MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 


 

TÀI LIỆU HỌC TẬP :
NGHỆ THUẬT GIẢNG THUYẾT
JM LamThy Đinh Văn Diệm

Tài liệu học hỏi, tham khảo về giảng thuyết và đứng lớp giúp cho việc rao giảng và giảng dạy có kết quả tốt đẹp hơn. Tác giả là người đã có nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực giáo dục. Chân thành cám ơn tác giả.

MỤC LỤC

- Lời ngỏ - Bài 1 Giáo dục Kitô giáo
- Bài 2 Nghệ thuật giảng thuyết - Bài 3 Văn giảng thuyết
- Bài 4 Bài giảng thuyết - Bài 5 Kỹ năng đứng lớp
- Bài 6 Giáo dục toàn diện  

Bài 5 :   KỸ NĂNG ĐỨNG LỚP

I.- DẪN NHẬP :

     Có thể có những trường hợp phải thuyết trình, báo cáo chuyên đề, chia sẻ kiến thức hoặc kinh nghiệm ở một chuyên ngành nào đó, thuyết giả (người nói trước cộng đồng) không cần thiết phải là một nhà mô phạm. Nhưng nếu phải đứng lớp để truyền thụ kiến thức cho một tập thể mang tính chất lớp học, khoá học, thì tất nhiên người phụ trách đã đứng ở cương vị một người thầy. Mà một người thầy, có thể nói rằng mình không biết gì hoặc không cần đến sư phạm hay không ? Cho nên, nói đến giảng viên, điều tất yếu là phải nói đến sư phạm, cũng tức là nói đến những quy tắc, những phạm trù trong nghề thầy (dậy học) vậy. Nói khác hơn, đó chính là những kỹ thuật chuyên môn giúp người thầy đứng lớp đạt hiệu quả cao.

Chính vì thế, người giảng viên khi được trao phó trách nhiệm đứng lớp, nên tự vấn chính mình : “Tại sao mình được giao nhiệm vụ này ? Mình cần phải chuẩn bị như thế nào ? Mình sẽ phải làm gì và làm ra sao ?”. Để rồi, cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tác động, với tinh thần tôn trọng tha nhân, tự tin, tự trọng bản thân, sẽ cẩn trọng tuần tự trả lời thoả đáng những câu hỏi ấy bằng chính những hoạt động cụ thể trong tinh thần phục vụ và cầu thị.

Tiến trình một giờ đứng lớp thường có ba bước : 1- Chuẩn bị ;  2- Đứng lớp ;   3- Rút kinh nghiệm.

 II. CHUẨN BỊ :    

  Trước hết, người giảng viên phải ý thức được rằng, mình được giao nhiệm vụ quan trọng như vậy, chính là nhờ bề trên và anh em đã tin tưởng vào khả năng của mình, đặt trọn vẹn niềm tin nơi mình. Vậy phải làm sao để đừng phụ lòng tin đó. Không tự  tôn cũng chẳng tự ti, mà phải biết tự trọng thi hành sứ vụ sao cho đạt được kết quả tốt. Đức ‘Vạn thế sư biểu’ (Khổng Tử) nói “Công dục thiện kỳ sự, tất tiên lợi kỳ khí” (người thợ muốn công việc mình đạt hiệu quả tốt, thì trước hết phải lo trau giồi khí cụ cho thật tốt). Người giảng viên, hơn ai hết, lại càng cần phải biết mài giũa, trau giồi khí cụ của mình (sư phạm) cho thật sắc bén.

             II.1. Trau giồi kiến thức : Đã đành phải có lòng tự trọng, tự tin vào khả năng và kiến thức của bản thân, nhưng biển học mênh mông vô tận, không ai có thể cho là mình đã học đủ, biết đủ. Chính vì thế, việc trau giồi kiến thức phải là công việc hàng ngày, thường xuyên. Đức Ki-tô đã dậy : “Lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12, 33). Không ai có thể cho cái mà mình không có. Đối với người được tín nhiệm vào vai trò giảng viên, tất nhiên là người đã có khả năng, nhưng còn cần phải làm sao cho khả năng ấy ngày càng phát triển hơn lên, như ĐGH Gioan Phaolô II nói : “Để hành động với tất cả lòng trung tín theo ý định của Thiên Chúa, người môn đệ cần phải có khả năng và  luôn cố gắng làm cho mình càng có khả năng hơn nữa” (THKTHGD V, 58). Nói cách khác, “… mỗi người chúng ta vừa đồng thời là đích điểm, vừa là khởi điểm của việc huấn luyện, chúng ta càng tự huấn luyện tốt thì càng có khả năng để huấn luyện người khác” (THKTHGD  V, 58). 

Hơn ai hết người giảng thuyết là người phải luôn giữ đúng châm ngôn : Sống + Học + Dậy. Sống là sống đúng tinh thần Kitô giáo, mà muốn được như vậy, phải là người cầu thị, luôn luôn tìm hiểu, học hỏi, trau giồi kiến thức (kín múc Lời Chúa trong Kinh Thánh, trong cuộc sống, học hỏi rút tỉa kinh nghiệm nơi anh em) ; để rồi từ đó đem những kiến thức thu thập được, những kinh nghiệm từng trải, truyền thụ cho tha nhân. Đừng nói là giảng viên, đến như một Ki-tô hữu bình thường cũng đã được ĐGH Gioan Phaolô II dậy : “Việc huấn luyện không phải là đặc quyền của một số người, nhưng thực sự là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người … Thượng Hội Đồng Giám Mục 1987 yêu cầu : ước mong mọi người đều có thể được huấn luyện … để chính họ lại có thể trở thành người huấn luyện cho người khác” (“Vai trò người giáo dân” – THKTHGD  V,  63).

            II.2. Trang bị tư liệu : Việc trau giồi kiến thức là việc trường kỳ, nhưng khi được yêu cầu giảng huấn một đề tài cho một lớp học cụ thể, thì việc phải làm ngay là đọc thật kỹ chính bài văn viết về đề tài ấy, tập trung suy nghĩ từng ý (chính + phụ) trong bài văn, truy nguyên những điển tích, những trích dẫn, những tiềm ẩn (dụ ngôn, ẩn dụ, ám tỉ)… để hiểu thật thấu đáo. Tiếp theo là tìm đọc những tài liệu, tư liệu tương đồng có trong những sách vở cùng đề cập một đề tài, hoặc những điểm tương ứng với đề tài mà mình đang khảo sát. Cũng cần lưu ý là khi tham khảo để tìm kiếm tư liệu, chỉ nên sử dụng những sách vở, tài liệu, báo chí … đã được Toà Thánh hoặc Giáo Hội địa phương cho phép lưu hành.

            II.3. Soạn bài : Dù tự tin đến đâu, cũng không ai – kể cả những bậc giảng sư lỗi lạc – mà lên lớp lại không soạn bài (ít ra là một dàn bài chi tiết). Đó cũng chính là sự tự trọng – kể cả sự tôn trọng học viên nữa – rất cần thiết của một giảng viên.

Trước hết là công việc dàn ý, lược ra giấy xem trong đề tài có bao nhiêu ý, sẽ trình bày theo thứ tự nào ? (thứ tự không gian, thời gian, hay tâm lý, tiệm tiến, vòng đồng tâm, hoặc diễn dịch, quy nạp …).  Ý nào có thể lướt nhanh, ý nào cần đào sâu ? Ý nào cần minh hoạ bằng dẫn chứng cụ thể (hình ảnh, trích văn, truyện kể …), ý nào cần liên hệ thực tiễn (trong dòng, trong đạo, ngoài xã hội …). Thêm vào nhừng điều ấy một “DẪN NHẬP” và một “KẾT LUẬN”, sẽ có một dàn ý chi tiết. Từ dàn ý chi tiết, giảng viên soạn thành một bài có đầy đủ 3 phần : 1/- ĐẶT VẤN ĐÈ (Mở bài) – 2/- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (Thân bài) – 3/- KẾT THÚC VẤN ĐỀ (Kết luận) (xc Bài 4 : “Bài Giảng thuyết”).

III. ĐỨNG LỚP :

Phần lớn những người được nói chuyện trước đám đông, nhất là lần đầu tiên đứng trước một tập thể, đều có chung những lo âu nhất định, nhất là đây lại là một lớp học gồm những học viên đa dạng về trình độ, về tuổi tác, về nghề nghiệp. Tuy nhiên, với bước chuẩn bị kỹ càng như nêu trên, cũng đã một phần không nhỏ giúp người giảng viên tự tin hơn, đứng lớp chững chạc hơn, và chắc chắn kết quả khả quan hơn. Để đạt hiệu quả tốt, khi đứng lớp, giảng viên nên áp dụng một số đề nghị sau :

III.1. Tìm hiểu lớp học : Như trên đã nói, một giảng viên phụ trách huấn luyện cho một lớp học mà học viên đa dạng như trong các lớp học dành cho giáo dân, khi cần tìm hiểu đối tượng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn là một giáo viên trong ngành giáo dục (tiểu học, trung học, đại học), vì trong ngành giáo dục, những lớp học có nhiều điểm chung, ít ra thì cũng không có những cách biệt quá lớn.  Tuy nhên, cũng không nên vì thế mà bỏ qua công việc này. Phải biết được hoàn cảnh địa dư, ngôn ngữ, phong tục, tập quán … của từng vùng, miền, từng địa phương nơi mình phụ trách lớp học (đây chính là tính cách ‘hội nhập văn hoá’ – đặc trưng của công tác truyền thụ, truyền thông). Cũng cần phải biết được tỷ lệ giới tính (nam nhiều hơn hay nữ nhiều hơn), trình độ tiếp thu (nông thôn khác thành thị, miền xuôi khác vùng cao …), trình độ tuổi tác (già hoặc trẻ chiếm đa số)… Câu nói “anh hãy cho những cái mà họ cần, đừng cho những cái mà anh thích”“cách cho quý hơn của cho”, rất đúng và rất cần cho giảng viên trong trường hợp này.

Nhiều khi bước vào lớp, nhìn bao quát lớp một lượt, với một nụ cười trên môi và một câu chuyện vui ngắn (có ngậm ý tìm hiểu), không khí hoà đồng được khơi dậy, và đó đã là thành công bước đầu cho người đứng lớp.

III.2. Tư thế và tác phong : Những điều cần thiết cho một giảng viên khi đứng trên bục giảng có thể kể ra :

III.2.1. Dáng vẻ bề ngoài : “Nhìn trang phục, biết tư cách”, một giảng viên – tức là một người thầy – mà ăn mặc luộm thuộm, lôi thôi quá, hoặc loè loẹt, kiểu cách quá, thì cũng kể như đã tự hạ giá phẩm cách của mình. Hoc viên ở lần gặp đầu tiên, thấy giảng viên ăn mặc chỉnh tề, dáng dấp đĩnh đạc, tự nhiên thấy nẩy sinh trong lòng một cảm tình đặc biệt. Và từ tình cảm đó, sẽ sẵn sàng ngồi nghe. Ấy cũng là một cách thuyết phục của giảng viên đối với lớp học vậy. 

III.2.2. Cử chỉ đi đứng : Cử chỉ hoà nhã, đi đứng khoan thai ; không hấp tấp vội vàng, cũng không e dè khúm núm, lại càng không nên huênh hoang ‘ra vẻ ta đây’, oai vệ hách dịch ; đó là lời khuyên chân tình dành cho giảng viên.

III.2.3. Thái độ ứng xử : Một người tự trau giồi cho mình kiến thức rộng, có phương pháp sư phạm cao, được kể là một giảng viên giỏi, nhưng chưa đủ, mà còn phải là một giảng viên có đức độ, biết khiêm nhu tự hạ, không khoe khoang hợm hĩnh ; vậy mới đáng gọi là một giảng viên gương mẫu. Niềm nở thân mật, nhưng không suồng sã lố lăng, khi tiếp xúc. Khi đứng lớp, cần giữ tư thế đứng nhiều hơn là ngồi, nếu có thể, nên đi tới gần bàn học viên, tạo sự hoà đồng.

Lớp học có bảng phấn, giảng viên nên ghi rõ chủ đề và các tiểu đề trong dàn bài. Ngoài ra, nên ghi những ý chính, những điểm nhấn, tên nhân vật hay tác phẩm, những chứng liệu cần thiết, để học viên dễ theo dõi và ghi chép. Tuyệt đối không nên ngồi ‘bắt vít’ vào ghế, điều này dễ khiến học viên có cảm tưởng giảng viên không thuộc bài, chỉ biết ngồi đọc và … đọc. Tuy nhiên, khi đứng và đi tới đi lui, ngoài việc cầm phấn hoặc cầm micro (nếu có), giảng viên không nên cầm tài liệu trên tay và đọc một vài câu, sau đó lại hỏi học viên “Có đúng không ? Có phải không ? …”. Dàn ý hoặc tài liệu giảng dậy nên để trên bàn, lâu lâu ngó qua để khỏi bị lan man “lạc đề”. Cũng không nên dùng lối nói bỏ lửng một hai từ, để học viên thêm vào. Kiểu này chỉ dành cho học sinh mẫu giáo, tiểu học, và ngày nay cũng đã lỗi thời rồi.

Xin nói thêm, khi thấy lớp học có vẻ ‘buồn ngủ’ hoặc ‘lo ra’ nhiều quá (trao đổi chuyện riêng, bàn tán tâm sự …), tuyệt đối không nên nổi nóng (thậm chí còn đuổi khéo học viên ra khỏi lớp), vì đó là hành động ‘phản sư phạm’. Hãy tự ‘nhìn lại mình’ xem tại sao lại như thế ? Phải chăng tại mình nói ‘hay’ quá, nên mới xảy ra nông nỗi ấy ? Từ đó, cần chuyển hướng ngay cách truyền đạt : một câu hỏi đột ngột, một câu chuyện dí dỏm hài hước, thậm chí có thể cho ‘hát giữa giờ’ một bài hát ngắn … đó là cách ‘chữa lửa’ rất có tác dụng.

III.2.4. Thảo luận, biện giải, giải đáp thắc mắc : Trong tiết học, giảng viên có thể sử dụng nhiều phương cách truyền đạt, phương pháp lý luận (quảng diễn, vòng đồng tâm, vấn đáp, diễn dịch, quy nạp, tương đồng, tương phản …). Tuy nhiên, vẫn rất cần có một khoảng thời gian dành cho thảo luận, đóng góp ý kiến, nêu thắc mắc… Đây chính là dịp để giảng viên hiểu thêm về lớp học (biết người), rút kinh nghịêm cho bản thân (biết mình) (“biết người, biết mình, trăm trận trăm thắng” – Tôn Võ Tử). Nếu gặp những vấn nạn nan giải, những thắc mắc quá đà, nên từ tốn khẳng định vị thế của mình và khất lại vấn đề để trình xin ý kiến cấp trên. Tốt nhất, khi bước vào phần thảo luận, nên giới hạn những ý kiến, thắc mắc, biện giải trong phạm vi bài học. Thái độ ôn tồn hoà nhã, sẵn sàng tiếp thu những ý kiến (dù là phản kháng, đối lập), trao đổi trong tương quan huynh đệ, không gằn gọc gắt gỏng, đó cũng là lời khuyên rất cần thiết cho giảng viên.              

IV. NGÔN NGỮ DIỄN GIẢNG : Còn gọi là ngôn ngữ nói, khác hẳn với ngôn ngữ đọc. Văn viết là để đọc, còn văn giảng thuyết là để nói. Giọng nói tất nhiên là do bẩm sinh, không phải ai cũng giống ai. Tuy nhiên, trong cách nói năng phát biểu, vẫn có thể tập luyện được. Démosthènes (Hy Lạp) là một người có tật nói lắp (cà lăm). Ông đã kiên trì tập luyện bằng cách ngậm đá sỏi trong miệng, ra đứng trước biển, trước gió gào sóng vỗ, để tập nói. Và ông đã thành công, trở thành một nhà hùng biện nổi danh. Nếu anh không có được một giọng nói hùng hồn đanh thép khi lý luận, một giọng nói truyền cảm khi truyền đạt kiến thức hoặc quảng diễn văn thơ ; thì ít nhất anh cũng phải tập cho được cách nói năng từ tốn, lịch thiệp, hoạt bát, với một giọng nói ôn tồn thong thả, sao cho người nghe dễ “lọt lỗ tai”.

Ngôn ngữ giảng thuyết có thể bao gồm nhiều hình thái : 

IV.1. Ngôn ngữ nói chuyệnCòn gọi là ngôn ngữ đàm thoại. Giảng viên giảng thuyết mà như nói chuyện thân mật với học viên, khiến học viên tưởng như đang được nghe tâm sự của một người bạn và có cảm tưởng chính bản thân họ cũng đang đóng một vai trò nào đó trong câu chuyện ấy. Nhất là khi giảng viên chuyển sang đối thoại, thì học viên càng hăng say, mạnh dạn đóng góp ý kiến, trao đổi kiến thức.  Xin lưu ý ngay : Đây là hình thái diễn giảng như nói chuyện, chớ không phải là kể chuyện liên tu bất tận cho hết giờ. Nên  phân biệt : Đàm thoại (talk with converse – conversation) # Đối thoại (dialogue - dialogo) # Kể chuyện (tell  a story – parler d’histoire).  

Phương cách này mang tính hoà đồng, tạo được bầu khí thân mật trong lớp, kích thích khả năng phát biểu, tính mạnh dạn nơi học viên. Tuy nhiên, rất dễ bị sa đà vào lối kể chuyện, không tìm được lối ra.

IV.2. Ngôn ngữ cử điệu : Đó là thứ ngôn ngữ không lời. Nhìn những người câm khi họ truyền đạt, có thể hiểu thứ ngôn ngữ cử điệu cũng rất phong phú. Nếu giảng viên biết sử dụng điệu bộ, cử chỉ (từ ánh mắt, khoé môi, nét mặt, đến chân tay, thân mình) để diễn giảng cùng với ngôn ngữ nói, chắc chắn bài giảng sẽ đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, phải quan niệm rằng cử điệu chỉ là phương cách hỗ trợ tích cực cho lời nói, chúng ta chỉ dùng những cử điệu thích ứng với lời nói, phù hợp với tâm trạng khi giảng thuyết ; tuyệt đối không nên miễn cưỡng, vì nếu như thế sẽ trở thành một thứ “kịch sĩ vụng về, kệch cỡm”. Đừng để học viên cho rằng những cử chỉ, dáng điệu của giảng viên chỉ là kiểu cách giả tạo, lòe đời, vô duyên.            

IV.3. Ngôn ngữ tổng hợp : Khi giảng thuyết, người giảng viên phải cố gắng rèn luyện cho được khả năng ngôn ngữ tổng hợp  (ngôn ngữ nói + ngôn ngữ đàm thoại + ngôn ngữ cử điệu), để từ đó vận dụng vào nghệ thuật giảng thuyết của mình, bằng cách :

IV.3.1. Sử dụng ngôn ngữ diễn cảm : Người giảng viên khi nói trước cộng đồng không phải và không thể là báo cáo thành tích, phát động phong trào, mà phải là người truyền thông tất cả những xác tín về những kiến thức của mình trong cả quá trình học hỏi, thu thập, cảm thụ, chiêm niệm được về Đạo, về Sống Đạo, về Chân Lý bất biến : Tin Mừng Cứu Độ. Vì thế, cảm xúc phải chân thật xuất phát tự đáy lòng (“vui với người vui, khóc với kẻ ưu sầu”), chớ không thể là thứ bắt chước, vay mượn (“thương vay khóc mướn”).

Vì giảng thuyết là sử dụng ngôn ngữ nói nên cũng cần phải chú ý đến giọng nói, từ âm giai đến âm điệu, từ âm tiết đến âm độ (cường độ âm thanh) : khi thì hùng hồn đanh thép, lúc thì uyển chuyển mạch lạc, có khi thì thiết tha truyền cảm, đôi lúc lại dí dỏm vui tươi, khoan thai hóm hỉnh… Rồi khi thì mạnh (nhất là nơi những điểm nhấn), lúc thì nhẹ, khi bổng khi trầm, từng âm sắc chuyển theo mạch văn, cảm xúc, nếu được cân nhắc kỹ, sẽ có giá trị thuyết phục cao.

Nếu nói người giảng viên giữ một vai trò đặc biệt quan trọng khi đứng lớp diễn giảng, cũng tức là nói người giảng viên phải vừa “diễn”, vừa “giảng” (Diễn : biểu lộ bằng tất cả lời nói, cử chỉ, dáng điệu của mình qua vai trò giảng viên ; Giảng : giải thích thật rõ ràng, cụ thể, sâu sắc, sinh động về vấn đề mà mình muốn trao cho học viên). Cho nên, từng lời nói, từng điệu bộ, cử chỉ đều toát lên một phong thái hấp dẫn thính giả. Đó chính là một thứ ngôn ngữ diễn cảm không thể thiếu trong nghệ thuật giảng thuyết.

IV.3.2. Sử dụng ngôn ngữ hình tượng : Xin nghe một đoạn TM : “Đức Giêsu nói : Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là hạt nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên lại là thứ lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời có thể làm tổ trên cành được” (Mt, 13, 31-32).

Khi nghe đoạn Tin Mừng này, chắc chắn ai trong chúng ta cũng thấy hiển hiện trong tâm trí hình ảnh một hạt cải nhỏ xíu và sau đó là một mầm non nhú lên khỏi mặt đất, dần dần cây cải lớn thật lớn, xòe tán rộng, và lấp ló một tổ chim trên một cành lá xanh tươi. Đức Ki-tô chỉ kể một câu chuyện ngắn nhưng đã tạo nên một hình ảnh thật sinh động. Chúng ta gọi đó là thứ NGÔN NGỮ TẠO HÌNH hay NGÔN NGỮ HÌNH TƯỢNG. Rồi từ câu chuyện về một hạt cải cụ thể, Người còn muốn cho chúng ta hiểu về một hình ảnh trừu tượng : Nước Trời. Đó là phương pháp ẩn dụ (ví ngầm), và vì thế mới gọi là dụ ngôn.

Còn rất nhiều những ví dụ về ngôn ngữ hình tượng mà Người Thầy Chí Thánh của chúng ta hay dùng để dậy các môn đệ (Vd : Dụ ngôn “viên ngọc quý”, dụ ngôn “men trong bột”, dụ ngôn “cây nho và cành nho”…). Kể cả cách so sánh (tỉ dụ), so sánh ngầm (ám tỉ) … Vd : Ngắm hoa, xem chim trời mà biết được Chúa Cha yêu qúy loài người hơn vạn vật (Mt 6, 26-29); hoặc qua chuyện ông Mô-sê treo con rắn độc trong sa mạc (Ga 3, 14-15) ngầm so sánh với việc Đức Ki-tô bị treo trên thập giá để cứu độ loài người …  

Có thể nói, hầu hết những bài giảng, lời dậy của Đức Giê-su, Người đều sử dụng ngôn ngữ hình tượng – một thứ ngôn ngữ sinh động + hấp dẫn + thuyết phục nhất. Đó chính là đặc điểm độc đáo của ngôn ngữ hình tượng. Nó khiến cho người nghe vừa dễ tiếp thu lại vừa dễ hiểu, nhờ đó mà tiếp cận và đón nhận chân lý cách hiệu quả, sâu sắc hơn.             

Ngôn ngữ giảng thuyết dù được sử dụng dưới hình thức, phương cách nào, mà dùng được ngôn ngữ hình tượng thì thật không còn gì hơn. Học hỏi về Lời, về Ngôi Lời, học cả cách sử dụng ngôn ngữ – nhất là ngôn ngữ hình tượng – của chính Ngôi Lời ; như thế thì việc giảng thuyết về Lời còn lo gì không đạt hiệu quả.

Tìm hiểu, học hỏi, chiêm ngắm, suy niệm Lời Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta phải đồng ý với nhau rằng : Thiên Chúa luôn luôn đến với người nghèo khó, tật bệnh, bé mọn… và “Người đã dùng thứ ngôn ngữ bất toàn của những hạng người ấy và nói chung, của cả loài người,  để công bố LỜI TOÀN NĂNG, cũng như đã dùng chính những môi miệng ô uế của nhân loại để loan báo LỜI CHÍ THÁNH”.  Chính vì thế, hơn ai hết, người giảng viên phải ghi lòng tạc dạ về LỜI và phong cách sử dụng ngôn ngữ giảng thuyết của chính NGÔI LỜI nhập thế và nhập thể. Nhiên hậu mới kiên trì học hỏi và rèn luyện những phương pháp sư phạm được đúc kết từ kinh nghiệm giảng thuyết của những bậc mô phạm trong Giáo Hội cũng như trong xã hội loài người.    

V. PHƯONG PHÁP LẬP LUẬN : Giảng viên cần thiết phải nắm vững nhiều phương pháp lý luận để thuyết giảng. Phần này đã được bàn kỹ ở bài 4 “BÀI GIẢNG THUYẾT”. Chỉ xin lưu ý khi đứng lớp, giảng viên sử dụng văn luận thuyết ở dạng “nói”, nên phải hết sức tránh kiểu “đọc bài” (cầm tài liệu đọc), “trả bài” (học thuộc lòng bài soạn rồi đọc tại lớp như học sinh trả bài). Ngoài ra, để tránh sự đều đều buồn tẻ khi giảng thuyết, nên sử dụng xen kẽ nhiều phương pháp.

VI.- RÚT KINH NGHIỆM : Sau những tiết học hoặc sau một khoá học, nên có phần rút kinh nghiệm. Có thể rút kinh nghiệm bằng cách :

            VI.1. Tự rút kinh nghiệm :

            Mỗi giảng viên nên có một cuốn “nhật ký giảng huấn”, trong đó ghi chép tất cả những gì có liên quan đến quá trình đứng lớp của mình. Sau những giờ đứng lớp của bản thân, sau những giờ dự khán một lớp học của bạn bè, thậm chí cả sau những giờ ngồi lớp với tư cách một học viên..., sẽ ghi lại tất cả những nhận xét của mình về giờ học tập đó. Đây chính là dịp “nhìn lại mình”, rút ra những bài học kinh nghiệm để nâng cao tay nghề, nên phải hết sức khách quan, tránh những thiên kiến, mặc cảm (tự tôn, tự ti). 

            VI.2. Rút kinh nghiệm qua học viên :

            Sau mỗi tiết học, có thể dành ít phút trực tiếp phỏng vấn chớp nhoáng học viên về những nhận xét của họ trong giờ học (nếu không đủ giờ, nên trao đổi với học viên trong 10 – 15 phút giải lao). Đặc biệt sau mỗi khoá học, vào buổi tổng kết nên dành hẳn một vài tiết để học viên nêu những nhận định về những giảng viên đứng lớp. Đây là phần hết sức tế nhị, vì ngoài xã hội cũng đề ra đường lối “trò đánh giá thầy” đã gây thật nhiều tranh cãi. Giảng viên phải hết sức khéo léo, đồng thời cũng phải có tinh thần cầu thị, hết sức mềm mỏng, khiêm nhu tự hạ đón nhận những ý kiến xây dựng. Đừng để giờ góp ý trở thành giờ đấu đá hạ bệ nhau, cũng không biến thành giờ tâng bốc nịnh hót nhau. Tắt một lời, giảng viên phải đo lường được “tinh thần và thái độ” của học viên trong những giờ mình đứng lớp, trước khi tổ chức rút kinh nghiệm.

            VI.3. Rút kinh nghiệm qua bạn bè : Cuối khoá nên có những buổi họp ban giảng huấn để rút kinh nghiệm, hầu làm tốt hơn cho những khoá học sau.

            Tóm lại, việc rút kinh nghiệm đối với một giảng viên đứng lớp cũng quan trong không kém phần truyền thụ kiến thức cho học viên. Ngoại trừ những trường hợp quá đặc biệt không thể tổ chức được, người giảng viên đĩnh đạc, tự tin nên tổ chức rút kinh nghiệm (kể cả với các anh em giảng viên khác trong cùng khoá học). Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dạy “mọi việc huấn luyện, thiết yếu là một thứ tự huấn luyện” (THKTHGD V, 63), mà việc rút kinh nghiệm chính là một trong những phương pháp học hỏi, trau giồi kiến thức cho bản thân, một thứ “tự huấn luyện” vậy.

VII. KẾT LUẬN :

Sắc lệnh Truyền Giáo (CĐ. VAT. II) dậy : “Vì thế, việc huấn luyện những giảng viên này phải được kiện toàn và thích nghi với tiến bộ văn hoá, để những cộng tác viên đắc lực của các linh mục, họ có thể hoàn thành đến mức tối đa nhiệm vụ của họ, nhiệm vụ đang đặt nặng trên vai họ những trọng trách mới mẻ và rộng lớn hơn” (SLTG II, 17). Chính vì thế, người giảng viên trong Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh hiện nay không chỉ truyền thụ kiến thức một cách đơn thuần, mà còn là người chia sẻ cho anh chị em trong huynh đoàn những kinh nghiệm sống Lời Chúa, sống Đạo, sống Ơn gọi và thi hành sứ vụ tông đồ theo tinh thần và đoàn sủng của linh đạo Dòng. Đó chính là vai trò và trách vụ cao quý nhưng cũng rất nặng nề mà Giáo Hội và Dòng đã trao phó cho chúng ta. Để hoàn tất, chúng ta hãy noi gương Thánh Phụ Đa Minh luôn luôn biết “nói với Chúa” xin ơn soi sáng và hướng dẫn (tự huấn luyện), để ngày một vững bước hơn trong hành trình “nói về Chúa” (huấn luyện người khác).

CÂU HỎI THẢO LUẬN :

            1/- Tại sao phải tìm hiểu lớp học ? Anh (chị) đã áp dụng biện pháp này chưa ? Cho biết lý do.

            2/- Tác phong của một giảng viên đứng lớp đòi hỏi những điều kiện nào ?

            3/- Phân tích sự giống nhau và khác nhau giữa văn kể chuyện và văn đàm thoại.

4/- Ngôn ngữ hình tượng là gì ? Tìm một dẫn chứng trong Kinh Thánh.

5/- Có mấy hình thức rút kinh nghiệm sau giờ lên lớp ? Phân tích.

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us

Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.