MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 


 

TÀI LIỆU HỌC TẬP :
NGHỆ THUẬT GIẢNG THUYẾT
JM LamThy Đinh Văn Diệm

Tài liệu học hỏi, tham khảo về giảng thuyết và đứng lớp giúp cho việc rao giảng và giảng dạy có kết quả tốt đẹp hơn. Tác giả là người đã có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giáo dục. Chân thành cám ơn tác giả.

MỤC LỤC

- Lời ngỏ - Bài 1 Giáo dục Kitô giáo
- Bài 2 Nghệ thuật giảng thuyết - Bài 3 Văn giảng thuyết
- Bài 4 Bài giảng thuyết - Bài 5 Kỹ năng đứng lớp
- Bài 6 Giáo dục toàn diện  

Bài 3 :   VĂN GIẢNG THUYẾT 

I. KHÁI NIỆM : Nhìn trên khía cạnh hình thức, văn có hai loại chính : văn nói văn viết. Đi vào nội dung, thì văn cũng có hai loại chính : văn xuôivăn vần. Văn xuôi còn có nhiều thể : nghị luận (luận thuyết, chính luận), miêu tả, tường thuật, kể chuyện, bút ký, tuỳ bút, truyện (ngắn hay dài, tức đoản thiên hay trường thiên tiểu thuyết) … Văn vần (thơ) cũng có nhiều thể : lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn (tứ tuyệt, bát cú, trường thiên), thất ngôn (tứ tuyệt, bát cú, trường thiên), thơ mới, thơ tự do, ca trù v.v… Trong bài này, để phục vụ cho yêu cầu giảng thuyết, chỉ xin bàn về một thể văn nhất định : văn luận thuyết (nghị luận).

Luận là giải thích bàn bạc, thuyết là nói, luận thuyết là một thể loại văn nghị luận sử dụng ngôn ngữ trong cách trình bày. Như vậy, khi giảng thuyết là chúng ta vận dụng văn luận thuyết để giảng dậy cho tha nhân về một chủ đề nào đó. Nói khác hơn, là chúng ta dùng ngôn ngữ (văn nói) để giải thích cho người khác hiểu vấn đề một cách rõ ràng, có tính cách thuyết phục ; nghĩa là nói thế nào cho người nghe hiểu và tin theo những điều chúng ta cần trình bày. Xin nhấn mạnh, điểm chính yếu trong giảng thuyết là nói, chớ không phải đọc, mặc dù chúng ta đang có sẵn một bài thuyết trình đầy đủ trong tay.

II. VĂN LUẬN THUYẾT : Văn luận thuyết đòi hỏi một số điều kiện sau đây :

II.1. Rõ ràng, minh bạch : Văn luận thuyết là một thể văn đòi hỏi sự rõ ràng, minh bạch hơn bất cứ một thể văn nào khác. Nói khác hơn, thuyết giả (người giảng thuyết) phải làm thế nào cho người nghe hiểu được những gì mình nói với họ. Thí dụ đoạn văn sau đây trích trong Sắc lệnh Truyền Giáo (CĐ VAT. II) : “Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người, nếu chưa có hàng giáo dân đich thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Âm chưa thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc, nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập,  Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng ngũ Giáo dân Ki-tô Giáo trưởng thành” (SLTG III, 19).

Hoặc đoạn trích trong Tông huấn KTHGD : “Trên cánh đồng ấy, Giáo Hội hiện diện và hành động, mà Giáo Hội là tất cả chúng ta, chủ chăn và tín hữu, linh mục, tu sĩ và giáo dân. Các tình huống mà chúng ta vừa nhắc đến có liên quan đến Giáo Hội : qua những tình huống đó, Giáo Hội cảm thấy phần nào bị chi phối ; tuy nhiên Giáo Hội không hề bị nghiền nát, cũng không bị quật ngã, bởi vì Thánh Thần, linh hồn của Giáo Hội, vẫn luôn nâng đỡ Giáo Hội trong sứ vụ của mình” (TH/KTHGD, Nhập đề, 7).  

II.2. Trôi chảy, mạch lạc : Xin trích dẫn một đoạn văn :

“Đa Minh bán các sách vở của mình, mặc dù cha rất cần chúng, cũng như các đồ đạc khác, để lấy tiền phân phối cho người nghèo. Cha nói : ‘Tôi không muốn học trên những miếng da chết đang khi người nghèo đang chết đói’ (Án phong Thánh, 35). Hàng ngày khi đọc báo hay vặn radio, bạn nghe thấy bao nhiêu tin tức về chiến tranh, tang tóc, đói khát, bất công, đau khổ. Biết bao người đang thiếu thốn những điều ‘cần thiết tối thiểu’. Có lẽ bạn thấy thắt ruột lại, hoặc căm phẫn trước những cảnh bất công của xã hội. Tuy nhiên, tiếc rằng kế đó cuộc sống của bạn chẳng có gì thay đổi cả ; bạn quên đặt câu hỏi : ‘tôi có thể làm gì đây ?’. 

Cũng như Đa Minh, bạn hãy để con tim động lòng trắc ẩn với những đau khổ của những anh chị em mình. Bạn hãy nhớ lại lời  Phúc Âm : ‘Hãy bán những gì bạn có và phân phát cho người nghèo, bạn hãy thu góp kho tàng không mục nát ở trên trời’ (Lc 12, 23)…”.

Trên đây là đoạn văn mở đầu phần II, bài “Cầu nguyện theo gương Thánh Đa Minh” của Maria Pia Fragni (“Tìm hiểu Dòng Đa Minh” – Lm. PHAN TẤN THÀNH). Đoạn văn tuy ngắn, nhưng cũng đủ minh chứng cho sự hành văn trôi chảy, mạch lạc của tác giả. Người đọc đọc dòng đầu của Phần II này, tự nhiên như bị cuốn hút vào dòng chảy văn chương, và sẽ đọc một mạch cho hết cả bài viết (chớ đừng nói chi một đoạn). Ngoài sự trôi chảy, người tinh ý sẽ nhận thấy từ tiểu đoạn nọ sang tiểu đoạn kia, tác giả đã chuyển ý thật khéo léo. Mở đầu, tác giả trích tiểu đoạn “Đa Minh bán sách và vật dụng cần thiết, để có tiền giúp người nghèo …” trong hồ sơ phong thánh. Tiếp theo, tác giả chuyển sang việc đọc báo, nghe radio để đánh thức lòng thương người của người đọc. Cuối tiểu đoạn này, để hướng độc giả vào hành động cụ thể, tác giả đặt câu hỏi chuyển ý “tôi có thể làm gì đây ?”. Và tiểu đoạn dưới : “Cũng như Đa Minh, bạn hãy …”. Chính nhờ những chuyển ý khéo léo này khiến cho bài văn trở nên mạch lạc hơn. Văn trong sáng giản dị, mà lại trôi chảy mạch lạc, thì đó phải là điều mơ ước của những người viết văn nói chung, nhất là trong ‘văn giảng thuyết’ đối với những nhà giảng thuyết.

II.3. Kết cấu chặt chẽ : Tuy rằng nói văn nói chỉ để ‘nói’, nhưng thuyết giả – dù là người tài giỏi đếu đâu đi nữa – cũng vẫn cần phải ‘viết’, ít nhất cũng phải có một cái ‘sườn’ (dàn bài). Chính nhờ cái sườn này, thuyết giả sẽ không bị lạc đề, không bị lan man dài dòng … Bài thuyết trình, vì thế, sẽ có một kết cấu chặt chẽ. Chẳng hạn như trong “Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa” (CĐ Vat. II) , đã có một kết cấu thật chặt chẽ , sinh động và phù hợp với lý luận (logique) :

LỜI MỞ ĐẦU  

Chương I : VỀ CHÍNH VIỆC MẶC KHẢI.

* Bản tính và đối tượng của mặc khải.

* Chuẩn bị mặc khải Phúc Âm.

* Đức Ki-tô hoàn tất mặc khải.

* Mặc khải phải được đón nhận bằng đức tin.

* Tương quan giữa trí thức tự nhiên và siêu nhiên.

Chương II : SỰ LƯU TRUYỀN MẶC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA :

+ Tông đồ và các người kế vị loan truyền Phúc Am.

+ Thánh Truyền.

+ Tương quan giữa Thánh Truyền và Thánh Kinh.

+ Tương quan giữa Thánh Truyền, Thánh Kinh, Dân Chúa và Huấn Quyền.

Chương III : SỰ LINH ỨNG CỦA THIÊN CHÚA VÀ VIỆC GIẢI THÍCH THÁNH KINH :

–   Sự linh ứng và chân lý trong Thánh Kinh.

         Cách thức giải thích Thánh Kinh.

         Sự hạ mình của Đấng Khôn Ngoan.

Chương IV : CỰU ƯỚC  :

* Lịch sử cứu dộ trong các sách Cựu Ước.

* Tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các Ki-tô hữu.

* Sự thống nhất giữa Cựu và Tân Ước.

Chương V : TÂN ƯỚC  :

+ Sự trổi vượt của Tân Ước.

+ Sách Phúc Âm bắt nguồn từ các Tông Đồ.

+ Phúc Âm có tính cách lịch sử.

+ Các sách khác của Tân Ước.

Chương VI :THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG GIÁO HỘI  :

. Tầm quan trọng của Thánh kinh đối với Giáo Hội

. Cần có bản văn và bản dịch.

. Nhiệm vụ Tông Đồ của các nhà Thánh Kinh học.

. Tầm quan trọng của Thánh Kinh đối với Thần học.

. Khuyên nhủ năng học hỏi và đọc Thánh Kinh.

KẾT LUẬN

II.4. Lập luận trong sáng, dẫn chứng cụ thể : Văn luận thuyết, nói chung, cần phải thật trong sáng, giản dị ; riêng với những bài mang tính tranh luận, phê phán, bút chiến, còn đòi hỏi phải đanh thép, hùng hồn nữa. Đặc biệt, nếu giảng thuyết trước một cộng đoàn có trình độ nhận thức không đồng đều, thì sự trong sáng giản dị lại càng cần thiết hơn bao giờ. Trước một thuyết giả sử dụng ngôn ngữ bình dân ‘nghe lọt lỗ tai’, chắc chắn thính giả sẽ bị hấp dẫn, lôi cuốn vào nội dung bài thuyết trình, hơn là ngồi nói chuyện riêng hay… ngủ gật. Khi cần phải viện dẫn chứng liệu để minh hoạ cho lập luận, thì dẫn chứng phải thật cụ thể, sống động, “Nói có sách, mách có chứng”. Sử dụng những dẫn chứng trong sách vở, báo chí, kinh điển, là một lẽ, còn cần phải sử dụng được những dẫn chứng đời thường, những câu chuyện xảy ra trong cuộc sống hàng ngày nơi gia đình, khu xóm, địa phương, ấy mới là điều đáng quý. Một yêu cầu nữa cũng rất cần là phải khéo léo kết hợp lý luận với dẫn chứng, đừng để xảy ra cảnh ‘trống đánh xuôi, kèn thổi ngược’. ‘ông nói gà bà nói vịt’, ‘râu ông nọ gắn cằm bà kia’…

Nơi một đoạn văn ở Chương IV trong “Hiến chế tín lý về Giáo Hội” (CĐ. VAT. II), mô tả ơn Chúa Thánh Thần ban cho mỗi người mỗi khác, nhưng đều vì lợi ích chung, câu cuối của đoạn văn ấy viết : “Thực vậy, chính  sự khác biệt về ân huệ, chức vụ và hoạt động lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, ‘mọi sự ấy là công trình của cùng một Thánh Thần duy nhất’ (1Cr 12,11)”. Trong cùng một câu văn, tác giả đã tóm kết ý tưởng của cả đoạn văn trước đó, rồi – thông qua từ nối (liên từ) ‘vì’ – dùng dẫn chứng trích từ Thư thứ nhất của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-rin-tô để minh họa. Câu văn này xứng đáng là khuôn mẫu cho lối kết hợp chặt chẽ và sinh động giữa lý luận với dẫn chứng.

Thêm một ví dụ nữa cho lối văn kết hợp lý luận và dẫn chứng : “Cha Đa Minh còn hứa rằng ngài sẽ giúp ích cho anh em sau khi qua đời hơn là lúc còn sống. Nên biết là cha Gioóc-đa-nô không có mặt tại chỗ mà chỉ nghe thuật lại mà thôi. Ngược lại, cha Ventura de Verona, Bề trên Tu viện Bologna, đã chứng kiến quang cảnh tận mắt, nhưng chỉ thuật lại cách úp mở như sau : ‘Bài giảng của cha Đa Minh rất hay và cảm động’. Khổ nỗi là cha Ventura đã không chịu ghi lại các chi tiết để cho hậu thế đọc ! Một nhân chứng khác trong vụ án phong thánh, cha Radulphus Faenza chỉ cho biết là vị Tổ phụ an ủi con cái đang rầu rĩ rằng : ‘Anh em đừng khóc, bởi vì tôi sẽ có ich cho anh em ở nơi tôi sắp đến còn hơn là ở lại dưới thế này’ ” (“Tìm hiểu Dòng Đa Minh” – bài 16, mục I).

III. KẾT LUẬN : Tóm lại, văn giảng thuyết cần sự trong sáng, giản dị, trôi chảy, mạch lạc (và sẽ cần cả đanh thép hùng hồn nữa, nơi những bài mang tính bút chiến hay tranh luận). Ngoài ra, vì đây là loại văn “nói”, nên lời nói cũng cần đi đôi với giọng văn, khi thì nhẹ nhàng trôi chảy, khi thì đĩnh đạc trang nghiêm, lúc lại vui tươi dí dỏm, lúc nào cũng như “rót vào tai” thính giả. Nói trước cộng đồng, nhất là lại đang đứng ở cương vị giảng thuyết, phải hết sức tránh nói khề khà, ê a, ‘thì thì… mà mà…’, ‘dây cà ra dây muống’, tuyệt đối tránh hấp tấp, vội vàng, dễ sinh ra cà lăm, lắp bắp. Vấn đề này đã được bàn khá kỹ ở bài 2 : “Nghệ thuật giảng thuyết”, chỉ xin thêm : Theo nguyên nghĩa chữ Hán, “Văn” (nơi những từ : văn chương, văn hoá, văn học, văn vẻ …) có nghĩa là vẻ đẹp đẽ, sáng sủa. Vậy thì làm sao cho bài giảng thuyết của chúng ta nó cũng được đẹp đẽ, sáng sủa, dễ thương trước khán thính giả. Mà muốn được như vậy, chắc chắn phải khổ công rèn luyện, học hỏi. Và phải chăng đó chính là quan niệm “học là khổ luyện”.

CÂU HỎI THẢO LUẬN :

1/- Có mấy loại văn ? Văn giảng thuyết  nằm ở loại văn nào, thuộc thể văn gì ?

2/- Đòi hỏi đầu tiên của văn luận thuyết là phải thế nào ? Phân tích.

3/- Tại sao văn luận thuyết đòi hỏi phải trôi chảy, mạch lạc ?

4/- Kết cấu là gì ? Văn luận thuyết phải kết cấu như thế nào ?

5/- Trình bày và phân tích cách kết hợp giữa lý luận và dẫn chứng.

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us

Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.