TÔNG
THƯ
ROSARIUM
VIRGINIS
MARIAE
CỦA
ĐỨC
THÁNH
CHA
GIOAN
PHAO-LÔ
II
GỞI
CÁC
GIÁM
MỤC,
LINH
MỤC
VÀ
CÁC
TÍN
HỮU
VỀ
KINH
RẤT
THÁNH
MÂN
CÔI
Dẫn
Nhập
-
Chương
1
Chương
2
Chương
3
Kết
luận
CHƯƠNG
II
CÁC
MẦU
NHIỆM
CỦA
ĐỨC
KI-TÔ
-
CÁC
MẦU
NHIỆM
CỦA
MẸ
NGƯỜI
Kinh
Mân
côi,
một
bản
tóm
tắt
Tin
mừng
18.
Cách
thức
duy
nhất
để
tiến
tới
việc
chiêm
ngưỡng
dung
nhan
Đức
Ki-tô
là
lắng
nghe
tiếng
nói
của
Chúa
Cha
trong
Thánh
Thần,
vì
không
ai
biết
rõ
người
Con
trừ
Chúa
Cha
(Mt
11,27).
Tại
địa
hạt
Xê-da-rê
Phi-lip,
Đức
Giê-su
đã
đáp
lại
lời
tuyên
tín
của
Phê-rô
bằng
cách
chỉ
cho
ông
thấy
nguồn
gốc
của
trực
giác
rõ
ràng
về
căn
tính
của
Người:
Không
phải
phàm
nhân
mạc
khải
cho
anh
biết
điều
ấy,
nhưng
là
Cha
của
Thầy,
Đấng
ngự
trên
trời
(Mt
16,17).
Như
vậy,
cần
có
một
mạc
khải
từ
trên.
Để
đón
nhận
mặc
khải
ấy,
nhất
thiết
phải
chăm
chú
lắng
nghe:
Chỉ
có
kinh
nghiệm
về
sự
thinh
lặng
và
cầu
nguyện
mới
tạo
ra
môi
trường
thích
hợp
để
cho
sự
hiểu
biết
đích
thực,
trung
tín
và
vững
chắc
về
mầu
nhiệm
đó
được
tăng
trưởng
và
phát
triển.
27
Kinh
Mân
côi
là
một
trong
những
con
đường
truyền
thống
của
lời
cầu
nguyện
ki-tô
giáo
hướng
đến
việc
chiêm
ngưỡng
dung
nhan
Chúa
Ki-tô.
Đức
Giáo
hoàng
Phao-lô
VI
mô
tả
điều
đó
bằng
những
lời
sau
đây:
Vì
là
một
lời
kinh
dựa
theo
Tin
mừng,
tập
trung
vào
mầu
nhiệm
Nhập
thể
cứu
độ,
kinh
mân
côi
là
lời
kinh
mang
chiều
kích
ki-tô
một
cách
rõ
nét.
Thật
thế,
yếu
tố
đặc
trưng
nhất
của
kinh
mân
côi
-
việc
lặp
đi
lặp
lại
Kinh
kính
mừng
-
là
một
lời
ca
ngợi
không
ngừng
dâng
lên
Đức
Ki-tô,
Đấng
là
đối
tượng
tối
hậu
của
cả
lời
truyền
tin
của
Thiên
thần,
lẫn
lời
chúc
mừng
của
mẹ
thánh
Gio-an
Tẩy
Giả:
Phúc
thay
hoa
quả
của
lòng
Bà
(Lc
1,42).
Chúng
ta
có
thể
đi
xa
hơn
và
nói
thêm
rằng
chuỗi
kinh
Kính
mừng
làm
thành
khung
cửi
trên
đó
đan
dệt
việc
chiêm
ngưỡng
các
mầu
nhiệm.
Đức
Giê-su
mà
mỗi
kinh
Kính
mừng
gợi
nhớ
cũng
là
Đức
Giê-su
mà
các
mầu
nhiệm
tiếp
nối
nhau
đề
nghị
cho
chúng
ta
tuần
tự
như
là
Con
Thiên
Chúa,
như
là
Con
của
Đức
Trinh
Nữ.
28
Đề
nghị
bổ
sung
vào
hình
thức
truyền
thống
19.
Trong
số
các
mầu
nhiệm
của
cuộc
đời
Đức
Giê-su,
chỉ
một
ít
mầu
nhiệm
được
suy
ngắm
qua
lời
kinh
mân
côi
trong
hình
thức
phổ
biến
được
Giáo
hội
phê
chuẩn.
Việc
chọn
lựa
được
xác
định
bởi
nguồn
gốc
của
lời
kinh,
đặt
nền
tảng
trên
con
số
150,
con
số
thánh
vịnh
trong
tập
Thánh
vịnh.
Thế
nhưng,
để
làm
cho
kinh
Mân
côi
có
chiều
kích
ki-tô
học
thâm
sâu
hơn,
tôi
nghĩ
rằng
ta
cần
bổ
sung
thêm
vào
hình
thức
truyền
thống,
trong
khi
vẫn
để
cho
mỗi
người
và
cộng
đoàn
tự
do,
để
có
thể
suy
gẫm
các
mầu
nhiệm
trong
cuộc
đời
công
khai
của
Đức
Ki-tô
từ
khi
Người
lãnh
nhận
Phép
rửa
cho
đến
cuộc
Khổ
nạn.
Chính
trong
khung
cảnh
của
các
mầu
nhiệm
ấy
mà
chúng
ta
chiêm
ngưỡng
các
khía
cạnh
quan
trọng
nơi
con
người
Đức
Ki-tô
như
là
mạc
khải
chung
cuộc
của
Thiên
Chúa.
Được
Chúa
Cha
tuyên
bố
là
Con
Yêu
dấu
trong
biến
cố
Phép
Rửa
tại
sông
Gióc-đan,
Đức
Ki-tô
là
Đấng
loan
báo
Nước
Trời
đang
đến,
làm
chứng
cho
Nước
Trời
bằng
những
việc
làm
của
Người
và
công
bố
những
đòi
hỏi
của
Nước
Trời.
Chính
qua
những
năm
tháng
hoạt
động
công
khai
mà
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
tỏ
ra
môt
cách
hiển
nhiên
là
mầu
nhiệm
ánh
sáng:
Bao
lâu
Thầy
còn
ở
thế
gian,
Thầy
là
ánh
sáng
thế
gian
(Ga
9,5).
Bởi
thế,
để
cho
kinh
Mân
côi
trở
thành
bản
tóm
lược
Tin
mừng
một
cách
đầy
đủ
hơn,
ta
phải
bổ
sung,
tiếp
sau
phần
suy
ngắm
về
mầu
nhiệm
Nhập
thể
và
cuộc
đời
ẩn
dật
của
Đức
Ki-tô
(các
sự
Vui),
và
trước
khi
suy
ngắm
về
các
nỗi
thống
khổ
trong
cuộc
Khổ
nạn
của
Người
(các
sự
Thương)
và
cuộc
vinh
thắng
Phục
sinh
(các
sự
Mừng),
thêm
phần
suy
ngắm
về
các
biến
cố
hết
sức
quan
trọng
trong
sứ
vụ
công
khai
của
Đức
Ki-tô
(các
mầu
nhiệm
ánh
sáng).
Việc
bổ
sung
thêm
những
mầu
nhiệm
mới
này,
không
hề
làm
phương
hại
đến
khía
cạnh
chính
yếu
nào
của
hình
thức
cầu
nguyện
truyền
thống,
trái
lại
có
mục
đích
làm
cho
hình
thức
cầu
nguyện
đó
có
một
sức
sống
tươi
mới
và
khơi
dậy
một
sự
quan
tâm
mới
về
chỗ
đứng
của
kinh
mân
côi
trong
đời
sống
thiêng
liêng
của
người
ki-tô
hữu
như
một
con
đường
đúng
đắn
để
đi
vào
Trái
tim
của
Đức
Ki-tô,
đại
dương
của
niềm
vui
và
ánh
sáng,
đau
khổ
và
vinh
quang.
Các
mầu
nhiệm
vui
20.
Năm
mươi
kinh
mân
côi
đầu
tiên,
năm
sự
vui,
mang
dấu
ấn
của
niềm
vui
toả
chiếu
từ
biến
cố
Nhập
thể.
Điều
này
quả
là
rõ
ràng
ngay
từ
mầu
nhiệm
đầu
tiên,
biến
cố
Truyền
tin,
nơi
đó
lời
sứ
thần
Ga-bri-en
chào
Trinh
nữ
làng
Na-da-rét
nối
liền
với
lời
mời
gọi
vui
hưởng
niềm
vui
thiên
sai:
Mừng
vui
lên,
hỡi
bà
Ma-ri-a.
Toàn
thể
lịch
sử
cứu
độ,
theo
một
nghĩa
nào
đó,
toàn
thể
lịch
sử
thế
giới
quy
về
lời
chào
đó.
Nếu
kế
hoạch
của
Chúa
Cha
là
quy
tụ
mọi
sự
trong
Đức
Ki-tô
(x.
Ep
1,10),
thì
một
cách
nào
đó,
toàn
thể
vũ
trụ
cũng
được
tác
động
bởi
ân
huệ
thần
linh,
với
ơn
huệ
đó
Chúa
Cha
đoái
nhìn
Đức
Ma-ri-a
và
biến
ngài
thành
Thân
mẫu
của
Con
Người.
Đến
lượt
mình,
toàn
thể
nhân
loại
như
được
bao
bọc
trong
lời
Xin
vâng,
qua
đó
Mẹ
sẵn
lòng
chấp
thuận
Thánh
ý
Thiên
Chúa.
Niềm
vui
là
nét
chính
yếu
trong
cuộc
hội
ngộ
với
bà
chị
Ê-li-da-bét,
nơi
đó
tiếng
nói
của
Đức
Ma-ri-a
và
sự
hiện
diện
của
Đức
Ki-tô
trong
cung
lòng
ngài
đã
khiến
cho
Gio-an
nhảy
lên
vui
sướng
(x.
Lc
1,44).
Niềm
vui
cũng
tràn
ngập
hoạt
cảnh
tại
Bê-lem,
khi
Hài
nhi
thánh,
Đấng
Cứu
độ
trần
gian
ra
đời,
được
loan
tin
qua
tiếng
hát
của
các
thiên
thần
và
được
loan
báo
cho
các
mục
đồng
như
là
tin
của
một
niềm
vui
lớn
(Lc
2,10).
Hai
mầu
nhiệm
sau
cùng,
tuy
vẫn
duy
trì
bầu
khí
vui
mừng,
nhưng
đã
hướng
đến
bi
kịch
sắp
đến.
Trình
thuật
Dâng
Chúa
Giê-su
trong
Đền
thánh
không
chỉ
biểu
lộ
niềm
vui
vì
Hài
nhi
được
thánh
hiến
và
sự
xuất
thần
của
cụ
Xi-mê-ông,
nhưng
còn
ghi
lại
lời
tiên
báo
Đức
Ki-tô
sẽ
trở
nên
một
dấu
hiệu
chống
báng
cho
dân
Ít-ra-en
và
một
lưỡi
gươm
đâm
thâu
tâm
hồn
Mẹ
(x
Lc
2,34-35).
Niềm
vui
xen
lẫn
với
bi
kịch
ấn
dấu
trên
mầu
nhiệm
thứ
năm,
tìm
thấy
Đức
Giê-su
trong
Đền
thánh,
khi
Người
lên
12
tuổi.
Tại
nơi
đây,
Người
đã
tỏ
ra
như
Đấng
dạy
dỗ
với
sự
khôn
ngoan
thần
linh
khi
Người
lắng
nghe
và
đặt
câu
hỏi.
Sự
mạc
khải
về
mầu
nhiệm
của
Người,
trong
tư
cách
là
người
Con
hiến
thân
trọn
vẹn
cho
công
việc
của
Chúa
Cha,
cho
thấy
tính
triệt
để
của
Tin
mừng,
ngay
cả
tương
quan
nhân
loại
thân
thiết
nhất
cũng
cũng
bị
thách
thức
bởi
những
đòi
hỏi
tuyệt
đối
của
Nước
Thiên
Chúa.
Đức
Ma-ri-a
và
thánh
Giu-se,
sợ
hãi
và
lo
âu,
không
hiểu
lời
Người
(Lc
2:50).
Như
vậy,
suy
ngắm
các
mầu
nhiệm
năm
sự
vui
là
đi
vào
các
động
cơ
tối
hậu
và
ý
nghĩa
thâm
sâu
của
niềm
vui
ki-tô
giáo.
Đó
là
tập
trung
vào
thực
tại
của
mầu
nhiệp
Nhập
thể
và
điềm
báo
khó
hiểu
của
mầu
nhiệm
Khổ
nạn
cứu
độ.
Đức
Ma-ri-a
đẫn
dắt
chúng
ta
khám
phá
bí
mật
của
niềm
vui
ki-tô
giáo,
khi
nhắc
nhở
chúng
ta
rằng
Ki-tô
giáo
tiên
vàn
là
euangelion,
Tin
mừng,
mà
trung
tâm
và
toàn
bộ
nội
dung
của
Tin
mừng
là
con
người
Đức
Giê-su
Ki-tô,
Ngôi
Lời
mặc
lấy
xác
phàm,
Đấng
Cứu
độ
duy
nhất
của
thế
giới.
Các
Mầu
nhiệm
Ánh
sáng
21.
Đi
từ
cuộc
đời
thơ
ấu
và
ẩn
dật
tại
làng
Na-da-rét
đến
cuộc
đời
công
khai
của
Đức
Giê-su,
việc
chiêm
ngưỡng
dẫn
chúng
ta
đến
những
mầu
nhiệm
có
thể
được
gọi
một
cách
đặc
biệt
là
các
mầu
nhiệm
ánh
sáng.
Dĩ
nhiên,
toàn
thể
các
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
là
một
mầu
nhiệm
ánh
sáng.
Người
là
ánh
sáng
thế
gian
(Ga
8,12).
Tuy
nhiên,
chân
lý
này
tỏ
hiện
một
cách
đặc
biệt
qua
những
năm
tháng
của
cuộc
đời
công
khai,
khi
Người
công
bố
Tin
mừng
Nước
Thiên
Chúa.
Để
đề
nghị
cho
cộng
đoàn
ki-tô
hữu
năm
thời
điểm
quan
trọng
-
các
mầu
nhiệm
chói
sáng
-
trong
giai
đoạn
này
của
cuộc
đời
Đức
Ki-tô,
tôi
nghĩ
nên
chọn
ra
những
mầu
nhiệm
sau
đây:
(1)
Chịu
phép
rửa
tại
sông
Gióc-đan
(2)
Tỏ
mình
ra
tại
tiệc
cưới
Ca-na
(3)
Công
bố
Nước
Thiên
Chúa
và
kêu
mời
sám
hối
(4)
Hiển
Dung,
và
cuối
cùng
(5)
Thiết
lập
Bí
tích
Thánh
thể
như
là
một
biểu
hiện
có
tính
bí
tích
của
Mầu
nhiệm
Vượt
qua.
Mỗi
mầu
nhiệm
trên
là
một
mạc
khải
về
Nước
Thiên
Chúa
đang
hiện
diện
trong
chính
bản
thân
Đức
Giê-su.
Phép
rửa
tại
sông
Gióc-đan
tiên
vàn
là
một
mầu
nhiệm
ánh
sáng.
Tại
đây,
khi
Người
bước
xuống
sông
Gióc-đan,
Đấng
vô
tội
đã
trở
thành
tội
vì
chúng
ta
(x.
2
Cr
5,21),
thì
cửa
trời
rộng
mở
và
có
tiếng
Chúa
Cha
tuyên
nhận
Người
là
Con
yêu
dấu
(x.
Mt
3,17
và
song
song),
trong
khi
đó,
Thánh
Thần
ngự
xuống
trên
Người
và
trao
cho
Người
sứ
mạng
mà
Người
phải
thi
hành.
Một
mầu
nhiệm
ánh
sáng
khác
là
dấu
chỉ
đầu
tiên
tại
Ca-na
(x.
Ga
2,1-
12),
khi
Người
biến
nước
thành
rượu
và
mở
rộng
tâm
hồn
các
môn
đệ
để
đón
nhận
đức
tin,
nhờ
sự
can
thiệp
của
Đức
Ma-ri-a,
người
tín
hữu
đầu
tiên.
Một
mầu
nhiệm
ánh
sáng
khác
là
lời
giảng
dạy,
qua
đó
Đức
Giê-su
loan
báo
Nước
Thiên
Chúa
đang
đến,
kêu
mời
sám
hối
(x.
Mc
1,15)
và
tha
thứ
tội
lỗi
cho
tất
cả
những
ai
đến
với
Người
trong
tâm
tình
tin
tưởng
khiêm
hạ
(x.
Mc
2,3-13;
Lc
7,47-48):
đó
là
khởi
đầu
của
tác
vụ
bày
tỏ
lòng
thương
xót
mà
Người
tiếp
tục
thi
hành
cho
đến
ngày
tận
thế,
nhất
là
qua
Bí
tích
Hoà
giải
mà
Người
uỷ
thác
cho
Giáo
hội
(x.
Ga
20,22-23).
Mầu
nhiệm
ánh
sáng
trổi
vượt
hơn
cả
là
biến
cố
Hiển
dung,
mà
truyền
thống
tin
là
đã
xảy
ra
trên
núi
Ta-bo.
Vinh
quang
Thiên
Chúa
chói
ngời
trên
dung
nhan
Đức
Ki-tô
trong
khi
Chúa
Cha
truyền
lệnh
cho
các
tông
đồ
đang
kinh
hãi
phải
nghe
lời
Người
(x.
Lc
9,35
và
song
song)
và
chuẩn
bị
cho
họ
cùng
với
Người
kinh
nghiệm
nỗi
thống
khổ
trong
cuộc
Khổ
nạn,
để
đến
với
Người
trong
niềm
vui
phục
sinh
và
trong
cuộc
sống
được
biến
hình
nhờ
quyền
năng
của
Chúa
Thánh
Thần.
Mầu
nhiệm
ánh
sáng
cuối
cùng
là
việc
thiết
lập
bí
tích
Thánh
thể,
qua
đó
Đức
Ki-tô
trao
ban
mình
và
máu
Người
dưới
hình
bánh
và
rượu,
và
khẳng
định
Người
yêu
thương
nhân
loại
cho
đến
cùng
(Ga
13,1),
Người
sẽ
hi
sinh
hiến
mình
để
cứu
chuộc
nhân
loại.
Trong
các
mầu
nhiệm
này,
ngoại
trừ
phép
lạ
Ca-na,
sự
hiện
diện
của
Đức
Ma-ri-a
là
ở
hậu
cảnh.
Các
sách
Tin
mừng
chỉ
nhắc
đến
sự
hiện
hiện
tình
cờ
của
Đức
Ma-ri-a
lúc
này
lúc
nọ
trong
cuộc
đời
rao
giảng
của
Đức
Giê-su
(x.
Mc
3,31-35;
Ga
2,12),
và
không
đưa
ra
chỉ
dẫn
nào
cho
thấy
Mẹ
hiện
diện
trong
Bữa
Tiệc
Ly
hay
trong
thời
điểm
thiết
lập
bí
tích
Thánh
Thể.
Tuy
nhiên,
vai
trò
Mẹ
đảm
nhận
trong
tiệc
cưới
Ca-na
cách
nào
đó
đã
đồng
hành
với
Đức
Ki-tô
suốt
sứ
vụ
của
Người.
Mặc
khải
do
Chúa
Cha
ban
trực
tiếp
trong
biến
cố
Phép
rửa
tại
sông
Gióc-đan
và
được
Gio-an
Tẩy
giả
làm
vang
vọng,
được
đặt
trên
môi
miệng
của
Đức
Ma-ri-a
tại
tiệc
cưới
Ca-na,
và
nó
trở
thành
lời
khuyên
từ
mẫu
quan
trọng
nhất
mà
Đức
Ma-ri-a
gởi
đến
Giáo
hội
ở
mọi
thời
đại:
Hãy
làm
điều
Người
dạy
bảo
(Ga
2,5).
Lời
khuyên
này
là
một
lời
giới
thiệu
rất
thích
hợp
về
những
lời
và
dấu
chỉ
trong
sứ
vụ
công
khai
của
Đức
Ki-tô
và
hình
thành
nền
tảng
thánh
mẫu
học
của
mỗi
một
mầu
nhiệm
ánh
sáng.
Các
Mầu
nhiệm
thương
22.
Các
sách
Tin
mừng
đặt
để
một
tầm
quan
trọng
lớn
cho
các
mầu
nhiệm
thương
khó
của
Đức
Ki-tô.
Từ
khởi
đầu,
lòng
đạo
đức
ki-tô
giáo,
đặc
biệt
trong
mùa
Chay
qua
việc
thực
hành
Đường
Thánh
giá,
đã
dừng
lại
ở
mỗi
giai
đoạn
của
cuộc
khổ
nạn,
nhận
thức
rằng
cao
điểm
của
mặc
khải
về
tình
yêu
Thiên
Chúa
và
nguồn
mạch
ơn
cứu
độ
được
tìm
thấy
nơi
đó.
Kinh
mân
côi
chọn
lựa
một
vài
giai
đoạn
của
cuộc
khổ
nạn,
để
mời
gọi
các
tín
hữu
chiêm
ngưỡng
trong
tâm
hồn
và
sống
lại
thời
điểm
ấy.
Giòng
suy
niệm
mở
đầu
với
biến
cố
vườn
Cây
dầu,
nơi
đó
Đức
Ki-tô
kinh
nghiệm
sự
sầu
não
khi
đối
diện
với
thánh
ý
Thiên
Chúa,
khi
mà
tính
yếu
đuối
của
xác
thịt
bị
cám
dỗ
muốn
chống
lại.
Nơi
đó
Đức
Giê-su
gặp
phải
mọi
cơn
cám
dỗ
và
đối
diện
với
mọi
thứ
tội
của
nhân
loại,
để
thốt
lên
với
Chúa
Cha:
Xin
đừng
theo
ý
con,
nhưng
xin
theo
ý
Cha
(Lc
22,42
và
song
song).
Tiếng
Xin
vâng
của
Đức
Ki-tô
đối
lại
với
tiếng
Không
của
tổ
tiên
chúng
ta
trong
vườn
Địa
đàng.
Và
cái
giá
của
sự
trung
thành
với
thánh
ý
Chúa
Cha
tỏ
lộ
trong
các
mầu
nhiệm
tiếp
theo;
qua
việc
đánh
đòn,
đội
mão
gai,
vác
thập
giá
và
chết
trên
thập
giá,
Chúa
đã
bị
gục
ngã
trong
những
đau
khổ
hèn
hạ
nhất:
Ecce
homo!
Sự
đau
khổ
hèn
hạ
đó
mặc
khải
không
những
tình
yêu
Thiên
Chúa
nhưng
còn
ý
nghĩa
của
chính
con
người
nữa.
Ecce
homo:
ý
nghĩa,
nguồn
gốc
và
sự
hoàn
thành
của
con
người
được
tìm
thấy
trong
Đức
Ki-tô,
vị
Thiên
Chúa
vì
yêu
thương
đã
hạ
mình
cho
đến
chết,
chết
trên
thập
giá
(Pl
2,8).
Các
sự
thương
giúp
người
tín
hữu
sống
lại
cái
chết
của
Đức
Giê-su,
đứng
dưới
chân
Thánh
giá
bên
cạnh
Đức
Ma-ri-a,
cùng
với
Mẹ
tiến
vào
chiều
sâu
thẳm
của
tình
yêu
Thiên
Chúa
đối
với
loài
người
và
kinh
nghiệm
năng
lực
trao
ban
sự
sống
của
nó.
Các
Mầu
nhiệm
mừng
23.
Việc
chiêm
ngưỡng
dung
nhan
của
Đức
Ki-tô
không
thể
dừng
lại
ở
hình
ảnh
của
Đấng
chịu
đóng
đinh.
Người
là
Đấng
đã
sống
lại!29
Kinh
mân
côi
đã
luôn
diễn
tả
sự
hiểu
biết
phát
sinh
từ
đức
tin
này
và
mời
gọi
người
tín
hữu
vượt
lên
trên
bóng
tối
của
cuộc
khổ
nạn
để
chiêm
ngắm
vinh
quang
của
Đức
Ki-tô
trong
mầu
nhiệm
sống
lại
và
lên
trời.
Khi
chiêm
ngưỡng
Đấng
phục
sinh,
người
ki-tô
hữu
tái
khám
phá
lý
do
của
niềm
tin
(x.
1
Cr
15,14)
và
sống
lại
niềm
vui
không
chỉ
của
những
người
được
Đức
Ki-tô
hiện
ra
-Các
Tông
đồ,
Bà
Ma-ri-a
Ma-đa-lê-na
và
các
môn
đệ
trên
đường
về
làng
Em-mau-
nhưng
cả
niềm
vui
của
Đức
Ma-ri-a
nữa,
đấng
đã
có
một
kinh
nghiệm
không
kém
mãnh
liệt
về
đời
sống
mới
của
người
Con
vinh
quang
của
ngài.
Trong
mầu
nhiệm
lên
trời,
Đức
Ki-tô
đã
được
nâng
lên
ngự
bên
hữu
Chúa
Cha
trong
vinh
quang,
trong
khi
chính
Đức
Ma-ri-a
sẽ
được
nâng
lên
trong
cùng
một
vinh
quang
ấy
qua
biến
cố
mông
triệu,
để
hưởng
trước,
do
bởi
một
đặc
ân
duy
nhất,
định
mệnh
được
dành
cho
mọi
người
công
chính
khi
sống
lại
từ
cõi
chết.
Đội
mão
triều
thiên
trong
vinh
quang
-
như
Mẹ
xuất
hiện
trong
mầu
nhiệm
vinh
quang
cuối
cùng
-
Đức
Ma-ri-a
toả
sáng
như
Nữ
hoàng
của
các
Thiên
thần
và
các
Thánh,
sự
hưởng
trước
và
sự
thực
hiện
hoàn
hảo
nhất
của
trạng
thái
cánh
chung
của
Giáo
hội.
Ở
trung
tâm
của
chuỗi
biến
cố
vinh
quang
của
người
Con
và
người
Mẹ,
Kinh
mân
côi
đặt
trước
chúng
ta
mầu
nhiệm
vinh
quang
thứ
ba,
lễ
Hiện
xuống,
nó
tỏ
lộ
dung
nhan
của
Giáo
hội
như
một
gia
đình
tụ
họp
cùng
với
Đức
Ma-ri-a,
tràn
đầy
sức
sống
nhờ
sự
tuôn
đổ
sức
mạnh
của
Thần
Khí
và
sẵn
sàng
chu
toàn
sứ
vụ
truyền
giáo.
Việc
chiêm
ngưỡng
hoạt
cảnh
này,
cũng
như
các
sự
mừng
khác,
phải
dẫn
đưa
các
tín
hữu
đến
việc
quý
trọng
hơn
nữa
đời
sống
mới
trong
Đức
Ki-tô,
được
sống
trong
lòng
Giáo
hội,
một
đời
sống
mà
hoạt
cảnh
Hiện
xuống
là
hình
tượng
tuyệt
vời
nhất.
Vì
thế,
các
sự
mừng
dẫn
đưa
các
tín
hữu
đến
niềm
hi
vọng
mạnh
mẽ
hơn
về
mục
tiêu
cánh
chung,
họ
hành
trình
tiến
về
đó
như
thành
viên
của
Dân
Thiên
Chúa
đang
lữ
hành
trong
lịch
sử.
Điều
đó
không
thể
không
thúc
đẩy
họ
can
đảm
làm
chứng
về
Tin
mừng
đã
đem
lại
ý
nghĩa
cho
toàn
thể
cuộc
đời
họ.
Từ
các
mầu
nhiệm
đến
Mầu
nhiệm:
con
đường
của
Đức
Ma-ri-a
24.
Chu
kỳ
suy
niệm
mà
Kinh
rất
thánh
mân
côi
đề
nghị
không
thể
nào
bao
gồm
hết
mọi
khía
cạnh,
nhưng
nó
nhắc
lại
những
điều
cốt
yếu
và
gợi
lên
trong
linh
hồn
một
sự
khao
khát
Đức
Ki-tô
luôn
được
nuôi
dưỡng
từ
nguồn
mạch
tinh
trong
của
Tin
mừng.
Mọi
biến
cố
riêng
lẻ
trong
cuộc
đời
Đức
Ki-tô,
như
được
các
tác
giả
sách
Tin
mừng
tường
thuật
lại,
đều
chói
lọi
với
Mầu
nhiệm
vượt
quá
mọi
hiểu
biết
(x.
Ep
3,19):
Mầu
nhiệm
Ngôi
Lời
nhập
thể,
nơi
Người
tất
cả
sự
viên
mãn
của
thần
tính
hiện
diện
cách
cụ
thể
(Cl
2,9).
Vì
lý
do
ấy,
sách
Giáo
lý
của
Giáo
hội
Công
giáo
nhấn
mạnh
nhiều
đến
các
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô,
khi
nhắc
lại
rằng
mọi
sự
trong
cuộc
đời
Đức
Giê-su
đều
là
dấu
chỉ
của
Mầu
nhiệm
của
Người.30
Việc
chèo
ra
chỗ
sâu
của
Giáo
hội
của
ngàn
năm
thứ
ba
sẽ
được
đánh
giá
bởi
khả
năng
của
người
ki-tô-hữu
tiến
vào
sự
thông
hiểu
phong
phú
và
đầy
đủ,
khiến
họ
nhận
biết
mầu
nhiệm
của
Thiên
Chúa,
tức
là
Đức
Kitô,
trong
Người
có
cất
giấu
mọi
kho
tàng
của
sự
khôn
ngoan
và
hiểu
biết
(Cl
2,2-3).
Thư
gởi
tín
hữu
Ê-phê-sô
dâng
lời
cầu
nguyện
chân
thành
này
cho
mọi
người
chịu
phép
Thánh
Tẩy:
Xin
cho
anh
em,
nhờ
lòng
tin,
được
Đức
Kitô
ngự
trong
tâm
hồn;
xin
cho
anh
em
được
bén
rễ
sâu
và
xây
dựng
vững
chắc
trên
đức
ái,
để
cùng
toàn
thể
các
thánh,
anh
em
đủ
sức
nhận
biết
tình
thương
của
Đức
Kitô,
là
tình
thương
vượt
quá
sự
hiểu
biết.
Như
vậy
anh
em
sẽ
được
đầy
tràn
tất
cả
sự
viên
mãn
của
Thiên
Chúa
(3,17-19).
Kinh
mân
côi
nhắm
phục
vụ
lý
tưởng
ấy;
nó
trao
ban
bí
mật
dễ
thực
hiện
để
dẫn
đến
một
sự
hiểu
biết
sâu
xa
và
nội
tâm
về
Đức
Ki-tô.
Chúng
ta
có
thể
gọi
đó
là
con
đường
của
Đức
Ma-ri-a.
Đó
là
con
đường
của
mẫu
gương
Đức
Nữ
Trinh
Na-da-rét,
một
người
phụ
nữ
của
lòng
tin,
của
thinh
lặng,
của
lắng
nghe
chăm
chú.
Đó
cũng
là
con
đường
của
lòng
sùng
kính
Đức
Ma-ri-a,
được
khiến
hứng
bởi
sự
hiểu
biết
về
mối
giây
không
thể
phân
ly
giữa
Đức
Ki-tô
và
Mẹ
thánh
Người:
các
mầu
nhiệm
của
Đức
Ki-tô
theo
một
nghĩa
nào
đó
cũng
là
các
mầu
nhiệm
của
Mẹ
Người,
ngay
cả
khi
chúng
không
dính
dáng
Mẹ
cách
trực
tiếp,
bởi
vì
Mẹ
sống
bởi
Người
và
qua
Người.
Khi
xem
những
lời
của
Thiên
thần
Ga-bri-en
và
Bà
Ê-li-sa-bét
trong
Kinh
Kính
mừng
như
của
chúng
ta,
chúng
ta
cảm
thấy
luôn
bị
lôi
kéo
tìm
kiếm
cách
luôn
mới
mẻ
nơi
Đức
Ma-ri-a,
trong
vòng
tay
và
trong
con
tim
của
Mẹ,
hoa
quả
được
chúc
phúc
của
lòng
Bà
(x
Lc
1,42).
Mầu
nhiệm
của
Đức
Ki-tô,
mầu
nhiệm
của
con
người
25.
Trong
chứng
từ
của
tôi
năm
1978
được
nhắc
lại
ở
trên,
khi
tôi
nói
Kinh
mân
côi
là
lời
kinh
ưa
thích
của
tôi,
tôi
đã
sử
dụng
một
ý
mà
tôi
muốn
đề
cập
lại.
Tôi
đã
nói
rằng
lời
kinh
đơn
sơ
của
Kinh
mân
côi
đánh
dấu
nhịp
sống
của
con
người.31
Dưới
ánh
sáng
của
những
suy
tư
cho
tới
nay
về
các
mầu
nhiệm
của
Đức
Ki-tô,
đi
sâu
vào
ý
nghĩa
nhân
học
của
Kinh
mân
côi
thì
không
phải
là
điều
khó,
nó
sâu
xa
hơn
cái
dáng
vẻ
thấy
lần
đầu.
Bất
cứ
ai
chiêm
ngưỡng
Đức
Ki-tô
qua
những
giai
đoạn
khác
nhau
của
cuộc
đời
Người
không
thể
không
nhận
ra
trong
Người
chân
lý
về
con
người.
Đó
là
khẳng
định
quan
trọng
của
Công
đồng
Va-ti-ca-nô
II
mà
tôi
thường
bàn
luận
trong
các
giáo
huấn
của
tôi
kể
từ
Thông
điệp
Redemptor
Hominis:
Chỉ
trong
mầu
nhiệm
của
Ngôi
Lời
Nhập
thể
mà
mầu
nhiệm
của
con
người
được
xem
thấy
trong
ánh
sáng
đích
thực
của
nó.32
Kinh
mân
côi
giúp
mở
ra
con
đường
hướng
về
ánh
sáng
này.
Khi
đi
theo
con
đường
của
Đức
Ki-tô,
con
đường
của
con
người
được
tóm
kết,
33
mặc
khải
và
cứu
chuộc
trong
Người,
người
tín
hữu
đi
đến
việc
trực
diện
với
hình
ảnh
của
con
người
đích
thực.
Chiêm
ngưỡng
việc
Đức
Ki-tô
hạ
sinh,
họ
học
biết
tính
cách
thánh
thiêng
của
sự
sống;
khi
nhìn
vào
gia
đình
Na-da-rét,
họ
học
biết
chân
lý
nguyên
thủy
của
gia
đình
theo
như
kế
hoạch
của
Thiên
Chúa;
khi
lắng
nghe
Thầy
trong
các
mầu
nhiệm
của
sứ
vụ
công
khai,
họ
tìm
thấy
ánh
sáng
dẫn
đưa
họ
vào
Nước
Trời;
và
khi
bước
theo
Người
tiến
đến
Núi
Sọ,
họ
học
biết
ý
nghĩa
của
đau
khổ
đem
lại
ơn
cứu
độ.
Cuối
cùng,
chiêm
ngưỡng
Đức
Ki-tô
và
Mẹ
rất
thánh
Người
trong
vinh
quang,
họ
thấy
được
cùng
đích
mà
mỗi
người
trong
chúng
ta
được
mời
gọi
hướng
về,
nếu
chúng
ta
để
cho
Chúa
Thánh
Thần
chữa
trị
và
biến
đổi
chúng
ta.
Ta
có
thể
nói
rằng
mỗi
mầu
nhiệm
của
Kinh
mân
côi,
một
khi
được
suy
niệm
thấu
đáo,
chiếu
toả
ánh
sáng
trên
mầu
nhiệm
của
con
người.
Đồng
thời,
sẽ
là
việc
tự
nhiên
khi
ta
mang
theo,
trong
cuộc
gặp
gỡ
này
với
nhân
tính
thánh
thiện
của
Đấng
Cứu
chuộc,
mọi
vấn
đề,
lo
lắng,
lao
công
và
nỗ
lực
dệt
nên
cuộc
sống
chúng
ta.
Hãy
trút
mọi
gánh
lo
vào
tay
Chúa
và
Người
sẽ
đỡ
đần
cho
(Tv
55,23).
Cầu
nguyện
bằng
Kinh
mân
côi
là
trút
bỏ
mọi
gánh
nặng
của
chúng
ta
vào
trong
trái
tim
thương
xót
của
Đức
Ki-tô
và
Mẹ
Người.
Sau
25
năm,
khi
nhìn
lại
các
khó
khăn
gặp
phải
khi
thi
hành
chức
vụ
giáo
hoàng,
tôi
cảm
thấy
cần
phải
nói
thêm,
như
một
lời
mời
gọi
nồng
nhiệt
gởi
đến
mọi
người
để
họ
đích
thân
cảm
nghiệm:
quả
thực
Kinh
mân
côi
đánh
dấu
nhịp
sống
của
con
người,
khi
làm
cho
nó
hoà
hợp
với
nhịp
sống
của
Thiên
Chúa,
trong
sự
thông
hiệp
hân
hoan
với
Thiên
Chúa
Ba
Ngôi,
định
mệnh
của
cuộc
sống
chúng
ta
và
khát
vọng
sâu
xa
nhất.
