MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 


 

TÀI LIỆU HỌC TẬP :
NGHỆ THUẬT GIẢNG THUYẾT
JM LamThy Đinh Văn Diệm

Tài liệu học hỏi, tham khảo về giảng thuyết và đứng lớp giúp cho việc rao giảng và giảng dạy có kết quả tốt đẹp hơn. Tác giả là người đã có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giáo dục. Chân thành cám ơn tác giả.

MỤC LỤC

- Lời ngỏ - Bài 1 Giáo dục Kitô giáo
- Bài 2 Nghệ thuật giảng thuyết - Bài 3 Văn giảng thuyết
- Bài 4 Bài giảng thuyết - Bài 5 Kỹ năng đứng lớp
- Bài 6 Giáo dục toàn diện  

Bài 4 :   BÀI GIẢNG THUYẾT

Để hình thành một bài giảng thuyết, cần phải có một bố cục (tức dàn bài). Thông thường, dàn bài thường chia làm ba phần : I/- ĐẶT VẤN ĐỀ (MỞ BÀI)  –  II/- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (THÂN BÀI)  –  III/- KẾT THÚC VẤN ĐỀ (KẾT LUẬN).

I. ĐẶT VẤN ĐỀ (Mở bài, Dẫn nhập) :

Đã có người ví phần MỞ BÀI (ĐẶT VẤN ĐỀ) giống như vịêc mở cửa một phòng triển lãm. Khán thính giả chính là người đi xem triển lãm. Trước khi vào phòng trưng bày, họ chưa biết ở trong phòng có những thứ gì, có đáng xem hay không. Vậy, phải biết cách mở cửa, làm sao kích thích được sự tò mò của khán giả, đừng để cánh cửa phòng đập vào mũi người xem, khiến họ bị dội trở ra, và – tất nhiên – chẳng bao giờ họ còn quay lại lần thứ hai. Cũng vậy, phần ĐẶT VẤN ĐỀ một bài giảng thuyết, phải làm sao cho người nghe bị kích thích, bị lôi cuốn vào vấn đề thuyết giả cần biện luận. Đặt vấn đề có nhiều cách, nhưng dù là dùng cách nào, thì phần mở bài cũng phải có 2 bước : ĐẶT VẤN ĐỀ + GIỚI HẠN VẤN ĐỀ.

Có 2 cách Đặt Vấn Đề (Mở bài, Dẫn nhập) :

            I.1. ĐVĐ TRỰC TIẾP (TRỰC KHỞI) : Còn gọi là trực khởi, tức là nói thẳng ngay vào vấn đề. Sau khi đã trực tiếp giới thiệu vấn đề, thuyết giả khéo léo – bằng một vài câu văn ngắn gọn – giới hạn vấn đề, tức là báo trước vấn đề sẽ được giải quyết ở phần sau (phần Giải quyết vấn đề). Đặt vấn đề kiểu này có một điểm lợi là giúp người nghe tập trung ngay sự chú ý vào đề tài, nhưng nếu không khéo, sẽ làm cho thính giả mới cầm đũa bát đã vội buông xuống không dám … ăn tiệc, dù thực đơn rất phong phú.

Ví dụ phần mở của Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân : “Thánh Công Đồng muốn phát động mạnh mẽ hơn việc tông đồ của dân Thiên Chúa, nên chú tâm hướng về các Ki-tô hữu giáo dân, những người có phần riêng biệt và cần thiết trong sứ mạng của Giáo Hội, như đã được nhắc đến trong những văn kiện khác …”.

Sau khi đã giới thiệu khái quát về công tác Tông Đồ Giáo Dân, tác giả ‘giới hạn vấn đề’ để chuyển sang phần sau là nội dung chính của Sắc lệnh : “Trong Sắc Lệnh này, Công Đồng nhằm làm sáng tỏ bản chất, đặc tính và những cách thế của việc tông đồ giáo dân, nêu lên những nguyên tắc căn bản và ban bố những giáo huấn mục vụ để thi hành việc tông đồ ấy cho hiệu quả hơn. Mọi điều trong Sắc Lệnh này phải được coi như những tiêu chuẩn cho việc xét lại những khoản giáo luật có liên quan đến việc tông đồ giáo dân”.

I.2. ĐVĐ GIÁN TIẾP (LUNG KHỞI) : Còn gọi là lung khởi, tức là không nói thẳng ngay vào vấn đề, mà thông qua một trung gian để giới thiệu vấn đề. Kiểu ĐVĐ này lại bao gồm nhiều loại như : ĐÒN BẨY, TƯƠNG ĐỒNG (dùng một ý, một vấn đề tương đương để giới thiệu vấn đề chính), TƯƠNG PHẢN (hay PHẢN ĐỀ  : đưa ra một ý, một vấn đề đối nghịch, để từ đó làm nổi bật vấn đề chính, cách này rất đắc dụng trong văn luận thuyết, nhưng hơi khó áp dụng) …

Ví dụ về cách ĐVĐ ĐÒN BẨY trong Chương V của TH/KTHGD (“Việc huấn luyện Giáo dân”), tác giả đưa ra một vấn đề tương đồng : “Hình ảnh trong Tin Mừng về cây nho và các cành nho cho chúng ta thấy một khía cạnh nền tảng khác trong đời sống và sứ vụ giáo dân : lời kêu goi phải lớn lên, không ngừng trưởng thành và luôn luôn sinh hoa trái nhiều hơn” , để từ đó giới thiệu (“bẩy lên”) vấn đề huấn luyện giáo dân, rồi giới hạn vấn đề : “… sau đó, đặc biệt, các nghị phụ lại xác quyết rõ ràng rằng : ‘Việc huấn luyện giáo dân phải được coi là một trong những ưu tiên của giáo phận và phải được đề ra trong chương trình mục vụ, sao cho tất cả mọi cố gắng của cộng đoàn (các linh mục, các giáo dân, các tu sĩ) đều quy hướng về mục đích này’ ”.

Ví dụ cách ĐVĐ TƯƠNG PHẢN trong bài bàn về vấn đề “Học hỏi trong Dòng Đa Minh” (JM. LT. ĐVD) : “Trước đây, vào khoảng thế kỷ XI, XII, các Dòng tu thường quan niệm người tu sĩ chỉ việc chuyên tâm phụng sự Chúa bằng cách đọc kinh cầu nguyện, tập tành các nhân đức, trau giồi căn tính của đời tu trì ; còn việc học nằm ngoài chương trình của đời tu, càng học nhiều thì càng sinh lắm ý kiến, cãi cọ chia rẽ, thậm chí sinh kiêu căng ngạo mạn. Đối lập với quan niệm bảo thủ ấy, Thánh phụ Đa Minh đã làm một cuộc cách mạng triệt để, một cuộc canh tân vĩ đại không chỉ riêng cho Dòng mình, mà còn cho các dòng tu khác nữa, là coi sự học hỏi như một phương thế cần thiết và hữu ích để đạt đến cứu cánh hoàn thiện sứ vụ thuyết giáo của Dòng”. Sau khi tác giả đã nêu lên một quan niệm chung của các dòng tu (trái ngược hẳn với quan điểm mới mẻ của Thánh Đa Minh), tác giả đã nêu bật việc làm mang tính canh tân triệt để – một cuộc cách mạng – của Thánh Đa Minh, để rồi sau đó, giới hạn vấn đề :Chúng ta thử tìm hiểu xem sự học có thật sư hữu ích và cần thiết cho Ki-tô hữu – và cách riêng, cho người giáo dân Đa Minh – hay không ?”

            Tóm lại, khi đã nêu được vấn đề ra, thuyết giả có thể đặt một câu hỏi, hoặc nêu một giả thiết để giới hạn vấn đề và cũng là để chuyển tiếp vấn đề sang phần GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Như vậy, bài  nói chuyện sẽ có mạch lạc nhờ sự chuyển ý khéo léo, và thính giả cũng có thể phần nào đoán được cách giải quyết vấn đề ở phần sau của bài giảng thuyết. Và đó cũng là cách dẫn dắt khéo léo vào vấn đề chính. Vì thế nên mới gọi phần Mở bài (Đặt Vấn Đề) là ‘Dẫn nhập’.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (Thân bài) :

Đây là phần chính yếu của bài. Chủ đề (ý chính) bài giảng thuyết có thể được chia thành nhiều tiểu đề (ý phụ, ý nhỏ), sao cho giống như cách trưng bày trong phòng triển lãm. Bởi vì, giờ đây khách tham quan đã vào hẳn trong phòng, việc triển lãm có bắt mắt hay không, còn tuỳ thuộc vào người đứng ra bài trí sản phẩm triển lãm. Nơi bài giảng thuyết, thì đó chính là phương pháp dàn ý.

II.1. PHƯƠNG PHÁP DÀN Ý : Các tiểu đề thường được sắp xếp theo thứ tự :

II.1.1. Thứ tự tiệm tiến :  Từ đơn giản đến phức tạp, từ nông đến sâu, từ yếu đến mạnh …

 II.1.2. Thứ tự thời gian : Theo dòng thời gian tự nhiên : Dĩ vãng => Hiện tại => Tương lai, hoặc theo cách nhấn manh : Hiện tại =>Quá khứ (hồi tưởng) => Tương lai (tiên báo).

 II.1.3. Thứ tự Không gian (Nơi chốn) : Trước => sau , trong => ngoài , trên => dưới gần => xa , hoặc ngược lại.     

Ví dụ cuốn sách “Thánh phụ Đa Minh, Đấng sáng lập Dòng Thuyết Giáo”, Lm. Giu-se Nguyễn Tri Ân phối hợp cả 3 thứ tự : Tiệm tiến, Thời gianKhông gian” :

Chương I : BÔNG HOA CHỚM NỞ – Chương II : TRÊN ĐƯỜNG HỌC VẤN – Chương III : BƯỚC ĐẦU SỰ NGHIỆP – Chương IV : NHỮNG CUỘC TIẾP XUC ĐẦU TIÊN TẠI MIỀN NAM NƯỚC PHÁP – Chương  V : CHIẾN THUẬT HOÀ BÌNH TRONG MẶT TRẬN TRUYỀN GIÁO – Chương VI : HOẠT ĐỘNG TÔNG ĐỒ TRONG CUỘC NỘI CHIẾN – Chương VII : HOẠT ĐỘNG TẠI RÔ MA – Chương VIII : HOẠT ĐỘNG TẠI NƯỚC PHÁP – Chương IX : TOÀ THÁNH CHÂU PHÊ DÒNG  – Chương XV : NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI – Chương XVI : TRÊN ĐÀI VINH QUANG.

II.1.4. Thứ tự Tâm lý : Từ nhẹ đến nặng, từ nông đến sâu, từ yếu tới mạnh.  Ví dụ :   Các đề mục của *Chương V – Tông Huấn Ki-tô Hữu Giáo Dân” đã xếp theo thứ tự tâm lý :  *LUÔN ĐẠT ĐẾN SỰ TRƯỞNG THÀNH HƠN => *KHÁM PHÁ VÀ SỐNG ƠN GỌI CŨNG NHƯ SỨ VỤ CỦA MỖI NGƯỜI => *HUẤN LUYỆN TOÀN DIỆN ĐỂ CÓ MỘT ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT => *NHỮNG NGƯỜI CỘNG TÁC VỚI THIÊN CHÚA, ĐẤNG LÀ NHÀ GIÁO DỤC => *MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐÓN NHẬN VÀ HUẤN LUYỆN LẪN NHAU => *KÊU MỜI VÀ CẦU NGUYỆN.

II.1.5. Vòng đồng tâm : Các ý nhỏ xoay quanh ý chính, nói khác hơn, chủ đề luôn được nhắc lại nơi mỗi tiểu đề. Ví dụ như phần GQVĐ của TH/KTHGD : a)- Chương I : THẦY LÀ CÂY NHO, ANH EM LÀ CÀNH – b)- Chương II : TẤT CẢ LÀ CÀNH NHO CỦA MỘT CÂY NHO DUY NHẤT – c)- Chương III : THẦY ĐÃ CẮT CỬ ANH EM RA ĐI THU ĐƯỢC KẾT QUẢ –      d)- Chương IV : NHỮNG NGƯỜI THỢ LÀM VƯỜN NHO CỦA CHÚA – e)- Chương V : ĐỂ ANH EM SINH NHIỀU HOA TRÁI.

II.2. PHƯƠNG PHÁP LẬP LUẬN : Có nhiều cách lập luận, thuyết giả có thể dùng cho mỗi tiểu đoạn một cách lập luận phù hợp, hoặc cũng có thể phối hợp cùng lúc nhiều cách lập luận khác nhau :

II.2.1. Lập luận theo phương pháp suy diễn (diễn dịch) : Từ một điểm, một ý tưởng suy rộng ra.  Ví dụ  :  Ơn gọi là lời của Thiên Chúa kêu mời con người đến lãnh nhận những hồng ân, đặc sủng Người ban tặng một cách nhưng không. Có nhiều ơn gọi : Ơn gọi làm người, Ơn gọi làm Kitô hữu, Ơn gọi Tu trì, Ơn gọi sống bậc hôn nhân...

II.2.2. Phương pháp quy nạp : Từ nhiều điểm, nhiều lãnh vực, hoặc nhiều chứng liệu, dùng lý luận gom lại thành kết luận. Ví dụ : Thí nghiệm cho biết đồng dẫn điện, sắt dẫn điện, chì dẫn điện …, mà đồng + chì + sắt là kim loại, vậy có thể kết luận : các chất kim loại đều dẫn điện.

II.2.3. Phương pháp phản biện (tương phản) : Đưa những quan niệm, quan điểm, lập luận ngược lại với chủ đề, rồi dùng lý luận phản bác lại mà nêu bật vấn đề chính. Ví dụ : “Xưa nay, người ta thường coi việc giảng dậy, việc huấn luyện chỉ dành riêng cho một số người, nhưng ĐTC Gioan Phaolô II đã phản bác : ‘Việc huấn luyện không phải là đặc quyền của một số người, nhưng thật sự là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người (TH/KTHGD V, 63)”.

II.2.4. Phương pháp phủ định : Từ lập luận phủ định (chối bỏ, không công nhận) đi tới những dẫn chứng phủ định để kết luận khẳng định (xác định) vấn đề, theo công thức : “phủ định + phủ định = xác định” giống như bên toán học { (–) + (–)  =  (+) }. Ví dụ :  Những chất không phải là kim loại thì không dẫn điện. Thí nghiệm với gỗ, với cao su, không thấy gỗ và cao su dẫn điện. Vậy gỗ và cao su không phải là kim loại.

II.2.5. Phương pháp tam đoạn luận : Cách lập luận này gồm 3 đoạn văn ngắn, khúc triết và thật chặt chẽ, mang tính thuyết phục rất cao. Tuy nhiên, sẽ khó áp dụng cho những trường hợp chưa tìm được những lý lẽ hợp với lý luận (logique). Ví dụ : Tam đoạn luận sau đây thật chặt chẽ và hợp lý, không thể phủ nhận : “Mọi người đều phải chết – mà anh là người – thì anh phải chết”. Nhưng giả thử bắt chước tam đoạn luận trên, mà viết thế này : “Mọi thầy tu đều mặc áo cà sa – vậy khi thấy ai mặc áo cà sa – thì chắc chắn đó là thầy tu chính hiệu” thì có được không ? Câu này không thuyết phục ở điểm chỉ đúng ở vế trên : đúng là các thầy tu (Phật giáo) đều mặc áo cà sa ; nhưng vế dưới chưa hẳn đã hoàn toàn đúng, vì  có người không phải thầy tu mà cũng mặc áo cà sa (trốn lính, trốn nghĩa vụ quân sự, hoặc toan mượn áo thầy tu để làm một việc mờ ám nào đó), “chiếc áo không làm nên thầy tu” mà !

II.2.6. Phương pháp trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp thức) : Sử dụng phương pháp này có điểm lợi là thuyết giả muốn xoáy sâu, nhấn mạnh vào một ý, một từ ngữ nào đó, thì từ ngữ ấy sẽ được lặp lại nhiều lần. Tuy nhiên, đừng để cho thính giả có cảm tưởng là thuyết giả mất bình tĩnh, run sợ trước cộng đồng, nên nói lắp, nói cà lăm. Ví dụ : “Yêu – yêu Thiên Chúa, yêu tha nhân như yêu chính mình ; yêu – yêu tất cả muôn loài, yêu đến muôn đời ; yêu là cho tất cả không cần nhận lại ; yêu như Đức Ki-tô đã hiến cả mạng sống mình cho người mình yêu”.

Trong đoạn văn Thánh Mátthêu thuật lại việc Đức Ki-tô khiển trách các kinh sư và người Pha-ri-siêu (Mt 23, 13-32), câu “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-siêu giả hình” được lặp lại tới 7 lần ; hay trong đoạn văn thuật lại “Bài giảng trên núi”, Đức Ki-tô đã dùng tới 9 lần hai tiếng “Phúc thay”, trong đó 8  lần dành cho 8 mối phúc, và lần thứ 9 dành cho các môn đệ “Phúc thay cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”. Đó là những ví dụ thật sinh động cho phương pháp lập luận trùng điệp, mà chúng ta cần phải học cho được.

II.2.7. Phương pháp nhân quả : Đây là phương pháp lập luận đi từ nguyên nhân đến hậu quả. Ví dụ : “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy, và anh em đong dấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong dấu ấy cho anh em” (Mt 7, 1-2).

II.2.8. Kết hợp lý luận và dẫn chứng : Văn luận thuyết hơn bất cứ loại văn nào, rất cần dẫn chứng. Chính những dẫn chứng đã giúp minh hoạ một cách sống động những lập luận. Vấn đề được lý luận làm cho sáng tỏ, nhưng phải nhờ dẫn chứng mới gia tăng sự thuyết phục. Người nghe nhiều khi cho rằng vấn đề thuyết giả nói nghe cũng có lý, nhưng muốn họ tin theo những lý lẽ ấy, thì nhiều  khi vẫn còn một khoảng cách khá xa, nếu thuyết giả vẫn chưa “nói có sách, mách có chứng”. Dẫn chứng rất cần, tuy nhiên, việc đưa dẫn chứng vào lý luận cũng đòi hỏi phải có phương pháp, nếu không khéo sẽ làm cho câu văn, đoạn văn … trở thành khập khiễng, lủng củng, đầu Ngô mình Sở. Những phương pháp viện dẫn chứng liệu cũng dùng lại tên gọi như những phương pháp lý luận nêu trên :

II.2.8a. Phương pháp suy diễn :  nêu một chứng liệu, để từ đó quảng diễn lập luận. Ví dụ : “ ‘Cả các anh nữa hãy vào làm vườn nho cho tôi đi’. Những lời này cũng âm thầm vang vọng trong suốt khoá họp Thượng Hội Đồng diễn ra tại Rô-ma từ ngày 2 đến ngày 30-10-1987 …” (TH/KTHGD – Nhập đề, 1).

II.2.8b. Phương pháp quy nạp : Nêu nhiều chứng liệu (từ 2 trở lên), sau đó dùng lý luận kết lại. Ví dụ : “Công đồng viết : ‘Chúa Thánh Thần ngự trị trong Giáo Hội và trong tâm hồn các tín hữu như ngự giữa đền thờ’ (1Cr 3, 16 ; 6,19). Trong họ, Người cầu nguyện và chứng nhận họ là dưỡng tử của Thiên Chúa (Gl 4, 6 ; Rm 8, 15-16). Người dẫn đưa Giáo Hội vào trong chân lý toàn vẹn (Ga 16, 13) và bảo đảm cho Giáo  Hội được hiệp nhất trong sự hiệp thông và phục vụ …’. Như vậy, sự hiệp thông trong Giáo Hội là một ân huệ, một ân huệ lớn lao do Thánh Thần ban tặng” (TH/KTHGD II, 20).   

            II.2.8c. Phương pháp kể chuyện : Kể một câu chuyện để minh hoạ cho lập luận, còn gọi là dùng dụ ngôn để dẫn chứng. Dụ ngôn ấy có thể là :

           * Tỉ dụ (so sánh) : Kể một câu chuyện hoặc đưa ra một dẫn chứng giống như vấn đề dang được trình bày, cho dễ hiểu. Ví dụ : Khi muốn cho các tông đồ hiểu về ngày cánh chung và Nước Trời,  Đức Ki-tô dùng dụ ngôn “cỏ lùng”, “chiếc lưới”,  “Kho báu và viên ngọc qúy” (Mt 13,  36 … -50), “cây vả” (Mt 24, 32-36).

            * Ẩn dụ (ví ngầm) – ám tỉ (so sánh ngầm) : Kể một câu chuyện hoặc đưa một dẫn chứng không liên quan đến vấn đề đang được trình bày, nhưng có ngậm ý có thể làm cho người nghe hiểu ra vấn đề. Phần lớn những dụ ngôn Đức Ki-tô dùng để dậy các môn đệ là phương pháp này. Ví dụ : Dụ ngôn “người gieo giống” (Mt 13, 4-9) nói về Lời Chúa ; dụ ngôn “muối và ánh sáng”, “thợ làm vườn nho”, “những yến bạc”, “hạt cải”, “men bột” (Mt 5, 13-16 ; 20, 1-16 ; 25, 14-30 ; 13, 31-33), nói về việc tông đồ, truyền giáo, Nước Trời ; dụ ngôn “tiệc cưới” nói về ngày cánh chung ; dụ ngôn “men Pha-ri-siêu và men Xa-đốc” (Mt 16, 5-12) các tông đồ mới nghe tưởng Đức Ki-tô nói về men bột, thực ra thì Người nói về giáo lý ; hoặc dụ ngôn “tá điền sát nhân” (Mt 21, 33-46) ám chỉ đám thượng tế v.v…

Có thể kể thêm : Phương pháp hỗ tương (lý luận và dẫn chứng đi sóng đôi với nhau), phương pháp tương phản (nêu dẫn chứng đối nghịch với lập luận, rồi dùng lý luận để tìm ra chân lý), phương pháp liệt kê, phương pháp xen kẽ ... Tuy nhiên, dù là với phương pháp nào, thì lý luận và dẫn chứng luôn luôn phải ăn khớp với nhau, hỗ trợ nhau làm sáng tỏ vấn đề. Tựu trung, phương pháp tốt nhất là kết hợp chặt chẽ lý luận và dẫn chứng, khiến cho lý luận và chứng liệu đan xen, hoà lẫn vào nhau trong từng câu văn, từng ý tưởng. Ví dụ : “ ‘Đức Giê-su, trong đêm bị nộp’ (1Cr 11, 23) đã thiết lập Hy tế tạ ơn là Mình và Máu Người … Đức Giê-su còn có thể làm gì cho chúng ta hơn nữa chăng ? Thật thế, ‘trong Thánh Thể, Người  tỏ bày cho chúng ta một tình yêu ’cho đến cùng’ (Ga 13, 1), một tình yêu không thể đo lường được … Việc công bố sự chết của Chúa ‘cho tới khi Người lại đến’ (1 Cr 11, 26) đòi hỏi tất cả những ai thông phần vào Thánh Thể phải dấn thân biến đổi cuộc sống của mình và làm cho nó, một cách nào đó, hoàn toàn trở thành ‘Thánh Thể’ (Bí Tích Thánh Thể  I, 20)”.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ (Kết luận) :

Kết có nghĩa là thắt lại, cột lai, KẾT THÚC VẤN ĐỀ (KẾT LUẬN) trong một bài văn là tóm kết lại những điều đã trình bày trong phần GQVĐ. Cũng có nhiều kiểu KTVĐ :

III.1.  Kết luận khẳng định : Kiểu kết luận này là tóm tắt nội dung bài giảng bằng một vài câu văn khẳng định tính chân xác của vấn đề. Cũng giống như khoa học đi từ các giả thiết để cuối cùng dùng định đề xác lập điều muốn chứng minh.

III.2.  Kết luận cật vấn : Tóm lược nội dung bài bằng một vài câu văn, sau đó đặt câu hỏi và để thính giả tự trả lời. Tất nhiên, nghệ thuật đặt câu hỏi phải là làm sao trong câu hỏi đã sẵn có câu trả lời, nói khác hơn, những điều trình bày ở phần GQVĐ chính là những câu trả lời thoả đáng, nếu trước đó, thính giả chăm chú nghe và lĩnh hội được nội dung chính của bài thuyết trình. Kiểu kết thúc này sẽ kích thích thính giả động não, nhớ lại những điều mình vừa được nghe giảng thuyết, rồi tìm câu trả lời cho câu hỏi do thuyết giả đưa ra. Cũng có nghĩa là thính giả tự vạch ra được hướng đi, hướng hành động. Và điều rất hay ở đây là thính giả có cảm tưởng chính mình tìm ra chân lý, chớ không nhờ giảng viên tìm hộ.  

III.3.  Kết luận mở rộng : Kết luận kiểu này nhằm đánh động vào những suy tư thầm kín của thính giả. Và nếu phần thuyết trình, thuyết giả đã phần nào khơi gợi kho tàng tri thức của thính giả, thì người nghe rất dễ bị kích thích bởi lối kết thúc vấn đề kiểu này.

Xin trích dẫn một kết luận bao gồm được những kiểu trên, trong bài viết “Vấn đề hội nhập văn hoá” của Lm. Phaolô Nguyễn Thái Hợp O.P. : “Một thách đố hội nhập văn hoá gay gắt khác đang đặt ra cho chúng ta là làm sao diễn tả đức tin một cách thích hợp cho người Việt Nam hôm nay ? Làm sao diễn tả sứ điệp Tin Mừng và lối sống đạo thích hợp với cung cách của con người hôm nay, chứ không phải lối giữ đạo thời trước và cung cách văn hoá ngày xưa ? Chúng ta không thể quên 100 năm Pháp thuộc, 50 năm dưới chủ nghĩa Mác-xít và ảnh hưởng của kinh tế thị trường hiện tại. Giữa cha mẹ và con cái, giữa thế hệ đàn anh đàn chị và thế hệ trẻ hôm nay có một khoảng cách lớn lao về nếp nghĩ, nếp sống, tâm thức, mức thang giá trị, đường lối sống đạo. Với những biến chuyển của thời đại, khoảng cách này ngày càng lớn. Chúng ta nên suy nghĩ nhiều hơn về thách đố hội nhập chiều dọc này trong phụng vụ, cầu nguyện, cách thế sống đạo … cho thế hệ trẻ” (“Học tập và phục vụ  –2003”).

Nói chung, dù kết thúc bằng cách nào, cũng luôn luôn phải có phần liên hệ thực tiễn (rút ra bài học kinh nghiệm).

LƯU Ý : 1/- DÀN Ý này được sử dụng khi đứng lớp, và nếu cần, sẽ viết thành một bài thuyết trình đầy đủ để phát cho học viên làm tài liệu. Cần nói thêm, đừng sợ khi học viên có tài liệu trong tay sẽ không thèm nghe giảng viên ‘thuyết’ nữa. Hãy tự tin vào khả năng thuyết trình của mình. Có thể trên thực tế, có những người “nói” rất hay nhưng “viết” không được, hoặc ngược lại, “viết” rất trôi chảy mạch lạc nhưng “nói” thì nhát gừng, lủng củng. Tuy nhiên, ở người giảng viên phải luôn luôn là người “nói” được, và “viết” cũng không đến nỗi nào ; bởi vì, 2 khả năng này đều có thể rèn luyện được. Kiên trì “có công mài sắt”, tất sẽ “có ngày nên kim”. 

            2/- Ngoài ra, việc cầu nguyện là một vấn đề cốt lõi trong khi soạn thảo một bài giảng thuyết. Tất nhiên, cầu nguyện là công việc thường xuyên diễn ra hàng ngày của một Kitô hữu, chớ đừng nói là của một giảng viên. VÌ thế, đối với giảng viên, việc cầu nguyện phải được coi trọng hàng đầu. Có anh em giảng viên tâm sự : “Lần nào, khi được giao đứng lớp chuyên đề, mình cũng cầu nguyện để xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn và thêm sức cho được vững vàng hơn. Từng bước, lúc trau giồi kiến thức, khi tìm kiếm tư liệu tham khảo, khi lập dàn ý, cho đến trước và trong giờ đứng lớp, thậm chí cả đến khi đã hoàn tất việc giảng huấn, cần rút kinh nghiệm, mình vẫn luôn luôn cầu nguyện để :

* Hiểu cho thật thấu đáo đề tài được giao phụ trách giảng thuyết.

* Tìm được nhiều tư liệu giúp mở mang thêm kiến thức cho bản thân, đồng thời giúp học viên tiếp thu bài học tốt hơn, đầy đủ hơn.     

* Lập được một dàn ý đầy đủ mà sáng sủa, gọn gàng, chặt chẽ. Từ đó, mình còn viết được một bài viết có đầu có đuôi đàng hoàng, rồi học thuộc lòng để khi lên lớp vừa có tài liệu học tập dành cho học viên, vừa giúp bản thân mình đỡ lúng túng. Tất nhiên là không phải viết thành bài để lên lớp “đọc” cho học viên nghe.

* Xin ơn thêm sức để khi đứng lớp được vững vàng hơn, không còn lo sợ vẩn vơ nữa, mà hoàn tất trách vụ một cách tốt đẹp.

* Khi rút kinh nghiệm thì xin ơn soi sáng hầu tìm ra được những ưu điểm để phát huy, nhưng nhất là tìm được những khiếm khuyết để sửa chữa, khắc phục.

Tuy vậy, nhưng có những lần vì vội quá, hoặc không có thời gian cho mình đến nhà thờ hoặc đến trước bàn thờ quỳ xuống cầu nguyện, là y như rằng lần ấy gặp trục trặc, không mặt này cũng mặt khác. Cháy giáo án thê thảm, hì…hì… !”.

Những ý kiến trên đây của một người bạn, rất đúng với tâm niệm của người viết bài này. Tuy nhiên, cũng xin thêm : Đâu cứ phải có đủ thì giờhoặc phải tới trước bàn thờmới cầu nguyện được. Chúng ta có thể cầu nguyện trước bàn thờ, trong khi đọc và tìm kiếm tài liệu, khi soạn bài và cả khi đang đứng lớp, khi rút kinh nghiệm nữa. Chỉ cần hướng ý hướng lòng về Chúa, chắc chắn Người sẽ hiểu chúng ta muốn xin gì. Vâng, chúng ta vẫn có thể Nói với Chúa (cầu nguyện) trong khi đang Nói về Chúa(giảng thuyết).

CÂU HỎI THẢO LUẬN :

            1/- Tại sao lại ví phần mở bài (đặt vấn đề) với việc mở cửa phòng triển lãm ?

            2/- Trái ngược với phương pháp quy nạp là phương pháp nào ? Cho vì dụ cụ thể.

            3/- Ẩn dụ là gì ? Ẩn dụ có gì khác với ám tỉ ? Lý do ?

            4/- Kể một dụ ngôn mà Đức Giêsu  đã dùng để nói về việc loan báo Tin Mừng.

            5/- Phân tích những tiện ích khi dùng những biện pháp nghệ thuật trong văn luận thuyết.

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us

Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.