Imprimatur
Xuân Lộc, ngày 14 -09-1971
+Giuse Lê Văn Ấn
Giám mục
Quan niệm tông đồ của cha
Chevrier được lọc qua những
trang sách Phúc âm Chúa Giêsu
và các thư thánh Phao lô.
Những nguyên tắc tông đồ này
có một tính cách rất bất biến
mặc dầu những biến cố xảy ra
trong mỗi thời đại, trong mỗi
lãnh vực và nơi mỗi cá nhân.
“Trời đất sẽ qua, Chúa phán,
nhưng lời Ta sẽ không qua”
(Mt 13,31).
Chúng ta sẽ nói về quan niệm
rồi đến phương pháp tông đồ.
Vị tông đồ.
THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC ?
Tông đồ đích thực là người say
mê Chúa Kitô
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã
minh chứng cho nhân loại rõ
tấm lòng Người yêu họ tha
thiết khi Người hiến thân chịu
chết thay cho họ. Mà tình yêu
của Người đối với nhân loại là
tình yêu bắt nguồn từ Thiên
Chúa. Cho nên Người cũng muốn
cho các tông đồ của Người kín
múc lấy tình yêu các linh hồn
trong tình yêu mến Người. Đúng
thế, khi muốn trao phó cho
thánh Phero nhiệm vụ cai trị
Giáo Hội, Chúa Giêsu không
nói: “Con có yêu người ta
không?” nhưng Người hỏi:
“Phero con có mến Thầy không?”
Chúa Giêsu phải chiếm chỗ nhất
trong trái tim ta. Thánh
Phao-lô đã chứng minh chân lý
đó trong các thư của Ngài và
bằng chính đời sống của Ngài.
Ngài đã muốn chết để được ở
cùng Chúa Giêsu, nhưng Ngài
lại vui lòng ở lại thế gian,
xa Thầy chí thánh, để hoàn
thành sứ mạng Thầy ủy thác.
Ngài yêu mọi người trong Chúa
Kitô và chính lòng mến Chúa
Kitô thúc đẩy Ngài tận hiến để
giải thoát người đời.
Cha Chevrier đã tự nghiệm thấy
cái hiệu lực của lòng mến Chúa
Kitô, cái lòng mến đưa người
ta đến tự hiến hoàn toàn.
Cha nói: “Chính đêm Giáng Sinh
đã hoán cải tôi” (Vie Nouvelle
trang 76). Nói về vị linh mục
muốn làm môn đệ Chúa Giêsu,
cha diễn tả thế này:
“Chính tình yêu hướng dẫn vị
linh mục ấy chứ không phải gì
khác”.
(Véritable Disciple trang 93).
Bởi vậy cha chú trọng trước
hết đến việc học hỏi về Chúa
Kitô và dùng làm khoa học căn
bản để đào tạo các linh mục
tương lai ở tiểu chủng viện
cũng như Đại chủng viện. Cha
nói:
“Biết Chúa Giêsu là đủ, không
khoa học nào hơn được khoa
này. Nó là khoa bổ ích nhất,
quan trọng nhất, cần thiết
nhất, đặc biệt là cho những ai
muốn làm linh mục, muốn làm
môn đệ Chúa, vì chỉ khoa học
này mới là khoa học chính đào
tạo nên các linh mục, và các
khoa khác chỉ là tùy phụ và có
hữu ích thì cũng tùy hoàn
cảnh.”
(VD, 78) Chính đời sống thánh
Phao-lô đã minh xác câu nói
của cha:
“vì yêu mến, tôi đã muốn mất
hết, coi mọi sự như rơm rác để
được Chúa Kitô… để biết Người,
Người và hiệu quả việc Phục
sinh của Người… để tham dự vào
những đau khổ của Người, cùng
chết với Người để cùng được
sống lại với Người, nếu có
thể”.
(Phil 3,8-10).
Vì thế yêu Chúa Kitô trên hết
không phải chỉ là việc riêng
của người chiêm niệm, không
phải chỉ là đường tu của các
tu sĩ. Nó là đặc điểm của tất
cả đời sống siêu nhiên của một
linh mục.
Tuy nhiên, chúng ta biết rằng
yêu Chúa Kitô không phải chỉ
là suy tôn Người trong lý
thuyết, nhưng tình yêu ấy còn
phải là nguyên nhân và nguyên
ủy của tình yêu đồng loại nữa.
Có do tình mến Chúa Kitô như
thế thì việc tông đồ mới thực
là của riêng linh mục. Bởi vì
người ta quan niệm rằng người
giáo hữu khồ thể đạt tới mưc
yêu mến ấy được. Thường thường
trong việc tông đồ, người giáo
hữu vui lòng siêu nhiên hóa và
quy hướng về Chúa lòng ao ước
thiết tha của họ, lòng ao ước
đem anh em ra khỏi tình trạng
khốn nạn về tinh thần cũng như
thể chất. Các chủng sinh ban
đầu thường cũng đi một lối ấy.
Họ bắt đầu khát vọng làm tông
đồ, tuy khát vọng ấy ta thấy
chưa khuynh hướng về Chúa Kitô
cho đủ. Nhưng rồi ra, họ cần
phải cải biến dần dần những lý
do khiến họ tận tâm với công
cuộc giải thoát các linh hồn,
để ngày chịu chức họ đáng được
nghe lời Chúa phán:
“Bây giờ Ta không gọi các con
là đầy tớ nữa, nhưng là bạn
của Ta.”
(Gn 15,15).
Trọn đời, vị linh mục phải
gắng sức học biết và yêu mến
Chúa Kitô cho đến khi tình mến
này biến thành một đam mê.
Ta hãy nghe cha Chevrier diễn
tả lý tưởng của cha:
“Có những người sống vì thế
gian. Tôi thì tôi sống vì Chúa
Giêsu… Chúa Giêsu phải là lẽ
sống của ta, nghĩa là Chúa
Giêsu phải là Đấng mà thường
xuyên ta tưởng nghĩ tới và
ngày đêm tình yêu mến và lòng
khát khao của ta phải hướng
về. Người mẹ sống vì con,
người vợ sống vì chồng và
người hà tiện sống vì tiền
bạc, người ích kỷ sống cho
mình… Đó là đời sống của mỗi
người ấy, họ đặt đời họ vào
cái họ tìm, họ yêu…
Phần ta, lẽ sống của ta chính
là Chúa Giêsu.
(VD. Trang 83).
THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC ?
Tông đồ đích thực là người
tiêu biến trong Chúa Giêsu.
Thực tình yêu nhau không phải
chỉ là ý hiệp tâm đầu nhưng
còn cần phải chung sống. Biết
nhau rồi người ta đem lòng yêu
mến nhau. Rồi từ yêu mến nhau
đến bắt chước nhau. Cha nói :
Khi thực tình yêu ai thì người
ta sung sướng được theo người
ấy, bước theo vết chân người
ấy, thích nhìn xem, nghe họ
nói và làm hết cảch để bắt
chước… Bắt chước Chúa Giêsu đó
là mục đích duy nhất của tôi,
cùng đích của mọi tư tưởng và
hành động của tôi, đối tượng
của tất cả những nguyện vọng
của tôi. Không thế, tôi sẽ
không bao giờ là một linh mục
tốt và sẽ không bao giờ làm
việc đắc lực cho phần rỗi các
linh hồn. » (VD. Trang 8a và
67).
Theo cha, việc bắt chước Chúa
Giêsu là bổn phận trước hết
của linh mục :
« Chúa Giêsu, cha nói, là linh
mục đích thực, là linh mục
hoàn hảo, là Đấng Đức Chúa Cha
yêu dấu, và là gương mẫu ta
phải noi theo. Bổn phận của ta
là phải bắt chước Người. » Ta
hãy nghe giọng nghiêm khắc Cha
nói về những linh mục chỉ muốn
tham dự quyền hành của Chúa
Giêsu mà không nên giống Người
bằng đời sống của mình : « Ai
chỉ giống Chúa Giêsu về quyền
hành thì có khác gì con người
máy vô ích, không sinh lợi ?
Họ chỉ đường cho người khác mà
chính mình không đi, cứu người
khác mà không tự cứu. Họ là
cột chỉ đường mà chữ viết ở
trên thường đã phai nhòa, họ
là não bạt kêu vang, họ là con
sông chảy cuồn cuộn mà không
giữ lại được gì hết. »
(VD. Trang 68).
Nhưng phải đồng hóa với Chúa
Giêsu đến mức nào ?
Tuy không kết án những phương
pháp cổ truyền đào tạo các
Linh mục, tuy không phải là
nhà canh tân vì không bao giờ
cha có tham vọng cải tạo hàng
Giáo sĩ, nhưng cha mở một con
đường, con đường đồng hóa với
Chúa Giêsu căn cứ vào việc
tuân giữ hết sức chặt chẽ
những giới răn và khuyên dụ
của Phúc âm. Con đường này
không mới mẻ gì, nó chỉ là con
đường cũ, con đường hẹp đưa
đến phúc trường sinh. (Mt
7,14). Thời nào cũng có những
tâm hồn quảng đại bước theo
con đường ấy thì sao các linh
mục triều ại không theo con
đường ấy ? Cha nói :
« Những thầy dòng tuân giữ
những khuyên dụ của Phúc âm,
sao các linh mục triều lại
không tuân giữ ? »
(VD trang 83).
Điểm cha có ý nhấn mạnh ở đây
là các linh mục phải sống thân
mật với Chúa Giêsu hơn ai hết
kể các các tu sĩ :
« Các linh mục là những người
sống giữa đời và là những
người phải gieo rắc khắp nơi
hương thơm Chúa Giêsu, và các
ngài phải là ánh sáng lung
linh soi chiếu mọi tấm lòng.
Các tu sĩ ở trong bốn bức
tường, nhưng Linh mục thì sống
giữa dân chúng, ngài phải
thánh thiện và hoàn toàn hơn
ai hết »
(VD trang 88).
Như thế , cha không chỉ trích
con đường chung, con đường của
phần đông. Không ai đã từng
nghe cha chỉ trích một linh
mục… Cha cũng không có ý so
sánh hoặc có ý xếp hạng cho
Linh mục triều hơn Linh mục
dòng. Cha vẫn có những bạn
thân trong các tu sĩ và vị
huấn đức của cha là Cha Bruno,
Linh mục dòng thánh Phanxico.
Nhưng cho có ý nhắc nhở các
Linh mục triều rằng đường trọn
lành là đường của các ngài
cũng như của ai khác. Hơn nữa,
các ngài lại có nhiều lý do
thúc đẩy mình tiến theo con
đường ấy hơn các tu sĩ. Cha
kết luận đơn sơ rằng : « Phải
dùng ơn Chúa mà sinh lợi và
đừng đoán xét ai » (VD trang
88). Chỉ có thế, cha thân thưa
với Chúa :
« Lạy Chúa, con sẽ theo
Chúa mọi nơi Chúa đi. Con sẵn
sàng chết với Chúa. Con sẽ
biến đời con để làm vinh danh
Chúa. Con sẽ vào tù, sẽ liều
chết. Chúa là vua, là chủ, là
thày con. Lạy Chúa, nếu Chúa
cần một người nghèo khó thì có
con đây… Con đây, con sẵn lòng
làm theo ý Chúa. Con là của
Chúa »
(VD trang 89).
Đối với cha Chevrier, những
lời trên đây phát xuất không
phải do cảm xúc nhất thời,
nhưng là do chính đời sống
thấm nhuần tinh thần tận hiến.
Đời cha, cha những lo sao phô
diễn được hình ảnh đích thực
của Chúa Giêsu và tuân theo
một cách hoàn toàn tất cả
những giới luật cũng như những
khuyến dụ của Người.
THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC ?
Tông đồ đích thực là người
biết sống
Theo sự hướng dẫn của Chúa
Thánh Linh.
Một khi đã kết hợp mật thiết
với Chúa Giêsu do sự học biết,
yêu mến, và bắt chước vị Linh
mục được tham dự đầy đủ vào
chức Linh mục của Chúa Giêsu :
Ngài có thể làm công việc của
Chúa. Nhưng để làm công việc
của Chúa, Linh mục phải hoàn
toàn tùy thuộc Chúa Thánh
Linh. Ngài phải là dụng cụ
trong tay Thiên Chúa.
Vấn đề này cha Chevrier đã
đặt ra mấy công thức :
« việc Chúa thì Chúa làm chứ
không phải ta. Không phải có
tiền tài, không phải do toan
tính, cũng không phải do sự
sắp đặt của ta mà những việc
đó được thực hiện, chính Chúa
dùng một linh hồn mà hoàn
thành công cuộc của Người.
Người sử dụng một linh hồn như
ta sử dụng một đồ dùng. Người
cũng chọn những linh hồn khác
nữa rồi tập hợp lại. Rồi
mộtlúc nào thuận tiện vừa ý
Người, ơn thánh sẽ nảy nở ;
còn chúng ta, chúng ta chỉ là
những máng chuyên không hơn
không kém, bởi vì con người là
không »
(L’Esprit et les vertus trang
346-347).
Cha nói như thế là nói theo
kinh nghiệm bản thân :
« Phải để Chúa hành động, ta
hãy chỉ là dụng cụ của Chúa.
Thật thế, cái gì mà tôi đã
muốn làm lấy thì rồi ra tôi
cũng đến phải phá hủy đi »
(EV, trang 237).
Trong công cuộc tông đồ, cần
phải tùy thuộc ở Chúa Thánh
Linh. Có thế mới chắc dung hòa
được hai điểm đối lập : vừa
vâng lời tuyệt đối, vừa giữ
được tự do sáng kiến.
Cha Chevrier không phải là
người nhát gan. Thực thế, cha
dùng thời giờ cần thiết để cầu
nguyện, cân nhắc và xin ơn soi
sáng, nhưng một khi đã xác tín
rằng công cuộc định liệu do
thánh ý Chúa thì cha nhất định
hành động, không gì cản lại
được.
Đây là lối cư xử mà cha vạch
ra cho các linh mục tương lai
của cha :
« Phải
suy nghĩ nhiều, cầu nguyện
nhiều trước khi toan tính một
việc, để xét xem có phải bởi
Chúa, cho Chúa, vì vinh danh
Chúa và lợi ích các linh hồn
không. Một khi đã toan tính
xong, thì không nên ngừng lại
trước những thứ thách và đau
khổ, hoặc trước những lời dị
nghị :
Phải chiến đấu can trường với
mọi trở lực đồng thời phải
trông cậy vào Chúa ».
Vì biết tùy thuộc Chúa như thế
nên cha thoát khỏi mọi gò bó
xã hội : cha không tùy thuộc
ai hết. Cha nói :
« Nhiều người cho rằng
không thể thi hành giáo lý
phúc âm, rằng Phúc âm nói quá,
Phúc âm là ảo tưởng, là cái gì
thuộc thế giới khác. Thế nên,
nhiều người chống lại tinh
thần Chúa và đôi khi chống lại
tinh thần những vị Linh mục
thánh thiện. Người ta thích
bám lấy lối sống quen thuộc,
máy móc và tầm thường. Người
ta không ưa bị bách hại mà chỉ
mong được yên thân »
(VD.trang 200). Thế nên
cha phản kháng : « Đời
nghĩ thế nào thì nghĩ, có hệ
gì. Họ coi tôi như người điên
cũng không sao, tôi thuộc về
Chúa Giêsu. Tôi theo Người,
tôi bước theo vết Người.
Qui pie volunt vivere in
Christo Jesu persecutionem
patientur » (VD trang 81).
Cuốn « Véritable Disciple »
cho ta thấy rõ hơn giá trị
siêu nhiên và giá trị tông đồ
của đức khó khăn thật. Nó cũng
giúp ta hiểu rõ hơn rằng một
Linh Mục mà sống đời sống hoàn
toàn theo Phúc âm thì thật là
điều thích hợp. Cha Chevrier
đã biết nhìn trước vì cha biết
nhìn những điều đó trong Chúa
Giêsu, theo lối nhìn của Chúa
Giêsu.
Tuy nhiên, dù có những ý kiến
hay, thích thời, những ý tưởng
mà cha hằng cổ võ, cha cũng
không bao giờ tự tiện thực
hiện vì cha rất dễ vâng lời.
Cha muốn hoàn toàn phù hợp
với Chúa Thánh Linh và vâng
lời các đấng Bề trên vì quyền
bính các ngài đều do Chúa mà
có. Cha nói : « Ai
có Thánh Thần Chúa thì không
nói gì tự ý mình… cũng không
để m ình bị khoa học ,bị lý
luận lôi cuống, nhưng lại bằng
lòng nhận sự hướng dẫn của đức
tin và Chúa thánh Linh hành
động trong mình »
(VD trang 198). Cha còn nói :
« Chúa Giêsu và Giáo hội là
hai nền tảng mà nếu ta dựa vào
thì bước di bao giờ cũng chắc
chắn, mặc dầu có gặp những trở
ngại, những chiến đấu và bách
hại »
(Vd trang 200). Vì thế,
toan tính việc gi gcha cũng
trình bầy với Đức Tổng Giám
mục Lyon, rồi hoàn toàn phục
quyền ngài. Chẳng những cha
không muốn cưỡng ý ngài, mà
lại cha cũng không làm việc gì
mà không được ngài thỏa thuận
trước. Đay, nguyên tắc của
cha :
« Ai
làm công việc gì, dù là việc
tố tđi nữa, mà nếu khonò được
bề trên cho phép, kiểm
duyệt,ưng thuận thì sẽ chẳng
thu được lợi ích gì ».
Hẳn có người bảo : nhưng tông
đồ hăng hái mà dễ vân glời như
thế thì chắc Giáo Hội chẳng
trông lợi dụng được những điều
– trần cải tiến mà các ngài có
thế sáng nghĩ ra. Điều đó dễ
trả lời : Linh mục không phải
mang trách nhiệm về Giáo hội.
Trách nhiệm này về phần các
Giám mục là những vị đã được
Chúa Thánh Linh đặt lên cai
quản Giáo Hội Chúa (Act 20,8).
Cha Chevrier viết :
« Khi Chúa muốn sự gì, Người
biết uốn lòng đấng Bề trên ban
cho ta sự ấy trong lúc hữu
ích : phải cầu nguyện và phải
biết đợi chờ »
(VD trang 353). Vậy
không nên chiếm đoạt địa vị
của Chúa : chúng ta chỉ là
những dụng cụ. Than ôi, ta
không có đức tin đủ.
THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC ?
Tông đồ đích thực là người
biết yêu các linh hồn.
Ta không yêu các linh hồn cho
đủ vì ta khong mến Chúa đủ.
Người ta lao mình vào công
cuộc tông đồ với một lòng hăng
hái sặc mùi nhân loại. Nhất là
khi người ta còn trẻ. Người ta
không yêu đồng loại « bằng tấm
l òng của chúa Giêsu Kitô. Có
khi ghen tương, chấp vặt và có
khi chính lòng nhiệt thành vô
độ cũng xô đến làm hư hỏng tấm
lòng của vị tông đồ.thậm chí
có khi bằng một cách nào đấy,
người ta đã quên người để chỉ
lo đến việc. Những cái ngộ
nghĩnh này có lẽ cũng không
bao nhiêu nhưng rất đau lòng :
đã có những vị Giám đốc Hội
đoàn, những vị tuyên úy Phong
trào Công giáo Tiến Hành tách
biệt nhi đồng, thiếu niên,
thanh niên để cho « nó » tiến.
Nhưng chúa Giêsu không chịu
chết vì « nó » : Người đến để
tìm kiếm chiên lạc, để cúu các
tội nhân.
Cha Chevrier đã chỉ cho ta
thấy những nguy hiểm của tình
yêu tự nhiên (VD trang 218) và
cha đã chứng minh qua giáo lý
và đời sống của cha rằng lòng
yêu các linh hồn càng liên kết
với lòng mến Chúa như với
nguồn mạch và nền tảng của nó
bao nhiêu thì tình yêu ấy càng
trong sạch và mãnh liệt bấy
nhiêu.
Chúng tôi sẽ nhấn mạnh về các
ảnh hưởng mà lòng yêu các linh
hồn lĩnh nhận được khi lòng
yêu ấy bắt nguồn ở tình mến
chúa. Có lẽ có người lo rằng
tình yêu ấy không được thực tế
lắm. Đây là vài kiểu nói mạnh
mẽ của cha Chevrier sẽ giải
đáp cho họ. Cha nói với những
linh mục đầu tiên của Cha :
« Tôi đã tiêu hao cho công
việc, đến lượt anh em, anh em
cũng phải tiêu hao như thế »
(EV trang 172). Quả
thực ai mến Chúa thì cũng yêu
các linh hồn và tất nhiên là
tận tụy làm việc để đưa họ đến
hạnh phúc đời đời. Vì thế cha
không thể hiểu được rằng một
linh mục lại có thể làm mất
thì giờ :
« Linh mục , cha nói, hơn ai
hết, phải làm việc suốt ngày.
Nào chẳng phải vì Linh mục đã
không làm việc hay làm không
tử tế mà đồng ruộng Cha ta xấu
kém, mà các thợ của ta dốt nát
mà ngày nay họ đứng lên chống
đối ta đấy ư ? »
(VD trang 159).
Cha còn nói : « Nhà Chúa
cháy mà người ta cứ thản nhiên
đùa cợt. Thực đáng khóc con
cái đòi bánh mà không có ai để
bẻ bánh cho chúng »
(EV trang 158). Từ Tiểu chủng
viện cha đã tập cho các Linh
Mục tương lai của cha biết làm
việc tông đồ. Dĩ nhiên là mọi
sự đều quy về biết, yêu và
sống theo Chúa. Nhưng sống
theo Chúa thế nào được nếu
người ta không yêu các linh
hồn theo lối Chúa yêu ? Một
cựu sinh viên thấm nhuần tư
tưởng của cha đã đưa ra một
nhận xét : Sống mà không yêu
các linh hồn theo lối Chúa yêu
là lối sống vô ích và có khi
còn là một tội ác trước mặt
Chúa Giêsu là Đấng luôn luôn
tha thiết yêu các linh hồn, là
Đấng luôn luôn mời gọi chúng
ta sống theo lòng nhiệt thành
của Người (EV trang 185).
Trên đây, ta đã vạch rõ những
đặc điểm của vị tông đồ. Là
môn đệ và là bạn thân của Chúa
Kitô, vị tông đồ trở nên giống
Chúa và do sự hướng dẫn của
Chúa Thánh Linh, ngài tiêu hao
cho các linh hồn được giải
thoát. Bức họa này không hoàn
toàn, nhưng thiết tưởng cũng
đã ghi được những nét chính để
chúng ta có thể nhận thấy
rằng : đường của các Linh mục
triều khác xa đường tu của các
Linh mục dòng chuyên việc ngợi
khen Chúa trong bốn bức tường,
nó cũng khác xa đường tu của
người tín hữu. Song song với
sự kiện Chúa Kitô, ánh sáng
vinh hiển của Đức Chúa cha, đã
nghiêng mình xuống những nỗi
khốn nạn của nhân loại, đường
tu của Linh mục triều được là
nối kết và đồng hóa hai hình
thức kia. Nhưng quy hướng về
Chúa Giêsu và trong Chúa
Giêsu, nó thấy hết và muốn
thực hiện tất cả những gì Chúa
Giêsu đã thực hiện và chỉ
những gì Người đã thực hiện.
Phần tôi, lẽ sống của tôi là
Chúa Kitô.
PHƯƠNG PHÁP TÔNG ĐỒ
Quy luật của đời tông đồ linh
mục đã ghi chép rõ ràng trong
đời sống Chúa Giêsu. Linh mục
càng trở nên thứ ngã Chúa Kitô
thì càng là tông đồ hoàn hảo.
Càng in hệt phương pháp Chúa
Kitô, phương pháp tông đồ ấy
càng đem lại nhiều mỹ quả.
Chức vụ hoàn toàn siêu nhiên :
Cha Chevrier đã nhìn vào Chúa
Giêsu để tìm ra phương pháp
của Chúa, và đây là kết quả
công việc học hỏi của Cha :
« Trong việc thiết lập giáo
hội, một công cuộc lớn lao
nhất của Chúa tòan năng, một
công cuộc đẹp đẽ nhất trên
đời, Chúa không dùng một
phương thế nào bề ngoài. Người
dùng một người mà thông ban
sức sống và tinh thần của
Người cho. Người chọn mười hai
người mà uốn nắn theo nếp sống
Phúc âm. Tuy uốn nắn họ mà
Người vẫn không phải giam hãm
họ trong trại hay bắt họ bước
theo bước Người đã tập cho :
Người không lập quỹ, không
dùng âm nhạc, không dùng những
buổi hòa nhạc, những buổi diễn
kịch, chiếu bóng. Trái lại,
Người cấm họ dùng bất cứ
phương thế nào bề ngoài » (VD
trang 188). Cha còn nói :
« Nếu những cái bề ngoài này
có cần thì hẳn Chúa đã dùng.
Nhưng không, Người đã hất đi
hết » (VD trang 263).
Các tông đồ đã hiểu rõ giáo
huấn của Chúa khi các ngài
truyền chức phụ tế cho một số
người đã được tuyển lựa. Sách
Công vụ chép : « Thấy rằng săn
sóc cho những kẻ nghèo khó là
một việc quá bận
và chiếm mất nhiều thời giờ mà
theo lẽ chỉ nên dùng cho việc
thiêng liêng,
nên các ngài đã đặt các phụ tế
để săn sóc những kẻ khó nghèo,
còn các ngài thì giữ lấy cho
mình nhiệm vụ cầu nguyện,
giảng dạy và coi đó như mối
bận tâm chính và duy nhất :
Nos vero orationi et
ministerio verbi instantes
erimus » (VD trang 274)
Rồi cha đơn giản kết luận :
« Phải bỏ những việc bên ngoài
để chỉ chuyên lo việc Chúa «
(VD trang 202).
« Những việc bên ngoài » là
những việc nào ?
-Thời các tông dồ thì đó là
việc phục vụ kẻ nghèo khó,
thời cha Chevrier thì đó là
việc xây cất các thánh đường
và những hệ thống giáo dục quá
thiên về hình thức mà người ta
hết lời ca tụng và sau này là
những Hội đoàn ; ngày nay thì
những việc bên ngoài là tất cả
kỹ thuật tông đồ.
Đối với cái gì bên ngoài, cha
Chevrier tỏ ra rất nghiêm
khắc. Chẳng hạn cha nói :
« Không nên bận tâm về những
việc đời… nên để nó cho giáo
dân, các Linh mục không nên
nhúng tay vào. Nên dùng những
giáo hữu tốt để lo những công
việc như thế… (VD trang 274).
Ta nên hiểu rằng cha nói như
thế là có ý lo cho Linh mục
biết làm tròn chức vụ hoàn
toàn siêu nhiên của mình. Đàng
rằng trong thực tế không thể
hoàn toàn gác bỏ những việc
đời và ngay trong những việc
bên ngoài ta có thể phân biệt
nhiều độ khác nhau,t ừ những
việc đời đúng nghĩa (như mối
lái, xây cất nhà cửa…) cho đến
kỹ thuật tông đồ. Chính cha
trong lúc cần phải làm nhiệm
vụ không siêu nhiên và không
tìm được người giáo hữu nào
giúp đỡ thì cha cũng không
ngần ngại tra tay làm lấy.
Nhưng làm như thế chỉ vì cần
thiết cho mục đích của cha vãn
còn nguyên vẹn siêu nhiên (VD
trang 225).
Linh mục có một mối nguy hiểm
lớn là quá lo đến những việc
bên ngoai. Ngài tưởng mình đã
tận tâm làm vì ngài bận rộn
nhiều ; ngài tưởng ngài làm
nhiều vì ngài luôn luôn lo
hoàn mỹ kỹ thuật. Nhưng
thường thường càng lo đến
những việc bên ngoài thì càng
giảm bớt việc bên trong. Càng
ít lo những việc bên ngoài thì
việc ấy lại càng có căn bản
(VD trang 266). Vì động lực
phát sinh là do chính tinh
thần.
Tại sao Công giáo ngày nay một
suy sụp mặc dầu có sự tận tâm
khác thường, và mặc dầu người
ta vẫn đều đều áp dụng những
phương pháp bền ngoài thích
nghi với đời sống mới ? Tại
sao sau cái đà mạnh mẽ, sau
những thành công bề ngoài ta
vẫn thấy ngựa theo đường cũ,
và làn sóng ngoại giáo đã một
thời bịc hận đứng nay lại từ
từ dâng lên ? Tại sao người ta
đã đổi phương pháp, cải tiến
kỹ thuật mà mrồi ra mọi sự lại
vẫn như trước ? Phải chăng là
vì, như Cha Chevrier nói,
những phương thế bề ngoài
chẳng đi đến đâu ? (VD trang
188). Có nhừn người dùng những
phương thế bề ngoài để lôi
cuốn, để hoán cải tâm hồn, rồi
họ mỏi mắt trông chờ kết quả.
Nhưng họ đã lầm và đi ngược
với Phúc âm chừng nào ! (VD
trang 189).
Thế thì phải miệt thị những
phương pháp mới như Hướng đạo,
Thanh Lao Công, Hùng tâm dũng
chí sao ? Không phải thế, vì
trong những phương pháp này
chỉ cần phải phân biệt rõ ràng
tinh thần với kỹ thuật. Dưới
hình thức này hay hình thức
khác, những phương pháp đều
quy về Chúa Kitô nguồn sinh
lực độc nhất. Còn về kỹ thuật
thì chính là việc của giáo
dân. Tự nó, nó không phát sinh
hiệu lực , và dù có ích hay
chăng nữa, ích lợi ấy cũng chỉ
có thể có do Chúa Kitô mà
thôi. Muốn cho những phương
pháp này thành công thực cần
nhất là vị Linh mục, thứ -ngã
Chúa Kitô, phải chú trọng
trước hết đến đời sống siêu
nhiên, vì ngài chỉ có thể
thông sinh lực nhiều ít tùy số
lượng ngài có. Đáng chúc dữ là
công việc theo lẽ phải do giáo
dân làm thì Linh mục lại vơ
lấy mà làm một mình.
Các sinh viên của cha ở Đại
chủng viện hỏi rằng : « Có thể
dự những phiên nhóm của hội
đoàn không ? » Cha trả lời :
« Chúng ta có thể từ chối một
điều giúp làm sáng danh Chúa
và cứu rỗi các linh hồn
sao ? »… Nhưng cha cũng thêm :
« Tuy nhiên các con nên nhớ
rằng : phương thế hay nhất là
chính ta phải nên thánh, phải
đầy tinh thần Chúa đã. Nếu
Chúa Thánh Linh ở với ta, ta
sẽ thành công trong mọi công
cuộc » (Lettres trang
101-102).
Vậy đối với kỹ thuật , không
nên say mê, nhưng nên có thiện
cảm với tâm niệm luôn luôn
rằng cái cốt yếu không phải ở
đó.
Cầu nguyện và đau khổ :
Chức vụ linh mục là chức vụ
thiêng liêng. Nhưng đâu là đặc
tính của chức vụ này ? Trước
hết phải chắc chắn được Chúa
phù trợ.Không được Chúa giúp
ta không thể làm được gì. Đứng
trước một linh hồn cần phải
chinh phục, trước một trở lực
cần phải thắng vượt, Linh mục
không nên tự hỏi : « Tôi sẽ
làm gì ? Tôi sẽ nói gì ? Dùng
phương pháp nào ? » Nhưng ngài
nên thưa với Chúa :
« Lạy Chúa, con trông cậy Chúa
vì không gì mà Chúa không làm
được ».
Nhưng tin cậy mà thôi không đủ
để Chúa can thiệp, còn phải
cầu nguyện, phải dâng lễ hy
sinh. Cha Chevrier nhấn mạnh
cách riêng về hai điểm này.
Nhưng không phải cha đã lập ra
định luật hành động phải tùy
thuộc sự cầu nguyện. Sở dĩ có
định luật ấy là vì chính Chúa
Giêsu đã làm trước. Cha nhìn
vào Chúa Giêsu và cha thấy
Chúa Giêsu đã bắt đầu chức vụ
của Người bằng thời gian tĩnh
tâm suốt 40 ngày, và trong
những năm ra truyền giáo đêm
nào Người cũng cầu nguyện. Cha
còn nhận thấy rằng Chúa Giêsu
dù là tấm gương thánh thiện,
dù có tính tình hiền hòa, dù
khoan dung đại lượng với mọi
hạng người, dù nói hay giảng
khéo, dù làm được những phép
lạ hiển hách, kếu cuộc Người
đã đi đến một thất bại thảm
thương sau ba năm giảng
thuyết. Tại sao vậy ? chính
chúa Giêsu giải thích :
« Nếu hạt giống gieo xuống đất
không chết đi thì nó chỉ là
một hạt, nhưng nếu chết đi thì
nó lại sinh thêm nhiều hạt
(Gn 12,24).
Giáo huấn của cha Chevrier sẽ
là phản ảnh trung thành về
những điều cha đã nghe đã thấy
khi đọc Phúc âm. Cha viết :
« Thiên Chúa đã đặt Linh mục ở
trần gian là để ngài làm nhiệm
vụ cầu nguyện . Cầu Chúa
cho dân đó là nhiệm vụ cao cả
của Linh Mục. Khi người
ta giao chiến thì Linh mục,
chẳng khác nào Mai sen xưa ở
trên núi, ngài cầu nguyện cho
họ thắng trận ». (VD. Trang
344). Cha luôn luôn nói đến sự
cần thiết của đau khổ : « Phải
nhớ kỹ rằng chính nỗi đau
thương của Chúa đã hoán cải
thế giới, rằng đau khổ là
phương tiện cải tiến, rằng
phải mua ân sủng bằng đau khổ
và ai không chịu khó thì không
thu được gì hết ». (VD trang
479, 309-315, 469-485,
546-550).
Hoà mình vào đại chúng :
Tuy nhiên cầu nguyện và hy
sinh chưa đủ, mặc dầu nó chiếm
địa vị trọng yếu và không thể
thay thế. Cái điều cần thiết
là nhìn và nghe Chúa Giêsu.
Cha đã nhìn đã nghe thấy gì ?
Cha thấy Ngôi Hai Thiên Chúa
đã nhập thể, Người hạ mình
ngang hàng với người cùng đinh
trong xã hội, Người hòa mình
vào giữa lòng nhân loại, nơi
Người, ta thấy chỉ còn hiển
hiện có nhân tính nữa thôi.
(Phil 3,7).
Không bao giờ cha thừa nhận
rằng giữa Linh mục và quần
chúng cần thiết phải có những
giáo hữu trung gian. Xưa Chúa
Giêsu đã tiếp xúc thẳng với
bọn buôn son bán phấn và những
tội nhân, cha đã hiểu rõ rằng
cha cũng phải hạ mình xuống ma
sống cuộc đời của những người
mà cha muốn hoán cải. Trong
túp lều của hội Prado nơi
không còn gì là trưởng giả
nữa, cha sống dễ dãi với những
người thợ , và họ cũng thành
thật với cha.
Người ta biết rằng cha là
« bạn của người nghèo » (Vie
Nouvelle trang 246). Nhưng nơi
cha không có gì là tầm thường
vì chúa Giêsu không tầm
thường. Cha có « dáng oai
phong ». Cha
cha không hề nói lóng bao giờ
bởi vì cha rất kính trọng
những người thợ, mà nói lòng
như thế là không lịch sự.
Cha nhã nhặn và thân mật tiễn
đưa những người nghèo khó đến
thăm cha cũng như tiễn đưa
những vị ân nhân đã giúp đỡ
công cuộc của cha. (EV. Trang
209). Cha không uống rượu với
họ dù họ thành thực và khẩn
khoản mời. Cha không nhiễm
phải cái óc giai cấp vì Linh
mục là Linh mục của mọi người
. Nhưng cha sống như họ, cùng
chịu cảnh bấp bênh vè ngày mai
như họ, cha cảm thông nỗi kổ
cũng như niềm vui của họ. Thế
nên cha được những người nghèo
và dân thợ quen biết và yêu
mến kính chuộng. Họ sung sướng
và hiên ngang trao đổi vài lời
với cha ở ngoài phố, siết tay
cha và có khi còn sung sướng
mời cha một ly rượu – dĩ nhiên
là không bao giờ cha nhận lấy
ly rượu ấy – nhưng sự thành
thưục mời mọc này tỏ ra họ có
cảm tình với cha dường nào
(EV. Trang 207).
Làm nhẹ bớt đau thương.
Cha Chevrier ở giữa quần
chúng, sống như họ và cũng
cảm thông và khoan dung với
họ.
Chúa Giêsu đã làm như thế. Ai
nghĩ rằng quần chúng chỉ sống
cho cái bụng của họ là lầm và
sỉ nhục họ hết chỗ nói. Thường
những tấm lòng tốt lại hay nảy
nở giữa đám thợ thuyền hơn là
nơi những trưởng giả. Nhưng
pải biết lòng người. Muốn thế
phải thực tình yêu họ.
Cha Chevrier đã nói về tình
thông cảm như là nền tảng đức
ái .
« Những kẻ lãnh đạm hay thờ ơ
trước những đau thương của
những người khác thì không thể
có đức ái »
(VD trang 399). Trong cuốn
« Véritable Disciple » có dành
riêng một chương nói về việc
học tập đức hiền hoà (VD,
trang 345-354).
Nhưng tâm tình lại càng được
bảo chứng bởi việc làm. Chúa
Giêsu đã cảm thương dân chúng,
đã chữa bệnh tật cho họ, đã
cho họ ăn no nê. Cha Chevrier
cũng làm như Chúa, nhưng cha
dè dựt và kín đáo đến nỗi chỉ
sau khi cha khuất đi ta mới
biết được qua lời người thụ ân
cha kể lại :
-Cha đã tìm việc cho chồng
tôi, một chỗ cho con gái tôi.
Không có cha chúng tôi đến
chết đói. Cha đã trả tiền học
nghề cho con trai tôi, cha
thật là tử tế (VN. Trang 563).
Quy tắc của cha là : « Ta
hãy thi hành đức bác ái với
mọi người xin ta… Đừng bao giờ
chối từ giúp đỡ bất cứ ai, hãy
tự coi mình là đầy tớ mọi
người vì lòng bác ái » (VD
trang 312). Nên chú trọng đến
tiếng « Bất cứ ai ».
Bác ái đạo Công giáo không
phân biệt người tín hữu với
người ngoại đạo.
Làm việc bác ái mà không mong
những kết quả tông đồ. Giúp đỡ
vì lòng tốt chứ không phải để
được một cái gì dù là để họ
theo đạo.
Cha chúng ta ở trên trời đã
làm mưa xuống cho cả kẻ lành
người dữ » (VD trang 394, Mt
5,45).
Đời sống của vị tông đồ
Chứng minh chúa Giêsu :
Cha Chevrier nhìn ngắm Chúa
Giêsu và cha nhận thấy rằng :
Chúa Giêsu đã thực hành tất cả
những điều Người giảng dạy.
Cha cũng sẽ làm như thế : Cha
muốn dùng chính đời cha để
chứng minh Chúa Giêsu.
Thi hành đức bác ái là chứng
minh Chúa Giêsu, nhưng chưa
đủ. Đúng thế, ngoài đạo Công
giáo cũng có những sáng lạn về
đức xả kỷ vô tư.
Vậy chúng ta phải làm phép lạ
ư ? Làm phép lạ chúng ta chưa
có năng lực. Vả lại gương
phúc âm còn đấy cho ta thấy
rằng phép lạ cũng không đủ :
« dù Chúa đã làm nhiều phép lạ
trước mắt họ mà họ vẫn không
tin Người »
(Gn 12,37). Đành rằng phép lạ
có một giá trị hộ giáo không
thể chối cãi được, nhưng cũng
đòi người chứng kiến phải có
thiện chí. Các phép lạ cần
thiết để đóng ấn vào sứ mạng
Chúa Kitô và ta phải luôn luôn
thuyết minh về phép lạ có thật
và có giá trị . Nhưng ta phải
làm cho thiên hạ đến nghe ta
giảng và có thiện chí đón nhận
điều ta giảng thuyết.
Cha Chevrier trình bày một
phương pháp đã đem lại t hành
công cho Thánh Gioan Tẩy giả
trong việc thu hút quần chúng.
Phương pháp đó Thánh Phao-lô
đã dùng trong suốt đời tông đồ
của ngài :
đó là gương mẫu một đời sống
thanh bần, hy sinh và tận tụy.
Đời sống đó sẽ thể hiện Lời
Chúa nói trong Phúc âm : « Các
con là ánh sáng thế gian ».
Vậy ta phải chiếu giãi trong
thế gian ánh sáng của chúng ta
tức là gương sáng và nhân đức
của chúng ta. Ta phải thực
hành những nhân đức xung khắc
với tật xấu của đời. Đời càng
hư đốn ta càng phải dọi vào
mắt họ những tia sáng nhân đức
và lôi cuốn họ bằng chính lời
nói và nhật là bằng gương mẫu
đời sống của ta. Đời càng đua
đòi xa hoa, phù phiếm, ta càng
phải yêu mến và thực hành đức
khó nghèo. Đời càng ưa lối
sống dễ dãi ươn hèn, ta càng
phải chiếu giãi đức hy sinh
thống hối. Bác ái – Tận tâm –
Hy sinh. Đời cần phải thấy
được việc làm của ta.
-Nếu các người không tin lời
Ta nói thì hãy tin việc Ta
làm, Chúa Giêsu phán với những
ngời Do thái.
Ước mong ta cũng có thể nói
như thế và tỏ ch ộ biét việc
làm của ta để khiến họ tin và
trở lại.
Hãy xem tôi nghèo khó chừng
nào.
Hãy xem tôi đã bị đóng đinh
vào thập giá.
Hãy xem tôi lặng thinh không
kêu ca, không nói nửa lời để
anh em ăn uống tôi hco no
thỏa.
(VD trang 99)
Như thế là cha Chevrier muốn
tìm một cái gì thay thế cho
phép lạ. Cái đó chính sự thánh
thiện nơi một người đã biế trở
nên khó nghèo, khổ hạnh và nên
của ăn cho người đời. Sống
thánh thiện được ở cái đời
nhớp nhơ tội lỗi này mà không
phải là phép lạ sao ? Phép lạ
đó, cha đã đòi buộc các con
cái cha phải cố gắng thực hiện
để có thể hoàn thành công tác
đã ủy thác cho họ.
Phương pháp ấy có chung cho
công cuộc tông đồ hay chỉ dành
riêng cho một hội nào ? Ta
phải phân biệt : màu hoa thánh
thiện có thể khác nhau nơi các
Linh Mục, nhưng Linh mục nào
cũng phải chung một việc là
bắt chước Chúa Kitô cả trong
lẫn ngoài. Đức Piô XI đã long
trọng ngự phán : « Linh mục
mục phải sống thế nào để có
thể áp dụng vào mình câu nói
của thánh Phao-lô : « Anh em
hãy bắt chước tôi như tôi bắt
chước Chúa Kitô ». Phải sống
như một Chúa Kitô thứ hai,
Đấng đã soi sáng và còn soi
sáng thế giới bằng ánh nhân
đức của Người » (Ad catholici,
Ed. Bonne Presse trang 18. Xem
Giáo Luật đoạn 124).
Do đó nảy ra luật sống cho
Linh mục, luật sống mà cha
Chevrier đã để lại trong cuốn
« Véritablé Disciple » :
« Linh mục không buộc phải
khép mình vào những quy tắc
lịch sử của đời, nhưng ngài
phải làm vinh danh Thiên Chúa
trong thân xác nghĩa là phải
biểu trưng Chúa cho đời, trong
lời nói, trong việc làm, trong
ánh mắt, nói chung, trong toàn
thể con người của ta, vì
toàn thể con người của ta phải
là hiện thân Chúa Kitô » (VD,
trang 159).
Đừng gây trở ngại cho Phúc âm
Đời sống Linh mục chứng minh
Chúa Kitô, nhưng cũng có thể
làm mất ít ra một phần hiệu
lực nêu Linh Mục còn để một
hai lối xử nào khiến cho người
ta xa Chúa Kitô và ngăn cản họ
trở lại. Không đủ, nếu chỉ cố
tránh những lỗi lầm gây gương
xấu – điều bó buộc phải tránh
– một linh mục đích thực của
Chúa Kitô, ngoài ra, còn phải
tha thiết làm tiêu biến tất cả
nhừ gì ngăn cản người ta trở
lại. Đó là nguyên tắc của
thánh Phao-lô : « Chúng tôi
chịu đựng tất cả để khỏi gây
trở ngại cho Chúa Kitô » (I
Cor 9,12). Ngài cũng nói :
« Nếu ăn thịt mà nên dịp sa
ngã cho anh em tôi thì tôi sẽ
không bao giờ ăn thịt để khỏi
nên dịp cho họ sa ngã »
(I Cr 8,13).
Cha Chevrier cũng có một mối
bận tâm như thế. Sống giữa đám
thợ, cha rất quen những vấn
nạn của giới bình dân. Họ
không tin Linh Mục giữ được
đức trinh khiết. Vì thế cha
muốn phòng khách phải ghé
kính ; cha cũng không muốn cho
nữ giới giúp việc ở xứ đường
(VD trang 146). Họ không tin
các linh mục sẵn lòng hy sinh.
Vì thế cha muốn ăn uống đạm
bạc
(VD. Trang 138-147).
Cha cấm hút thuốc
(VD. Trang 146).
Họ không tin Linh mục làm việc
cách vô vị lợi. Vì thế cha
muốn được bề trên cho phép từ
chối ngoại bổng
(VD 248-290). Cha biết rõ cha
có quyền nhận, nhưng cha muốn
được phép từ chối. Cha biết
rằng linh mục mà hay yêu sách
thì hại lớn cho công việc tông
đồ.
« Những yêu sách của Linh mục
trong thánh đường, trong chức
vụ làm cho dân chúng chán ghét
và đưa họ xa Chúa và Giáo hội.
Nếu ngày nay người ta cũng đạo
đức tốt lành như giáo hữu thời
xưa thì không có gì khó khăn,
vì giáo hữu lấy làm vui sướng
được làm tròn nhiệm vụ giúp đỡ
linh mục và họ vui lòng làm
nhiệm vụ ấy khi Linh mục đã
chu toàn thánh vụ.
« Nhưng yêu sách nỗi gì với
những người khô khan, với
những người đã khinh dể Linh
mục , coi Linh mục như một
người hà tiện, một người ăn
bám… ? Yêu sách nỗi gì, với
những người chỉ đến nhà thờ ba
bốn lần vào dịp lễ cưới, rửa
tội, an táng, và với những
người, có khi vào đến nhà thờ
thì lại phải nghe chính Linh
mục thở ra những giọng kể ân
kể nghĩa ? …
« Làm thế chẳng qua là đẩy họ
xa nhà thờ và thay vì vui vẻ
từ biệt Linh mục mang theo
thiện cảm thì họ lại vừa đi
khỏi vừa nguyền rủa và gọi
ngài là « Linh mục tiền » (VD.
Trang 290).
Nói cho đúng , lập luận của
cha không đưa đến chỗ phải
triệt tiêu ngoại bổng, nhưng
chỉ đưa đến chỗ cần phải triệt
tiêu yêu sách. Triệt tiêu
những yêu sách đó là quy tắc
chung của Giáo hội. Nhưng gia
thôi hẳn đi thì thật là giản
tiện.
Nói tóm lại, những Linh mục
muốn cho công cuộc tông đồ
mình rập khôn với đời sống
tông đồ của Chúa Kitô thì phải
luôn luôn lưu ý tránh hết sức
những hành vi khiến người ta
xa Chúa.
Giảng Lời Chúa :
Bây giờ là lúc Linh mục có
thể gieo rắc lời Chúa.
« Chúng tôi coi việc giảng dạy
như là nhiệm vụ trọng đại
nhất, nhiệm vụ căn bản của
thiên chức chúng tôi »
(VD. Trang 433). Cha còn nói :
« Giảng là sứ mạng quan trọng
nhất và vượt hết mọi sứ mạng,
phải giảng rồi mới rửa tội,
phải giảng rồi mới giải tội để
hoán cải, soi sáng và giáo
hóa.
SỨ MẠNG CĂN BẢN, KHÔNG CÓ NÓ,
TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ GÌ HẾT »
(EV. Trang 426).
Làm gì thì làm, nhưng cái cốt
yếu của việc tông đồ không thể
đổi khác được. Cái cốt yếu đó,
thánh Phêrô đã vạch rõ :
« Chúng tôi sẽ hoàn toàn chú
trọng đến việc cầu nguyện và
nhiệm vụ giảng thuyết » (Act
6,4).
Có những Linh mục suốt đời chỉ
làm công việc cày bừa ruộng
Chúa. Cái đó rất tốt. Nhưng
nếu các ngài không gieo lấy
thì lấy gì mà gặt ?
Có những vị khác lại đặc biệt
chú trọng đến việc thực hành
là lo cho con chiên chịu Bí
tích, dự thánh lễ. Nhưng nếu
họ có đức tin thì tự nhiên họ
cũng thực hành những việc đó.
Nếu không vì đức tin mà làm
thì chỉ là gánh nặng, làm vì
ép tình. Mà đức tin sống vì
lời giảng.
Lại có những vị khác chỉ biết
có tác động, coi tác động là
tất cả công việc tông đồ. Đấy
còn là một cái lầm, vì tác
động sở dĩ có là để chuẩn bị
cho việc giảng dạy hoặc là để
gieo tinh thần đức tin. Cái
cốt yếu không ở tại tác động.
Sau hết, có những vị tưởng
rằng làm việc tông đồ là hướng
dẫn giáo hữu tự tìm chân lý
phải tin căn cứ vào những nhu
cầu đời sống và sách Phúc âm.
Cái đó hay hơn những phương
pháp trước. Nhưng nếu phương
pháp này có ưu điểm là kích
thích chú ý và chuẩn bị tinh
thần thì nó cũng không miễn
cho Linh mục khỏi dạy giáo lý
cách trực tiếp. Có ai đã từng
thấy thánh Phaolo chỉ chủ toạ
một lớp học tập mà không thông
truyền cho họ sự mầu nhiệm
không ? Hẳn là không. Không
một phương pháp tông đồ nào đã
được thừa nhận trong Giáo Hội
nếu phương pháp ấy không giữ
lấy việc giảng dạy, dưới hình
thức này hay hình thức khác
như là nhiệm vụ căn bản.
Nhưng không nên lầm lẫn việc
giảng dậy với bài giảng ngày
Chúa nhật. Giảng là gieo Lời
Chúa vào các linh hồn. Là Linh
mục, chúng ta phải giảng hàng
ngày
(VD. Trang 434), và chúng ta
phải giảng trong bất cứ dịp
thuận tiện nào, bất cứ nơi nào
chúng ta thấy lời giảng có thể
gây được chút ảnh hưởng (VD.
Trang 435).
Lời Chúa quan trọng như vậy
nên phải liệu cho mọi người có
thể nghe biết. Cha trối lại
cho con cái cha những lời
này :
« Nếu có thể chúng ta sẽ đi
dạy giáo lý trong các thôn xóm
để đưa về cho Chúa những người
xa chúng ta. Như thế là bắt
chước các tông đồ đã giảng
« công khai và từng nhà » (VD.
Trang 508).
Qua mấy trang trên đây chúng
ta đã nắm được cái cốt yếu của
việc tông đồ : cầu nguyện và
hy sinh để kéo ơn Chúa xuống ;
hòa mình vào đại chúng và làm
nhẹ bớt nỗi đau thương của
họ ; lấy đời sống biểu trưng
Chúa Kitô ; cất những trở ngại
làm tắc nghẽn Lời Chúa. Sau
hết trên mảnh đấy đã dọn sẵn
và phì nhiêu vì ân sủng này ta
hãy gieo Lời Chúa. Những gì
khác chỉ là tùy tòng.
Thấy giáo dân sa sút, nhiều vị
Linh mục nhiệt tâm muốn nâng
cao tinh thần họ, nên hăm hở
áp dụng nhiều phương pháp tông
đồ hoặc do sáng kiến của các
ngài, hoặc do sáng kiến của
những Linh mục khác. Điều đó
rất tốt. Nhưng ta cũng nên
ngừng lại một đôi khi để nhận
định xem còn đứng vững trong
điều cốt yếu của việc tông đồ
hay đã đi ra ngoài lề.
Nếu ta quá chú trọng đến việc
xây cất những thánh đường lộng
lẫy nguy nga ta nên lưu ý lời
cha Chevrier :
« Hãy đặt một linh mục thánh
trong một nhà thờ gỗ bốn bề
lộng gió, ngài sẽ lôi cuốn và
hoán cải nhiều người hơn là
Linh mục tầm thường trong một
nhà thờ bằng vàng. Ngày nay
người ta chú trọng đến việc
làm nhà thờ cho đẹp hơn là
việc làm cho giáo hữu nên
thánh. Chỉ vì làm nhà thờ đẹp
thì dễ hơn làm cho giáo hữu
trở nên thánh »
(VD. Trang 254).
Vả lại chính các vị sáng lập
các phong trào đạo đức, các
hội đoàn hưng giáo đều nhấn
mạnh vào sự cần thiết phải lấy
đời sống thấm nhuần tinh thần
Phúc âm làm hồn cho mọi kỹ
thuật tông đồ. Vậy mà nhiều
khi trong thực hành , người ta
đã hy sinh rất nhiều cho kỹ
thuật mà quên lãng cái cốt
yếu, khiến cho giáo hữu nhiều
khi phải phàn nàn vì không tìm
được nơi các Linh mục sức sống
cần thiết cho họ. Cho nên, là
Linh mục ,
chúng ta hãy thật là chuyên
viên về phương diện siêu
nhiêu.
Để kế tluận, chúng tôi xin
dùng chính lời Cha Chevrier :
« Vậy ta đừng quá chú trọng
vào những việc bên ngoài. Hãy
lợi dụng nó nhưng đừng mặc cho
nó một tính cách quan trọng.
Đừng lấy tùy làm chính, lấy
gạch đã làm nhân đức, lấy
những đồ trang hoàn (kỹ thuật)
làm hơn sự thánh thiện » (VD.
Trang 265).
Martha, Martha, sollicita es
est turbaris erga plurima !
Thư Viện Đ.C.
Đánh Máy lại, Phục Sinh 2009
Trao tặng các LM Việtnam…
