SỨ
ĐIỆP
CỦA
ĐỨC
THÁNH
CHA
BÊNÊĐICTÔ
XVI
CHO
VIỆC
CỬ
HÀNH
NGÀY
THẾ
GIỚI
HOÀ
BÌNH
1
THÁNG
GIÊNG
2007
NHÂN
VỊ,
TRỌNG
TÂM
CỦA
HOÀ
BÌNH
1.Vào
đầu
năm
mới,
tôi
xin
gửi
đến
các
giới
chức
Chính
Quyền,
những
nhà
lãnh
đạo
các
quốc
gia
cũng
như
mọi
người
nam
nữ
thiện
chí
lời
cầu
chúc
hoà
bình
của
tôi.
Đặc
biệt,
tôi
gửi
lời
cầu
chúc
hoà
bình
đến
tất
cả
những
ai
đang
phải
chịu
đau
khổ,
những
người
đang
sống
dưới
sự
đe
doạ
của
bạo
lực
và
hân
thù
vũ
trang,
cũng
như
những
người
mà
nhân
phẩm
của
họ
bị
chà
đạp,
đang
chờ
đợi
sự
giải
phóng
con
người
và
xã
hội.
Tôi
cầu
chúc
hoà
bình
cho
các
trẻ
em,
những
con
người
ngây
thơ
vô
tội;
các
em
làm
cho
nhân
loại
thêm
phong
phú
bằng
sự
tốt
lành
và
niềm
hi
vọng,
nhưng
cũng
là
những
người
phải
chịu
biết
bao
đau
khổ,
thôi
thúc
tất
cả
chúng
ta
hành
động
cho
công
lí
và
hoà
bình.
Vì
quan
tâm
đến
các
trẻ
em,
nhất
là
những
em
mà
tương
lai
bị
tổn
thương
do
sự
khai
thác
và
do
lòng
độc
ác
của
những
người
lớn
vô
lương
tâm,
tôi
mong
ước
ngày
Thế
Giới
Hoà
Bình
này
thúc
giục
mọi
người
suy
tư
về
chủ
đề:
Nhân
vị,
Trọng
Tâm
của
Hoà
Bình.
Tôi
xác
tín
rằng
sự
tôn
trọng
con
người
sẽ
phát
triển
hoà
bình,
và
khi
xây
dựng
hoà
bình
thì
những
nền
tảng
được
đặt
trên
một
học
thuyết
nhân
bản
toàn
diện
đích
thực.
Như
vậy
là
chuẩn
bị
cho
những
thế
hệ
nối
tiếp
một
tương
lai
an
bình.
Nhân
vị
và
hoà
bình:
ơn
ban
và
trách
nhiệm
2.
Sách
Thánh
xác
quyết
rằng
“Thiên
Chúa
tạo
dựng
con
người
theo
hình
ảnh
mình,
theo
hình
ảnh
Thiên
Chúa,
Người
tạo
dựng
họ;
Người
tạo
dựng
họ
có
nam
có
nữ
”(St
1,
27).
Được
tạo
dựng
theo
hình
ảnh
Thiên
Chúa,
mỗi
người
đều
có
phẩm
giá
của
một
nhân
vị;
họ
không
chỉ
là
một
vật
thể,
mà
còn
là
một
con
người,
có
khả
năng
ý
thức,
tự
quy,
tự
do
trao
hiến
và
đi
vào
hiệp
thông
với
tha
nhân.
Đồng
thời,
nhờ
ân
sủng
mỗi
người
được
mời
gọi
kết
ước
với
Đấng
Tạo
Hoá,
được
mời
gọi
trao
hiến
cho
Người
một
sự
đáp
trả
bằng
đức
tin
và
tình
yêu
mà
không
một
thụ
tạo
nào
khác
có
thể
trao
ban
thay
thế
họ
(1).
Từ
cái
nhìn
siêu
nhiên
này,
mỗi
người
có
thể
hiểu
rõ
trách
nhiệm
được
kí
thác
cho
loài
người
là
lớn
lên
trong
khả
năng
yêu
thương
và
góp
phần
vào
việc
phát
triển
thế
giới,
đổi
mới
nó
trong
công
lí
và
hoà
bình.
Trong
một
câu
súc
tích
tuyệt
vời,
Thánh
Augustinô
dạy
rằng
“Thiên
Chúa
tạo
dựng
chúng
ta,
Người
không
cần
sự
cộng
tác
của
chúng
ta;
nhưng
Người
không
thể
cứu
chuộc
chúng
ta
nếu
không
có
sự
hợp
tác
của
chúng
ta
(2).”
Do
đó
mọi
người
đều
có
bổn
phận
phải
vun
trồng
ý
thức
lưỡng
diện
về
ơn
ban
và
trách
nhiệm.
3.
Cũng
vậy,
hoà
bình
vừa
là
ơn
ban
vừa
là
trách
nhiệm.
Nếu
sự
thật
là
hoà
bình
giữa
cá
nhân
và
mọi
ngừơi-
khả
năng
sống
chung
và
xây
dựng
những
tương
quan
công
bình
và
liên
đới-
đòi
hỏi
một
sự
dấn
thân
liên
lỉ
về
phía
chúng
ta,
thì
cũng
vậy,
và
còn
hơn
thế,
hoà
bình
là
một
ân
huệ
của
Thiên
Chúa.
Hoà
bình
là
một
hình
thái
hoạt
động
của
Thiên
Chúa
vừa
biểu
lộ
trong
việc
tạo
dựng
một
vũ
trụ
hài
hoà
và
trật
tự
cũng
như
trong
việc
cứu
chuộc
loài
người,
nghĩa
là
cần
phải
được
giải
thoát
khỏi
tình
trạng
hỗn
loạn
của
tội
lỗi.
Như
vậy
Tạo
Dựng
và
Cứu
Chuộc
là
những
mật
khoá
giúp
chúng
ta
hiểu
ra
ý
nghĩa
cuộc
sống
của
chúng
ta
trên
trần
gian.
Vị
tiền
nhiệm
đáng
kính
của
tôi,
Đức
Gioan
Phaolô
II,
khi
phát
biểu
tại
Đại
Hội
Đồng
Liên
Hợp
Quốc
vào
ngày
5
tháng
Mười
năm
1995,
nói
rằng
“chúng
ta
không
sống
trong
một
thế
giới
phi
lí
và
vô
nghĩa…có
một
trật
tự
luân
lí
được
thiết
định
trong
đời
sông
con
người
tạo
nên
một
cuộc
đối
thoại
khả
dĩ
giữa
cá
nhân
và
mọi
người
(3).”
“Ngữ
pháp”
siêu
việt,
nghĩa
là
một
tổng
hợp
các
quy
tắc
cho
hành
vi
cá
nhân
cũng
như
cho
những
tương
quan
hỗ
tương
giữa
con
người
hợp
theo
công
bình
và
liên
đới,
đã
được
ghi
tạc
vào
lương
tâm
con
người,
nơi
đó
phản
ánh
kế
hoạch
khôn
ngoan
của
Thiên
Chúa.
Như
mới
đây
tôi
đã
có
dịp
tái
khẳng
định:
“Chúng
ta
tin
rằng
từ
khởi
nguyên
mọi
sự,
Ngôi
Lời
Hằng
Hữu
là
Lí
Trí
chứ
không
phải
là
Phi
Lí
(4)”.
Như
vậy,
hoà
bình
cũng
là
một
trách
nhiệm
đòi
hỏi
mọi
người
một
sự
đáp
trả
cá
nhân,
phù
hợp
với
chương
trình
của
Thiên
Chúa.
Tiêu
chuẩn
thúc
đẩy
sự
đáp
trả
này
chỉ
có
thể
là
sự
tôn
trọng
đối
với
“ngữ
pháp”
đã
được
Đấng
Tạo
Dựng
ghi
tạc
vào
tâm
khảm
con
người.
Từ
quan
điểm
này,
những
quy
tắc
về
luật
tự
nhiên
không
được
coi
như
những
chỉ
thị
áp
đặt
từ
bên
ngoài,
như
những
hạn
chế
đối
với
tự
do
con
người.
Đúng
hơn,
chúng
phải
được
đón
nhận
như
một
lời
mời
gọi
để
thực
hiện
một
cách
trung
thành
kế
hoạch
phổ
quát
của
Thiên
Chúa
đã
được
ghi
khắc
vào
trong
bản
tính
của
con
người.
Được
các
quy
tắc
này
hướng
dẫn,
mọi
người-
trong
nền
văn
hoá
đặc
thù
của
mình-
có
thể
tiến
đến
gần
mầu
nhiệm
cao
cả
nhất,
là
mầu
nhiệm
Thiên
Chúa.
Ngày
nay
cũng
vậy,
sự
nhận
biết
và
tôn
trọng
luật
tự
nhiên
được
đặt
làm
nền
tảng
cho
một
cuộc
đối
thoại
giữa
những
tín
đồ
của
những
tôn
giáo
khác
nhau
cũng
như
giữa
những
tín
hữu
và
những
người
không
tin.
Đó
là
một
điểm
hội
ngộ
chung,
và
đó
cũng
là
điều
giả
định
căn
bản
cho
nền
hoà
bình
đích
thực.
Quyền
sống
và
quyền
tự
do
tôn
giáo
4.
Bổn
phận
tôn
trọng
phẩm
giá
mỗi
người,
mà
nơi
bản
tính
của
họ
phản
chiếu
hình
ảnh
Thiên
Chúa,
mặc
nhiên
có
nghĩa
là
con
người
không
thể
tự
ý
định
đoạt
cho
mình.
Những
người
được
hưởng
nhiều
quyền
hạn
hơn
về
chính
trị,
kĩ
thuật,
hoặc
kinh
tế
không
nên
dùng
khả
năng
ấy
mà
xâm
phạm
quyền
của
những
người
kém
may
mắn
hơn.
Hoà
bình
được
đặt
trên
sự
tôn
trọng
quyền
của
mọi
người.
Ý
thức
điều
đó,
Giáo
Hội
bảo
vệ
những
quyền
căn
bản
của
mỗi
người.
Đặc
biệt
Giáo
Hội
đề
cao
và
bảo
vệ
việc
tôn
trọng
sự
sống
và
sự
tự
do
tôn
giáo
của
mọi
người.
Tôn
trọng
quyền
sự
sống
trong
mỗi
giai
đoạn
chắc
chắn
chứng
thực
một
nguyên
lí
có
tầm
quan
trọng
quyết
định:
sự
sống
là
một
hồng
ân;
chủ
thể
không
được
toàn
quyền
định
đoạt.
Một
cách
tương
tự,
khẳng
định
quyền
tự
do
tôn
giáo
đặt
con
người
vào
trong
tương
quan
với
một
Nguyên
Lí
siêu
việt,
đưa
con
người
ra
khỏi
sự
chuyên
chế
của
chính
con
người.
Quyền
sự
sống
và
sự
tự
do
diễn
đạt
niềm
tin
riêng
của
mình
vào
Thiên
Chúa
không
lệ
thuộc
vào
quyền
hành
của
con
người.
Hoà
bình
đòi
hỏi
sự
thiết
lập
một
ranh
giới
minh
thị
giữa
những
gì
do
con
người
có
quyền
định
đoạt
và
những
gì
không
thuộc
quyền
ấy:
như
thế
người
ta
có
thể
tránh
được
những
xâm
phạm
không
đáng
có
đối
với
di
sản
thuộc
về
giá
trị
con
người.
5.
Liên
quan
đến
quyền
sự
sống,
chúng
ta
phải
tố
cáo
sự
xâm
hại
đang
lan
rộng
trong
xã
hội
chúng
ta:
ngoài
những
nạn
nhân
do
các
cuộc
xung
đột
vũ
trang,
do
chủ
nghĩa
khủng
bố
và
những
hình
thức
bạo
lực
khác
nhau,
còn
có
những
cái
chết
âm
thầm
do
đói
nghèo,
phá
thai,
thử
nghiệm
phôi
người
và
chết
êm
dịu.
Làm
sao
chúng
ta
lại
không
nhận
ra
sự
tấn
công
vào
hoà
bình
trong
tất
cả
những
điều
ấy?
Phá
thai
và
thử
nghiệm
phôi
người
là
sự
phủ
nhận
trực
tiếp
thái
độ
đón
nhận
người
khác,
vốn
không
thể
thiếu
được
trong
việc
thiết
lập
những
tương
quan
hoà
bình
lâu
dài.
Liên
quan
đến
sự
tự
do
bày
tỏ
niềm
tin
cá
nhân,
một
triệu
chứng
bất
ổn
khác
về
sự
thiếu
vắng
hoà
bình
trong
thế
giới
được
biểu
tỏ
qua
những
khó
khăn
mà
cả
những
Kitô
hữu
cũng
như
tín
đồ
của
các
tôn
giáo
khác
thường
xuyên
gặp
phải
trong
việc
công
khai
và
tự
do
tuyên
xưng
những
xác
tín
tôn
giáo
của
mình.
Nói
riêng
về
các
Kitô
hữu,
tôi
phải
đau
lòng
chỉ
ra
rằng
không
phải
chỉ
đôi
khi
họ
bị
ngăn
cấm
làm
điều
đó;
trong
một
số
quốc
gia
họ
bị
bách
hại
thật
sự,
và
những
trường
hợp
bi
thảm
về
bạo
lực
dã
man
mới
đây
vẫn
còn
được
ghi
nhận.
Có
những
chính
thể
áp
đặt
một
tôn
giáo
duy
nhất
cho
mọi
người.
Dẫu
thường
không
tiến
hành
những
sự
bách
hại
gắt
gao
dữ
dội,
các
chính
thể
trần
tục
này
lại
thực
hiện
sự
lăng
mạ
có
tính
cách
hệ
thống
và
mang
tính
văn
hoá
đối
với
những
niềm
tin
tôn
giáo.
Trong
mọi
trường
hợp,
quyền
căn
bản
của
con
người
không
được
tôn
trọng
tạo
nên
sự
phản
dội
nghiêm
trọng
cho
sự
chung
sống
hoà
bình.
Điều
này
chỉ
làm
mạnh
thêm
cho
một
tâm
thức
và
văn
hoá
tiêu
cực
đối
với
hoà
bình.
Sự
bình
đẳng
thiên
bẩm
giữa
mọi
người
6.
Cội
nguồn
của
nhiều
căng
thẳng
đe
dọa
hoà
bình
chắc
chắn
là
vô
số
những
bất
bình
đẳng
phi
lí
vẫn
còn
tồn
tại
một
cách
bi
thảm
trong
thế
giới
chúng
ta.
Đặc
biệt
khó
khăn
trong
số
này,
một
mặt
là
sự
bất
bình
đẳng
trong
việc
tiếp
cận
những
của
cải
căn
bản
như
thực
phẩm,
nước
sạch,
nhà
ở,
sức
khoẻ;
mặt
khác
có
những
bất
bình
đẳng
cố
hữu
giữa
người
nam
và
người
nữ
trong
việc
thực
hiện
những
quyền
con
người
căn
bản.
Yếu
tố
nền
tảng
để
xây
dựng
hoà
bình
là
nhìn
nhận
sự
bình
đẳng
thiết
yếu
giữa
mọi
người
xuất
phát
từ
phẩm
giá
siêu
việt
chung.
Bình
đẳng
trong
tầm
mức
này
là
một
sự
thiện
hảo
thuộc
về
mọi
người,
được
ghi
khắc
trong
“ngữ
pháp”
tự
nhiên,
có
thể
suy
ra
từ
chương
trình
tạo
dựng
của
Thiên
Chúa;
một
sự
thiện
hảo
không
thể
làm
ngơ
hoặc
khinh
miệt
mà
không
gây
ra
những
phản
dội
nghiêm
trọng,
đặt
hoà
bình
vào
mối
hiểm
hoạ.
Sự
tước
đoạt
cực
kì
nghiêm
trọng
tác
hại
đến
nhiều
dân
tộc,
nhất
là
tại
Châu
Phi,
là
nguồn
gốc
của
những
phản
ứng
bạo
động,
và
vì
thế,
tạo
nên
một
vết
thương
tồi
tệ
cho
hoà
bình.
7.
Một
cách
tương
tự,
sự
thiếu
tôn
trọng
thỏa
đáng
đối
với
thân
phận
người
phụ
nữ
tạo
nên
sự
bất
ổn
trong
cơ
cấu
xã
hội.
Tôi
liên
tưởng
đến
việc
khai
thác
những
người
phụ
nữ,
bị
coi
như
những
đồ
vật
và
nhiều
hình
thức
khai
thác
khác
tỏ
rõ
sự
thiếu
kính
trọng
đối
với
phẩm
giá
của
họ;
tôi
cũng
nghĩ
tới
–
trong
một
bối
cảnh
khác-
về
tâm
thức
cố
hữu
trong
một
số
nền
văn
hoá,
nơi
mà
phụ
nữ
vẫn
còn
phải
lụy
phục
một
cách
bất
suy
chuyển
vào
những
quyết
định
độc
đoán
của
đàn
ông,
tạo
nên
những
hệ
qủa
nghiêm
trọng
đối
với
phẩm
giá
cá
nhân
của
họ
cũng
như
cho
việc
thực
hiện
những
quyền
tự
do
căn
bản.
Người
ta
không
thể
xây
dựng
ảo
tưởng
về
một
nền
hoà
bình
vững
chắc
khi
nào
những
hình
thái
đối
xử
phân
biệt
này
chưa
bị
loại
bỏ,
bởi
vì
chúng
làm
tổn
hại
đến
nhân
phẩm
mà
Đấng
Tạo
Hoá
đã
đóng
ấn
trên
mỗi
người
(5).
“Môi
trường
sinh
thái
của
hoà
bình”
8.
Trong
Thông
điệp
Bách
Chu
Niên
-
Centesimus
Annus,
Đức
Gioan
Phaolô
II
viết:
“Thiên
Chúa
không
chỉ
ban
cho
con
ngừơi
trái
đất
để
họ
sử
dụng
trong
sự
tuân
thủ
mục
đích
tốt
đẹp
nguyên
thủy
như
nó
được
trao
ban
cho
họ,
nhưng
con
người
cũng
là
ân
huệ
mà
Thiên
Chúa
ban
cho
chính
con
người.
Do
đó
họ
phải
tôn
trọng
trật
tự
tự
nhiên
và
luân
lí
mà
họ
được
phú
bẩm
(6)”.
Đáp
lại
huấn
lệnh
được
Đấng
Tạo
Hoá
ủy
thác
cho
họ,
những
người
nam
nữ
có
thể
liên
kết
với
nhau
trong
việc
kiến
tạo
một
thế
giới
hoà
bình.
Bên
cạnh
môi
trường
sinh
thái
thiên
nhiên
còn
tồn
tại
một
thế
giới
được
gọi
là
môi
trường
sinh
thái
“nhân
sinh”,
và
rốt
cuộc,
lại
cũng
cần
đến
một
môi
trường
sinh
thái
“xã
hội”.
Sự
thể
này
có
nghĩa
là
nếu
nhân
loại
thật
sự
mong
muốn
hoà
bình
họ
phải
không
ngừng
ý
thức
mối
liên
hệ
giữa
môi
trường
sinh
thái
tự
nhiên,
hay
việc
tôn
trọng
thiên
nhiên,
và
môi
trường
sinh
thái
của
con
người.
Kinh
nghiệm
cho
thấy
rằng
thái
độ
bất
ý
đối
với
môi
trường
sinh
thái
luôn
tác
hại
đến
sự
tồn
sinh
của
con
người,
và
ngược
lại.
Càng
hiển
nhiên
hơn
nữa
trong
tương
quan
giữa
hoà
bình
với
tạo
vật
và
hoà
bình
giữa
con
người.
Cả
hai
mối
tương
quan
này
phải
đi
trước
hoà
bình
với
Thiên
Chúa.
Bài
thơ
kinh
của
Thánh
Phanxicô,
được
đặt
là
“Khúc
ca
Mặt
Trời”,
là
một
mẫu
mực
tuyệt
vời
và
luôn
hợp
thời
về
môi
trường
sinh
thái
đa
diện
của
hoà
bình.
9.
Mối
liên
hệ
khắng
khít
giữa
hai
loại
hình
môi
trường
sinh
thái
này
có
thể
được
hiểu
rõ
hơn
từ
vấn
đề
cung
cấp
năng
lượng.
Trong
những
năm
gần
đây
nhiều
quốc
gia
mới
khởi
phát
năng
nổ
tiến
vào
việc
sản
xuất
công
nghiệp,
vì
vậy
nhu
cầu
năng
lượng
tăng
cao.
Điều
này
dẫn
đến
một
cuộc
chạy
đua
chưa
từng
thấy
trong
việc
dành
nguồn
năng
lượng.
Tuy
nhiên,
một
số
nơi
trên
hành
tinh
này
vẫn
còn
lạc
hậu
và
sự
phát
triển
thật
sự
bị
bế
tắc,
một
phần
là
do
giá
năng
lượng
biến
tăng.
Điều
gì
sẽ
xảy
ra
cho
các
dân
tộc
đó?
Những
mô
hình
phát
triển
hay
không
phát
triển
nào
sẽ
áp
đặt
trên
họ
do
khan
hiếm
nguồn
cung
cấp
năng
lượng?
Những
sự
bất
công
nào
và
những
cuộc
xung
đột
nào
sẽ
tạo
phát
do
việc
chạy
đua
tìm
nguồn
năng
lượng?
Và
những
phản
ứng
nào
sẽ
xảy
ra
đối
với
những
người
bị
loại
khỏi
cuộc
chạy
đua
này?
Đây
là
những
vấn
nạn
cho
thấy
rõ
việc
tôn
trọng
thiên
nhiên
gắn
chặt
với
nhu
cầu
phải
thiết
lập
những
mối
tương
quan,
giữa
các
cá
nhân
với
nhau
cũng
như
giữa
các
quốc
gia,
biết
chú
tâm
đến
phẩm
giá
con
người
đồng
thời
có
khả
năng
giải
quyết
các
nhu
cầu
chính
đáng
của
họ.
Triệt
hủy
môi
trường,
sử
dụng
ích
kỉ
hoặc
không
thích
đáng,
cưỡng
chiếm
nguồn
năng
lượng
trái
đất
sẽ
gây
ra
những
mối
rạn
nứt,
những
xung
đột
và
những
cuộc
chiến
tranh,
chính
do
bởi
chúng
là
hệ
qủa
của
một
quan
niệm
vô
nhân
đạo
về
phát
triển.
Qủa
thật,
nếu
việc
phát
triển
chỉ
giới
hạn
vào
khía
cạnh
kĩ
thuật-
kinh
tế
mà
bỏ
qua
chiều
kích
tôn
giáo
và
đạo
lí
thì
nó
không
còn
phải
là
sự
phát
triển
con
người
toàn
diện,
nhưng
chính
sự
méo
mó
lệch
diện
ấy
kết
cục
sẽ
làm
phát
sinh
những
khả
năng
hủy
diệt
con
người.
Những
cái
nhìn
hạn
hẹp
về
con
người
10.
Do
đó,
một
nhu
cầu
khẩn
thiết
nảy
sinh,
dẫu
còn
đan
xen
biết
bao
những
khó
khăn
và
căng
thẳng
quốc
tế
hiện
nay,
về
một
sự
dấn
thân
để
kiến
tạo
một
môi
trường
sinh
thái
nhân
văn
tạo
thuận
lợi
cho
sự
tăng
triển
của
“cây
hoà
bình”
.
Để
điều
này
xảy
ra,
chúng
ta
phải
được
hướng
dẫn
bởi
một
hướng
nhìn
về
con
người
không
bị
vấy
bẩn
vì
những
định
kiến
ý
thức
hệ
và
văn
hoá,
hoặc
vì
những
nguồn
lợi
về
chính
trị
và
kinh
tế
vốn
có
thể
dẫn
đến
thù
hận
và
bạo
lực.
Người
ta
có
thể
hiểu
rằng
những
quan
điểm
về
con
người
có
thể
biến
đổi
theo
từng
nền
văn
hóa
khác
nhau.
Tuy
nhiên
điều
không
thể
nào
chấp
nhận
được
đó
là
việc
truyền
thụ
những
khái
niệm
nhân
loại
học
chất
chứa
những
hạt
mầm
của
thù
oán
và
bạo
lực.
Cũng
không
thể
nào
chấp
được
những
khái
niệm
về
Thượng
Đế
cổ
vũ
thái
độ
bất
khoan
dung
và
bảo
trợ
cho
bạo
lực
chống
lại
người
khác.
Đây
là
một
chuẩn
điểm
cần
phải
được
tái
khẳng
định
một
cách
minh
thị:
chiến
tranh
nhân
danh
Thượng
Đế
thì
không
bao
giờ
có
thể
chấp
nhận
được!
Khi
một
ý
niệm
nào
đó
về
Thượng
Đế
là
cội
nguồn
phát
sinh
những
hành
vi
tội
phạm
thì
đó
là
một
dấu
chứng
cho
thấy
rằng
ý
niệm
ấy
đã
trở
thành
một
ý
thức
hệ.
11.
Tuy
nhiên,
hôm
nay
hoà
bình
không
chỉ
bị
đe
doạ
bởi
sự
xung
đột
giữa
những
quan
điểm
giản
lược
về
con
người,
nói
cách
khác,
giữa
những
ý
thức
hệ
khác
nhau.
Nó
cũng
còn
bị
đe
dọa
bởi
thái
độ
dửng
dưng
đối
với
điều
tạo
nên
bản
tính
đích
thực
của
con
người.
Nhiều
người
thời
nay
đúng
thực
là
đã
chối
bỏ
sự
hiện
hữu
của
một
bản
tính
nhân
loại
đặc
thù,
và
như
vậy
họ
mở
cửa
đón
nhận
những
lí
giải
kì
quái
nhất
về
những
gì
thiết
yếu
tạo
nên
hữu
thể
con
người.
Ở
đây
cũng
cần
phải
minh
định
thêm:
một
quan
điểm
“khiếm
khuyết”
nào
đó
về
con
người
sẽ
nhường
chỗ
cho
bất
cứ
quan
niệm
nào
nảy
sinh,
cho
dẫu
có
kì
lạ
nhất,
thì
chỉ
hướng
về
hoà
bình
một
cách
giả
dối.
Thực
tế,
nó
cản
trở
sự
đối
thoại
chân
chính
và
mở
đường
cho
những
áp
chế
bá
quyền,
cuối
cùng
bỏ
mặc
con
người
vô
phương
tự
vệ,
và
như
một
hậu
kết,
dễ
trở
thành
mồi
ngon
cho
áp
bức
và
bạo
lực.
Nhân
quyền
và
những
tổ
chức
quốc
tế
12.
Một
nền
hoà
bình
đích
thực
và
bền
vững
đòi
phải
có
sự
tôn
trọng
những
quyền
con
người.
Tuy
nhiên
nếu
những
quyền
này
lại
đặt
nền
tảng
trên
một
quan
niệm
bất
túc
về
con
người,
thì
làm
sao
chính
chúng
lại
không
tỏ
ra
yếu
kém?
Ở
đây
chúng
ta
có
thể
nhận
thấy
quan
niệm
của
học
thuyết
tương
đối
về
nhân
vị
tỏ
ra
thiếu
sót
nặng
nề
như
thế
nào
khi
nó
biện
minh
và
bảo
vệ
những
quyền
của
nó.
Khó
khăn
trong
trường
hợp
này
là
hiển
nhiên:
những
quyền
đưa
ra
là
tuyệt
đối,
còn
cái
nền
đặt
lên
làm
điểm
tựa
lại
chỉ
là
tương
đối.
Chúng
ta
có
thể
tự
hỏi,
khi
gặp
phải
những
đòi
hỏi
“phiền
toái”
đặt
ra
bởi
những
quyền
này
quyền
nọ,
thì
người
ta
sẽ
tiếp
tục
tìm
hiểu
để
tiến
hành
hay
người
ta
sẽ
quyết
định
gạt
bỏ?
Nếu
được
đăt
trên
những
đòi
hỏi
khách
quan
về
một
bản
tính
đã
được
Đấng
Tạo
Hoá
phú
ban
cho
con
người,
thì
những
quyền
thuộc
về
họ
có
thể
được
khẳng
định
mà
không
lo
sợ
là
mâu
thuẫn.
Vả
lại,
không
cần
phải
lặp
lại
rằng
quyền
lợi
cũng
bao
hàm
những
bổn
phận
tương
ứng.
Về
vấn
đề
này,
ông
Mahatma
Gandhi
đã
phát
biểu
thật
chí
lí:
“Nếu
được
một
Sông
Hằng
quyền
lợi
thì
cũng
có
một
núi
Hi
Mã
Lạp
Sơn
bổn
phận.”
Chỉ
khi
nào
những
tiền
đề
căn
bản
này
được
làm
sáng
tỏ
thì
những
quyền
con
người,
mà
ngày
nay
thường
xuyên
bị
xâm
phạm,
mới
được
bảo
vệ
một
cách
thoả
đáng.
Nếu
không
được
soi
rọi
như
thế
thì
những
lời
lẽ
“quyền
con
người”
rốt
cuộc
sẽ
được
quan
niệm
bằng
những
chủ
đề
rất
khác
biệt
nhau:
đối
với
một
số
người,
nhân
vị
đã
được
ghi
ấn
bằng
phẩm
giá
bất
biến
và
những
quyền
của
họ
là
luôn
luôn
hợp
pháp,
ở
mọi
nơi
và
cho
mọi
người;
còn
đối
với
những
người
khác
nhân
vị
chỉ
có
một
phẩm
giá
khả
biến,
và
những
quyền
của
họ
chỉ
là
tùy
biến,
vì
còn
liên
quan
đến
nội
dung,
thời
gian
và
không
gian.
13.
Bảo
vệ
nhân
quyền
thường
liên
quan
đến
các
tổ
chức
quốc
tế,
đặc
biệt
là
Liên
Hợp
Quốc,
tổ
chức
tự
đặt
cho
mình
trách
nhiệm
chủ
yếu
là
xúc
tiến
thực
thi
các
quyền
con
người
được
ghi
trong
Bản
Tuyên
Ngôn
Nhân
Quyền
năm
1948.
Bản
Tuyên
Ngôn
ấy
được
coi
như
một
hình
thức
cam
kết
đạo
lí
đề
ra
cho
toàn
thể
nhân
loại.
Điều
này
bao
hàm
một
sự
thật
sâu
xa,
nhất
là
khi
những
quyền
ghi
trong
Bản
Tuyên
Ngôn
đó
được
tuân
thủ
để
làm
nền
tảng
không
chỉ
cho
những
nghị
quyết
được
đại
hội
đồng
thông
qua,
nhưng
còn
cho
chính
bản
tính
con
người
và
phẩm
giá
bất
khả
xâm
phạm
của
họ
về
một
nhân
vị
đã
được
Thiên
Chúa
tạo
dựng.
Do
đó,
điều
quan
trọng
là
các
cơ
quan
quốc
tế
đừng
đánh
mất
tầm
nhìn
về
nền
tảng
tự
nhiên
của
quyền
con
người.
Điều
này
hẳn
sẽ
giúp
họ
giảm
thiểu
được
nguy
cơ,
thật
bất
hạnh
nhưng
vẫn
hằng
tiềm
ẩn,
về
việc
chạy
theo
một
hướng
giải
thích
chỉ
mang
tính
học
thuyết
thực
chứng
thuần
tuý
về
những
quyền
ấy.
Nếu
điều
đó
xảy
ra,
những
cơ
quan
quốc
tế
sẽ
để
mất
thẩm
quyền
cần
thiết
để
thực
thi
vai
trò
là
những
người
bảo
vệ
những
quyền
căn
bản
của
con
người
và
của
các
dân
tộc,
điều
biện
minh
chính
yếu
cho
chính
sự
tồn
tại
và
hoạt
động
của
họ.
Luật
quốc
tế
nhân
đạo
và
luật
nội
bộ
của
mỗi
Quốc
gia
14.
Nhìn
nhận
rằng
có
những
quyền
con
người
bất
khả
tiếm
đoạt
liên
quan
đến
bản
tính
chung
của
loài
người
đưa
đến
việc
thiết
lập
một
hệ
thống
luật
quốc
tế
nhân
đạo
mà
mỗi
quốc
gia
đều
cam
kết
tuân
thủ
dù
cả
khi
xảy
ra
chiến
tranh.
Nhưng
bất
hạnh
thay,
chẳng
cần
phải
nói
tới
những
trường
hợp
đã
xảy
ra
trong
qúa
khứ,
điều
này
vẫn
không
được
thực
thi
một
cách
như
nhất
trong
một
số
tình
huống
chiến
tranh
gần
đây.
Chẳng
hạn
như
trường
hợp
xung
đột
xảy
ra
cách
đây
mấy
tháng
tại
miền
nam
Li-
băng,
nơi
mà
nhiệm
vụ
“bảo
vệ
và
cứu
giúp
những
nạn
nhân
vô
tội”
và
tránh
gây
thiệt
hại
cho
các
thường
dân
hầu
như
đã
bị
bỏ
qua.
Tình
cảnh
thật
thương
tâm
ở
Li-
băng
và
hình
thái
những
vụ
xung
đột
mới,
nhất
là
từ
khi
nạn
đe
doạ
khủng
bố
mở
rộng
những
hình
thức
bạo
lực
hoàn
toàn
mới,
đòi
hỏi
công
đồng
quốc
tế
phải
tái
khẳng
định
luật
quốc
tế
nhân
đạo,
và
áp
dụng
vào
mọi
tình
huống
xung
đột
vũ
trang
hiện
nay,
bao
gồm
cả
những
tình
huống
mà
hiện
nay
luật
quốc
tế
chỉ
mới
dự
trù.
Hơn
nữa,
tai
hoạ
của
chủ
nghĩa
khủng
bố
đòi
hỏi
phải
có
một
sự
suy
nghĩ
thấu
đáo
về
những
giới
hạn
đạo
đức
liên
quan
đến
việc
hạn
chế
việc
sử
dụng
những
phương
pháp
tối
tân
để
bảo
đảm
an
ninh
quốc
gia.
Càng
ngày
những
cuộc
chiến
tranh
không
còn
được
tuyên
bố,
nhất
là
khi
những
cuộc
chiến
này
lại
được
những
nhóm
khủng
bố
mưu
toan
để
quyết
tâm
đạt
cho
được
mục
tiêu
của
chúng
bằng
bất
cứ
phương
tiện
nào.
Đứng
trước
cục
diện
bất
ổn
trong
những
năm
vừa
qua,
các
Quốc
Gia
không
thể
không
nhận
ra
nhu
cầu
cần
phải
thiết
lập
những
quy
tắc
rõ
ràng
hơn
để
ứng
phó
một
cách
hữu
hiệu
với
tình
trạng
suy
thoái
bi
thảm
mà
chúng
ta
đang
chứng
kiến.
Chiến
tranh
luôn
luôn
chứng
tỏ
sự
thất
bại
của
cộng
đồng
quốc
tế
và
là
sự
mất
mát
nặng
nề
đối
với
nhân
loại.
Dù
vận
dụng
mọi
nỗ
lực
mà
chiến
tranh
vẫn
cứ
xảy
ra
thì
ít
nhất
những
nguyên
tắc
cốt
yếu
của
nhân
loại
và
những
giá
trị
nền
tảng
về
sự
sinh
tồn
của
mọi
công
dân
phải
được
bảo
toàn;
những
quy
tắc
hành
xử
phải
được
thiết
lập
để
hạn
chế
hết
sức
có
thể
những
thiệt
hại
và
để
giúp
làm
vơi
giảm
những
đau
khổ
của
thường
dân
cùng
những
nạn
nhân
của
các
cuộc
xung
đột
(7).
15.
Một
vấn
đề
khác
đang
gây
ra
quan
ngại,
đó
là
ý
đồ
thủ
đắc
các
vũ
khí
hạt
nhân,
mới
được
phát
hiện
tại
một
số
Quốc
Gia.
Điều
này
càng
gia
tăng
bầu
khí
bất
an
vốn
đã
lan
rộng,
cũng
như
mối
lo
sợ
về
khả
năng
xảy
ra
thảm
hoạ
nguyên
tử.
Chúng
ta
bị
đưa
ngược
trở
lại
thời
điểm
đầy
những
sợ
hãi
và
âu
lo
trong
giai
đoạn
“chiến
tranh
lạnh”.
Khi
giai
đoạn
đó
kết
thúc
người
ta
hi
vọng
rằng
hiểm
hoạ
nguyên
tử
dứt
khoát
đã
bị
loại
bỏ
và
kết
cuộc
thì
nhân
loại
có
thể
thở
phào
nhẹ
nhõm.
Về
điểm
này
lời
nhắc
nhở
của
Công
Đồng
Vatican
II
thật
hợp
thời
biết
bao:
“Mọi
hành
động
hiếu
chiến
nhằm
tiêu
diệt
bừa
bãi
nguyên
cả
một
thành
phố
hay
những
vùng
rộng
lớn
cùng
với
dân
cư
ở
đó
là
một
tội
ác
chống
lại
Thiên
Chúa
và
chính
con
người,
điều
đáng
phải
cực
lực
và
không
ngần
ngại
kết
án
(8).”
Thật
là
bất
hạnh,
những
bóng
mây
đen
vẫn
cứ
tiếp
tục
phủ
kín
bầu
trời
của
nhân
loại.
Con
đường
để
đảm
bảo
một
tương
lai
hoà
bình
cho
tất
cả
mọi
người
không
chỉ
được
tìm
thấy
trong
sự
đồng
thuận
của
quốc
tế
về
việc
cấm
sản
xuất
vũ
khí
hạt
nhân,
mà
còn
trong
thái
độ
cùng
quyết
tâm
tìm
cách
giải
trừ
và
gỡ
bỏ
toàn
bộ
các
vũ
khí
đó.
Ước
mong
có
nhiều
cố
gắng
được
thực
hiện
để
đi
đến
việc
thương
thảo
nhằm
đạt
đến
những
mục
tiêu
này!
Vận
mệnh
của
toàn
thể
gia
đình
nhân
loại
tuỳ
thuộc
vào
đó!
Giáo
Hội
bảo
vệ
sự
siêu
việt
của
nhân
vị
16.
Sau
cùng,
tôi
muốn
khẩn
khoản
lên
tiếng
với
toàn
thể
Dân
Chúa:
ước
gì
mỗi
Kitô
hữu
hãy
dấn
thân
kiên
trì
xây
dựng
hoà
bình
và
ra
sức
bảo
vệ
phẩm
giá
của
nhân
vị
cũng
như
những
quyền
bất
khả
xâm
phạm
của
con
người.
Người
Kitô
hữu
tri
ân
Chúa
đã
kêu
mời
họ
gia
nhập
Giáo
Hội
Chúa,
là
“dấu
chỉ
và
người
bảo
vệ
chiều
kích
siêu
việt
của
nhân
vị
(9)”
trong
thế
giới,
sẽ
không
ngừng
cầu
xin
Chúa
ban
sự
thiện
hảo
căn
bản
của
hoà
bình,
là
điều
hệ
trọng
hàng
đầu
trong
cuộc
sống
mỗi
người.
Hơn
nữa,
họ
sẽ
cảm
thấy
tự
hào
được
phục
vụ
cho
hoà
bình
với
sự
tận
tâm
qủang
đại
khi
giúp
đỡ
các
anh
chị
em
của
họ,
nhất
là
những
người
vừa
phải
chịu
cảnh
nghèo
túng
và
thiếu
thốn
lại
còn
bị
tước
mất
cả
điều
quý
giá
của
hoà
bình.
Chúa
Giêsu
đã
mặc
khải
cho
chúng
ta
rằng
“Thiên
Chúa
là
tình
yêu”
(1
Ga
4,
8)
và
ơn
gọi
cao
quý
nhất
của
mỗi
người
là
tình
yêu.
Trong
Chúa
Kitô
chúng
ta
có
thể
tìm
thấy
lí
do
tối
hậu
để
trở
nên
những
người
quyết
tâm
bảo
vệ
phẩm
giá
con
ngừơi
và
là
những
người
dũng
cảm
xây
dựng
hoà
bình.
17.
Và
ước
mong
mỗi
người
tín
hữu
hãy
kiên
cường
góp
phần
vào
việc
phát
huy
một
nền
nhân
bản
toàn
diện
đích
thực
phù
hợp
với
những
giáo
huấn
của
các
Thông
Điệp
Populorum
Progressio
và
Sollicitudo
Rei
Socialis,
mà
chúng
ta
chuẩn
bị
cử
hành
ngày
kỉ
niệm
lần
thứ
bốn
mươi
và
thứ
hai
mươi
trong
năm
nay.
Vào
đầu
năm
2007,
tôi
tha
thiết
dâng
lời
cầu
nguyện
cho
toàn
thể
nhân
loại
lên
Nữ
Vương
Hoà
Bình,
Thân
Mẫu
Chúa
Giêsu
Kitô,
“hoà
bình
của
chúng
ta”
(Ep
2,
14),
mà
chúng
ta
đang
cùng
nhau
hướng
tới
với
lòng
tràn
đầy
hi
vọng,
dẫu
biết
bao
hiểm
nguy
và
khó
khăn
vẫn
đang
vây
quanh
chúng
ta.
Xin
Mẹ
Maria
chỉ
cho
chúng
ta,
trong
Con
của
Mẹ,
con
đường
dẫn
đến
hoà
bình
và
soi
sáng
con
mắt
chúng
ta
để
chúng
ta
có
thể
nhận
ra
dung
mạo
Chúa
Kitô
trong
khuôn
mặt
của
mỗi
con
người,
là
trọng
tâm
của
hoà
bình!
Từ
Vatican,
8
tháng
Mười
Hai,
2006
+
BENEDICTUS
PP.
XVI
(1)
x.
Giáo
Lí
Giáo
Hội
Công
Giáo,
357.
(2)
Bài
giảng
169,
11,
13:
PL
38,
923
(3)
Số
3.
(4)
Bài
giảng
tại
Islinger
Feld,
Regensburg,
12
tháng
Chín
2006.
(5)
x.
Bộ
Giáo
Lí
Đức
Tin,
Thư
gửi
các
Giám
mục
Giáo
Hội
Công
Giáo
về
việc
cộng
tác
giữa
người
nam
và
người
nữ
trong
Giáo
Hội
và
trên
thế
giới
(31
tháng
Năm
2004),
15-16.
(6)
Số
38.
(7)
Về
vấn
đề
này,
Giáo
Lí
Giáo
Hội
Công
Giáo
đưa
ra
những
tiêu
chuẩn
khe
khắt
và
chính
xác:
x.
2307-
2317.
(8)
Hiến
chế
Mục
vụ
Gaudium
et
Spes,
80.
(9)
Ibid.,
s.
76.
LM
Giuse
Ngô
Quang
Trung
chuyển
ngữ
Vietcatholic.net
