Bài 2 : NGHỆ THUẬT GIẢNG THUYẾT
I. KHÁI NIỆM : * Nghệ thuật : những phương pháp, kỹ thuật tinh xảo làm cho một nghề nghiệp nào đó được tốt đẹp, hoàn hảo (Nghệ : nghề nghiệp ; Thuật : phương pháp, kỹ thuật)
* Giảng thuyết : giải thích, nói cho rõ ra một vấn đề, sự kiện, công việc nào đó (Giảng : giải thích rõ ràng ; Thuyết : nói).
* Nghệ thuật giảng thuyết là những kỹ thuật nói năng, giảng giải cho thính giả (người nghe) hiểu thật cặn kẽ về một vấn đề nào đó. Trong phạm vi bài này, nghệ thuật giảng thuyết là những phương pháp, kỹ năng mang tính sư phạm, giúp người giảng viên đứng lớp đạt hiệu quả cao. Nói cách khác là nhằm giúp người giảng viên thi hành tốt sứ vụ được trao phó, theo đặc sủng Chúa Thánh Thần đã ban : Ân sủng giảng thuyết.
Như vậy, người có ân sủng giảng thuyết, không phải là người giảng làm thính giả say mê, cũng không phải là nhà hùng biện hấp dẫn thính giả ; mà hơn thế, đó là ngưởi được Thiên Chúa ban ơn biết dùng lời nói thực sự, một hình thức hoạt động đặc biệt của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn bao phủ người tin. Nếu nhà giảng thuyết có uy tín, nếu nói với uy quyền, nếu có ân sủng, đó chỉ là do sức mạnh siêu nhiên đang ở trong người ấy, một khi người ấy biết sẵn lòng đón nhận. Điều đó cho biết tại sao người ta lại cho rằng ân sủng này là kết quả của việc sám hối hay thánh hoá, nói đúng hơn, người ta đoán ra được hay cảm nghiệm trước được ân sủng đó.
Thường khi nghe nói đến giảng thuyết, ai cũng nghĩ là cần phải có năng khiếu thiên phú mới có thể làm được. Thực ra thì loài người nói chung – ngoại trừ những người bị khiếm khuyết hay bệnh tật – đều có khả năng ăn nói cả. Khả năng ấy phát triển bình thường nơi người bình thường, phát triển mạnh nơi người có tài, và nẩy nở phi thường nơi bậc thiên tài. Nhưng tựu trung, dù nơi người bình thường hoặc nơi người có tài hay nơi bậc thiên tài, tất cả đều có thể và cần được huấn luyện, rèn luyện. Câu nói của cổ nhân : “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý” (Ngọc không được mài giũa thì không trở thành vật quý giá, người không học thì không biết lý lẽ ở đời) cho thấy, đến như ngọc – tự bản chất – đã là quý rồi, mà vẫn cần phải được mài giũa ; huống hồ là con người – dù cho có khả năng thiên phú đi nữa – mà không được rèn luyện, thì cũng không trở nên hữu dụng được (“Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài, Cũng thành vô dụng, cũng hoài ngọc đi” – ca dao VN).
Dĩ nhiên, để được đào tạo thành người giảng thuyết, thì người thụ huấn cũng đòi hỏi phải có một trình dộ văn hoá nhất định nào đó, hoặc nếu không thì cũng phải được tiến hành song song việc đào tạo văn hoá và đào tạo thành giảng viên. Cũng xin mở ngoặc để nói rõ thêm là những giảng viên chuyên biệt (tức là những người đi dậy) khác với những giáo dân bình thường trong sứ vụ loan báo Tin Mừng, bởi có những phương cách loan báo Tin Mừng có thể không cần đến trình độ văn hoá (vì họ có thể học bằng cách lắng nghe và cầu nguyện, và có thể loan báo Tin Mừng bằng chính cuộc sống một Ki-tô hữu đích thực (“Trước khi rao giảng bằng lời nói, hãy rao giảng bằng đời sống” – Thư MV 2003 của HĐGMVN). Các giảng viên cần có một trình độ văn hoá nhất định và phải được tham dự những khoá huấn luyện chuyên biệt, cũng là vì thế (“Để bắt đầu một công cuộc mục vụ thực sự hữu hiệu, cần phải cổ võ việc đào tạo các chuyên viên lo việc huấn luyện, kể cả việc thiết lập các khoá học hay các trường dành riêng cho công việc đó. Việc đào tạo những người mà, đến lượt mình, sẽ phải đảm nhận công việc huấn luyện giáo dân, là một đòi hỏi tiên quyết và sâu xa cho toàn thể dân Chúa, cho mọi giáo dân …” – TH/KTHGD V, 63).
Chúng ta thử suy gẫm lại lời dậy của Đức Ki-tô : “Các kinh sư và các người Pha-ri-siêu ngồi trên toà ông Môsê mà giảng dậy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23, 1-3). Nếu không sống tốt, thì dù có được học nhiều tới đâu đi nữa mà cứ liều mình đi dậy, cũng chẳng khác gì những kinh sư và các người Pha-ri-siêu – những con vẹt thời đại vậy.
Học về giảng thuyết, nói về giảng thuyết, thì người thầy tiên khởi, người thầy muôn đời tuyệt mỹ mà chúng ta phải tận tâm tận lực học hỏi, đó chính là Thầy Chí Thánh Giê-su Ki-tô.
Tóm lại, “trong công việc huấn luyện, có một vài xác tín hết sức cần thiết và phong phú. Trước tiên, đó là xác tín rằng không thể có việc huấn luyện đích thực và hữu hiệu, nếu mỗi người không tự đảm nhận và phát triển trách nhiệm đào tạo chính mình : quả thực mọi việc huấn luyện thiết yếu là một thứ ‘tự huấn luyện’. Tiếp đến là xác tín rằng mỗi người chúng ta vừa đồng thời là đích điểm vừa là khởi điểm của việc huấn luyện, chúng ta càng tự huấn luyện tốt thì càng có khả năng để huấn luyện người khác. Cũng phải ý thức rằng công việc huấn luyện, nếu biết khôn ngoan dựa vào các phương tiện và phương pháp khoa học nhân văn và sẵn sàng để cho Thiên Chúa hành động, thì càng đạt được hiệu quả nhiều hơn” (TH/KTHGD V, 63). Đó là lời dậy chí lý của ĐTC Gioan Phaolô II dành cho mọi thành phần Dân Chúa. Lời dậy này càng trở nên cần thiết hơn cho những người mang trọng trách giảng thuyết.
II. KỸ NĂNG GIẢNG THUYẾT : Người giảng thuyết giỏi là người có kỹ năng hoàn hảo. Đó chính là khả năng ăn nói và kỹ thuật diễn giảng.
II.1. Năng lực giảng thuyết : Cha Guy Bedouelle O.P. đã viết : “Như vậy, người có ân sủng giảng thuyết không phải là người giảng làm thính giả say mê, cũng không phải là nhà hùng biện hấp dẫn thính giả. Mà hơn thế, đó là người được Thiên Chúa ban ơn biết dùng lời nói thực sự, một hình thức hoạt động đặc biệt của Chúa Thánh Thần” (“Thánh Đa Minh, ân sủng Lời Chúa”, tr. 125). Tuy nhiên, ĐTC Gio-an Phao-lô II lại dậy : “Việc huấn luyện không phải là đặc quyền của một số người, nhưng thật sự là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người … Thượng Hội Đồng Giám Mục (1987) yêu cầu : ‘ước mong mọi người đều có thể được huấn luyện, nhất là những người nghèo, để chính họ lại có thể trở thành nguồn mạch huấn luyện cho mọi người’ …. ” (TH/KTHGD V, 63).
Như vậy, năng lực (khả năng) giảng thuyết cũng như nhu cầu được huấn luyện là nhu cầu chung của tất cả mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội. Và tất nhiên, “Để hành động với tất cả lòng trung tín theo ý định của Thiên Chúa, người môn đệ cần phải có khả năng và luôn cố gắng làm cho mình càng có khả năng hơn nữa : chắc chắn cùng với ân sủng của Chúa…, nhưng cũng phải có sự cộng tác tự do và có trách nhiệm của mỗi người chúng ta … nhất thiết phải thi hành công việc huấn giáo một cách có hệ thống, thích hợp với tuổi tác, với những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống và phải cương quyết thăng tiến nền văn hoá theo tinh thần Ki-tô Giáo, để có thể trả lời được cho những vấn nạn muôn thủa, cũng như những vấn đề mới đang ảnh hưởng trên con đường và xã hội hôm nay…” (TH/KTHGD V, 58-60).
Rõ ràng, người giảng thuyết “cần phải có khả năng và luôn cố gắng làm cho mình càng có khả năng hơn nữa”. Việc ‘có khả năng’, là việc làm của Thiên Chúa : Thông qua Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa ban cho con người những khả năng thích ứng với đời sống (xã hội cũng như tôn giáo). Còn việc ‘làm cho mình càng có khả năng hơn nữa’, chính là sự nỗ lực không ngừng – trong tự do và trách nhiệm – của con người. Nói khác đi, con người (ở đây là người giảng thuyết) cần phải biết tự trang bị kiến thức chuyên môn, để trau giồi và phát triển năng lực sẵn có của mình.
Đức Ki-tô, Đấng là Thầy, đã dậy chúng ta : “Lòng có đầy miệng mới nói ra” (Mt 12, 33). Chủ thể cần phải ‘có’ trước đã, nhiên hậu mới nói đến việc đem chia sẻ ‘cho’ tha nhân. Không ai có thể cho người khác cái mà mình không có. Việc chia sẻ Lời Chúa cũng vậy, không có cái ‘vốn lận lưng’ thì lấy gì mà chia sẻ ? Cao hơn một bậc, giảng viên là người đi giảng thuyết, đi dậy người khác, thì lại càng cần phải có một cái vốn kiến thức kha khá, mới hy vọng đạt kết quả. Người đời cũng thường nói “Biết MUỜI, dậy MỘT”, nếu không đạt được yêu cầu đó, thì tối thiểu cũng phải “Biết HAI, dậy MỘT”. Tất nhiên, vấn đề tích luỹ kiến thức, phải là ưu tiên hàng đầu của người giảng thuyết, và trải qua một quá trình dài lâu với những nỗ lực không ngừng. Để có được cái vốn, phải biết nghe, đọc, học trong nhà trường, ngoài xã hội, trong cuộc sống, giữa thiên nhiên, và trên tất cả là lắng nghe và học hỏi (cầu nguyện) với Thiên Chúa, Đấng là Thầy-Dậy-Muôn-Đời.
Kho tàng kiến thức của giảng viên, chủ yếu phải được kín múc từ kho báu vô tận là Thánh Kinh và Phụng Vụ Thánh (“Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ” (1Pr 2, 2), bởi vì và trên tất cả, chúng ta giảng thuyết là để truyền đạt cho anh em về Mầu Nhiệm Đức Tin, Mầu Nhiệm Cứu Độ xuất phát từ Thiên Chúa và được thực hiện bởi chính Con Một Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Ngoài ra, về chuyên môn nghiệp vu (giáo dục), chúng ta cần học hỏi nơi chính Đức Kitô những phương pháp sư phạm tuyệt hảo mà người vẫn dùng để giảng dạy các môn đệ và dân chúng; đồng thời chúng ta có thể học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm nơi những môi trường tôn giáo (phụng vụ Thánh, giáo dục, chia sẻ…), hoặc nơi những sách báo (Đạo cũng như Đời). Như vậy, về chuyên môn, nhu cầu huấn luyện và nhu cầu cần được huấn luyện, không chỉ là nhu cầu của người thụ huấn (học viên), mà còn là nhu cầu của chính người giảng dậy nữa. Có nhu cầu cần được huấn luyện, lẽ tất nhiên phải có đáp ứng, ấy là việc trui rèn, mài giũa khí cụ chuyên môn, nói cách khác là trau giồi kỹ thuật giảng thuyết cho nhuần nhuyễn vậy.
II.2. Kỹ thuật giảng thuyết : Đức Khổng Tử đã nói : “Công dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí” (người thợ muốn cho công việc mình làm được tốt đẹp, trước hết phải rèn giũa khí cụ cho thật tốt). Khí cụ trong giảng thuyết, chỉ có thể là :
II.2.1. Chuẩn bị : Sự chuẩn bị phải thật kỹ, kiến thức phải thật vững (nôm na là phải thuộc bài, “nói có sách, mách có chứng”). Truy tìm tài liệu, chứng liệu liên quan đến đề tài thuyết trình. Nếu cần, thì ghi ra giấy những tư liệu săn tìm được, cả những suy nghĩ, băn khoăn, thắc mắc của bản thân ; tiếp theo là phải có ‘Dàn bài tổng quát’, ‘Dàn bài chi tiết’ đầy đủ, và nếu cần, có thể viết hẳn thành bài trần thuyết phát cho học viên, nhưng cần lưu ý là chỉ được dựa theo đó mà ‘nói’, chớ đừng ‘đọc’ (xc thêm bài “VĂN GIẢNG THUYẾT” và “BÀI GIẢNG THUYẾT”). Nếu chưa quen, có thể tập ‘nói’ trước gương cho mình nghe thử (‘mình nhìn mình’ nói, tức là tự soi, tự nhìn lại mình, và đây cũng là một cách “diện bích” rất hay, rất nên làm).
II.2.2. Phát biểu : * Tư thế : Thường thì phải đứng, mà đứng thì dễ bị run hơn là ngồi. Đứng trụ 2 chân cho vững, 2 tay đừng để không (sẽ sinh lóng ngóng, cảm thấy thừa thãi), mà cầm micro hoặc giấy ghi ý kiến hay dàn bài ; nếu đứng nơi bục giảng hoặc sau một cái bàn, thì nên tì tay cho vững … Mắt nhìn thẳng xuống cử toạ, nhưng đừng chú ý tới một người cụ thể nào, dù người đó có là VIP (nhân vật quan trọng) chăng nữa, cứ coi cử tọa chỉ là những – xin lỗi – củ khoai bất động (cốt để mình khỏi sợ mà phát run lên thôi, không phải là coi khinh cử toạ đâu – sẽ bàn kỹ hơn v/đ này trong mục “Thái độ” và “Tình cảm” của người giảng thuyết)
* Nói : Nói khoan thai, đĩnh đạc. Tuyệt đối đừng hấp tấp nói vội, nói nhanh, sẽ rất dễ làm tăng sự hồi hộp để đi đến cà lăm, lắp bắp, nói không ra hơi. Hãy hít thở thật sâu và nói thật chậm rãi, giọng nói rõ ràng, rành mạch (và lúc nào cũng luôn luôn nghĩ đến gương Demosthène – Hy lạp – kiên trì ngậm sỏi trong miệng rồi tập nói trước sự ồn ào sóng vỗ ngoài bãi biển, để chữa tật nói lắp – nói ‘cà lăm’ – của mình, nhờ vậy ông đã trở thành một ‘nhà hùng biện’ tầm cỡ). Cố gắng tập luyên, ắt sẽ thành công.
c)- Thảo luận : Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, bình thường thì khi phụ trách giảng thuyết bất cứ đề tài nào, cũng phải dành thời gian cho học viên góp ý, thắc mắc, trao đổi, hoặc thảo luận. Phần thảo luận này cũng phải được chuẩn bị kỹ càng, mới có hiệu quả mong muốn. Những câu hỏi khéo léo, những lời gợi mở nhẹ nhàng, những động thái khích lệ chân tình… sẽ giúp học viên “cởi mở tâm tình”, không những đóng góp ý kiến cho bài thuyết trình, mà còn có thể hé lộ những trăn trở, những khúc mắc … trong đời sống Ki-tô hữu, giúp thuyết giả tích luỹ thêm kinh nghiệm giảng dậy … Chính nhờ phần thảo luận được tổ chức và tổ chức có kỹ thuật hẳn hoi, buổi huấn luyện sẽ có tác dụng hỗ tương hai chiều.
III. NGHỆ THUẬT GIẢNG THUYẾT : Học giả Nguyễn Hiến Lê đã đặt tựa đề “Nghệ thuật nói trước công chúng” cho một tác phẩm hướng dẫn cách nói chuyện trước đám đông (trong tủ sách “Quẳng gánh lo đi và vui sống”). Quả thật, đối với chúng ta thì khả năng diễn thuyết là ân sủng của Thiên Chúa ban tặng, thông qua Đức Thánh Linh ; nhưng nỗ lực làm cho sự giảng thuyết đạt được hiệu quả cao (thu hút, lôi cuốn, chinh phục được thính giả) lại là sự kiên trì rèn luyện của người giảng thuyết. Sống, học hỏi, tập luyện đến độ biến những kỹ năng giảng thuyết trở thành máu thịt bản thân, ấy là lúc đã nâng kỹ năng lên hàng nghệ thuật. Cũng không khác bên võ học, khi đã tập luyện đến độ lúc phát động không còn câu nệ vào chiêu thức nữa (‘vô chiêu thắng hữu chiêu’), tức là đã đạt mức “siêu thần nhập hoá” rồi vậy.
Ở đây, tác giả cũng xin cố gắng dàn trải những kinh nghiệm ‘vô chiêu thắng hữu chiêu’ trong gần ba thập kỷ đứng trên bục giảng. Đó là sự đòi hỏi người giảng thuyết cho dù xác tín đã nhận được từ Tin Mừng một sứ điệp chân thật, hữu hiệu và vững chắc nhất … nhưng chưa hẳn đã biết cách truyền đạt lại. Phải chăng đây là thách đố lớn nhất của Giảng viên, Giáo lý viên trong quá trình giảng dạy ? Vì vấn đề không phải là chuyện tạo ra một sứ điệp mới, mà là tìm ra những cách thức truyền đạt mới. Vâng, “tân Phúc Âm hoá” không phải là “làm mới lại (canh tân) Phúc Âm” mà là “làm mới lại cách thông truyền, rao giảng Phúc Âm”
Vì vấn đề không chỉ là “phương tiện kỹ thuật” (dù cho phải hiểu biết và nắm vững những phương tiện này), mà còn cần phải tìm ra được những nền tảng sâu rộng nhất của “nghệ thuật giảng thuyết” nữa.
III.1. Có gì để nói : Nguyên tắc đầu tiên của nghệ thuật giảng thuyết là phải có chất liệu để nói. Người giảng thuyết phải thủ đắc được nền tảng, phải làm chủ được vấn đề, cũng như phải hiểu được thính giả. Không những có tri thức về các nguồn của Mạc khải, về Thánh truyền, về truyền thống và về huấn quyền, người giảng thuyết còn phải biết rõ nội dung mạc khải và cách diễn tả nội dung ấy.
Vì người Giảng Thuyết đón nhận sứ vụ nơi Giáo hội, nên khi nói thì nhân danh Giáo hội, chứ không nhân danh mình. Điều này dễ hiểu thôi vì tất cả chúng ta đều tham dự vào sứ vụ giảng dạy của Giáo Hội,
III.2. Vấn đề cách thức : Giảng thuyết thuộc loại nói làm sao thuyết phục được người nghe. Tin Mừng được truyền đi bằng lời nói, từ miệng đến tai. Nên người giảng thuyết phải nhớ rằng mình chỉ là phương tiện, là trung gian, là dụng cụ. Anh ta phục vụ hai mục tiêu cao cả hơn chính bản thân mình : “sứ điệp” mà anh phải truyền đi và “ơn cứu độ” của những thính giả.
Người giảng thuyết cũng giống như “người đi gieo giống” (Lc 8,5). Anh ta gieo hạt vào những vùng đất tốt, và anh ta rút lui vì anh ta không phải là người làm cho hạt nảy mầm (“Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên…” – 1 Cr 3, 6). Điều quan trọng là hạt giống, là mùa gặt, là cánh đồng, chứ không phải người gieo. Người ta sẽ quên đi người gieo giống khi công việc đã hoàn thành. Tuy nhiên, ở đây, mục tiêu nhắm tới là mùa gặt chớ không là gì khác, người gieo giống sẽ vui mừng khi thấy mùa gặt thóc lúa được tích trữ đầy kho. Đó mới là phần thưởng tối hậu dành cho người gieo. Vả chăng, vì gieo giống luôn là một nghệ thuật, mà người làm nghệ thuật nhiều khi phải quên mình đi thì tác phẩm mới đạt giá trị đích thật của nó.
III.3. Đồng hoá với Lời Chúa : Người giảng thuyết phải nhớ anh ta không phải là nhà chú giải. Anh không được sai đi để chú giải cho bản văn dù lời chú giải có thánh thiêng đi chăng nữa. Việc của anh là loan báo Lời. Đây là điều sống còn cho việc loan báo Tin Mừng. Anh phải gắn bó toàn bộ con người anh vào Tin Mừng. Anh phải ‘trở nên một’ như lời anh loan báo, lời của anh phải có sức mạnh như lời của Đức Ki-tô : “Dân chúng đã sửng sốt về cách Người giảng dạy, vì Lời của Người có uy quyền” (Lc 4, 32).
Chính Đức Giêsu không viết một cuốn sách thánh để mãi mãi chú giải. Ngài nói Lời sống động, và Lời ấy mãi mãi sống động khi được thông truyền đi như một Lời hằng sống : “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mt 16,15). Người giảng thuyết loan báo Tin Mừng cách trực tiếp, như chính anh ta nói. Lời loan báo tạo ra biến cố. Ai nghe, là nghe chính Lời Chúa, vì Chúa đã hứa : “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Như vậy, mối bận tâm nhất của người giảng thuyết là trở nên đồng hoá với Lời của Đức Kitô, để rồi lời loan báo của người giảng thuyết chính là Lời Đức Kitô. Dĩ nhiên, đây không phải là vấn đề kỹ thuật, mà là người giảng thuyết phải hoán cải, phải thanh luyện bản thân, và sống trong tình trạng ân sủng, nếu không, anh ta chỉ là một thằng hề với một cái loa phát thanh vô hồn ở trên miệng.
Giảng thuyết là một hành động và người giảng thuyết là người thực thi hành động. Thiên Chúa hành động qua lời phát ngôn viên của Người. Người nói thấu tim thính giả. Người đánh động và lôi kéo họ về với Người (Mt 7, 28-29 ; Mc 1, 22). Người bày tỏ tình yêu cho họ. Vâng, giảng viên Kitô giáo chính là phát ngôn viên của Đức Kitô. Người phát ngôn cho một nhân vật VIP hoặc một chính phủ nào đó, tức là người thay mặt và nói thay cho nhân vật hay chính phủ ấy. Nói khác hơn, tiếng nói của phát ngôn viên không còn là của phát ngôn viên, mà là của chính nhân vật hay cơ quan mà người phát ngôn ấy đại diện. Ở đây, giảng viên rao giảng Lời Chúa tức là chính Chúa nói qua lời nói của giảng viên. Vì thế, ngoài việc phải tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho mình đặc sủng giảng thuyết, người giảng viên còn phải hết sức cẩn trọng, thận trọng trong khi giảng thuyết về Lời.
III.4. Người giảng thuyết là người thông dịch : Nếu như việc giảng thuyết là một vở kịch, thì người giảng thuyết là một diễn viên (người giảng viên phải vừa diễn vừa giảng). Vì thế, người giảng thuyết phải học nơi diễn viên sự kỷ luật, tính khiêm nhường, sự nghiêm khắc. Chẳng khác diễn viên với vai trò của mình làm sao gây được ân tượng sâu sắc trong lòng khán giả, người giảng thuyết phải tìm mọi cách và bằng nỗ lực tối đa để sứ điệp của mình thấm sâu vào tâm hồn thính giả.
Người giảng thuyết không được khinh chê những tài năng tự nhiên, và không được lơ là với những gì công việc đòi hỏi, vì người giảng thuyết đã chọn giảng thuyết là cái nghiệp cho mình. Như người thợ thủ công lành nghề (“công dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí” : người thợ muốn công việc đạt hiệu quả tốt, trước hết phải lo trau giồi khí cụ cho thật tốt – Khổng Tử), người giảng thuyết phải chuyên cần làm việc, để mỗi ngày một đào sâu trong kiến thức, để thấu triệt được kiến thức đã thâu nạp, để tìm ra cách thức truyền đạt tốt hơn, để kín múc được nơi truyền thống những lời chứng cho bản thân và “lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13, 52). Nói khác hơn, người giảng thuyết phải biết ôn lại những cái cũ để biết được những cái mới (“Ôn cố nhi tri tân” – Nho giáo). Có như thế, việc giảng thuyết mới phong phú và đa dạng.
III.5. Tình cảm : Câu hỏi đầu tiên khi anh bước vào giảng đường sư phạm : “Tại sao anh chọn nghề này ? Anh có thật sự yêu nghề không ?”. Nếu người thầy chọn nghề thật sự chỉ vì tình yêu, thì chắc chắn sẽ gặt hái thành công mỹ mãn. Yêu nghề tất quý nghề. Thật sự yêu nghề, quý nghề tất nhiên là yêu học viên, quý học viên, gắn bó với lớp học. Tình cảm ấy phải được thể hiện cụ thể trong suốt quá trình đứng lớp, trong suốt cuộc đời của người giảng viên.
Công việc huấn luyện phải được tiến hành trong tinh thần phục vụ Ki-tô giáo. Đức Giê-su Ki-tô – Người Thầy Chí Thánh – Người Thầy Muôn Đời của muôn thế hệ – Người chính là tấm gương sáng chói, tấm gương vĩ đại cho những bậc mô phạm. Chính Người đã dậy : “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28) và “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).
Vì tình yêu, tất yếu người thầy nào cũng mong truyền thụ được đến nơi đến chốn cho học viên những kiến thức của mình, thầy nào cũng mong muốn học viên được như mình hoặc hơn mình. Mong rằng giảng viên, trong tình cảm sư phạm, sẽ thực hiện tiêu chí : Huấn luyện là một cuộc biến đổi có tính cách song phương “không chỉ nơi người được huấn luyện mà ngay cả người huấn luyện cũng phải được biến đổi”. Vì đối với chúng ta, chỉ có một vị Thày duy nhất là Đức Giê-su, còn tất cả đều là người thụ huấn, là người môn đệ. Phải chăng sự biến đổi của người huấn luyện (giảng viên) là nhờ luôn chuẩn bị kỹ càng, trau giồi kiến thức, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, rút kinh nghiệm cho bản thân sau mỗi lần đứng lớp …, và nhờ đó mà sự truyền đạt có hiệu quả tốt làm biến đổi người được huấn luyện (học viên) ?
Người Thầy duy nhất, đích thực của chúng ta đã dậy : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Nếu tất cả những điều trên (tác phong, thái độ của người giảng thuyết) đều được hoàn toàn xây dựng trên nền tảng ĐỨC ÁI, thì có thể nói nghiệp vụ chuyên môn đã được nâng lên hàng nghệ thuật. Vâng, tình yêu chân thực sẽ giúp chúng ta hoàn tất trọng trách mà Thiên Chúa và Giáo Hội đã trao phó.
IV. KẾT LUẬN : Có thật nhiều anh chị em giáo dân khi được tiếp xúc, đều tỏ vẻ khao khát được học hỏi, được huấn luyện, để trở nên những tông đồ nhiệt thành trên hành trình loan báo Tin Mừng, trở nên chứng nhân Tin Mừng trên cánh đồng Truyền Giáo. Ý thức được nhu cầu bức thiết đó, người giảng viên phải kiên trì trau giồi kiến thức, rút tỉa kinh nghiệm, tự huấn luyện mình trước khi huấn luyện người khác, vì giảng thuyết là một ân sủng của Thiên Chúa ban cho, nhưng đồng thời cũng là một nỗ lực vươn tới của con người. Và cũng vì Thiên Chúa muốn dùng miệng lưỡi thô sơ, nhơ uế của con người để nói Lời Thánh Thiện, Lời Hằng Sống, nên hơn ai hết, người giảng viên phải là người nói Lời cho anh em nghe một cách có nghệ thuật, thu hút được người nghe, để cả đôi bên (người nói và người nghe) cùng tiến bộ. Nói đến nghệ thuật là người ta sẽ nghĩ đến những nghệ nhân chân chính cống hiến trọn cuộc đời mình (cả tinh thần lẫn thể xác) cho nghệ thuật. Vậy tại sao nói đến nghệ thuật giảng thuyết, người giảng thuyết (giảng viên, giáo lý viên) lại đành thờ ơ ?
Để kết thúc, xin được nhắc lại lời dậy cùa ĐTC Gioan Phaolô II : “Trong công việc huấn luyện, có một vài xác tín hết sức cần thiết và phong phú. Trước tiên, đó là xác tín rằng không thể có việc huấn luyện đích thực và hữu hiệu, nếu mỗi người không tự đảm nhận và phát triển trách nhiệm ‘đào tạo chính mình’ : quả thực mọi việc huấn luyện thiết yếu là một thứ ‘tự huấn luyện’. Tiếp đến là xác tín rằng mỗi người chúng ta vừa đồng thời là đích điểm vừa là khởi điểm của việc huấn luyện, chúng ta càng tự huấn luyện tốt thì càng có khả năng để huấn luyện người khác” (TH/KTHGD V, 63).
CÂU HỎI THẢO LUẬN :
1/- Thế nào là nghệ thuật giảng thuyết ? Hãy so sánh vai trò người giảng viên với vai trò một diễn viên trên sân khấu.
2/- Ân sủng giảng thuyết là gì ? Người có được ân sủng giảng thuyết có cần phải rèn luyện không ? Tại sao ?
3/- Để đạt được kết quả trong giảng thuyết, người giảng viên cần có những đức tính nào ?
4/- Trình bày và phân tích những kỹ năng căn bản của nghệ thuật giảng thuyết.
5/- Tại sao người giảng viên phải đồng hoá với Lời Chúa khi giảng thuyết ? Đồng hoá là thế nào ?