Bài 6 : GIÁO DỤC TOÀN DIỆN
I.- DẪN NHẬP :
Vì Tình Yêu, Thiên Chúa dựng nên vũ trụ, muôn loài. Khi dựng nên loài người nên giống hình ảnh Người, Thiên Chúa đã định hướng công trình sáng tạo của Người bằng một đường lối sư phạm uyển chuyển để con người có thể thích nghi được với lợi ích và thái độ đón nhận của mình, và “Thiên Chúa tôn trọng phẩm giá con người do chính Ngài tạo nên, con người ấy phải được tự do và đuợc hướng dẫn theo chính phán đoán của mình” (“Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo”, 11). Đó chính là khởi nguyên công trình Giáo dục Kitô Giáo. Như vậy, công trình Giáo dục Kitô Giáo trước khi là công lao khó nhọc của con người, đã là kế hoạch từ trước vô cùng của Thiên Chúa Ba Ngôi (Đấng sáng lập là Thiên Chúa Cha, Đấng triển khai là Chúa Con – Ngôi Lời nhập thể, và Đấng kiện toàn là Ngôi Ba Thánh Thần). Nền tảng Giáo Dục Kitô Giáo phát xuất từ đó.
Giáo Dục Kitô Giáo có hai đặc tính tiêu biểu : phổ cập và toàn diện. Tính phổ cập của Giáo Dục Kitô Giáo nhắm đến đối tượng là tất cả mọi người (không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần, điều kiện kinh tế hoặc giai tầng xã hội hay phẩm trật Giáo hội).
Còn đặc tính toàn diện ? Chúng ta cùng phân tích để tìm hiểu cặn kẽ hơn.
II.- SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI :
Công trình giáo dục của Thiên Chuá được mạc khải tiệm tiến qua lịch sử cứu độ và được hoàn thành nơi Đức Kitô. Ngày nay Giáo hội được Chúa Kitô uỷ thác tiếp nối sứ mạng đó. Vì vậy, trước hết cần thiết phải hiểu rõ về sứ vụ của Giáo Hội trong công trình giáo dục của Thiên Chúa :
Khi thành lập Giáo hội tại trần gian, Đức Giêsu đã truyền dậy: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15), Loan báo Tin Mừng là rao giảng Lời Thiên Chúa, mà Lời Thiên Chúa vừa là lời nói của Thiên Chúa, lại vừa chính là Con Người bằng xương bằng thịt đang sống khó nghèo tại một vùng quê cụ thể ở trần gian : Đức Giêsu Kitô – Ngôi Lời nhập thế và nhập thể. Vì là một tổ chức mang tính xã hội nhưng được trao sứ mệnh rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, nên Giáo Hội giữ một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong xã hội loài người : Rèn luyện nhân cách con người thành hữu ích đối với bản thân, gia đình và xã hội (công dân nước trần thế), đồng thời còn giáo dục cho con người sống xứng đáng với tư cách là con Thiên Chúa (công dân Nước Trời).
Rõ ràng sứ vụ của Giáo Hội là “… Giáo Hội có trách nhiệm giáo dục không những vì Giáo Hội là xã hội trần gian, phải được thừa nhận có khả năng giáo dục, nhưng nhất là vì Giáo Hội có nhiệm vụ loan truyền cho mọi người biết con đường cứu rỗi, cũng như thông ban sự sống Chúa Kitô cho các tín hữu và luôn lo lắng giúp đỡ họ đạt tới sự viên mãn của đời sống ấy. Bởi vậy, như một Người Mẹ, Giáo Hội có nhiệm vụ bảo đảm cho con cái một nền giáo dục, đem tinh thần Chúa Kitô thấm nhuần đời sống chúng, nhưng đồng thời cũng cổ võ mọi dân tộc phát triển sự hoàn thiện toàn vẹn của con người, phục vụ lợi ích của xã hội trần thế và xây dựng một thế giới nhân đạo hơn” (“Sắc lệnh về Giáo Dục Kitô Giáo, 3”).
Cũng vì sứ mệnh của Giáo Hội mang chiều kích bao quát như vậy, nên trách vụ thừa hành được đặt ra vừa hết sức nặng nề cũng vừa thật nóng bỏng trong bất cứ một bối cảnh nào của lịch sử trần thế, thuận lợi hay không thuận lợi. Đời sống của Giáo Hội nói chung, và cách riêng, của một Kitô hữu, không thể tách rời hai lãnh vực luôn gắn bó mật thiết với nhau : tâm linh và trần thế. Con người trần tục nếu không có một đời sống tâm linh thì cũng chẳng khác gì các động vật khác, hay nói khác hơn, con người có thể “thống trị được mặt đất” (St 1, 28) chính bởi vì “nhân linh nhi vạn vật, nhân vi vạn vật chi linh” (con người vượt trên vạn vật vì có đời sống tâm linh). Vì vậy, Giáo Hội có nhiệm vụ “săn sóc toàn diện đời sống con người, kể cả đời sống trần tục, trong mức độ liên hệ với lời mời gọi của Thiên Chúa. Vì thế Giáo Hội thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục” (SL/GDKTG, “Lời mở đầu”).
Điều đó chứng tỏ nền Giáo dục Kitô Giáo mang đặc tính toàn diện, bao gồm cả đời sống trần thế và đời sống tâm linh. Như thế thì nền giáo dục của xã hội có mang đặc tính toàn diện không ?
III.- TÍNH TOÀN DIỆN CỦA GIÁO DỤC XÃ HỘI :
Nền giáo dục của xã hội phát xuất từ khi con người bắt đầu có cuộc sống quần cư (tiên khởi là gia đình, rồi đến thôn bản làng xóm, quốc gia xã hội). Do yêu cầu của cuộc sống quần cư (truyền thụ những kinh nghiệm sống, những phát kiến, phát minh…), nền giáo dục xã hội hình thành và phát triển. Lúc đầu thì chỉ là khẩu truyền, dần dần con người tìm ra những ký hiệu để ghi lại, và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng văn tự. Giáo dục xã hội có mục đích giúp con người trưởng thành về mặt tri thức, đồng thời ý thức được phẩm giá của mình và hiểu rõ vai trò cũng như trách nhiệm mỗi cá nhân đối với cộng đồng quốc gia dân tộc, rộng hơn nữa là nhân loại (“tứ hải giai huynh đệ” : người trong bốn bể đều là anh em – ca dao). Giáo dục của xã hội chủ trương giáo dục toàn diện : Đức-Trí-Thể -Mỹ.
III.1. Đức dục : Giáo dục là dạy người ta làm người, sống theo lương tâm tự nhiên, theo luân thường đạo lý. Trước khi được giáo dục những tri thức về khoa học, xã hội, nhân văn, cần được giáo dục về đạo đức (“Tiên học lễ, hậu học văn”) từ cái gốc nhân bản sẵn có (“nhân chi sơ, tính bản thiện” : người mới sinh, tính vốn lành) đến những truyền thống đạo đức của cộng đồng : Con người ta sống ở đời phải thật thà, ngay thẳng, hiền lành, cần kiệm liêm chính, biết yêu quý những điều thiện hảo, xa lánh những thói hư tật xấu, biết yêu người như yêu mình (“ ái nhân như ái thân”), ăn ở lễ nghĩa, liêm sỉ.
III.2. Trí dục : Mở mang tầm hiểu biết (tri thức) về khoa học, về thiên nhiên, vũ trụ, về con người. Những môn học thuộc khoa học tự nhiên không chỉ là những kiến thức giúp khai mở kho tàng tri thức, mà còn nhắm đến mục đích khám phá chinh phục vũ trụ, thiên nhiên với những biến thiên không ngừng của nó… Những môn học thuộc khoa học xã hội nhằm giúp con người biết được nguồn gốc, sự phát triển của loài người và nhất là quá trình xây dựng một lịch sử với biết bao những kỳ tích như chinh phục thiên nhiên, vũ trụ, nâng cao đời sống con người…
III.3. Thể dục : “thể dục” bao hàm ý nghĩa nuôi nấng, bảo dưỡng thân xác con người (thể : thân xác; dục : nuôi dưỡng) : làm việc, hoạt động, ăn uống, nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng sao cho có chừng mực, điều độ (trong đó có các môn tập thể dục, thể thao là những phương pháp giúp tăng cường sức khoẻ để có được “Một tinh thần trong sáng trong một thân thể tráng kiện”). Nói cách khác, giáo dục thể dục nhằm giúp con người ý thức bảo dưỡng thân xác mình, từ đó biết coi trọng đời sống thể lý của bản thân, tiến đến coi trọng đời sống thể lý tha nhân. Vì thế, những người tự huỷ thân xác mình (phế bỏ một số bộ phận của cơ thể hoặc tự tử…), hoặc xâm phạm đến tính mạng kẻ khác, đều bị xã hội (kể cả “toà án lương tâm” của chính đương sự) lên án, kết án (xã hội VN hôm nay, những chuyện “bạo lực trong học đường, trong gia đình” xảy ra nhan nhản, gần như “chuyện thường ngày”, đã làm tốn biết bao nhiêu giấy mực, phí biết bao nhiêu công sức, tiền của để ngăn ngừa, lên án, kết án).
III.4. Mỹ học : Trong cuộc sống con người cũng như ngoài thiên nhiên có biết bao nhiêu những nét đẹp, vẻ đẹp. Đó là những công trình tạo hoá ban tặng con người. Để có thể cảm thụ, thẩm định được những cái đẹp ấy, môn mỹ học ra đời nhằm góp phần xây dựng đời sống thẩm mỹ lành mạnh và phong phú cho con người và xã hội. Chương trình "Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ" trang bị những kiến thức cơ bản và hệ thống về mỹ học, nhằm giúp cho người học nâng cao khả năng cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp cho bản thân, cho cuộc sống và cho nghệ thuật.
Chương trình "Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ" hướng tới làm sâu sắc thêm một số khái niệm cơ bản của mỹ học và giáo dục thẩm mỹ trong thực tiễn, với mong muốn người học có thể liên hệ để tự hoàn thiện bản thân và vận dụng những quan điểm này vào hoạt động dạy học và giáo dục học sinh trong nhà trường, hình thành ở các em đời sống thẩm mỹ lành mạnh, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh.
IV. TÍNH TOÀN DIỆN CỦA GIÁO DỤC KITÔ GIÁO :
Với đời sống tôn giáo, ngoài những quyền được hưởng một nền giáo dục xã hội, con người còn có quyền được hưởng một nền giáo dục về đời sống tâm linh. Vì “là Mẹ và là Thầy, Giáo Hội có bổn phận thông truyền một nền giáo dục toàn vẹn cho mọi người. Mục tiêu hàng đầu của Giáo Dục Kitô Giáo là Đức Tin… Giáo hội cũng nhằm đến giáo dục con người toàn diện để giúp họ nhận ra phẩm giá của mình” (Thư Chung 2007 của HĐGMVN). Đặc tính toàn diện của Giáo dục Kitô Giáo bao gồm :
IV.1. Đức dục : Khi giáo dục những đức tính trong luân thường đạo lý, nhân bản (xã hội), cũng đồng thời giáo dục về Đức Ái Kitô Giáo, về Nhân bản Kitô Giáo. Những giá trị đạo đức từ luân lý (xã hội) phải được duy trì và phát triển, nâng cao lên đức độ tôn giáo, đó chính là Tình yêu Thiên Chúa, nền tảng vững bền nhất của Giáo dục Kitô Giáo.
IV.2. Trí dục : Song song với việc giáo dục tri thức khoa học, xã hội, nhân văn, cũng đồng thời mở mang kiến thức về Kinh Thánh, về Lời Chúa, về Giáo lý… Tuyên ngôn Giáo dục Kitô Giáo khẳng định : “Thánh Công Đồng tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với các linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân, đã tự hiến theo tinh thần Phúc Âm dấn thân vào công cuộc trọng đại này là giáo dục trong các trường thuộc mọi cấp và mọi ngành. Đồng thời khuyến khích họ hãy quảng đại và kiên tâm trong bổn phận đã lãnh nhận, nỗ lực vươn lên trong việc đào luyện học sinh thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô, trong khoa sư phạm và trong việc trau giồi kiến thức, để họ không những đẩy mạnh cuộc canh tân bên trong Giáo Hội, mà còn duy trì và phát huy thêm sự hiện diện hữu ích của Giáo Hội trong thế giới ngày nay, nhất là trong giới trí thức” (SL GDKTG, “Kết luận”).
Trường hợp đối tượng của Giáo dục Kitô Giáo đang thụ huấn tại những trường học của xã hội (không có hoặc không thể có mảng giáo dục tôn giáo), thì việc bồi dưỡng bổ sung trí dục tôn giáo tất nhiên phải là nhiệm vụ của gia đình, của giáo xứ, của các dòng tu và các hội đoàn (các lớp giáo lý, các lớp thần học giáo dân, các khoá học khác …).
IV.3. Thể dục : Vì tình yêu, Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ, muôn loài. Khi tạo dựng loài người, Thiên Chúa đã phán bảo “hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất” (St 1, 28), và “Thiên Chúa tôn trọng phẩm giá con người do chính Ngài tạo nên, con người ấy phải được tự do và đuợc hướng dẫn theo chính phán đoán của mình” (“Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo”, 11). Vậy, mục đích giáo dục thể dục ngoài việc bảo dưỡng sức khoẻ, còn hướng tới giáo dục con người biết coi trọng thân xác mình do Thiên Chúa tạo dựng, từ đó biết tôn trọng tha nhân. Chính vì thế, Kitô Giáo không chấp nhận việc xúc phạm đến công trình tạo dựng kỳ diệu này của Thiên Chúa dưới bất cứ hình thức nào (tự huỷ hoại, tự sát, nạo phá thai, ngừa thai bằng cách huỷ diệt trứng, tinh trùng, thụ tinh nhân tạo, nhân bản vô tính, chết một cách êm dịu…). Khi đã biết coi trọng mạng sống mình, họ sẽ ý thức được sự tôn trọng tính mạng tha nhân, biết tự trọng phẩm giá con người của mình sẽ tôn trọng phẩm giá của anh em. Từ đó, người Kitô hữu sẽ tham gia công tác Tông đồ bác ái (đem lại hạnh phúc tinh thần + thể xác cho mọi người) một cách nhiệt thành và trung tín, coi việc làm này như là chính máu thịt của mình, chớ không chỉ là nhiệm vụ được trao.
IV.4. Tâm linh : Giúp con người từ ý thức đến nhận chân được chân lý Tình Yêu Thiên Chúa : Thiên Chúa đến với con người bằng mạc khải qua lịch sử cứu độ. Từ những mạc khải đó, con người đến với Thiên Chúa, gắn bó với Thiên Chúa như bạn hữu bằng con đường đức tin, như Thánh Âu-tinh dạy : “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người, thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa” (Giáo lý HTCG, bài 2). Như vậy thì việc giáo dục đức tin cho Kitô hữu phải được đặt lên hàng đầu. Chính vì thế nên chương mở đầu sách Giáo Lý Công Giáo là giáo dục đức tin. Cũng vậy, phần căn bản của Giáo Dục Kitô Giáo là giáo dục đức tin cho Kitô hữu. Việc giáo dục đức tin cho các Kitô hữu là điều tiên quyết và tất yếu, đồng thời phải coi đó là một công việc trường kỳ (giáo dục con người từ ấu thơ cho tới tuổi trưởng thành và đến mãn đời).
Quá trình giáo dục đức tin để xây dựng đời sống tâm linh cho mọi Kitô hữu – bằng đường lối sư phạm kết hợp tự nhiên và siêu nhiên – tất yếu phải được gắn liền với đời sống xã hội. Nói khác hơn, đức tin được xây dựng nơi con người cần phải được thể hiện trong môi trường xã hội bằng hành động trong cuộc sống cụ thể của mỗi cá nhân Kitô hữu, vì “Đức tin không thể hiện ra hành động là một đức tin chết” (Gc 2, 17). Rõ ràng đặc tính toàn diện của Giáo dục Kitô Giáo là “…nhắm đến mục tiêu hàng đầu là trau giồi đức tin,… cũng nhắm đến giáo dục con người toàn diện để giúp Kitô hữu nhận ra phẩm giá của mình để thực thi sứ mạng làm chứng cho Chân lý,… đồng thời còn nhấn mạnh đến việc huấn luyện lương tâm ngay thẳng để xây dựng cuộc sống công bằng, tôn trọng phẩm giá và sự sống con người. Và tất cả phải được gắn liền với một truyền thống văn hoá của một không gian nhất định, giáo dục phải được liên kết với truyền thống văn hoá của không gian ấy, và đó chính là truyền thống văn hoá Việt Nam” (TC 2007 của HĐGMVN).
IV.5. Mỹ học : Vấn đề mỹ học trong Giáo dục Kitô giáo tuy không đặt ra, nhưng thiết tưởng cũng cần phải được duy trì để giúp cho Kitô hữu triển nở năng khiếu thẩm mỹ của bản thân, hiểu biết nhiều hơn nữa những vẻ đẹp trác tuyệt của thiên nhiên ; đồng thời nhìn lại con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa tuyệt đẹp và đáng trân trọng biết là dường nào. Từ đó, nhận chân được công trình tạo dựng vũ trụ vô cùng kỳ diệu của Đấng Toàn Năng CHÂN-THIỆN-MỸ cao vời khôn ví. Nhờ vậy, Đức Tin càng được củng cố vững chắc hơn.
V.- KẾT LUẬN :
Như vậy thì Giáo Hội chủ trương giáo dục mọi Kitô hữu trưởng thành cả đời sống tâm linh lẫn đời sống trần thế. Tông huấn Kitô hữu Giáo dân viết : “… (Giáo dân) sẽ yêu thích nhiều khả năng nghề nghiệp, ý nghĩa gia đình và công dân, các nhân đức liên quan đến đời sống xã hội như thanh liêm, tinh thần công lý, thành thật tế nhị, khẳng khái. Không có những nhân đức đó thì không có đời sống Kitô hữu chân thật (CĐ VAT. II, 216)”, và “… Công Đồng khuyến khích người tín hữu, công dân của nước trần thế và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của mình một cách nhiệt tình, trung tín, và vâng theo sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm” (TH/KTHGD V, 59, 60).
Giáo huấn Xã hội của Giáo hội cũng nhấn mạnh đến con người toàn diện, tức con người trong mọi chiều kích của nó : thể xác và linh hồn (vật chất và tinh thần), cá nhân và xã hội, tự nhiên và siêu nhiên (“tâm linh”). Một sự phát triển toàn diện đích thực không được bỏ quên một khía cạnh thiết yếu nào của con người, và cũng không được đảo lộn trật tự (về giá trị) của các chiều kích đó, chẳng hạn đặt vật chất lên trên tinh thần, gia tăng của cải vật chất mà làm hại cho luân lý, đạo đức. Chính vì thế, nền Giáo dục Kitô Giáo phải đáp ứng được tính toàn diện của giáo dục ở cả hai chiều kích “xã hội” và “tôn giáo” trong liên thông và hiệp nhất.
Giáo dục toàn diện con người là phải khởi từ ấu thơ cho đến khi trưởng thành. Liên hệ thực tiễn vào gia đình Kitô giáo trong sứ vụ giảng thuyết Lời Chúa và cứu rỗi các linh hồn, liệu có thể áp dụng được không ? Câu trả lời là có, vì ở lứa tuổi ấu thơ hay thiếu niên, đã có cái nôi vững chắc là gia đình Kitô Giáo và Giáo xứ là Giáo hội cơ sở (trong đó, giới trẻ là đối tượng ưu tiên). Chỉ có điều chúng ta sẽ triển khai như thế nào cho phù hợp với yêu cầu chung của Giáo hội : Giáo dục toàn diện phải là kết cấu chặt chẽ đời sống trần thế + đời sống tâm linh trong liên thông để đi tới hiệp nhất, như ĐGH Gioan Phaolô II đã dạy : “Đào luyện toàn diện để sống trong hợp nhất” (TH/KTHGD V, 59).
CÂU HỎI THẢO LUẬN :
1/- Phân tích đặc tính toàn diện của giáo dục xã hội.
2/- Giáo dục Kitô giáo có mấy đặc tính tiêu biểu ? Phân tích đặc tính toàn diện của Giáo dục Kitô giáo.
3/- Có gì giống và khác nhau giữa môn tập thể dục và môn học về thể dục.
4/- Hãy kể ra những gì thuộc về đời sống tâm linh của con người.
5/- Giáo huấn xã hội của Giáo hội đã nêu ra những chiều kích nào của đời sống con người ? Thử phân tích một trong những chiều kích ấy.