiêu đốt vì những ước muốn giành chức quản lý mà
không thoả mãn. Vì thế tội lỗi càng nặng nề hơn
nơi Juda Iscariot, người đã từng là môn đệ trong
trường hợp trọn lành nhất, đã từng sống trong ánh
sáng Mặt Trời công chính là Chúa Cứu Thế và Mặt
Trăng xinh đẹp là Mẹ Maria! Vì hắn chạy trốn khỏi
ánh sáng, tự ý gieo mình vào bóng tối, hắn đánh
bạo xin Mẹ Maria trực tiếp dùng ảnh hưởng giành
cho hắn chức quản lý. Hắn đã mất hết sợ hãi, ngụy
trang lòng tham lam dưới tấm áo nhân đức. Đến với
Mẹ Maria, hắn nói hắn đã đưa ra lời yêu cầu qua
thánh Phêrô và thánh Gioan, với ước nguyện duy
nhất là chuyên cần phục vụ Mẹ và Thầy chí thánh,
vì không ai gánh vác những trách nhiệm đó với lòng
lo lắng ân cần đúng mức, nên bây giờ hắn xin Mẹ
Maria xin Thầy chí thánh giao chức quản lý cho
hắn.
Mẹ
Maria hết sức nhẹ nhàng trả lời Juda Iscariot:
“Con hết sức yêu quí của Mẹ, con hãy suy nghĩ kỹ
điều con xin, xem xét những ý định của con có ngay
thẳng không. Con hãy đắn đo kỹ lưỡng, liệu có tốt
cho con khi tìm kiếm điều mà tất cả các anh em con
đều sợ và từ chối trừ phi họ bị bắt buộc do lệnh
của Thầy chí thánh. Thầy chí thánh yêu thương con
hơn con yêu chính con và nhất định Thầy biết điều
gì có ích cho con. Con hãy tự nguyện vâng theo
thánh ý Chúa. Con hãy thay đổi mục đích; tìm làm
phong phú thêm lòng khiêm nhượng và khó nghèo. Con
hãy chỗi dậy từ chỗ con vấp ngã, Mẹ sẵn sàng giúp
con, Con Mẹ sẵn sàng cho con thấy lòng thương xót
yêu thương vô cùng của Ngài.” Nhưng trái tim sôi
sục ham muốn và chai đá của Juda Iscariot đã không
mềm ra, cũng không cảm động chút nào. Trái lại,
Juda Iscariot tức giận Mẹ Maria; hắn cho rằng hắn
bị xúc phạm vì Mẹ đã cho hắn phương tiện thoát
khỏi nguy cơ khủng khiếp. Cuồng vọng và lòng tham
không đáy đã khiến y tăng thêm lòng giận dữ đối
với Mẹ Maria; y cho rằng Mẹ là trở ngại cản trở
các mục tiêu của y, coi lời khuyên tốt lành của Mẹ
Maria là lời sỉ nhục.
Sau khi nói chuyện với Mẹ Maria, lòng tham lam của
Juda Iscariot không để cho hắn nghỉ. Hắn gạt bỏ
lòng khiêm tốn, sự xấu hổ tự nhiên và tàn lửa nhỏ
nhoi nhất của đức tin, hắn nhất định trực tiếp xin
điều đó với Chúa Cứu Thế. Tự khoác cho mình bộ mặt
đạo đức giả điêu luyện trong lớp con chiên hiền
lành, hắn nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi muốn
chu toàn những điều Thầy muốn và phục vụ Thầy với
tư cách quản lý phân phát các của bố thí chúng ta
nhận được. Tôi sẽ để ý tới phúc lợi người nghèo,
chu toàn giáo lý của Thầy. Chúng ta sẽ làm cho
người khác những điều chúng ta muốn người khác làm
cho chúng ta. Tôi sẽ trông coi việc phân phát các
của bố thí theo ý Thầy cách hữu ích hơn và trật tự
hơn từ trước tới nay.” Lời lẽ mà tên giả hình liều
lĩnh dùng đã gây ra nhiều tội ghê gớm trong cùng
một hành động. Trước hết hắn nói dối, che giấu ý
định thực. Kế đến, vì tham vọng được vinh dự mà
hắn không xứng đáng, hắn không muốn xuất hiện
trong ánh sáng thực của hắn, hắn cũng không muốn ở
trong sự thực mà hắn chỉ làm bộ. Hắn đổ lỗi cho
anh em, triệt hạ họ xuống và tự đề cao: việc làm
thường tình của những kẻ tham vọng. Điều cần đặc
biệt chú ý nơi thái độ Juda Iscariot là hắn cho
thấy tình trạng mất đức tin đã được in trong linh
hồn hắn; vì qua lớp áo giả hình hắn muốn lừa dối
Chúa Kitô, Thầy hằng sống. Nếu hắn xác tín Chúa
Kitô là Thiên Chúa thực và người thực, là Đấng
biết hết các điều ẩn kín trong lòng mọi người, hắn
đã chẳng nghĩ có thể lừa dối Chúa, hắn cũng không
thể nào dám liều lĩnh chơi trò hai mặt như thế.
Chúng ta trở lại với câu trả lời Thầy chí thánh
cho Juda Iscariot khi hắn xin Chúa cho hắn chức
quản lý. Chúng ta thấy bí nhiệm và kinh khủng
chừng nào các phán quyết của Đấng Tối Cao. Chúa
Cứu Thế muốn gỡ cho Juda Iscariot khỏi nguy hiểm
trầm luân đời đời, mà nguy hiểm này nằm sau lời
yêu cầu của người Tông Đồ tham lam. Để Juda
Iscariot không thể tự bào chữa là vì ngu dốt, Chúa
trả lời hắn: “Juda Iscariot, anh có biết điều anh
kiếm tìm và điều anh xin không? Anh đừng quá ác
độc đối với chính anh khi khẩn khoản tìm kiếm để
giành được thuốc độc và những vũ khí có thể làm
cho anh chết.” Juda Iscariot đáp lời: “Thưa Thầy
tôi ước ao phục vụ Thầy bằng việc tận lực phục vụ
các người trung thành theo Thầy, mà tôi có thể
hoàn tất tốt hơn bất cứ công tác nào khác. Tôi hứa
chu toàn mọi trách nhiệm chức vụ này không thiếu
sót.” Lòng tự phụ liều lĩnh này của Juda Iscariot
trong việc tìm kiếm và thèm muốn sự nguy hiểm
chứng minh là đúng nguyên do Chúa để cho hắn đi
vào hủy diệt trong điều nguy hiểm hắn tìm kiếm ước
ao. Nó chống lại ánh sáng (Kn 15:17), ngoan cố
chống lại ánh sáng. Nước và lửa, sống và chết đã
được chỉ rõ cho hắn, hắn đã đưa tay ra chọn lấy
trầm luân đời đời.
LỜI MẸ MARIA
Con của Mẹ, tất cả những điều con viết trong
chương này là lời cảnh cáo quan trọng nhất đối với
những người sống theo xác thịt, trong sự nguy hiểm
mất hạnh phúc đời đời. Cần phải dạy họ tìm kiếm
lời cầu bầu nhân từ và mạnh thế nhất của Mẹ, dạy
họ biết sợ những phán xét của Đấng Tối Cao. Điều
này chứa đựng những phương tiện cứu độ có hiệu lực
và đáng được Thiên Chúa thưởng. Mẹ muốn lần nữa
nhắc con nhớ một trong những bí mật được tiết lộ
cho thánh Gioan trong buổi Tiệc Ly là điều này.
Thánh Gioan đã trở nên môn đệ yêu dấu Chúa Kitô vì
ngài yêu mến Mẹ. Juda Iscariot sa ngã vì y khinh
ghét lòng thương xót nhân từ Mẹ đã biểu lộ cho y.
Đồng thời Thánh Sử cũng hiểu các mầu nhiệm vĩ đại
khác được truyền thông và thực hiện trong Mẹ. Mẹ
phải tham dự khổ cực đau đớn của Khổ Hình mà Chúa
đặc biệt trao cho Mẹ. Con hết sức yêu dấu của Mẹ,
sự tinh tuyền Mẹ đòi hỏi ở con phải lớn lao hơn sự
tinh tuyền nơi các thiên thần. Nếu con cố gắng
theo đuổi sự tinh tuyền đó con sẽ trở nên con yêu
dấu nhất của Mẹ, như thánh Gioan, là bạn yêu dấu
nhất và sủng ái nhất của Con và Chúa của Mẹ. Gương
sáng thánh Gioan phải luôn luôn là điều khích lệ
con, sự hủy diệt của Juda Iscariot phải luôn được
coi như lời cảnh cáo cho con: chỉ tìm kiếm tình
yêu thương của Mẹ và thành thực biết ơn về tình
thương yêu được ban cho con mà con không xứng đáng
công gì.
|