Thông Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới 2005
ĐTC Gioan Phaolô 2
Đừng Để Sự Dữ Lấn Lướt Nhưng Hãy Chiến Thắng Sự Dữ Bằng Điều Thiện
1.
Trong
buổi
rạng
đông
của
Năm
Mới
này,
một
lần
nữa
tôi
gởi
đến
các
nhà
lãnh
đạo
các
quốc
gia
và
những
người
nam
nữ
thiện
chí,
là
những
người
nhận
thấy
nhu
cầu
xây
dựng
hòa
bình
trên
thế
giới.
Chủ
đề
tôi
đã
chọn
cho
Ngày
Hòa
Bình
Thế
Giới
năm
2005
này
là
những
lời
trong
Thư
Thánh
Phaolô
gởi
giáo
đoàn
Rôma:
“Đừng
để
sự
dữ
lấn
lướt,
nhưng
hãy
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
điều
thiện”
(Rm
12:21).
Sự
dữ
không
bao
giờ
bị
đánh
bại
bởi
sự
dữ;
một
khi
đã
chọn
vào
con
đường
đó,
thay
vì
khuất
phục
sự
dữ,
ta
lại
bị
sự
dữ
đánh
gục.
Vị
Đại
Tông
Đồ
này
đem
đến
một
sự
thật
nền
tảng:
hòa
bình
là
thành
quả
của
một
cuộc
chiến
lâu
dài
và
cam
go
mà
chỉ
có
thể
thắng
khi
sự
dữ
bị
khuất
phục
bởi
điều
thiện.
Khi
chúng
ta
nhìn
đến
thảm
cảnh
của
những
cuộc
xung
đột
huynh
đệ
tương
tàn
trên
nhiều
miền
của
thế
giới,
và
những
đau
khổ,
bất
công
không
sao
kể
xiết
mà
chúng
gây
ra,
lựa
chọn
duy
nhất
có
tính
xây
dựng
thực
sự,
như
Thánh
Phaolô
đưa
ra,
là
anh
em
hãy
gớm
ghét
điều
dữ,
tha
thiết
với
điều
lành
(x.
Rm
12:9).
Hòa
bình
là
một
điều
thiện
hảo
phải
được
đề
cao
bởi
điều
thiện:
đó
là
điều
thiện
hảo
cho
cá
nhân,
cho
gia
đình,
cho
quốc
gia
và
cho
toàn
nhân
loại;
tuy
nhiên
đó
là
điều
cần
phải
được
duy
trì
và
vun
trồng
bởi
những
quyết
định
và
những
hành
động
được
linh
hứng
hởi
điều
thiện.
Chúng
ta
có
thể
đánh
giá
cao
chân
lý
sâu
sắc
trong
một
lời
khác
của
Thánh
Phaolô:”Đừng
lấy
ác
báo
ác”
(Rm
12:17).
Con
đường
một
chiều
để
thoát
ra
khỏi
vòng
lẩn
quẩn
của
ác
báo
ác
là
chấp
nhận
những
lời
này
của
Thánh
Phaolô
“Đừng
để
sự
dữ
lấn
lướt,
nhưng
hãy
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
điều
thiện”
(Rm
12:21)
Sự
dữ,
điều
thiện
và
tình
yêu
thương
2.
Từ
buổi
đầu,
nhân
loại
đã
biết
đến
thảm
cảnh
của
sự
dữ
và
đã
cố
gắng
nhổ
tận
gốc
chúng
và
tìm
cách
giải
thích
về
những
nguyên
nhân
gây
nên
sự
dữ.
Sự
dữ
không
phải
là
những
động
lực
nào
đó
phi
nhân
cách
hay
tiền
định
để
tác
quái
trong
thế
giới.
Đó
là
hệ
quả
của
sự
tự
do
của
con
người.
Tự
do,
điều
phân
biệt
con
người
với
những
loài
thọ
tạo
khác
trên
thế
giới,
luôn
hiện
diện
nơi
trung
tâm
của
thảm
trạng
sự
dữ.
Sự
dữ
luôn
có
một
danh
xưng
và
một
khuôn
mặt:
đó
là
danh
xưng
và
dung
mạo
của
những
người
nam
nữ
chọn
nó
cách
tự
do.
Thánh
Kinh
dạy
chúng
ta
rằng
ở
buổi
sơ
khai
của
lịch
sử
nhân
loại,
Ađam
và
Evà
đã
phản
nghịch
cùng
Thiên
Chúa,
và
Abel
đã
giết
Cain,
em
mình
(x.
Sáng
Thế
3-4).
Đây
là
những
lựa
chọn
sai
lầm,
được
tiếp
nối
bởi
vô
vàn
những
điều
khác
nữa
trong
những
thế
kỷ
tiếp
theo.
Mỗi
một
lựa
chọn
này
có
một
chiều
kích
luân
lý
nội
tại,
liên
quan
đến
những
trách
nhiệm
cá
nhân
và
mối
liên
hệ
căn
bản
cá
vị
của
mỗi
người
với
Thiên
Chúa,
với
tha
nhân
và
với
tất
cả
những
thụ
tạo.
Ở
mức
thâm
sâu
nhất,
sự
dữ
là
sự
khước
từ
bi
đát
những
đòi
hỏi
của
yêu
thương.(1)Sự
thiện
luân
lý,
ngược
lại,
được
sinh
ra
trong
yêu
thương,
tỏ
lộ
chính
mình
như
tình
yêu
và
hướng
về
tình
yêu.
Tất
cả
điều
này
đặc
biệt
hiển
nhiên
với
những
người
Kitô
hữu,
là
những
người
biết
rằng
tư
cách
thành
viên
trong
Nhiệm
Thể
Chúa
Kitô
đặt
họ
vào
một
mối
quan
hệ
đặc
biệt
không
chỉ
với
Thiên
Chúa
nhưng
còn
với
anh
chị
em
của
mình.
Luận
lý
nội
tại
của
tình
yêu
Kitô
Giáo,
theo
Tin
Mừng
là
nguồn
sinh
lực
cho
những
hành
vi
luân
lý
thiện
hảo,
dẫn
đến
việc
yêu
thương
kể
cả
kẻ
thù:
“kẻ
thù
ngươi
có
đói,
hãy
cho
nó
ăn;
có
khát,
hãy
cho
nó
uống”
(Rm
12:20).
“Văn
phạm”
của
luật
luân
lý
phổ
quát
3.
Khi
nhìn
đến
tình
hình
hiện
nay
của
thế
giới,
chúng
ta
phải
ghi
nhận
sự
lan
tràn
đáng
quan
ngại
của
các
biểu
thị
đa
dạng
của
sự
dữ
trên
bình
diện
xã
hội
và
chính
trị
:
từ
sự
rối
loạn
trật
tự
xã
hội
đến
các
cuộc
nổi
dậy
và
chiến
tranh,
từ
sự
bất
công
đến
các
hành
vi
bạo
động
và
chém
giết.
Để
vạch
ra
được
con
đường
giữa
những
tuyên
bố
mâu
thuẫn
giữa
thiện
và
ác,
gia
đình
nhân
loại
cần
cấp
bách
bảo
vệ
và
tôn
trọng
gia
sản
chung
của
các
giá
trị
luân
lý
đã
được
chính
Thiên
Chúa
ban
cho.
Vì
lý
do
này,
Thánh
Phaolô
đã
khích
lệ
tất
cả
những
ai
quyết
tâm
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
sự
thiện
hãy
trở
nên
cao
thượng
và
khách
quan
trong
việc
nuôi
dưỡng
lòng
quảng
đại
và
hòa
bình.
(x
Rm
12:17-21).
Mười
năm
trước
đây,
khi
đọc
diễn
văn
tại
Đại
Hội
Đồng
Liên
Hiệp
Quốc
về
nhu
cầu
dấn
thân
chung
phục
vụ
hòa
bình,
tôi
đã
tham
chiếu
đến
”văn
phạm”
của
luật
luân
lý
phổ
quát,(2)
mà
Giáo
Hội
kêu
gọi
trong
nhiều
tuyên
bố
đa
dạng
về
lãnh
vực
này.
Qua
việc
đề
cao
những
giá
trị
và
nguyên
tắc
chung,
luật
này
đoàn
kết
nhân
loại,
bất
chấp
những
nền
văn
hóa
dị
biệt,
và
tự
nó
là
bất
di
bất
dịch:
“nó
tồn
tại
trong
sự
bất
định
của
ý
tưởng
và
phong
tục
và
tán
trợ
sự
tiến
bộ
của
chúng...
Ngay
cả
khi
nó
bị
từ
khước
nơi
chính
nguyên
tắc
căn
bản
của
mình,
nó
vẫn
không
thể
bị
hủy
diệt
hay
tách
ly
khỏi
con
tim
con
người.
Nó
luôn
lại
trỗi
dậy
nữa
trong
đời
sống
cá
nhân
và
xã
hội”.
(3)
4.
Văn
phạm
chung
của
luật
luân
lý
này
đòi
hỏi
sự
dấn
thân
và
trách
nhiệm
nhiều
hơn
bao
giờ
hết
cho
việc
bảo
đảm
rằng
đời
sống
các
cá
nhân
và
các
dân
tộc
phải
được
tôn
trọng
và
thăng
tiến.
Trong
ánh
sáng
này,
những
tội
ác
có
tính
chất
xã
hội
và
chính
trị
đang
xâu
xé
thế
giới,
đặc
biệt
những
tội
ác
đang
được
kích
động
bởi
những
bùng
nổ
của
bạo
lực,
phải
bị
lên
án
cách
mạnh
mẽ.
Tôi
nghĩ
ngay
đến
lục
địa
thân
yêu
Phi
Châu,
nơi
những
cuộc
xung
đột
đến
nay
đã
gây
ra
đau
thương
cho
hàng
triệu
con
người
vẫn
còn
đang
tiếp
diễn.
Hay
là
tình
trạng
nguy
hiểm
tại
Palestine,
miền
đất
của
Chúa
Giêsu,
kết
cấu
của
sự
hiểu
biết
lẫn
nhau,
vẫn
còn
bị
xâu
xé
bởi
một
cuộc
tranh
chấp
mà
hàng
ngày
lại
được
chồng
chất
thêm
bởi
những
hành
vi
bạo
lực
và
trả
đũa,
chưa
biết
đến
bao
giờ
mới
được
chữa
lành
trong
công
lý
và
sự
thật.
Và
còn
phải
nói
sao
đây
về
hiện
tượng
khủng
bố
bạo
lực
đáng
quan
ngại,
là
điều
xem
chừng
như
đang
lèo
lái
toàn
thể
thế
giới
về
một
tương
lai
đầy
kinh
hoàng
và
thống
khổ?
Cuối
cùng,
làm
sao
chúng
ta
lại
có
thể
không
nghĩ
đến
với
lòng
ray
rứt
sâu
xa
về
thảm
kịch
chưa
đến
hồi
kết
cục
tại
Iraq,
là
điều
đang
gây
ra
những
tình
trạng
bi
đát
của
sự
bất
định
và
bất
an
cho
tất
cả?
Để
đạt
đến
thiện
ích
của
hòa
bình,
cần
phải
có
một
sự
nhìn
nhận
rõ
ràng
và
đầy
ý
thức
rằng
bạo
lực
là
tội
ác
không
thể
chấp
nhận
được
và
nó
không
bao
giờ
giải
quyết
được
những
vấn
nạn.
"Bạo
lực
là
điều
dối
trá,
vì
nó
đi
ngược
lại
sự
thật
của
đức
tin
chúng
ta,
sự
thật
của
nhân
loại
chúng
ta.
Bạo
lực
hủy
diệt
điều
mà
nó
tuyên
bố
bảo
vệ:
phẩm
giá,
sinh
mạng,
và
tự
do
của
con
người"(4).
Điều
cần
thiết
là
một
nỗ
lực
to
lớn
để
hình
thành
lương
tâm
và
giáo
dục
thế
hệ
trẻ
về
những
điều
thiện
qua
việc
đề
cao
chủ
nghĩa
nhân
bản
hội
nhập
và
huynh
đệ
mà
Giáo
Hội
công
bố
và
đề
cao.
Đây
là
nền
tảng
cho
một
trật
tự
xã
hội,
kinh
tế
và
chính
trị
tôn
trọng
phẩm
giá
con
người,
tự
do
và
các
quyền
căn
bản
của
mỗi
cá
nhân.
Thiện
ích
của
hòa
bình
và
thiện
ích
chung
5.
Nuôi
dưỡng
hòa
bình
qua
việc
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
điều
thiện
đòi
hỏi
một
sự
suy
tư
thận
trọng
về
thiện
ích
chung(5)
và
về
những
hệ
quả
xã
hội
và
chính
trị
của
nó.
Khi
thiện
ích
chung
được
đề
cao
ở
mọi
lãnh
vực,
hòa
bình
được
tán
dương.
Có
thể
nào
một
cá
nhân
tự
thấy
mình
thỏa
mãn
hoàn
toàn
mà
không
lý
gì
đến
bản
chất
xã
hội
của
mình,
nghĩa
là,
tính
cách
“với”
người
khác
và
“cho”
người
khác?
Thiện
ích
chung
chi
phối
chặt
chẽ
anh
ta.
Nó
chi
phối
mạnh
mẽ
những
biểu
hiện
có
tính
chất
xã
hội:
gia
đình,
các
nhóm,
các
hiệp
hội,
những
thành
phố,
những
khu
vực,
các
quốc
gia,
và
cộng
đồng
các
dân
nước.
Mỗi
người,
cách
nào
đó,
được
mời
gọi
hoạt
động
cho
thiện
ích
chung,
thường
xuyên
để
ý
đến
thiện
ích
của
người
khác
như
là
thiện
ích
của
chính
mình.
Trách
nhiệm
này
cách
riêng
thuộc
về
những
nhà
cầm
quyền
chính
trị
ở
mọi
cấp,
vì
họ
được
mời
gọi
để
tạo
ra
tổng
hợp
những
điều
kiện
xã
hội
cho
phép
và
nuôi
dưỡng
nơi
mọi
người
sự
phát
triển
toàn
diện
của
họ.
(6)
Thiện
ích
chung,
do
đó,
đòi
buộc
sự
tôn
trọng
đối
với
sự
thăng
tiến
toàn
diện
của
cá
nhân
và
những
quyền
căn
bản
của
họ,
cũng
như
đòi
buộc
phải
tôn
trọng
sự
thăng
tiến
quyền
lợi
các
quốc
gia
trên
hoàn
vũ.
Về
phương
diện
này,
Công
Đồng
Chung
Vatican
II
đã
nhận
xét
rằng
“sự
phụ
thuộc
tương
tác
ngày
một
gần
gũi
đang
dần
dà
bao
trùm
toàn
thế
giới
sẽ
dẫn
đến
một
thiện
ích
chung
phổ
quát
hơn..
và
điều
này
lôi
kéo
theo
những
quyền
lợi
và
bổn
phận
trên
quy
mô
toàn
nhân
loại.
Mỗi
một
nhóm
xã
hội
cần
phải
tính
đến
các
nhu
cầu
và
những
khát
vọng
hợp
pháp
của
các
nhóm
khác
cũng
như
thiện
ích
chung
của
toàn
nhân
loại”.(7).
Thiện
ích
của
toàn
nhân
loại
như
một
tổng
thể,
bao
gồm
cả
những
thế
hệ
tương
lai,
đòi
hỏi
sự
hợp
tác
quốc
tế
thật
sự,
theo
đó
mỗi
nước
cần
phải
đưa
ra
những
cống
hiến
của
mình.(8)
Một
số
quan
điểm
giản
lược
nhất
định
có
khuynh
hướng
trình
bày
thiện
ích
chung
như
một
tình
trạng
kinh
tế-xã
hội
thịnh
vượng
thuần
tuý,
thiếu
mất
mục
đích
siêu
việt,
và
như
thế
đánh
mất
đi
ý
nghĩa
sâu
sa
nhất
của
nó.
Tuy
thế,
thiện
ích
chung
có
một
chiều
kích
siêu
việt,
vì
Thiên
Chúa
là
cùng
đích
của
mọi
tạo
vật
do
Ngài
dựng
nên.
(9)Người
Kitô
hữu
biết
rằng
Đức
Kitô
đã
dõi
chiếu
ánh
sáng
tỏ
tường
trên
cách
thức
làm
sao
thiện
ích
chung
của
nhân
loại
có
thể
đạt
được.
Những
hành
trình
lịch
sử
hướng
về
Đức
Kitô
và
trong
Ngài
tìm
thấy
được
cùng
đích
của
nó:
bởi
vì
nơi
Chúa
Kitô,
qua
Chúa
Kitô
và
nhờ
Chúa
Kitô
mọi
thực
tại
nhân
loại
có
thể
được
dẫn
đến
sự
viên
mãn
hoàn
toàn
nơi
Thiên
Chúa.
Thiện
ích
của
hòa
bình
và
việc
dùng
các
tài
nguyên
của
thế
giới
6.
Vì
thiện
ích
của
hòa
bình
có
liên
hệ
chặt
chẽ
với
sự
phát
triển
của
tất
cả
các
dân
tộc,
những
yêu
cầu
luân
lý
cho
việc
sử
dụng
các
tài
nguyên
của
trái
đất
luôn
phải
được
tính
đến.
Công
Đồng
Vatican
II
đã
nhắc
nhở
thật
chính
đáng
rằng
“Thiên
Chúa
muốn
thế
giới
và
tất
cả
những
tài
nguyên
của
nó
phải
được
dùng
cho
mọi
người
và
mọi
dân
tộc;
sao
cho
các
tài
nguyên
thiên
nhiên
được
chia
sẻ
đồng
đều
cho
mọi
người,
theo
sự
hướng
dẫn
của
công
lý
đi
kèm
với
bác
ái”.(10)
Là
thành
viên
của
gia
đình
nhân
loại,
mỗi
người
trở
nên
công
dân
của
thế
giới,
với
những
bổn
phận
và
quyền
lợi
đi
kèm,
vì
tất
cả
nhân
loại
được
liên
kết
bởi
một
nguồn
gốc
chung
và
có
cùng
một
phẩm
giá
cao
trọng.
Chỉ
mới
được
thụ
thai,
một
đứa
trẻ
đã
có
những
quyền
của
nó,
nó
đáng
được
chăm
sóc
và
chú
ý
đến;
và
một
số
người
phải
có
bổn
phận
cung
cấp
những
điều
này
cho
nó.
Việc
lên
án
chủ
nghĩa
phân
biệt
chủng
tộc,
việc
bảo
vệ
những
người
thiểu
số,
cung
cấp
những
trợ
giúp
cho
những
người
di
cư
và
tỵ
nạn,
và
sự
động
viên
tình
liên
đới
thế
giới
hướng
về
những
người
đang
cần
trợ
giúp
không
gì
khác
hơn
là
những
áp
dụng
nhất
quán
của
nguyên
tắc
công
dân
thế
giới
này.
7.
Ngày
nay,
thiện
ích
của
hòa
bình
cần
phải
xem
là
có
liên
hệ
gần
gũi
với
những
thiện
ích
mới
nảy
sinh
từ
tiến
bộ
khoa
học
và
kỹ
thuật.
Cả
những
điều
này,
theo
nguyên
tắc
về
mục
đích
phổ
quát
của
tài
nguyên
thế
giới,
cũng
cần
được
đặt
để
trong
sự
phục
vụ
những
nhu
cầu
căn
bản
của
con
người.
Những
sáng
kiến
thích
hợp
trên
phạm
vi
thế
giới
có
thể
đem
đến
sự
thực
hiện
đầy
đủ
và
thực
tiễn
nguyên
tắc
về
mục
đích
phổ
quát
của
tài
nguyên
thế
giới
bằng
cách
bảo
đảm
cho
tất
cả
-
cá
nhân
cũng
như
các
quốc
gia
-
những
điều
kiện
căn
bản
về
chia
sẻ
trong
tiến
trình
phát
triển.
Điều
này
trở
nên
khả
thi
một
khi
những
rào
cản
và
chế
độ
độc
quyền,
đang
gạt
nhiều
dân
tộc
sang
bên
lề,
được
loại
bỏ.(11)
Thiện
ích
của
hòa
bình
sẽ
được
bảo
đảm
tốt
hơn
nếu
cộng
đồng
quốc
tế
gánh
lấy
trách
nhiệm
lớn
hơn
đối
với
điều
thường
được
gọi
là
công
ích.
Đó
là
những
thiện
ích
mà
mọi
công
dân
tự
động
được
hưởng,
không
cần
phải
ý
thức
lựa
chọn
hay
đóng
góp
cách
này
cách
khác.
Chẳng
hạn,
như
ở
bình
diện
quốc
gia,
với
những
thiện
ích
như
hệ
thống
tư
pháp,
hệ
thống
quốc
phòng
và
mạng
lưới
xa
lộ
hay
đường
hỏa
xa.
Trong
thế
giới
chúng
ta,
hiện
tượng
toàn
cầu
hóa
gia
tăng
có
nghĩa
là
ngày
càng
nhiều
những
công
ích
sẽ
mang
tính
cách
toàn
cầu,
và
một
hệ
quả
là
những
quan
tâm
chung
ngày
càng
gia
tăng.
Chúng
ta
phải
nghĩ
ngay
đến
cuộc
chiến
chống
nghèo
đói,
sự
thăng
tiến
hòa
bình
và
an
ninh,
lo
lắng
cho
sự
thay
đổi
về
khí
hậu
và
kiểm
soát
dịch
bệnh.
Cộng
đồng
quốc
tế
cần
đáp
trả
đối
với
những
quan
tâm
chung
này
với
một
mạng
lưới
các
thỏa
hiệp
tài
phán
rộng
lớn
hơn
nhằm
điều
hòa
việc
sử
dụng
công
ích
theo
những
nguyên
tắc
phổ
quát
của
công
bình
và
liên
đới.
8.
Nguyên
tắc
về
mục
đích
phổ
quát
của
tài
nguyên
thế
giới
có
thể
làm
khả
thi
một
bước
tiến
hiệu
quả
nữa
trước
thách
đố
của
nạn
nghèo
đói,
đặc
biệt
khi
chúng
ta
nghĩ
đến
tình
cảnh
nghèo
đói
tột
cùng
mà
hàng
triệu
người
đang
vẫn
phải
sống
trong
đó.
Cộng
đồng
quốc
tế,
ở
buổi
đầu
ngàn
năm
mới
này,
đã
đặt
ra
ưu
tiên
giảm
số
người
nghèo
đói
xuống
còn
phân
nửa
trước
năm
2015.
Giáo
Hội
ủng
hộ
và
khích
lệ
cam
kết
này
và
mời
gọi
tất
cả
những
ai
tin
nơi
Đức
Kitô
hãy
chứng
tỏ,
cách
thực
tế
và
trong
mọi
lãnh
vực,
một
tình
thương
ưu
tiên
cho
người
nghèo.
(12)
Thảm
trạng
nghèo
đói
vẫn
liên
hệ
mật
thiết
với
vấn
nạn
nợ
nước
ngoài
của
các
nước
nghèo.
Bất
kể
những
tiến
bộ
trong
lãnh
vực
này,
vấn
nạn
này
vẫn
chưa
được
giải
quyết
cách
thỏa
đáng.
Mười
lăm
năm
trước
đây,
tôi
đã
kêu
gọi
công
luận
chú
ý
đến
sự
kiện
là
“nợ
nước
ngoài
có
liên
hệ
mật
thiết
với
hàng
loạt
những
vấn
nạn
khác
như
đầu
tư
nước
ngoài,
hoạt
động
công
chính
của
các
tổ
chức
quốc
tế
lớn,
giá
nguyên
vật
liệu
và
những
thứ
khác”(13).
Những
bước
tiến
gần
đây
theo
chiều
hướng
giảm
nợ,
nhắm
chủ
yếu
đến
nhu
cầu
người
nghèo,
đã
cải
thiện
chắc
chắn
phẩm
chất
của
sự
tăng
trưởng
kinh
tế.
Tuy
nhiên,
vì
nhiều
yếu
tố
khác,
sự
tăng
trưởng
này
vẫn
ở
mức
độ
chưa
đủ,
đặc
biệt
khi
xét
đến
những
mục
tiêu
đề
ra
ở
đầu
ngàn
năm
mới.
Các
nước
nghèo
vẫn
tiếp
tục
bị
kẹt
trong
vòng
lẩn
quẩn:
thu
nhập
thấp,
mức
tích
lũy
tăng
trưởng
chậm
chạp,
và
đến
lượt
đầu
tư
thấp
cũng
như
việc
sử
dụng
của
cải
tích
lũy
thiếu
hiệu
quả
không
đem
lại
thuận
lợi
cho
sự
tăng
trưởng.
9.
Như
Đức
Giáo
Hoàng
Phaolô
Đệ
Lục
đã
tuyên
bố
và
chính
tôi
đã
tái
khẳng
định,
phương
cách
duy
nhất
có
hiệu
quả
để
các
Nước
đương
đầu
với
thảm
trạng
nghèo
đói
là
cung
ứng
cho
họ
những
tài
nguyên
cần
thiết
qua
những
viện
trợ
tài
chính
nước
ngoài
-
công
cũng
như
tư
-
được
ban
cấp
với
những
điều
kiện
hợp
lý,
trong
khuôn
khổ
của
các
liên
hệ
thương
mãi
quốc
tế
được
chi
phối
bởi
công
bình.(14)
Điều
cấp
thiết
hiện
nay
là
một
sự
động
viên
về
luân
lý
và
kinh
tế,
một
đằng
là
sự
tôn
trọng
những
hiệp
định
đã
được
thực
hiện
theo
chiều
hướng
có
lợi
cho
các
nước
nghèo,
và
đằng
khác
là
đồng
thời
chuẩn
bị
tái
xét
những
ký
kết
đã
được
chứng
tỏ
là
chồng
chất
gánh
nặng
quá
sức
lên
các
nước
nghèo.
Về
phương
diện
này,
một
động
lực
nên
được
dành
cho
Sự
Trợ
Giúp
Chung
cho
Phát
Triển,
và
những
hình
thái
tín
dụng
mới
dành
cho
phát
triển
cần
phải
được
thăm
dò,
bất
kể
khó
khăn
đến
đâu.(15)
Một
số
chính
phủ
đã
xem
xét
kỹ
lưỡng
các
cơ
chế
đầy
hứa
hẹn
cho
lãnh
vực
này;
những
sáng
kiến
đáng
kể
này
cần
được
thực
hiện
trong
tinh
thần
chia
sẻ
thực
sự,
trong
niềm
tôn
trọng
nguyên
tắc
của
sự
trợ
giúp.
Việc
quản
lý
các
nguồn
tài
chính
dành
cho
sự
phát
triển
các
nước
nghèo
cần
bao
gồm
việc
tuân
thủ
chặt
chẽ
các
thực
hành
quản
lý
đúng
đắn,
cả
về
hai
phía
người
đưa
ra
và
người
tiếp
nhận.
Giáo
Hội
khích
lệ
và
đóng
góp
sức
mình
cho
những
nỗ
lực
này.
Tưởng
cũng
nên
nêu
ở
đây
là
sự
đóng
góp
đáng
kể
của
nhiều
tổ
chức
Công
Giáo
dành
cho
trợ
giúp
và
phát
triển.
10.
Cuối
Đại
Năm
Thánh
2000,
trong
tông
thư
“Khởi
Đầu
Ngàn
Năm
Mới”,
tôi
đã
đề
cập
đến
nhu
cầu
khẩn
thiết
phải
có
sự
sáng
tạo
mới
trong
tình
bác
ái(16)
để
truyền
bá
Tin
Mừng
của
hy
vọng
cho
thế
giới.
Nhu
cầu
này
được
thấy
tỏ
tường
khi
chúng
ta
nhìn
đến
cơ
man
những
khó
khăn
trên
đường
phát
triển
của
Phi
Châu:
vô
số
những
cuộc
xung
đột
vũ
trang,
các
dịch
bệnh
gây
ra
bởi
nghèo
đói
tột
độ,
và
sự
bất
ổn
chính
trị
đang
dẫn
đến
tình
trạng
bất
an
lan
rộng.
Đó
là
những
thảm
trạng
đòi
hỏi
một
hướng
đi
cấp
tiến
mới
cho
Phi
Châu:
trong
đó
có
nhu
cầu
phải
hình
thành
những
hình
thái
liên
đới
mới,
ở
các
cấp
độ
song
phương
và
đa
phương,
thông
qua
một
sự
cam
kết
với
quyết
tâm
hơn
nữa
của
tất
cả
mọi
phía,
với
niềm
xác
tín
hoàn
toàn
rằng
sự
thịnh
vượng
của
các
dân
tộc
Phi
Châu
là
một
điều
kiện
thiết
yếu
cho
sự
đạt
đến
thiện
ích
chung
toàn
cầu.
Cầu
mong
sao
cho
các
dân
tộc
tại
Phi
Châu
trở
thành
những
người
giữ
vai
trò
chủ
đạo
của
chính
tương
lai
họ
cũng
như
sự
phát
triển
văn
hóa,
dân
sự,
xã
hội
và
kinh
tế
của
mình.
Cầu
mong
sao
cho
Phi
Châu
thôi
không
chỉ
là
người
nhận
trợ
giúp,
và
trở
thành
một
nhân
tố
trách
nhiệm
hơn
của
sự
chia
sẻ
đầy
thuyết
phục
và
sinh
hoa
kết
quả.
Để
đạt
đến
mục
đích
này,
đòi
hỏi
phải
có
một
nền
văn
hóa
chính
trị
mới,
đặc
biệt
trong
lãnh
vực
hợp
tác
quốc
tế.
Lại
một
lần
nữa,
tôi
muốn
khẳng
định
rằng
thất
bại
trong
việc
thực
thi
các
lời
hứa
được
lặp
đi
lặp
lại
nhiều
lần
trong
chương
trình
Trợ
Giúp
Chung
cho
Phát
Triển,
vấn
nạn
nợ
nước
ngoài
nặng
nề
của
các
nước
Phi
Châu
đến
nay
vẫn
chưa
được
giải
quyết,
và
việc
từ
chối
không
ban
cho
các
nước
này
những
quy
chế
đặc
biệt
trong
lãnh
vực
thương
mại
quốc
tế
tiêu
biểu
cho
những
trở
ngại
lớn
lao
cho
hòa
bình
là
điều
cấp
thiết
cần
phải
được
xem
xét
và
giải
quyết.
Ngày
nay,
hơn
bao
giờ
hết,
điều
có
tính
chất
quyết
định
mang
lại
hòa
bình
cho
thế
giới
là
việc
nhìn
nhận
các
phụ
thuộc
tương
tác
giữa
các
nước
giàu
và
các
nước
nghèo,
đến
mức
“sự
phát
triển
hoặc
là
được
chia
sẻ
ở
mọi
miền
trên
thế
giới,
hoặc
là
sẽ
dẫn
đến
một
tiến
trình
suy
thoái
ngay
cả
tại
các
miền
được
ghi
dấu
bởi
sự
tiến
bộ
không
ngừng”.(17)
Tình
trạng
phổ
quát
của
sự
dữ
và
niềm
hy
vọng
Kitô
Giáo
11.
Đối
diện
với
những
thảm
trạng
hiện
nay
trên
thế
giới,
người
Kitô
hữu
tuyên
xưng
với
thái
độ
tin
cậy
khiêm
nhường
rằng
chỉ
mình
Thiên
Chúa
mới
làm
cho
các
cá
nhân
và
các
dân
tộc
chiến
thắng
sự
dữ
và
đạt
đến
điều
thiện.
Qua
sự
chết
và
sự
phục
sinh
của
Ngài,
Đức
Kitô
đã
cứu
độ
chúng
ta
và
chuộc
tội
chúng
ta
“bằng
một
giá”
(1Cr
6:20;7:23),
đem
đến
ơn
cứu
độ
cho
mọi
người.
Với
sự
trợ
giúp
của
Ngài,
mọi
người
có
thể
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
điền
thiện.
Dựa
trên
xác
tín
rằng
sự
dữ
không
thể
chiến
thắng,
người
Kitô
hữu
nuôi
dưỡng
một
niềm
hy
vọng
không
lung
lạc,
một
niềm
hy
vọng
dưỡng
nuôi
những
nỗ
lực
của
họ
để
xiển
dương
công
lý
và
hòa
bình.
Bất
chấp
những
tội
lỗi
riêng
của
cá
nhân
và
tội
chung
của
xã
hội
ghi
dấu
trên
mọi
hoạt
động
của
con
người,
hy
vọng
Kitô
Giáo
thường
xuyên
đem
đến
một
động
lực
mới
cho
dấn
thân
vì
công
lý
và
hòa
bình,
cũng
như
cho
sự
vững
tin
về
khả
năng
có
thể
xây
dựng
một
thế
giới
tốt
đẹp
hơn.
Mặc
dầu
“mầu
nhiệm
của
sự
ác”
(2
Th
2:27)
hiện
diện
và
tác
quái
trong
thế
giới,
chúng
ta
không
được
quên
rằng
nhân
loại
đã
được
cứu
chuộc
có
thể
chống
lại
nó.
Mỗi
tín
hữu,
đã
được
tạo
dựng
giống
hình
ảnh
Thiên
Chúa
và
được
cứu
chuộc
bởi
Đức
Kitô,
“Đấng
cách
nào
đó
đã
liên
kết
chính
mình
với
mỗi
người”(18),
có
thể
hợp
tác
vào
chiến
thắng
của
sự
thiện.
Tác
động
của
“Thánh
Thần
Thiên
Chúa
ngập
tràn
trái
đất”
(x
Kn
1:7).
Các
Kitô
hữu,
đặc
biệt
anh
chị
em
giáo
dân,
do
đó
“không
thể
chôn
kín
niềm
hy
vọng
của
họ
trong
thẳm
sâu
tâm
hồn,
nhưng
phải
diễn
tả
ra
qua
các
cấu
trúc
cuộc
sống
trần
gian
của
họ
trong
sự
hoán
cải
liên
tục
và
trong
cuộc
chiến
‘chống
lại
các
quyền
lực
tối
tăm
của
thế
giới,
chống
lại
các
thế
lực
tinh
thần
của
sự
dữ”.
(Eph
6:12)(19)
12.
Không
một
người
nam
nữ
thiện
chí
nào
có
thể
từ
bỏ
cuộc
đấu
tranh
chiến
thắng
sự
dữ
bằng
điều
thiện.
Cuộc
chiến
này
chỉ
có
thể
có
hiệu
quả
với
vũ
khí
yêu
thương.
Khi
điều
thiện
chiến
thắng
sự
dữ,
tình
yêu
thắng
thế
và
nơi
đâu
tình
yêu
thắng
thế,
nơi
đó
có
hòa
bình.
Đây
là
giáo
huấn
của
Tin
Mừng,
được
lập
lại
bởi
Công
Đồng
Vatican
II:
”Luật
căn
bản
cho
sự
hoàn
thiện
của
con
người,
và
do
đó,
cho
sự
chuyển
hóa
thế
giới,
là
điều
răn
mới
của
yêu
thương”.(20)
Điều
này
cũng
đúng
trong
bầu
khí
xã
hội
và
chính
trị.
Về
phương
diện
này,
Đức
Giáo
Hoàng
Lêô
thứ
XIII
đã
viết
rằng
những
ai
giữ
trọng
trách
gìn
giữ
hòa
bình
trong
các
mối
quan
hệ
giữa
các
dân
nước
cần
dưỡng
nuôi
trong
chính
họ
và
khích
lệ
nơi
những
người
khác
“lòng
bác
ái,
là
hiền
thê
và
là
hoàng
hậu
của
tất
cả
mọi
nhân
đức”.
(21)
Người
Kitô
hữu
phải
là
những
chứng
nhân
đầy
thuyết
phục
của
sự
thật
này.
Họ
phải
chứng
tỏ
qua
cuộc
sống
của
họ
rằng
tình
yêu
là
động
lực
duy
nhất
đem
đến
sự
viên
mãn
cho
cá
nhân
và
xã
hội,
là
động
lực
duy
nhất
hướng
dẫn
dòng
lịch
sử
theo
con
đường
thiện
hảo
và
hòa
bình.
Trong
suốt
năm
dành
kính
Thánh
Thể,
cầu
xin
cho
mọi
con
cái
nam
nữ
của
Giáo
Hội
tìm
thấy
nơi
bí
tích
cao
cả
của
tình
yêu
này
nguồn
mạch
của
mọi
sự
hiệp
thông:
hiệp
thông
với
Đức
Giêsu
Cứu
Thế
và,
trong
Ngài,
hiệp
thông
với
mỗi
con
người.
Qua
cái
chết
và
sự
phục
sinh
của
Đức
Kitô,
hiện
diện
cách
bí
tích
trong
mỗi
buổi
cử
hành
Thánh
Thể,
chúng
ta
được
cứu
khỏi
sự
dữ
và
có
thể
thực
thi
điều
thiện.
Qua
cuộc
sống
mới
mà
Đức
Kitô
ban
cho,
chúng
ta
có
thể
nhận
ra
người
khác
là
anh
chị
em
của
mình,
bất
chấp
mọi
khác
biệt
về
ngôn
ngữ,
quốc
tịch,
và
văn
hóa.
Tóm
lại,
qua
việc
chia
sẻ
trong
cùng
một
bánh
và
cùng
một
chén,
chúng
ta
đi
đến
nhận
thức
rằng
chúng
ta
là
“gia
đình
của
Thiên
Chúa”
và
rằng
cùng
nhau
chúng
ta
có
thể
đưa
ra
cống
hiến
có
hiệu
quả
để
xây
dựng
một
thế
giới
trên
cơ
sở
các
giá
trị
công
lý,
tự
do
và
hòa
bình.
Từ
Vatican,
8
Tháng
Mười
Hai
năm
2004.
+
Gioan
Phaolô
II
Chú
thích
(1)
Về
phương
diện
này,
thánh
Augustinô
nhận
xét
rằng
“hai
tình
yêu
đã
hình
thành
hai
thành
phố:
yêu
mình,
chối
bỏ
Thiên
Chúa,
làm
lớn
mạnh
thành
phố
tại
thế;
trong
khi
yêu
Chúa,
chối
bỏ
chính
mình,
làm
lớn
mạnh
thành
phố
trên
trời”
(De
Civitate
Dei,
XIV:28).
(2)
Xem
Thông
điệp
kỷ
niệm
50
năm
Liên
Hiệp
Quốc
(5/10/1995),
3:
Insegnamenti
XVIII/2
(1995),
732.
(3)
Sách
Giáo
Lý
Giáo
Hội
Công
Giáo,
No.
1958.
(4)
Gioan
Phaolô
II,
Homily
at
Drogheda,
Ireland
(29/9/
1979),
9:
AAS
71
(1979),
1081.
(5)
Công
ích
thường
được
hiểu
rông
rãi
như
là
“tổng
hợp
các
điều
kiện
sống
của
xã
hội
cho
phép
các
tập
thể
và
cá
nhân
đạt
đến
sự
viên
mãn
của
họ
hoàn
toàn
hơn
và
nhanh
chóng
hơn”.
Công
Đồng
Chung
Vatican
II,
Hiến
Chế
Mục
Vụ
Vui
Mừng
và
Hy
Vọng,
26.
(6)
Xem
Gioan
XXIII,
Tông
Thư
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
417.
(7)
Hiến
Chế
Mục
Vụ
Vui
Mừng
và
Hy
Vọng,
26.
(8)
Xem
Gioan
XXIII,
Tông
Thư
Mater
et
Magistra:
AAS
53
(1961),
421.
(9)
Xem
Gioan
Phaolô
II,
Tông
Thư
Centesimus
Annus,
41:
AAS
83
(1991),
844.
(10)
Hiến
Chế
Mục
Vụ
Vui
Mừng
và
Hy
Vọng,
69.
(11)
Xem
Gioan
Phaolô
II,
Tông
Thư
Centesimus
Annus,
35:
AAS
83
(1991),
837.
(12)
Xem
Gioan
Phaolô
II,
Tông
Thư
Sollicitudo
Rei
Socialis,
42:
AAS
80
(1988),
572.
(13)
Diễn
văn
trước
các
tham
dự
viên
của
Tuần
Lễ
Nghiên
Cứu
tại
Gia;o
Hoàng
Học
Viện
về
Khoa
Học
(27/10/1989),
6:
Insegnamenti
XII/2
(1989),
1050.
(14)
Xem
Paul
VI,
Tông
Thư
Populorum
Progressio,
56-61:
AAS
59
(1967),
285-287;
Gioan
Phaolô
II,
Tông
Thư
Sollicitudo
Rei
Socialis,
33-34:
AAS
80
(1988),
557-560.
(15)
Xem
Gioan
Phaolô
II,
Message
to
the
President
of
the
Pontifical
Council
for
Justice
and
Peace:
L'Osservatore
Romano,
10/7/2004,
p.
5.
(16)
Xem
No.
50:
AAS
93
(2001),
303.
(17)
Gioan
Phaolô
II,
Tông
Thư
Sollicitudo
Rei
Socialis,
17:
AAS
80
(1988)
532.
(18)
Công
Đồng
Chung
Vatican
II,
Hiến
Chế
Mục
Vụ
Vui
Mừng
và
Hy
Vọng,
22.
(19)
Công
Đồng
Chung
Vatican
II,
Dogmatic
Constitution
Lumen
Gentium,
35.
(20)
Hiến
Chế
Mục
Vụ
Vui
Mừng
và
Hy
Vọng,
38.
(21)
Tông
Thư
Rerum
Novarum:
Acta
Leonis
XIII
11
(1892),
143;
Xem
Benedict
XV,
Tông
Thư
Pacem
Dei:
AAS
12
(1920),
215.
JB
Đặng
Minh
An
dịch
