TÔNG
THƯ
ROSARIUM
VIRGINIS
MARIAE
CỦA
ĐỨC
THÁNH
CHA
GIOAN
PHAO-LÔ
II
GỞI
CÁC
GIÁM
MỤC,
LINH
MỤC
VÀ
CÁC
TÍN
HỮU
VỀ
KINH
RẤT
THÁNH
MÂN
CÔI
Dẫn
Nhập
-
Chương
1
Chương
2
Chương
3
Kết
luận
CHƯƠNG
I
CHIÊM
NGƯỠNG
ĐỨC
KI-TÔ
cùng
VỚI
ĐỨC
MA-RI-A
Một
dung
nhan
chói
lọi
như
mặt
trời
9.
Rồi
Người
biến
đổi
hình
dạng
trước
mặt
các
ông,
và
dung
nhan
Người
chói
lọi
như
mặt
trời
(Mt
17,2).
Trình
thuật
tin
mừng
về
quang
cảnh
Đức
Ki-tô
biến
hình
khiến
ba
Tông
đồ
Phê-rô,
Gia-cô-bê
và
Gio-an
ngây
ngất
trước
vẻ
đẹp
của
Đấng
Cứu
Chuộc,
có
thể
được
xem
như
một
hình
tượng
của
chiêm
ngưỡng
ki-tô
giáo.
Nhìn
ngắm
dung
nhan
Đức
Ki-tô
để
nhận
ra
mầu
nhiệm
giữa
các
biến
cố
thường
nhật
và
các
nỗi
đau
thương
của
cuộc
sống
nhân
loại
của
Người,
cho
đến
khi
nhận
ra
vẻ
huy
hoàng
thần
thánh
được
biểu
lộ
một
cách
chung
cuộc
nơi
Đấng
Phục
sinh
ngự
bên
hữu
Chúa
Cha
trong
vinh
quang:
đó
là
nhiệm
vụ
của
tất
cả
các
môn
đệ
Chúa
Ki-tô
và
vì
thế,
cũng
là
nhiệm
vụ
của
mỗi
người
chúng
ta.
Khi
chiêm
ngưỡng
dung
nhan
Đức
Ki-tô,
chúng
ta
sẵn
sàng
đón
nhận
mầu
nhiệm
đời
sống
Ba
Ngôi,
để
có
kinh
nghiệm
luôn
mới
mẻ
về
tình
yêu
của
Chúa
Cha
và
nếm
thưởng
niềm
vui
của
Chúa
Thánh
Thần.
Có
thể
áp
dụng
cho
chúng
ta
lời
sau
đây
của
thánh
tông
đồ
Phao-lô:
Phản
chiếu
vinh
quang
của
Chúa,
chúng
ta
được
biến
đổi
nên
giống
cũng
một
hình
ảnh
đó,
ngày
càng
trở
nên
rực
rỡ
hơn,
như
do
bởi
tác
động
của
Chúa
là
Thần
Khí
(2
Cr
3,18).
Đức
Ma-ri-a,
mẫu
gương
chiêm
ngưỡng
10.
Việc
chiêm
ngưỡng
Chúa
Ki-tô
tìm
thấy
nơi
Đức
Ma-ri-a
một
mẫu
gương
vô
song.
Dung
nhan
của
người
Con
đặc
biệt
thuộc
về
Đức
Ma-ri-a.
Chính
trong
cung
lòng
Mẹ
mà
Đức
Ki-tô
được
hình
thành,
đón
nhận
từ
nơi
Mẹ
một
nét
giống
nhau
về
phương
diện
nhân
loại,
điều
đó
gợi
lên
một
sự
gần
gũi
thân
mật
hơn
về
mặt
thiêng
liêng.
Không
ai
đã
say
sưa
chiêm
ngưỡng
dung
nhan
Đức
Ki-tô
một
cách
trung
thành
như
Đức
Ma-ri-a.
Đôi
mắt
tâm
hồn
của
Mẹ
đã
hướng
về
Người
ngay
từ
lúc
Truyền
tin,
khi
Mẹ
cưu
mang
Người
nhờ
quyền
năng
Thánh
Thần.
Rồi
trong
những
tháng
sau
đó,
Mẹ
bắt
đều
cảm
nhận
sự
hiện
diện
của
Người
và
hình
dung
ra
diện
mạo
của
Người.
Cuối
cùng,
khi
hạ
sinh
Người
tại
làng
Bê-lem,
đôi
mắt
Mẹ
đã
âu
yếm
nhìn
ngắm
dung
nhan
Con
Mẹ,
khi
Mẹ
lấy
tã
bọc
con,
rồi
đặt
nằm
trong
máng
cỏ
(Lc
2,7).
Từ
đó,
đôi
mắt
chan
chứa
sự
tôn
thờ
và
kinh
ngạc
của
Mẹ
không
bao
giờ
rời
xa
Người.
Có
khi
là
một
cái
nhìn
thắc
mắc,
như
trong
trình
thuật
đi
tìm
Đức
Giê-su
thất
lạc
trong
Đền
thờ:
Con
ơi,
sao
con
lại
xử
với
cha
mẹ
như
vậy?
(Lc
2,48);
nhưng
luôn
luôn
sẽ
là
một
cái
nhìn
xuyên
thấu,
một
cái
nhìn
có
khả
năng
thấu
hiểu
tâm
tư
của
Đức
Giê-su,
đến
nỗi
Mẹ
hiểu
được
những
tình
cảm
sâu
kín
của
Người
và
biết
trước
những
quyết
định
của
Người
như
tại
tiệc
cưới
Ca-na
(x.
Ga
2,5).
Có
khi
lại
là
một
cái
nhìn
đau
buồn,
đặc
biệt
khi
Mẹ
đứng
dưới
chân
Thánh
giá,
nơi
đó
cái
nhìn
của
Mẹ
vẫn
luôn
là
cái
nhìn
của
một
người
mẹ
trao
ban
sự
sống,
vì
Mẹ
không
chỉ
chia
sẻ
cuộc
khổ
nạn
và
cái
chết
của
Con
Mẹ,
nhưng
Mẹ
cũng
còn
đón
nhận
người
con
mới
được
trao
ban
cho
Mẹ
qua
người
môn
đệ
yêu
dấu
(x.
Ga
19,26-27).
Sáng
ngày
Phục
sinh,
cái
nhìn
của
Mẹ
toả
rạng
niềm
vui
Phục
sinh,
và
sau
hết,
vào
ngày
lễ
Ngũ
tuần,
cái
nhìn
của
Mẹ
rực
cháy
vì
được
tràn
đầy
Thánh
thần
(x.
Cv
1,14).
Những
kỷ
niệm
của
Đức
Ma-ri-a
11.
Đức
Ma-ri-a
sống
mà
đôi
mắt
chăm
chú
nhìn
Đức
Ki-tô,
và
mỗi
lời
của
Người
trở
thành
một
kho
tàng
cho
ngài:
Mẹ
hằng
ghi
nhớ
mọi
kỷ
niệm
ấy
và
suy
đi
nghĩ
lại
trong
lòng
(Lc
2,19;
x.
2,51).
Những
kỷ
niệm
về
Đức
Giê-su
được
ghi
khắc
trong
tim
Mẹ,
luôn
luôn
đi
theo
Mẹ
và
thúc
đẩy
Mẹ
suy
gẫm
về
những
thời
gian
sống
bên
cạnh
Con
Mẹ.
Một
cách
nào
đó,
những
kỷ
niệm
ấy
là
chuỗi
kinh
mân
côi
mà
Mẹ
không
ngừng
ngâm
nga
trong
suốt
cuộc
đời
trần
thế.
Ngay
cả
bây
giờ,
giữa
tiếng
ca
mừng
hân
hoan
trên
Giê-ru-sa-lem
thiên
quốc,
các
lý
do
để
Mẹ
dâng
lời
tạ
ơn
và
chúc
tụng
vẫn
không
thay
đổi.
Chúng
khiến
Mẹ
lấy
tình
mẫu
tử
chăm
sóc
cho
Giáo
hội
lữ
hành;
trong
Giáo
hội,
Mẹ
tiếp
tục
kể
lại
cảm
nghiệm
riêng
của
Mẹ
về
Tin
mừng.
Đức
Ma-ri-a
không
ngừng
đặt
các
tín
hữu
trước
các
mầu
nhiệm
của
Con
Mẹ,
ước
mong
rằng
chúng
được
chiêm
ngưỡng,
để
chúng
có
thể
giải
toả
mọi
năng
lực
cứu
độ
của
chúng.
Khi
suy
ngắm
bằng
chuỗi
mân
côi,
cộng
đoàn
ki-tô
hữu
tiếp
xúc
với
các
kỷ
niệm
và
cái
nhìn
chiêm
ngưỡng
của
Đức
Ma-ri-a.
Kinh
mân
côi,
một
lời
kinh
chiêm
ngưỡng
12.
Kinh
mân
côi,
chính
bởi
vì
nó
phát
xuất
từ
kinh
nghiệm
riêng
của
Đức
Ma-ri-a,
là
một
lời
kinh
chiêm
ngưỡng
sâu
sắc.
Không
có
chiều
kích
chiêm
ngưỡng
ấy,
kinh
mân
côi
sẽ
như
một
cái
xác
không
hồn,
như
Đức
Giáo
hoàng
Phao-lô
VI
đã
nhấn
mạnh:
Không
có
sự
chiêm
ngưỡng,
kinh
mân
côi
chỉ
là
một
cái
xác
không
hồn,
và
việc
lần
chuỗi
có
nguy
cơ
trở
nên
một
việc
nhai
đi
nhai
lại
một
số
công
thức
có
tính
cách
máy
móc,
và
như
thế
là
vi
phạm
giáo
huấn
của
Đức
Giê-su:
Khi
cầu
nguyện,
anh
em
đừng
lải
nhải
như
dân
ngoại;
họ
nghĩ
rằng:
cứ
nói
nhiều
là
được
nhận
lời
(Mt
6,7).
Tự
bản
chất,
việc
đọc
kinh
mân
côi
đòi
hỏi
một
nhịp
độ
thanh
thản
và
kéo
dài,
để
giúp
mỗi
người
chiêm
ngưỡng
các
mầu
nhiệm
trong
cuộc
đời
của
Chúa
như
được
nhìn
thấy
bằng
đôi
mắt
của
Mẹ
là
người
đã
sống
hết
sức
gần
gũi
với
Chúa.
Bằng
cách
đó,
sự
phong
phú
khôn
ví
của
các
mầu
nhiệm
được
tỏ
bày.14
Quả
là
hữu
ích
khi
dừng
lại
xem
xét
các
tư
tưởng
thâm
thuý
của
Đức
Phao-lô
VI,
để
làm
sáng
tỏ
một
số
khía
cạnh
của
kinh
Mân
côi,
lời
kinh
này
thật
sự
là
một
hình
thức
chiêm
ngưỡng
quy
hướng
về
Chúa
Ki-tô.
Tưởng
nhớ
Đức
Ki-tô
với
Mẹ
Ma-ri-a
13.
Chiêm
ngưỡng
của
Đức
Ma-ri-a
trước
tiên
là
một
tưởng
niệm.
Chúng
ta
cần
hiểu
từ
này
theo
nghĩa
Kinh
Thánh
của
hồi
tưởng
(zakar):
làm
cho
các
kỳ
công
của
Thiên
Chúa
thực
hiện
trong
lịch
sử
cứu
độ
nên
hiện
diện.
Kinh
Thánh
là
một
sưu
tập
các
biến
cố
cứu
độ
với
cao
điểm
là
chính
Đức
Ki-tô.
Những
biến
cố
này
không
chỉ
liên
hệ
đến
ngày
hôm
qua;
chúng
cũng
là
thành
phần
của
ngày
hôm
nay
của
ơn
cứu
độ.
Việc
hiện
tại
hoá
xảy
ra
trước
tiên
trong
Phụng
vụ:
điều
Thiên
Chúa
thực
hiện
trong
các
thế
kỷ
qua
không
chỉ
tác
động
đến
những
chứng
nhân
trực
tiếp
của
các
biến
cố
đó;
nó
tiếp
tục
tác
động
đến
con
người
của
mọi
thời
đại
với
quà
tặng
ân
sủng
của
nó.
Trong
một
chừng
mực
nào
đó,
điều
này
cũng
đúng
đối
với
mọi
tiếp
cận
đạo
đức
những
biến
cố
đó:
hồi
tưởng
chúng
trong
tinh
thần
đức
tin
và
tình
yêu
là
mở
lòng
cho
ân
sủng
mà
Đức
Ki-tô
đoạt
được
cho
chúng
ta
bằng
các
mầu
nhiệm
sự
sống,
sự
chết
và
sống
lại
của
Người.
Do
đó,
trong
khi
phải
tái
khẳng
định
với
Công
đồng
Va-ti-ca-nô
II
rằng
Phụng
vụ,
như
một
thi
hành
chức
vụ
tư
tế
của
Đức
Ki-tô
và
một
hành
vi
phụng
thờ
công
cộng,
là
tột
đỉnh
quy
hướng
mọi
hoạt
động
của
Giáo
hội
và
đồng
thời
là
nguồn
mạch
tuôn
trào
mọi
năng
lực
của
Giáo
hội,15
cũng
cần
nhắc
lại
rằng
đời
sống
thiêng
liêng
không
chỉ
dừng
lại
ở
việc
tham
dự
Phụng
vụ
mà
thôi.
Người
ki-tô
hữu
được
mời
gọi
cầu
nguyện
chung,
nhưng
cũng
phải
vào
phòng
riêng
âm
thầm
cầu
nguyện
cùng
Chúa
Cha
(x.
Mt
6,6);
quả
thế,
như
lời
vị
Tông
đồ
đã
dạy,
họ
phải
cầu
nguyện
không
ngừng
(x.
1
Tx
5,17).16
Kinh
mân
côi,
theo
cách
riêng
của
nó,
là
thành
phần
của
toàn
cảnh
đa
dạng
của
việc
cầu
nguyện
không
ngừng
đó.
Nếu
Phụng
vụ,
như
hoạt
động
của
Đức
Ki-tô
và
của
Giáo
hội,
là
một
hành
động
cứu
độ
vượt
trội,
Kinh
mân
côi
cũng
thế,
như
một
suy
niệm
với
Đức
Ma-ri-a
về
Đức
Ki-tô,
là
một
chiêm
ngưỡng
đem
lại
ơn
cứu
độ.
Bằng
cách
nhận
chìm
chúng
ta
vào
các
mầu
nhiệm
của
đời
sống
Đấng
Cứu
chuộc,
nó
bảo
đảm
rằng
điều
Người
đã
làm
và
điều
mà
Phụng
vụ
hiện
tại
hoá
cũng
thấm
nhập
sâu
xa
và
uốn
nắn
đời
sống
chúng
ta.
Học
hỏi
Đức
Ki-tô
từ
Mẹ
Ma-ri-a
14.
Đức
Ki-tô
là
vị
Thầy
tối
cao,
Đấng
mặc
khải
và
là
Đấng
được
mặc
khải.
Đây
không
chỉ
là
vấn
đề
học
hỏi
điều
Người
đã
dạy
nhưng
là
học
hỏi
chính
Người.
Theo
viễn
tượng
ấy,
chúng
ta
có
thể
có
vị
thầy
nào
tốt
hơn
là
Đức
Ma-ri-a
không?
Từ
quan
điểm
của
Thiên
Chúa,
Thánh
Linh
là
vị
Thầy
nội
tâm
dẫn
đưa
chúng
ta
đến
sự
thật
toàn
vẹn
của
Đức
Ki-tô
(x.
Ga
14,26;
15,26;
16,13).
Nhưng
trong
số
các
tạo
vật,
không
ai
biết
rõ
hơn
Đức
Ki-tô
bằng
Đức
Ma-ri-a;
không
ai
có
thể
dẫn
chúng
ta
đến
một
sự
hiểu
biết
sâu
xa
về
mầu
nhiệm
của
Người
hơn
là
Mẹ
của
Người.
Dấu
lạ
đầu
tiên
mà
Đức
Ki-tô
thực
hiện
-
biến
nước
thành
rượu
tại
tiệc
cưới
Ca-na
-
rõ
ràng
giới
thiệu
Đức
Ma-ri-a
dưới
dáng
vẻ
của
một
thầy
dạy,
khi
ngài
thúc
giục
các
đầy
tớ
làm
điều
Đức
Giê-su
chỉ
bảo
(x.
Ga
2,5).
Chúng
ta
có
thể
tưởng
tượng
rằng
ngài
cũng
đã
làm
như
thế
đối
với
các
môn
đệ
sau
khi
Đức
Giê-su
lên
trời,
khi
ngài
hiệp
cùng
với
họ
mong
chờ
Chúa
Thánh
Thần
và
nâng
đỡ
họ
trong
sứ
vụ
đầu
tiên
của
họ.
Chiêm
ngưỡng
các
hoạt
cảnh
của
Kinh
mân
côi
trong
sự
thông
hiệp
với
Đức
Ma-ri-a
là
một
cách
thế
học
hỏi
từ
ngài
để
đọc
Đức
Ki-tô,
để
khám
phá
các
bí
ẩn
của
Người
và
hiểu
sứ
điệp
của
Người.
Trường
học
này
của
Đức
Ma-ri-a
cũng
đặc
biệt
hữu
hiệu
nếu
ta
biết
rằng
ngài
dạy
chúng
ta
bằng
cách
thu
nhận
cho
chúng
ta
cách
sung
mãn
những
quà
tặng
của
Chúa
Thánh
Thần,
cho
dù
ngài
ban
tặng
cho
chúng
ta
gương
mẫu
không
thể
sánh
ví
được
về
cuộc
hành
trình
đức
tin
của
riêng
ngài.17
Khi
chúng
ta
chiêm
ngưỡng
mỗi
mầu
nhiệm
trong
cuộc
đời
của
Con
ngài,
ngài
mời
gọi
chúng
ta
hành
động
như
ngài
đã
làm
khi
truyền
tin:
khiêm
tốn
đặt
ra
những
câu
hỏi
mở
lòng
chúng
ta
ra
với
ánh
sáng,
hầu
kết
thúc
bằng
sự
vâng
phục
của
đức
tin:
Này
tôi
là
nữ
tì
của
Chúa;
xin
Chúa
cứ
làm
cho
tôi
như
lời
sứ
thần
nói
(Lc
1,38).
Được
đồng
hình
đồng
dạng
với
Đức
Ki-tô
cùng
với
Mẹ
Ma-ri-a
15.
Linh
đạo
ki-tô
giáo
được
phân
biệt
bởi
sự
dấn
thân
của
người
môn
đệ
để
trở
nên
đồng
hình
đồng
dạng
ngày
càng
hoàn
hảo
hơn
với
Thầy
của
mình
(x.
Rm
8,29;
Pl
3,10.12).
Việc
tuôn
đổ
Thánh
Thần
trong
bí
tích
Thánh
tẩy
tháp
nhập
người
tín
hữu
như
một
cành
nho
vào
thân
nho
là
Đức
Ki-tô
(x.
Ga
15,5)
và
biến
họ
thành
chi
thể
của
Thân
mình
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
(x.
1Cr
12,12;
Rm
12,5).
Tuy
nhiên,
sự
hiệp
nhất
khởi
đầu
này
mời
gọi
ngày
càng
nên
đồng
hình
đồng
dạng,
sự
đồng
dạng
sẽ
dần
dần
uốn
nắn
hành
vi
cử
chỉ
của
người
môn
đệ
cho
phù
hợp
với
tâm
tình
của
Đức
Ki-tô:
Giữa
anh
em
với
nhau,
anh
em
hãy
có
những
tâm
tình
như
chính
Đức
Kitô
Giêsu.
(Pl
2,5).
Nói
như
thánh
Tông
đồ,
chúng
ta
được
mời
gọi
mặc
lấy
Chúa
Giê-su
Ki-tô
(x.
Rm
13,14;
Gl
3,27).
Trong
cuộc
hành
trình
thiêng
liêng
của
Kinh
mân
côi,
đặt
nền
tảng
trên
sự
chiêm
ngưỡng
liên
lỉ
dung
nhan
Đức
Ki-tô
-cùng
với
Đức
Ma-ri-a-,
lý
tưởng
rất
đòi
hỏi
này
là
nên
đồng
hình
đồng
dạng
với
Người,
được
theo
đuổi
nhờ
sự
kết
giao
mà
ta
có
thể
diễn
tả
bằng
từ
bằng
hữu.
Bằng
cách
ấy,
chúng
ta
có
khả
năng
dễ
dàng
đi
vào
đời
sống
của
Đức
Ki-tô
và
có
thể
nói
là
chia
sẻ
những
cảm
xúc
sâu
xa
của
Người.
Về
điểm
này,
Chân
phước
Bartolo
Longo
đã
viết:
Giống
như
hai
người
bạn,
nhờ
gặp
gỡ
nhau
thường
xuyên,
có
khuynh
hướng
phát
triển
những
tập
quán
giống
nhau,
cũng
vậy,
nhờ
giao
tiếp
thân
mật
với
Đức
Giê-su
và
Đức
Trinh
Nữ,
bằng
cách
suy
niệm
các
mầu
nhiệm
của
Kinh
mân
côi
và
bằng
cách
kết
hiệp
trong
cùng
một
cuộc
sống
nhờ
rước
lễ,
chúng
ta
có
thể
trở
nên
giống
các
Ngài,
trong
mức
độ
mà
giới
hạn
của
ta
cho
phép,
và
có
thể
học
hỏi
từ
những
gương
mẫu
tối
cao
đó
một
cuộc
sống
khiêm
nhường,
nghèo
khó,
ẩn
dật,
kiên
nhẫn
và
hoàn
hảo.18
Trong
tiến
trình
nên
đồng
hình
đồng
dạng
với
Đức
Ki-tô
trong
Kinh
mân
côi,
chúng
ta
giao
phó
chính
mình
một
cách
đặc
biệt
cho
mối
quan
tâm
từ
mẫu
của
Đức
Trinh
Nữ.
Ngài
vừa
là
Mẹ
của
Đức
Ki-tô
vừa
là
thành
viên
Giáo
hội,
quả
vậy
một
thành
viên
trổi
vượt
và
độc
nhất
vô
nhị,19
ngài
cũng
đồng
thời
là
Mẹ
của
Giáo
hội.
Như
thế,
ngài
tiếp
tục
sinh
hạ
những
người
con
cho
Thân
thể
mầu
nhiệm
của
Con
ngài.
Ngài
thực
hiện
như
thế
bằng
lời
chuyển
cầu,
khi
khẩn
cầu
Thiên
Chúa
tuôn
đổ
vô
hạn
Thần
Khí
trên
họ.
Đức
Ma-ri-a
là
hình
tượng
hoàn
hảo
của
tư
cách
hiền
mẫu
của
Giáo
hội.
Kinh
mân
côi
chuyển
đưa
chúng
ta
cách
huyền
diệu
đến
bên
cạnh
Đức
Ma-ri-a
khi
Mẹ
đang
bận
tâm
đến
sự
tăng
trưởng
nhân
bản
của
Đức
Ki-tô
trong
ngôi
nhà
ở
Nazareth.
Điều
đó
giúp
Mẹ
có
khả
năng
dạy
dỗ
chúng
ta
và
uốn
nắn
chúng
ta
với
cùng
một
sự
chăm
sóc,
cho
tới
khi
Đức
Ki-tô
được
thành
hình
trọn
vẹn
trong
chúng
ta
(x.
Gl
4,19).
Vai
trò
này
của
Đức
Ma-ri-a,
hoàn
toàn
dựa
trên
vai
trò
của
Đức
Ki-tô
và
phụ
thuộc
cách
triệt
để
vào
đó,
không
làm
lu
mờ
hay
giảm
bớt
vai
trò
trung
gian
của
Đức
Ki-tô,
trái
lại
còn
làm
sáng
tỏ
mãnh
lực
của
sự
trung
gian
ấy.20
Đó
là
nguyên
tắc
rõ
ràng
đã
được
Công
dồng
Va-ti-ca-nô
II
diễn
tả
mà
tôi
đã
kinh
nghiệm
hết
sức
mãnh
liệt
trong
cuộc
đời
tôi
và
đã
làm
nên
cơ
sở
cho
khẩu
hiệu
giám
mục
của
tôi:
Totus
Tuus.21
Lẽ
dĩ
nhên
khẩu
hiệu
được
gợi
hứng
từ
lời
dạy
của
thánh
Louis
Marie
Grignion
de
Montfort,
ngài
đã
giải
thích
bằng
những
lời
sau
đây
về
vai
trò
của
Đức
Ma-ri-a
trong
tiến
trình
đồng
hình
đồng
dạng
của
chúng
ta
với
Đức
Ki-tô:
Tất
cả
sự
hoàn
thiện
của
chúng
ta
hệ
tại
ở
việc
nên
đồng
hình
đồng
dạng,
kết
hiệp
và
hiến
thánh
cho
Đức
Giê-su
Ki-tô.
Vì
thế
tính
cách
hoàn
hảo
nhất
của
mọi
việc
đạo
đức
không
nghi
ngờ
gì
nữa
là
biến
đổi,
kết
hiệp
và
hiến
thánh
chúng
ta
cách
hoàn
hảo
nhất
cho
Đức
Giê-su
Ki-tô.
Vậy,
bởi
vì
Đức
Ma-ri-a
là
một
trong
các
tạo
vật
nên
đồng
hình
đồng
dạng
nhất
với
Đức
Giê-su
Ki-tô,
hệ
quả
là
trong
số
các
việc
đạo
đức,
lòng
sùng
kính
Đức
Ma-ri-a,
Mẹ
thánh
thiện
của
Người,
là
việc
đạo
đức
có
khả
năng
hiến
thánh
và
làm
cho
một
linh
hồn
nên
đồng
hình
đồng
dạng
với
Chúa
hơn
cả,
và
một
linh
hồn
càng
hiến
thánh
cho
Mẹ
sẽ
càng
được
hiến
thánh
cho
Đức
Giê-su
Ki-tô.22
Không
nơi
nào
bằng
Kinh
mân
côi,
cuộc
sống
của
Đức
Giê-su
và
của
Đức
Ma-ri-a
xuất
hiện
liên
kết
sâu
xa
như
thế.
Đức
Ma-ri-a
chỉ
sống
trong
Đức
Ki-tô
và
cho
Đức
Ki-tô!
Cầu
nguyện
với
Đức
Ki-tô
cùng
với
Mẹ
Ma-ri-a
16.
Đức
Giê-su
đã
mời
gọi
chúng
ta
hướng
về
Thiên
Chúa
với
lòng
tin
tưởng
và
kiên
trì
để
được
nhậm
lời:
Anh
em
cứ
xin
thì
sẽ
được,
cứ
tìm
thì
sẽ
thấy,
cứ
gõ
cửa
thì
sẽ
được
mở
cho
(Mt
7,7).
Nền
tảng
của
sức
mạnh
của
lời
cầu
nguyện
này
là
lòng
nhân
lành
của
Chúa
Cha,
nhưng
cũng
là
sự
trung
gian
của
chính
Đức
Ki-tô
(x.
1
Ga
2,1)
và
hành
động
của
Chúa
Thánh
Thần
Đấng
khẩn
cầu
cho
chúng
ta
theo
như
ý
của
Thiên
Chúa
(x.
Rm
8,26-27).
Vì
chúng
ta
không
biết
cầu
nguyện
thế
nào
cho
phải
(Rm
8,26),
và
đồng
thời
chúng
ta
không
được
nhậm
lời
vì
chúng
ta
xin
sai
(x.
Gc
4,2-3).
Để
hỗ
trợ
lời
kinh
mà
Đức
Ki-tô
và
Chúa
Thánh
Thần
gợi
lên
trong
lòng
chúng
ta,
Đức
Ma-ri-a
can
thiệp
bằng
lời
chuyển
cầu
từ
mẫu
của
Mẹ.
Lời
cầu
nguyện
của
Giáo
hội
được
đỡ
nâng
nhờ
lời
cầu
nguyện
của
Đức
Ma-ri-a.23
Nếu
Đức
Giê-su,
Đấng
Trung
gian
duy
nhất,
là
Con
Đường
cho
lời
cầu
nguyện
của
chúng
ta,
thì
Đức
Ma-ri-a,
phản
ánh
tinh
tuyền
và
trong
sáng
nhất
của
Người,
tỏ
cho
chúng
ta
Con
Đường.
Chính
từ
sự
cộng
tác
duy
nhất
của
Đức
Ma-ri-a
với
công
việc
của
Chúa
Thánh
Thần,
mà
các
Giáo
hội
đã
triểm
khai
lời
kinh
dâng
lên
Mẹ
thánh
thiện
của
Thiên
Chúa,
bằng
cách
tập
trung
vào
con
người
Đức
Ki-tô
được
biểu
lộ
qua
các
mầu
nhiệm.24
Tại
tiệc
cưới
Ca-na,
sách
Tin
mừng
đã
tỏ
lộ
rõ
ràng
quyền
lực
của
lời
chuyển
cầu
Đức
Ma-ri-a
khi
ngài
báo
cho
Đức
Giê-su
biết
nhu
cầu
của
người
khác:
Họ
hết
rượu
rồi
(Ga
2,3).
Kinh
mân
côi
đồng
thời
là
suy
niệm
và
khẩn
cầu.
Lời
kinh
khẩn
nài
Mẹ
Thiên
Chúa
được
đặt
nền
tảng
trên
sự
tin
tưởng:
tin
rằng
lời
chuyển
cầu
từ
mẫu
của
Mẹ
có
thể
giành
được
mọi
sự
từ
trái
tim
của
Con
ngài.
Mẹ
rất
quyền
năng
bởi
ân
sủng,
để
sử
dụng
lối
diễn
tả
táo
bạo
nhưng
cần
hiểu
cho
đúng
đắn,
của
Chân
phước
Bartolo
Longo
trong
bài
Lời
Khẩn
cầu
Đức
Bà.25
Đó
là
một
xác
tín,
phát
xuất
từ
Tin
mừng,
đã
tăng
trưởng
càng
ngày
càng
vững
chắc
trong
kinh
nghiệm
của
Dân
ki-tô
giáo.
Thi
sĩ
thượng
thặng
Dante
diễn
tả
cách
tuyệt
diệu
qua
các
vần
thơ
được
thánh
Bê-na-đô
hát
lên:
Lạy
Đức
Bà,
Bà
thật
vĩ
đại
và
đầy
quyền
năng,
ai
ước
muốn
có
ân
huệ
mà
không
đến
với
ngài,
thì
người
ấy
muốn
ước
vọng
của
mình
bay
lên
mà
không
có
đôi
cánh.26
Trong
Kinh
mân
côi,
khi
chúng
ta
van
nài
Đức
Ma-ri-a,
đền
thờ
của
Chúa
Thánh
Thần
(x.
Lc
1,35),
ngài
chuyển
cầu
cho
chúng
ta
trước
mặt
Chúa
Cha,
Đấng
tuôn
đổ
hồng
ân
xuống
trên
ngài,
và
trước
mặt
người
Con
sinh
ra
từ
cung
lòng
ngài,
bằng
cách
cầu
nguyện
với
chúng
ta
và
cho
chúng
ta.
Loan
báo
Đức
Ki-tô
cùng
với
Đức
Ma-ri-a
17.
Kinh
mân
côi
cũng
là
một
con
đường
loan
báo
và
hiểu
biết
ngày
một
hơn,
trong
đó
mầu
nhiệm
của
Đức
Ki-tô
được
trình
bày
đi,
trình
bày
lại
ở
nhiều
mức
độ
khác
nhau
của
kinh
nghiệm
ki-tô
giáo.
Đó
là
một
trình
bày
mang
tính
cầu
nguyện
và
chiêm
ngưỡng,
có
khả
năng
đào
tạo
người
ki-tô
hữu
theo
trái
tim
của
Đức
Ki-tô.
Khi
kết
hợp
việc
đọc
Kinh
mân
côi
với
tất
cả
mọi
yếu
tố
cần
thiết
cho
một
cuộc
suy
niệm
có
hiệu
quả,
đặc
biệt
trong
những
cuộc
cử
hành
chung
tại
giáo
xứ
và
các
đền
thánh,
có
thể
đó
là
một
cơ
hội
để
dạy
giáo
lý
mà
các
vị
mục
tử
phải
biết
cách
tận
dụng.
Cả
theo
cách
thức
ấy
nữa,
Đức
Bà
Mân
côi
tiếp
tục
công
trình
loan
báo
Đức
Ki-tô.
Lịch
sử
Kinh
mân
côi
tỏ
cho
biết
lời
kinh
này
đã
được
các
cha
dòng
Đa
Minh
sử
dụng
như
thế
nào
vào
một
thời
buổi
khó
khăn
của
Giáo
hội
do
bởi
sự
lan
rộng
của
lạc
giáo.
Ngày
hôm
nay
chúng
ta
đang
đối
diện
với
những
thách
đố
mới.
Tại
sao
một
lần
nữa
chúng
ta
không
chạy
đến
Kinh
mân
côi,
với
cùng
một
đức
tin
như
những
người
đã
đi
trước
chúng
ta?
Kinh
mân
côi
vẫn
giữ
được
sức
mạnh
của
nó
và
tiếp
tục
là
một
tài
nguyên
mục
vụ
có
giá
trị
cho
mọi
người
loan
báo
tin
mừng
tốt.
