TÔNG
THƯ
ROSARIUM
VIRGINIS
MARIAE
CỦA
ĐỨC
THÁNH
CHA
GIOAN
PHAO-LÔ
II
GỞI
CÁC
GIÁM
MỤC,
LINH
MỤC
VÀ
CÁC
TÍN
HỮU
VỀ
KINH
RẤT
THÁNH
MÂN
CÔI
Dẫn
Nhập
-
Chương
1
Chương
2
Chương
3
Kết
luận
Chương
III
Đối
với
tôi,
sống
là
Đức
Ki-tô
Kinh
mân
côi,
một
cách
đồng
hoá
với
mầu
nhiệm
26.
Việc
suy
ngắm
các
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
trong
Kinh
mân
côi
được
thực
hiện
bằng
một
phương
pháp
được
lập
ra
để
giúp
ta
đồng
hoá
với
mầu
nhiệm.
Đó
là
phương
pháp
dựa
trên
việc
lặp
đi
lặp
lại.
Việc
lặp
đi
lặp
lại
trước
tiên
được
áp
dụng
cho
Kinh
kính
mừng,
được
lặp
lại
10
lần
trong
mỗi
mầu
nhiệm.
Nếu
lời
kinh
này
được
lặp
đi
lặp
lại
một
cách
hời
hợt,
chắc
hẳn
người
ta
sẽ
có
cám
dỗ
xem
kinh
mân
côi
như
một
việc
đạo
đức
khô
khan
và
nhàm
chán.
Trái
lại,
người
ta
sẽ
không
cảm
thấy
khô
khan,
nhàm
chán,
nếu
xem
kinh
Mân
côi
như
một
sự
dâng
trào
của
tình
yêu
không
ngừng
hướng
về
Đấng
mình
yêu
mến,
với
những
cách
diễn
tả
tuy
giống
nhau
trong
nội
dung,
nhưng
luôn
luôn
mới
mẻ
về
phương
diện
cảm
xúc.
Trong
Đức
Ki-tô,
Thiên
Chúa
thật
sự
đã
nhận
lấy
một
trái
tim
bằng
thịt.
Thiên
Chúa
không
chỉ
có
một
trái
tim
thần
linh,
giàu
lòng
thương
xót
và
tha
thứ,
song
Người
cũng
có
một
trái
tim
nhân
loại,
có
khả
năng
biểu
lộ
những
tình
cảm
sôi
nổi.
Nếu
chúng
ta
cần
chứng
cứ
trong
Tin
mừng,
chúng
ta
có
thể
dễ
dàng
tìm
thấy
trong
cuộc
đối
thoại
cảm
động
giữa
Đức
Ki-tô
và
Phê-rô
sau
khi
Người
sống
lại:
Này
anh
Si-mon,
con
ông
Gio-an,
anh
có
mến
Thầy
không?
Người
hỏi
Phê-rô
đến
ba
lần,
và
ông
cũng
trả
lời
ba
lần:
Thưa
Thầy
có,
Thầy
biết
con
yêu
mến
Thầy
(x.
Ga
21,15-17).
Vượt
lên
trên
ý
nghĩa
đặc
thù
của
đoạn
văn,
rất
quan
trọng
về
sứ
mạng
của
Phê-rô,
không
ai
mà
không
nhận
thấy
vẻ
đẹp
của
việc
lặp
đi
lặp
lại
ba
lần,
qua
đó
câu
hỏi
nài
nỉ
và
câu
trả
lời
tương
ứng
được
diễn
tả
bằng
thứ
ngôn
ngữ
quen
thuộc
trong
kinh
nghiệm
phổ
quát
của
tình
yêu
nhân
loại.
Để
hiểu
Kinh
mân
côi,
ta
phải
đi
vào
trong
năng
động
tâm
lý
riêng
của
tình
yêu.
Một
điều
rõ
ràng
là:
cho
dù
lời
kinh
Kính
mừng
được
lặp
đi
lặp
lại
trực
tiếp
dâng
lên
Đức
Ma-ri-a,
nhưng
hành
vi
yêu
thương
rốt
cuộc
lại
hướng
về
chính
Đức
Ki-tô,
với
Mẹ
và
qua
Mẹ.
Việc
lặp
đi
lặp
lại
được
nuôi
dưỡng
bởi
lòng
khao
khát
được
trở
nên
đồng
hình
đồng
dạng
hoàn
hảo
hơn
với
Đức
Ki-tô,
đó
là
dự
phóng
đích
thật
của
đời
sống
ki-tô
hữu.
Thánh
Phao-lô
diễn
tả
dự
phóng
đó
bằng
những
lời
đầy
lửa
mến:
Đối
với
tôi,
sống
là
Chúa
Ki-tô,
và
chết
là
một
mối
lợi
(Pl
1,21).
Và
lại
nữa:
Tôi
sống,
nhưng
không
còn
phải
là
tôi,
mà
là
Đức
Ki-tô
sống
trong
tôi
(Gl
2,20).
Kinh
mân
côi
giúp
chúng
ta
trở
nên
đồng
hình
đồng
dạng
với
Đức
Ki-tô
sát
hơn,
cho
đến
khi
chúng
ta
đạt
được
sự
thánh
thiện
thật
sự.
Một
phương
thức
có
giá
trị...
27.
Chúng
ta
đừng
ngạc
nhiên
rằng
mối
tương
giao
của
chúng
ta
với
Đức
Ki-tô
cũng
cần
có
một
phương
pháp.
Thiên
Chúa
thông
ban
chính
mình
cho
chúng
ta
mà
vẫn
tôn
trọng
bản
tính
nhân
loại
và
nhịp
sống
của
chúng
ta.
Vì
thế,
mặc
dầu
linh
đạo
ki-tô
giáo
quen
thuộc
với
những
hình
thức
tuyệt
vời
nhất
của
sự
thinh
lặng
thần
giao,
trong
đó
tất
cả
các
hình
ảnh,
lời
nói
và
cử
chỉ
nhường
chỗ
cho
sự
kết
hiệp
liên
lỉ
và
khôn
tả
với
Thiên
Chúa,
song
linh
đạo
ấy
thường
mang
dấu
ấn
của
một
sự
dấn
thân
của
toàn
thể
con
người
cùng
với
thực
trạng
phức
tạp
về
tâm
lý,
thể
lý
và
tương
quan.
Điều
này
thể
hiện
rõ
ràng
trong
Phụng
vụ.
Các
bí
tích
và
á
bí
tích
được
cấu
trúc
như
một
chuỗi
các
nghi
thức
dựa
trên
các
chiều
kích
của
con
người.
Điều
tương
tự
như
thế
cũng
áp
dụng
cho
những
việc
đạo
đức
khác.
Điều
này
được
chứng
thực
bởi
sự
kiện
là
trong
Giáo
hội
Đông
phương,
lời
cầu
nguyện
đặc
trưng
nhất
của
lối
suy
gẫm
có
tính
ki-tô,
xoáy
quanh
những
lời:
Lạy
Chúa
Giê-su
Ki-tô,
xin
thương
xót
con
là
kẻ
tội
lỗi,
theo
truyền
thống
thường
liên
kết
với
nhịp
thở;
việc
thực
hành
này
vừa
tạo
thuận
lợi
cho
sự
kiên
trì
trong
cầu
nguyện,
vừa
biểu
hiện
trong
mức
độ
nào
đó
lòng
khao
khát
muốn
Đức
Ki-tô
trở
thành
hơi
thở,
linh
hồn
và
là
tất
cả
của
đời
sống.
...tuy
nhiên,
vẫn
còn
có
thể
cải
thiện
28.
Trong
tông
thư
Novo
Millennio
Ineunte,
tôi
đã
đề
cập
đến
một
nhu
cầu
nguyện
gẫm
mới
ở
phương
Tây,
nhu
cầu
nầy
đôi
khi
khiến
người
ta
ưa
thích
các
hình
thái
trong
các
tôn
giáo
khác.
35
Một
số
ki-tô
hữu,
vì
hiểu
biết
truyền
thống
chiêm
ngưỡng
ki-tô
giáo
một
cách
nông
cạn,
nên
đã
bị
các
hình
thức
cầu
nguyện
ấy
lôi
cuốn.
Cho
dù
các
hình
thức
cầu
nguyện
này
có
nhiều
yếu
tố
tích
cực
và
có
khi
tương
hợp
với
kinh
nghiệm
ki-tô
giáo,
song
chúng
thường
đặt
nền
tảng
trên
những
tiền
đề
tuyệt
nhiên
không
thể
chấp
nhận
được.
Thứ
đang
thịnh
hành
trong
những
lối
tiếp
cận
này
là
những
phương
pháp
sử
dụng
kỹ
thuật
có
tính
chất
tâm
lý,
lập
đi
lập
lại
và
biểu
tượng
nhằm
làm
cho
tâm
trí
tập
trung
cao
độ.
Kinh
Mân
côi
tuy
nằm
trong
bối
cảnh
rộng
lớn
của
hiện
tượng
tôn
giáo,
nhưng
lại
trổi
vượt
hơn
nhờ
những
đặc
tính
riêng
phù
hợp
với
những
đòi
hỏi
đặc
thù
của
ki-tô
giáo.
Quả
thực,
Kinh
Mân
côi
đơn
thuần
là
một
phương
pháp
chiêm
ngưỡng.
Vì
là
một
phương
pháp,
kinh
Mân
côi
được
dùng
như
một
phương
tiện
để
đạt
tới
một
mục
đích,
chứ
tự
nó
không
phải
là
mục
đích.
Dầu
vậy,
vì
cách
thức
này
là
hoa
quả
của
một
kinh
nghiệm
lâu
đời,
nên
không
được
xem
thường.
Ta
có
thể
kể
đến
kinh
nghiệm
của
vô
vàn
thánh
nhân
bênh
vực
cho
cách
thức
đó.
Tuy
nhiên,
nói
như
thế
không
có
nghĩa
là
phương
pháp
ấy
chẳng
cần
phải
cải
thiện.
Đó
chính
là
mục
đích
của
việc
bổ
sung
một
loạt
những
mầu
nhiệm
ánh
sáng
vào
toàn
thể
chu
kỳ
các
mầu
nhiệm
và
một
vài
gợi
ý
tôi
đề
nghị
trong
tông
thư
này
liên
quan
đến
cách
đọc.
Những
gợi
ý
này,
trong
khi
vẫn
tôn
trọng
cấu
trúc
đã
được
thiết
lập
rất
tốt
của
lời
kinh,
có
dụng
ý
muốn
giúp
tín
hữu
am
hiểu
lời
kinh
trong
tính
chất
biểu
tượng
phong
phú
của
nó
và
trong
sự
hoà
hợp
đối
với
những
yêu
cầu
của
cuộc
sống
hằng
ngày.
Nếu
không,
kinh
Mân
côi
chẳng
những
có
nguy
cơ
không
làm
phát
sinh
những
hiệu
quả
thiêng
liêng,
mà
ngay
cả
tràng
hạt
thường
được
dùng
để
đọc
kinh,
cũng
có
thể
trở
thành
một
loại
bùa
phép
hay
linh
vật,
như
thế
là
bóp
méo
hoàn
toàn
ý
nghĩa
và
công
dụng
của
nó.
Công
bố
mỗi
mầu
nhiệm
29.
Việc
công
bố
mỗi
mầu
nhiệm,
và
ngay
cả
việc
sử
dụng
một
ảnh
tượng
thích
hợp
để
chiêm
ngắm,
thì
giống
như
thể
là
mở
ra
một
cảnh
tượng
để
tập
trung
chú
ý
vào
đó.
Các
lời
đọc
hướng
trí
tưởng
tượng
và
tâm
trí
về
một
giai
đoạn
hay
thời
điểm
đặc
biệt
trong
cuộc
đời
Đức
Ki-tô.
Trong
linh
đạo
truyền
thống
của
Giáo
hội,
việc
tôn
kính
các
ảnh
tượng
và
nhiều
việc
sùng
kính
mang
nhiều
yếu
tố
cảm
giác,
cũng
như
phương
pháp
cầu
nguyện
được
thánh
I-nha-xi-ô
đề
nghị
trong
các
bài
Linh
thao,
sử
dụng
các
yếu
tố
thị
giác
và
tưởng
tượng
(compositio
loci),
được
đánh
giá
là
một
sự
hỗ
trợ
lớn,
giúp
tâm
trí
tập
trung
vào
mầu
nhiệm.
Ngoài
ra,
đây
là
một
phương
pháp
học
phù
hợp
với
cái
lô-gic
nội
tại
của
mầu
nhiệm
Nhập
thể:
trong
Đức
Giê-su,
Thiên
Chúa
muốn
nhận
lấy
những
nét
của
con
người.
Chính
nhờ
thân
xác
của
Người
mà
chúng
ta
được
dẫn
đến
tiếp
xúc
với
mầu
nhiệm
thiên
tính
của
Người.
Việc
công
bố
các
mầu
nhiệm
khác
nhau
trong
kinh
Mân
côi
đáp
ứng
đòi
hỏi
tính
cụ
thể
ấy.
Các
mầu
nhiệm
này
tất
nhiên
không
thay
thế
cho
Tin
mừng
và
cũng
không
đề
cập
đến
toàn
bộ
nội
dung
của
Tin
mừng.
Vì
thế,
Kinh
Mân
côi
không
thay
thế
việc
đọc
Kinh
thánh,
lectio
divina;
trái
lại,
Kinh
Mân
côi
giả
định
trước
và
cổ
võ
việc
đọc
Kinh
thánh.
Tuy
nhiên,
cho
dẫu
các
mầu
nhiệm
được
chiêm
ngắm
trong
Kinh
Mân
côi,
dù
có
bổ
sung
các
Mầu
nhiệm
Ánh
sáng,
chỉ
phác
hoạ
nên
các
yếu
tố
cơ
bản
trong
cuộc
đời
Đức
Ki-tô,
thì
nhờ
các
mầu
nhiệm
ấy,
tâm
trí
cũng
dễ
dàng
nắm
bắt
phần
còn
lại
của
Tin
mừng,
nhất
là
khi
Kinh
mân
côi
được
cầu
nguyện
trong
khung
cảnh
của
một
cuộc
suy
niệm
kéo
dài.
Lắng
nghe
Lời
Thiên
Chúa
30.
Để
việc
suy
ngắm
có
được
một
nền
tảng
Kinh
Thánh
và
có
chiều
sâu
hơn,
sau
khi
xướng
tên
mầu
nhiệm,
cần
công
bố
đoạn
Kinh
Thánh
liên
quan
đến
mầu
nhiệm
ấy,
dài
ngắn
tùy
theo
hoàn
cảnh.
Không
lời
nào
khác
có
thể
sánh
được
tính
hiệu
nghiệm
của
Lời
được
linh
hứng.
Khi
lắng
nghe,
chúng
ta
xác
tín
rằng
đó
là
Lời
Thiên
Chúa,
được
công
bố
cho
ngày
hôm
nay
và
cho
tôi.
Nếu
được
đón
nhận
theo
cách
thức
như
thế,
Lời
Thiên
Chúa
có
thể
trở
thành
một
phần
của
phương
pháp
lặp
đi
lặp
lại
của
Kinh
Mân
côi,
mà
không
gây
ra
sự
buồn
chán
do
việc
chỉ
đơn
thần
hồi
tưởng
lại
điều
gì
đã
biết
quá
rõ.
Vấn
đề
không
phải
là
nhắc
lại
một
thông
tin,
nhưng
là
để
cho
Thiên
Chúa
nói.
Trong
những
buổi
cử
hành
chung
trọng
thể,
Lời
này
có
thể
được
minh
hoạ
cách
tương
xứng
bằng
việc
giảng
giải
vắn
gọn.
Thinh
lặng
31.
Lắng
nghe
và
suy
ngắm
được
nuôi
dưỡng
bằng
thinh
lặng.
Sau
khi
xướng
lên
mầu
nhiệm
và
công
bố
Lời
Chúa,
quả
là
thích
hợp
việc
ngừng
lại
một
thời
gian
thích
đáng
để
tập
trung
chú
ý
vào
mầu
nhiệm
liên
hệ,
trước
khi
chuyển
sang
việc
đọc
kinh.
Khám
phá
ra
tầm
quan
trọng
của
sự
thinh
lặng
là
một
trong
những
bí
quyết
của
thực
hành
suy
ngắm
và
chiêm
ngưỡng.
Trong
một
xã
hội
bị
nền
công
nghệ
và
truyền
thông
đại
chúng
thống
trị,
sự
thinh
lặng
càng
ngày
càng
khó
thực
hiện
hơn.
Cũng
như
những
thời
gian
thinh
lặng
được
khuyến
cáo
trong
Phụng
vụ,
trong
việc
suy
ngắm
kinh
Mân
côi
cũng
vậy,
quả
là
thích
hợp
việc
ngưng
lại
một
lát
sau
khi
nghe
Lời
Thiên
Chúa,
đang
khi
tâm
trí
tập
trung
vào
nội
dung
của
một
mầu
nhiệm.
Kinh
Lạy
Cha
32.
Sau
khi
lắng
nghe
Lời
Chúa
và
chú
tâm
vào
mầu
nhiệm,
lòng
trí
đương
nhiên
được
nâng
lên
cùng
Chúa
Cha.
Trong
mỗi
mầu
nhiệm,
Đức
Giê-su
luôn
luôn
dẫn
dắt
chúng
ta
đến
với
Chúa
Cha,
vì
Người
ở
nơi
cung
lòng
Chúa
Cha
(x.
Ga
1,18),
Người
không
ngừng
hướng
về
Cha.
Người
mong
muốn
chúng
ta
chia
sẻ
đời
sống
thân
mật
của
Người
với
Chúa
Cha,
đến
nỗi
chúng
ta
có
thể
cùng
Người
thân
thưa:
Abba,
Cha
ơi
(Rm
8,15;
Gl
4,6).
Nhờ
mối
tương
giao
với
Chúa
Cha,
Người
làm
cho
chúng
ta
trở
nên
anh
em
và
chị
em
của
Người,
đồng
thời
trở
nên
anh
chị
em
với
nhau,
bằng
cách
thông
ban
cho
chúng
ta
Thánh
Thần
của
Người
và
cũng
là
Thánh
Thần
của
Chúa
Cha.
Kinh
Lạy
Cha,
được
xếp
đặt
như
nền
móng
cho
việc
suy
ngắm
có
tính
ki-tô
học
và
thánh
mẫu
học
biểu
lộ
qua
việc
lặp
đi
lặp
lại
Kinh
Kính
mừng,
biến
việc
suy
ngắm
mầu
nhiệm,
ngay
cả
lúc
nguyện
ngắm
một
mình,
thành
một
kinh
nghiệm
có
tính
Giáo
hội.
Mười
Kinh
Kính
mừng
33.
Đây
là
yếu
tố
trọng
yếu
nhất
trong
Kinh
mân
côi
và
cũng
là
yếu
tố
làm
cho
kinh
mân
côi
trở
thành
lời
kinh
ưu
việt
có
chiều
kích
Ma-ri-a.
Tuy
nhiên,
nếu
thấu
hiểu
Kinh
Kính
mừng
cách
đúng
đắn,
chúng
ta
sẽ
thấy
rõ
đặc
tính
thánh
mẫu
học
của
lời
kinh
không
đối
nghịch
với
đặc
tính
ki-tô
học,
trái
lại
nó
thật
sự
làm
nổi
bật
và
gia
tăng
đặc
tính
ki-tô
học.
Phần
đầu
Kinh
kính
mừng,
được
rút
ra
từ
lời
sứ
thần
Gáp-bri-en
và
thánh
nữ
Ê-li-da-bét
nói
với
Đức
Ma-ri-a,
là
một
sự
chiêm
ngưỡng
và
thờ
lạy
đối
với
mầu
nhiệm
được
thực
hiện
nơi
Trinh
nữ
làng
Na-gia-rét.
Có
thể
nói
là
những
lời
này
biểu
lộ
sự
kinh
ngạc
của
trời
và
đất,
đồng
thời
cho
chúng
ta
thoáng
thấy
sự
kinh
ngạc
của
chính
Thiên
Chúa,
khi
Người
chiêm
ngắm
kiệt
tác
của
Người
-
Người
Con
Nhập
thể
trong
cung
lòng
Trinh
nữ
Ma-ri-a.
Nếu
chúng
ta
nhớ
lại
trong
sách
Sáng
thế,
Thiên
Chúa
đã
thấy
mọi
sự
Người
đã
làm
ra
như
thế
nào
(St
1,31),
chúng
ta
có
thể
tìm
thấy
nơi
đây
âm
vang
của
pathos,
mà
ngay
từ
khởi
nguyên,
Thiên
Chúa
đã
đoái
nhìn
công
trình
tay
Người
thực
hiện.36
Việc
lặp
đi
lặp
lại
Kinh
kính
mừng
cho
chúng
ta
chia
sẻ
sự
kinh
ngạc
và
vui
thích
của
chính
Thiên
Chúa:
đó
là
niềm
hân
hoan,
khâm
phục
và
tri
ân
vì
phép
lạ
vĩ
đại
nhất
của
lịch
sử.
Ở
đây,
lời
tiên
tri
của
Đức
Ma-ri-a
được
thực
hiện
trọn
vẹn:
Từ
nay,
hết
mọi
đời
sẽ
khen
tôi
diễm
phúc
(Lc
1,48).
Trọng
tâm
của
Kinh
Mân
côi,
ví
như
bản
lề
nối
kết
hai
phần,
là
Danh
Chúa
Giê-su.
Đôi
khi
vì
nguyện
kinh
hấp
tấp
mà
đánh
mất
trọng
tâm
này,
và
vì
thế
mà
không
còn
liên
kết
với
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
đang
được
chiêm
ngưỡng.
Chính
sự
nhấn
mạnh
vào
Danh
Đức
Giê-su
và
mầu
nhiệm
của
Người
mà
ta
phân
biệt
được
một
việc
đọc
kinh
Mân
côi
có
ý
nghĩa
và
hữu
ích.
Trong
tông
huấn
Marialis
Cultus,
Đức
Giáo
hoàng
Phao-lô
VI
đã
lưu
ý
đến
thói
quen
của
một
vài
miền
trong
việc
nêu
bật
Danh
Đức
Ki-tô,
bằng
cách
thêm
vào
một
câu
ngắn
gợi
lên
mầu
nhiệm
đang
chiêm
ngưỡng.37
Đây
là
một
thực
hành
đáng
khen
ngợi,
nhất
là
trong
những
buổi
nguyện
kinh
chung.
Nó
biểu
lộ
một
cách
sinh
đông
niềm
tin
vào
Đức
Ki-tô,
khi
hướng
đến
các
thời
điểm
khác
nhau
trong
cuộc
đời
của
Đấng
Cứu
thế.
Đồng
thời,
đó
còn
là
một
việc
tuyên
tín
và
là
một
sự
hỗ
trợ
giúp
chú
tâm
vào
việc
nguyện
ngắm,
tạo
điều
kiện
thuận
lợi
cho
việc
đồng
hoá
với
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
gắn
liền
với
việc
lặp
đi
lặp
lại
Kinh
Kính
mừng.
Lặp
đi
lăp
lại
Danh
Chúa
Giê-su
-
Danh
duy
nhất
được
ban
cho
ta
hầu
ta
có
thể
hy
vọng
được
cứu
rỗi
(x.
Cv
4,12)
-
trong
sự
liên
kết
mật
thiết
với
danh
của
Thánh
mẫu
Người,
và
hầu
như
làm
theo
gợi
ý
của
Mẹ,
chúng
ta
bước
đi
trên
con
đường
đồng
hoá,
tức
là
giúp
chúng
ta
chìm
sâu
hơn
vào
đời
sống
của
Đức
Ki-tô.
Từ
mối
tương
giao
đặc
biệt
và
duy
nhất
của
Đức
Ma-ri-a
với
Đức
Ki-tô,
làm
cho
Mẹ
trở
nên
Mẹ
Thiên
Chúa,
Theotĩkos,
phát
sinh
sức
mạnh
của
lời
khẩn
cầu
chúng
ta
dâng
lên
Mẹ
trong
phần
thứ
hai
của
lời
kinh,
khi
chúng
ta
phó
thác
đời
sống
và
giờ
lâm
tử
của
chúng
ta
cho
lời
chuyển
cầu
từ
mẫu
của
Mẹ.
Kinh
Sáng
danh
34.
Vinh
tụng
ca
Ba
Ngôi
là
mục
tiêu
của
mọi
chiêm
ngưỡng
ki-tô
giáo.
Bởi
vì
Đức
Ki-tô
là
con
đường
dẫn
chúng
ta
đến
Chúa
Cha
trong
Chúa
Thánh
Thần.
Nếu
chúng
ta
đi
con
đường
ấy
cho
đến
cùng,
chúng
ta
gặp
gỡ
đi
gặp
gỡ
lại
mầu
nhiệm
của
Ba
Ngôi
Thiên
Chúa,
Đấng
xứng
đáng
lãnh
nhận
mọi
lời
ca
ngợi,
thờ
phượng
và
cảm
tạ.
Quả
là
quan
trọng
việc
làm
nổi
bật
kinh
Sáng
danh,
cao
điểm
của
chiêm
ngưỡng,
trong
Kinh
mân
côi.
Khi
đọc
chung,
có
thể
hát
lên,
như
một
cách
thức
nhấn
mạnh
đến
cơ
cấu
Ba
Ngôi
của
mọi
lời
kinh
ki-tô
giáo.
Việc
suy
niệm
về
mầu
nhiệm
càng
chăm
chú
và
sâu
sắc,
và
càng
sinh
động
-
từ
Kinh
Kính
mừng
sang
Kinh
Kính
mừng
khác
-
bởi
tình
yêu
đối
với
Đức
Ki-tô
và
Đức
Ma-ri-a,
lời
kinh
vinh
danh
Ba
Ngôi
ở
cuối
mỗi
chục
kinh,
thay
vì
chỉ
là
một
kết
thúc
làm
chiếu
lệ,
lại
càng
có
sắc
thái
chiêm
ngưỡng
riêng,
khi
nâng
tâm
hồn
lên
chiều
cao
của
thiên
đàng
và
giúp
chúng
ta
cách
nào
đó
sống
lại
kinh
nghiệm
tại
núi
Ta-bo,
một
nếm
cảm
trước
việc
chiêm
ngưỡng
tương
lai:
Chúng
con
ở
đây
quả
là
đẹp!
(Lc
9,33).
Lời
kinh
ngắn
kết
thúc
35.
Trong
việc
thực
hành
hiện
nay,
Vinh
tụng
ca
Ba
Ngôi
được
tiếp
nối
bởi
một
lời
kinh
kết
thúc
ngắn,
thay
đổi
tùy
tục
lệ
địa
phương.
Không
hề
giảm
bớt
giá
trị
của
những
lời
khẩn
cầu
như
thế,
đáng
ghi
nhận
rằng
việc
chiêm
ngưỡng
các
mầu
nhiệm
có
thể
được
diễn
tả
tốt
hơn
sự
phong
phú
thiêng
liêng
của
nó
nếu
có
một
nỗ
lực
kết
thúc
mỗi
mầu
nhiệm
bằng
một
lời
kinh
nhắm
đến
hoa
quả
đặc
biệt
của
mầu
nhiệm
đó.
Theo
cách
đó,
Kinh
mân
côi
có
thể
diễn
tả
tốt
hơn
mối
quan
hệ
của
nó
với
đời
sống
ki-tô
hữu.
Điều
đó
được
gợi
hứng
từ
một
lời
kinh
Phụng
vụ
đẹp,
mời
gọi
chúng
ta
cầu
xin,
nhờ
suy
niệm
về
các
mầu
nhiệm
của
Kinh
mân
côi,
chúng
ta
có
thể
noi
gương
điều
chúng
chứa
đựng
và
đạt
đến
điều
chúng
hứa
ban.38
Một
lời
kinh
kết
thúc
như
thế
có
thể
có
nhiều
hình
thức
khác
nhau,
như
đã
thấy
trong
thực
hành.
Như
thế
Kinh
mân
côi
có
thể
thích
nghi
tốt
hơn
với
những
truyền
thống
thiêng
liêng
khác
nhau
và
các
cộng
đoàn
ki-tô
giáo
khác
nhau.
Vậy
mong
ước
rằng
những
công
thức
thích
hợp
sẽ
được
lưu
hành
rộng
rãi,
sau
khi
được
xem
xét
về
phương
diện
mục
vụ
và
nếu
được,
sau
khi
được
dùng
thử
tại
những
trung
tâm
và
đền
thánh
sùng
kính
đặc
biệt
Kinh
mân
côi,
để
Dân
Thiên
Chúa
có
thể
hưởng
nhờ
từ
sự
phong
phú
của
những
của
cải
thiêng
liêng
đích
thực
và
tìm
thấy
của
ăn
nuôi
dưỡng
đời
sống
chiêm
ngưỡng
cá
nhân.
Chuỗi
mân
côi
36.
Tràng
hạt
là
phương
tiện
truyền
thống
giúp
đọc
kinh
mân
côi.
Ở
bình
diện
hời
hợt
nhất,
tràng
hạt
thường
được
xem
là
dụng
cụ
dùng
để
đếm
các
Kinh
Kính
mừng.
Tuy
nhiên
nó
cũng
có
thể
xem
như
một
biểu
tượng
giúp
đi
vào
chiều
sâu
của
chiêm
ngưỡng.
Ở
đây
điều
đầu
tiên
đáng
ghi
nhận
là
cách
thức
các
chuỗi
hạt
đều
đổ
về
tượng
Thánh
giá;
Thánh
giá
vừa
mở
ra
vừa
đóng
lại
chuỗi
lời
kinh.
Cuộc
sống
và
lời
cầu
nguyện
của
người
tín
hữu
đều
tập
trung
vào
Đức
Ki-tô.
Mọi
sự
bắt
đầu
từ
Người,
mọi
sự
dẫn
đến
Người,
mọi
sự
nhờ
Người,
trong
Chúa
Thánh
Thần,
đến
với
Chúa
Cha.
Là
một
dụng
cụ
để
đếm,
ghi
dấu
tiến
trình
của
lời
kinh,
tràng
hạt
gợi
lên
con
đường
vô
tận
của
chiêm
ngưỡng
và
của
hoàn
thiện
Ki-tô
giáo.
Chân
phước
Bartolo
Longo
cũng
đã
thấy
nó
như
là
sợi
dây
nối
kết
chúng
ta
với
Thiên
Chúa.
Một
sợi
dây,
vâng,
nhưng
là
một
sợi
dây
êm
ái;
quả
thế,
êm
ái
thay
mối
giây
liên
kết
ta
với
Thiên
Chúa
là
Cha
của
chúng
ta.
Một
sợi
dây
con
thảo,
đặt
chúng
ta
hoà
nhịp
với
Đức
Ma-ri-a,
nữ
tì
của
Chúa
(Lc
1,38)
và
nhất
là,
với
chính
Đức
Ki-tô,
Đấng,
dầu
là
Thiên
Chúa,
đã
mặc
lấy
thân
nô
lệ
vì
yêu
thương
chúng
ta
(Pl
2,7).
Một
cách
thức
tốt
để
mở
rộng
ý
nghĩa
biểu
tượng
của
tràng
hạt
là
để
chúng
nhắc
nhở
chúng
ta
về
những
mối
tương
quan
của
chúng
ta,
về
mối
giây
hiệp
thông
và
huynh
đệ
kết
hiệp
tất
cả
chúng
ta
trong
Đức
Ki-tô.
Lời
kinh
mở
đầu
và
kết
thúc
37.
Hiện
nay,
ở
nhiều
miền
khác
nhau
của
Giáo
hội,
có
nhiều
cách
mở
đầu
Kinh
mân
côi.
Ở
một
vài
nơi,
người
ta
có
thói
quen
mở
đầu
bằng
lời
khẩn
cầu
của
thánh
vịnh
70:
Lạy
Chúa
Trời,
xin
tới
giúp
con;
muôn
lạy
Chúa,
xin
mau
phù
trợ,
như
để
nuôi
dưỡng
nơi
những
người
đang
cầu
nguyện
một
ý
thức
khiêm
tốn
về
sự
thiếu
thốn
của
họ.
Ở
nơi
khác,
Kinh
mân
côi
bắt
đầu
bằng
việc
đọc
kinh
Tin
kính,
như
để
đặt
việc
tuyên
xưng
đức
tin
làm
nền
tảng
cho
cuộc
hành
trình
chiêm
ngưỡng
mà
ta
thực
hiện.
Những
thói
quen
đó
và
những
thói
quen
tương
tự,
trong
chừng
mực
chúng
chuẩn
bị
tâm
hồn
để
chiêm
ngưỡng,
dều
chính
đáng.
Rồi
Kinh
mân
côi
được
kết
thúc
bằng
một
lời
kinh
theo
ý
chỉ
của
đức
giáo
hoàng,
như
để
mở
rộng
tầm
nhìn
của
người
cầu
nguyện
hầu
ôm
ấp
mọi
nhu
cầu
của
Giáo
hội.
Chính
là
để
khuyến
khích
chiều
kích
Giáo
hội
này
của
Kinh
mân
côi
mà
Giáo
hội
thấy
thích
hợp
khi
ban
những
ân
xá
cho
những
ai
lần
hạt
theo
những
quy
định
đề
ra.
Nếu
cầu
nguyện
theo
cách
ấy,
Kinh
mân
côi
đích
thực
trở
thành
con
đường
thiêng
liêng
nơi
đó
Đức
Ma-ri-a
hành
động
trong
tư
cách
là
Mẹ,
Thầy
dạy
và
người
Hướng
đạo,
khi
phù
trợ
các
tín
hữu
bằng
lời
chuyển
cầu
đầy
quyền
năng
của
Mẹ.
Đáng
ngạc
nhiên
chăng
khi
linh
hồn,
sau
khi
lần
chuỗi
và
kinh
nghiệm
sâu
xa
tình
mẫu
tử
của
Đức
Ma-ri-a,
cảm
thấy
nhu
cầu
cất
lời
ca
ngợi
Đức
Trinh
Nữ,
hoặc
bằng
lời
kinh
tuyệt
mỹ
Salve
Regina
hoặc
bằng
Kinh
cầu
Loreto?
Đó
là
sự
hoàn
thành
của
một
cuộc
hành
trình
nội
tâm
đã
dẫn
đưa
các
tín
hữu
tiếp
xúc
cách
sống
động
với
mầu
nhiệm
Đức
Ki-tô
và
Mẹ
Người.
Phân
bổ
trong
thời
gian
38.
Kinh
mân
côi
có
thể
được
đọc
trọn
mỗi
ngày,
và
có
nhiều
người
đáng
ca
ngợi
đã
thực
hiện
như
thế.
Theo
cách
thức
ấy,
nó
lầp
đầy
ngày
sống
của
nhiều
người
chuyên
chăm
chiêm
ngưỡng
bằng
lời
cầu
nguyện,
hay
đồng
hành
với
người
bệnh
và
già
cả
là
những
người
có
nhiều
giờ
rãnh
rỗi.
Tuy
nhiên
rõ
ràng
là
-và
điều
này
càng
đúng
nếu
ta
thêm
vào
loạt
mầu
nhiệm
ánh
sáng-
nhiều
người
sẽ
không
thể
đọc
nhiều
hơn
một
phần
của
Kinh
mân
côi,
phù
hợp
với
một
sơ
đồ
hàng
tuần
nào
đó.
Cách
phân
bổ
theo
hàng
tuần
này
có
tác
dụng
là
làm
cho
mỗi
ngày
khác
nhau
trong
tuần
có
một
sắc
thái
thiêng
liêng
nào
đó,
tương
tự
như
cách
mà
Phụng
vụ
tô
điểm
những
mùa
khác
nhau
của
Năm
Phụng
vụ.
Theo
cách
thực
hành
thông
thường,
Thứ
Hai
và
Thứ
Năm
được
dành
cho
các
sự
Vui,
Thứ
Ba
và
Thứ
Sáu
cho
các
sự
thương,
và
Thứ
Tư,
Thứ
Bảy
và
Chúa
Nhật
cho
các
sự
mừng.
Vậy
các
mầu
nhiệm
sự
sáng
có
thể
được
chen
vào
ở
đâu?
Nếu
chúng
ta
để
ý
rằng
các
sự
mừng
được
đọc
cả
vào
ngày
Thứ
Bảy
lẫn
Chúa
nhật,
và
ngày
Thứ
Bảy
đã
luôn
có
một
sắc
thái
của
Đức
Ma-ri-a,
lần
suy
niệm
thứ
hai
trong
tuần
về
các
sự
Vui,
các
mầu
nhiệm
trong
đó
sự
hiện
diện
của
Đức
Ma-ri-a
được
đặc
biệt
cảm
nhận,
có
thể
chuyển
sang
ngày
Thứ
Bảy.
Như
thế
ngày
Thứ
Năm
sẽ
dành
để
suy
niệm
các
mầu
nhiệm
sự
sáng.
Chỉ
dẫn
này
không
nhắm
giới
hạn
sự
tự
do
chính
đáng
trong
việc
cầu
nguyện
riêng
tư
và
cộng
đoàn,
nơi
đó
cần
tính
đến
nhu
cầu
thiêng
liêng
và
mục
vụ
và
trường
hợp
các
cử
hành
Phụng
vụ
đặc
biệt
đòi
hỏi
một
sự
thích
ứng
tương
xứng.
Điều
thực
sự
quan
trọng
là
Kinh
mân
côi
phải
luôn
được
xem
và
kinh
nghiệm
như
một
con
đường
chiêm
ngưỡng.
Trong
Kinh
mân
côi,
theo
một
cách
thức
tương
tự
như
điều
xảy
ra
trong
Phụng
vụ,
tuần
lễ
ki-tô
giáo,
cao
điểm
là
ngày
Chúa
nhật,
ngày
cử
hành
mầu
nhiệm
sống
lại,
trở
thành
một
cuộc
hành
trình
đi
qua
các
mầu
nhiệm
của
cuộc
đời
Đức
Ki-tô,
và
Người
được
mặc
khải
trong
đời
sống
của
các
môn
đệ
như
là
Chúa
của
thời
gian
và
lịch
sử.
