|
ĐỀ TÀI II
THỜI ĐẠI VÀ TIỂU SỬ
CỦA THÁNH PHAO-LÔ |
I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Hôm nay chúng ta sẽ học hỏi và trao đổi về một số
đặc điểm của thời đại và tiểu sử của Thánh
Phao-lô. Chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần thể
hiện sự hiện diện và tác động của Người trên từng
anh chị em chúng ta để giúp mỗi người chúng ta
nhận ra hoạt động của Thiên Chúa trong thời đại
của Thánh Phao-lô cũng như trong thời đại của
chúng ta ngày nay, trong cuộc đời của Thánh
Phao-lô cũng như trong cuộc đời của chúng ta!
- Cùng hát :
LẠY CHÚA THÁNH THẦN
ĐK: Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến. Canh
tân đổi mới đời sống chúng con, tăng sức linh
hồn, bồi thêm lửa mến, soi sáng trí khôn, hiệp
nhất muôn lòng.
PK 1: Chúa hỡi! Khấn xin ngự đến đổ tuôn muôn ơn
phù giúp chúng con. Xin thương soi dẫn nhân tâm
nương theo Thần Khí bước trong bình an.
PK 2: Hãy đến! Thánh Linh từ ái suối ơn mát trong
là Đấng ủi an. Xin thương nâng đỡ ủi an con chiên
lạc hướng khổ đau lầm than.
II. CHIA SẺ KHÁM PHÁ / CẢM NGHIỆM / QUYẾT TÂM /
THAY ĐỔI LIÊN QUAN TỚI «CUỘC TRỞ LẠI» CỦA THÀNH
PHAO-LÔ
Bạn muốn chia sẻ «khám phá », «cảm nghiệm »,
«quyết tâm», hay «thay đổi» gì mới hoặc muốn nêu
«ý kiến» hay «thắc mắc» gì liên quan tới đề tài I
là «cuộc trở lại» hay «đổi đời» của Thánh Phao-lô
mà bạn đã học lần trước. Xin mời bạn chia sẻ hay
phát biểu.
III. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Muốn tìm hiểu về một con nguời nói chung, một
vị thánh nói riêng, chúng ta phải tìm hiểu những
gì? Muốn tìm hiểu về Thánh Phao-lô một vị thánh
nổi tiếng, chúng ta phải tìm hiểu những gì?
2. Thời đại của Thánh Phao-lô có những đặc điểm
gì?
3. Nếu chúng ta muốn biết thêm về Thánh Phao-lô
thì ngoài ”cuộc trở lại” của Ngài, chúng ta phải
quan tâm đến những gì khác nữa?
4. Thân thế, sự nghiệp của Thánh Phao-lô có những
đặc điểm gì?
5. Chúng ta có thể học được gì từ việc tìm hiểu
thời đại và tiểu sử của Thánh Phao-lô?
IV. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ
1. Muốn tìm hiểu
về một con người nói chung, một vị thánh nói
riêng, chúng ta phải tìm hiểu về thời đại và
tiểu sử của con nguời hay của vị thánh ấy.
Muốn tìm hiểu về Thánh Phao-lô, một vị thánh nổi
tiếng, chúng ta phải tìm hiểu về thời đại và
tiểu sử của Ngài.
2. Thời đại của Thánh Phao-lô:
Đức Thánh Cha Bênê-đictô XVI, trong Bài Huấn Đức
trong buổi triều yết chung vào ngày Thứ Tư, ngày
2 tháng 7 năm 2008, cũng là bài Giáo lý thứ nhất
về Thánh Phao-lô mang tựa đề «Thế Giới và
Thời Đại của Thánh Phao-lô» đã phát biểu
rằng: «Thánh Phaolô đã được diễn tả như một
“người của ba nền văn hóa,” kể cả nguồn gốc Do
Thái của ngài, ngôn ngữ Hy Lạp, và đặc quyền công
dân Rôma của ngài, như tên gọi gốc La-tinh của
ngài làm chứng.» Đức Thánh Cha Bênê-đictô XVI nói
thêm cho rõ hơn về Thánh Phao-lô: «Như chúng ta
biết, Thánh Phao-lô là một người Do Thái, và như
thế là một phần tử của một thiểu số về văn hóa
trong Đế Quốc Rô-ma. Đồng thời ngài cũng nói
tiếng Hy Lạp, ngôn ngữ của nền văn hóa Hy Lạp
rộng hơn, và là một công dân Rô-ma. Việc rao
giảng Đức Ki-tô Phục Sinh của Thánh Phao-lô,
trong khi đặt nền tảng trên Do Thái giáo, được
đánh dấu bằng viễn tượng phổ quát và được dễ dàng
nhờ sự quen thuộc của ngài với ba nền văn hoá.
Như thế ngài có thể rút ra từ sự phong phú tinh
thần của nền triết học đương thời, đặc biệt là
trường phái Khắc Kỷ, trong khi rao giảng Tin
Mừng. Cuộc khủng hoảng của tôn giáo theo truyền
thống Hy Lạp – Rôma ở thời đại của Thánh Phao-lô
cũng thuận lợi cho một quan tâm lớn lao hơn về
một cảm nghiệm cá nhân về Thiên Chúa. Như chúng
ta thấy trong bài giảng của ngài trước Areopagus
ở A-ten (x. Cv 17,22 tt), Thánh Phao-lô đã có thể
dựa vào những dòng tư tưởng này trong bài trình
bày Tin Mừng của ngài. Dựa vào khung cảnh văn hóa
rộng rãi này, Thánh Phao-lô đã khai triển các
giáo huấn của ngài, mà chúng ta sẽ khám phá trong
các bài Giáo Lý của Năm Thánh Phao-lô này.
Như vậy có thể nói là thời đại của Thánh Phao-lô
có những đặc điểm sau đây:
a)
Vê mặt chính trị
thì đây là «thời của cơ cấu chính trị - hành
chánh của Đế Quốc Rô-ma, là cơ cấu đảm bảo sự
bình an và yên ổn từ Anh Quốc cho đến miền Nam Ai
Cập, thống nhất lãnh thổ với một chiều kích chưa
từng thấy. Ở không gian này, một người có thể đủ
tự do và an toàn để di chuyển, được hưởng giữa
những tiện nghi khác là một hệ thống đường xá
ngoại hạng, và tìm thấy ở bất cứ nơi nào mình đến
những đặc tính văn hóa căn bản mà không phương
hại đến những giá trị địa phương, được tiêu biểu,
trong mọi trường hợp, một công trình thống nhất
chung “super partes,” đến nỗi triết gia Phi-lô
người Do Thái ở Alexandria, đồng thời với Thánh
Phao-lô, đã ca tụng Hoàng Đế Augustô bởi vì ông
“đã đem tất cả mọi dân man rợ lại với nhau trong
sự hòa hợp … trở thành một người bảo vệ hòa bình”
(Legatio to Caium, § § 146-147).
b)
Vê mặt văn hóa
thì đây là thời đại của «nền văn hóa Hy Lạp, hay
đúng hơn là văn hóa cổ Hy Lạp (Hellenistic), là
nền văn hóa mà thời hậu Alexander Đại Đế đã trở
thành di sản chung ít ra của vùng Đông Địa Trung
Hải và Trung Đông, mặc dù chính nền văn hóa này
đã hội nhập nhiều yếu tố của các nền văn hóa của
những dân tộc được truyền thống coi là man
di »,.với kho tàng thần thoại vô cùng phong phú
(đa thần và mỗi thần có đền/miếu thờ và cúng lễ
khác nhau) và xu huớng tìm kiếm sự minh triết
(hiểu biết, khôn ngoan) và đề cao tài hùng biện
trong khoa ăn nói. Cũng trong bài Giáo lý thứ
nhất về Thánh Phao-lô với chủ đề «Thế Giới và
Thời Đại của Thánh Phao-lô» ngày 11.10.2008 vừa
nhắc đến ở trên, Đức Thánh Cha Bênê-đictô XVI, đã
lưu ý rằng: «Chúng ta phải đặc biệt nhắc đến
triết thuyết Khắc Kỷ, là triết lý nổi bật trong
thời Thánh Phao-lô và cũng ảnh hưởng đến Ki-tô
giáo, dù chỉ một phần nào..... Chúng ta tìm thấy
nơi các triết gia Khắc Kỷ, những giá trị cao quý
về đề tài nhân loại và sự khôn ngoan, là những
điều được Ki-tô giáo đón nhận một cách tự nhiên.
Như một học giả về đề tài này đã viết cách tuyệt
tác, “Thuyết Khắc Kỷ … công bố một ý tưởng mới,
là ý tưởng áp đặt trên con người nhiệm vụ đối với
đồng loại, đồng thời giải thoát họ khỏi tất cả
mọi ràng buộc thể lý cùng dân tộc và làm cho họ
thành một thực thể tinh thần thuần túy” (M.
Pohlenz, La Stoa, I, Florence 2, 1978, pp.
565ff).»
c) Còn vê mặt tôn giáo
thì đây là thời khởi đầu của Ki-tô giáo: Như
chúng ta biết Thánh Phao-lô «xuất thân từ một nền
văn hóa rất đặc biệt và giới hạn, chắc chắn là
thiểu số, đó là nền văn hóa và truyền thống của
dân Ít-ra-en. Trong thế giới ngày xưa và nhất là
ở trọng tâm của Đế Quốc Rô-ma, như các học giả
cho chúng ta biết, thì có chừng 10% tổng số dân
chúng là người Do Thái. Vào đầu thế kỷ thứ nhất
tại thành Rô-ma này, tỷ lệ đó còn ít hơn, tối đa
là 3% dân số thành phố. Như vẫn còn xảy ra ngày
nay, niềm tin và cách sống của họ phân biệt họ
cách rõ ràng với môi trường chung quanh, và việc
ấy có thể đưa đến hai hậu quả: hoặc là bị chế
diễu, có thể đi đến việc kỳ thị, hoặc được thán
phục, là điều được diễn tả dưới những hình thức
cảm thông khác nhau như trường hợp những dân
ngoại “kính sợ Thiên Chúa” hoặc “tòng giáo” liên
hệ với hội đường và chia sẻ đức tin vào Thiên
Chúa của dân Ít-ra-en. Cho nên chúng ta không
ngạc nhiên khi chính Thánh Phao-lô cũng là người
chịu hai cách đánh giá trái ngược nhau mà tôi đã
đề cập đến. Có một điều chắc chắn là tính cách
đặc thù của nền văn hóa và tôn giáo của Do Thái
đã tìm được chỗ đứng dễ dàng trong một thực thể
có mặt khắp nơi như là Đế Quốc Rô-ma. Chỗ đứng
khó khăn và đau đớn hơn là của một nhóm những
người, Do Thái hay Dân Ngoại, là những người tin
chắc chắn vào con người Chúa Giê-su thành
Na-da-rét, đến độ họ trở nên khác biệt với cả đạo
Do Thái lẫn hình thức lương giáo thịnh hành.»
(ĐTC Bênêđictô XVI, bài Giáo lý thứ nhất về Thánh
Phao-lô mang tựa đề «Thế Giới và Thời Đại của
Thánh Phao-lô» ngày 2.7.2008).
3. Tiều sử của Thánh Phao-lô:
Muốn biết thêm về Thánh Phao-lô chúng ta phải
quan tâm đến tiểu sử tức thân thế sự nghiệp
của ngài. Những dòng sau đây là của chính Đức
Thánh Cha Bênêđictô XVI viêt về Thánh Phao-lô
trong bài giáo lý mang tựa đề «Thánh Phao-lô
thành Tarsô» ngày 25 tháng 10, 2006:
«Người đầu tiên đã được Chính Chúa, là Đấng Phục
Sinh, gọi làm một Tông Đồ thật, chính là Thánh
Phao-lô thành Tar-sô. Ngài nổi bật như một ngôi
sao sáng nhất trong lịch sử Hội Thánh, nếu không
nói là trong việc thành lập Hội Thánh. Thánh
Gio-an Kim Khẩu ca tụng ngài như một người cao
trọng hơn nhiều thiên thần và tổng lãnh thiên
thần (x. Panegirico, 7, 3). Dante Aligheiri trong
Hài Kịch của Thiên Chúa (Divine Comedy), cảm hứng
bởi câu truyện Thánh Lu-ca kể trong Tông Đồ Công
Vụ (x. 9:15), đã diễn tả ngài cách đơn giản là
“cái bình được chọn” (inf. 2:28), có nghĩa là:
một dụng cụ được Thiên Chúa chọn. Những người
khác gọi ngài là “Vị Tông Đồ Thứ 13”, hay cách
trực tiếp, “vị trước nhất sau vị Duy Nhất.”
Chắc chắn rằng sau Chúa Giê-su, ngài là một trong
những vị tiên khởi mà chúng ta biết nhiều nhất.
Thực ra, chúng ta không những chỉ có câu truyện
mà Thánh Lu-ca viết trong sách Tông Đồ Công Vụ,
mà còn cả một số Thư mà chính tay ngài viết, là
những văn kiện trực tiếp tỏ lộ cá tính và tư
tưởng của ngài mà không qua trung gian.
Thánh Lu-ca cho chúng ta biết tên ngài trước kia
là Sau-lô (x. Cv 7,58; 8,1), cũng là Sau-lê trong
tiếng Hi-pri (x. Cv 9,14, 17; 22,7, 13; 26,14),
như Vua Sau-lê (x. Cv 13,21), và ngài là người Do
Thái lưu vong, vì thành Tarsô tọa lạc giữa
A-na-to-li-a và Sy-ri-a.
Ngài xuống Giê-ru-sa-lem rất sớm để học tận gốc
Luật Mô-sê theo chân Vị Thầy nổi danh là
Ga-ma-li-e-lê (x. Cv 22,3). Ngài cũng học một
nghề thủ công và phổ thông, là đan lều (x. Cv
18,3), mà sau này giúp ngài tự cung cấp cho mình
để không trở thành gánh nặng cho Hội Thánh (x. Cv
20,34; 1 Cr 4,12; 2 Cr 12,13).»
Tiểu sử
của Thánh Phao-lô một phần nào được biểu lộ qua
biểu đồ dưới đây:
Sự Kiện - Niên Biểu và Tác Phẩm có liên quan và
của Thánh Phao-lô:
|
Sự kiện
|
Niên |
Biểu |
Tác phẩm |
|
Chúa Giê-su sinh ra |
6 trước CN |
|
|
|
Phao-lô sinh ra |
8 sau CN |
tại |
Tácxô |
|
Gioan Tẩy Giả rao giảng |
27 |
|
|
|
Sứ vụ công khai của Chúa Giê-su |
28-30 |
|
|
|
Chúa Giê-su bị đóng đinh và phục sinh |
30 |
|
|
|
Stêphanô tử đạo. Các Ki-tô hữu gốc Hy Lạp và
Do Thái bị bách hại. |
33 |
|
|
|
Phao-lô trở lại, 3 năm ở Đa-mát. |
33 (36) |
|
|
|
Phaolô ở Tar-sê |
37 (40) |
|
|
|
Phao-lô với Bar-na-ba ở An-ti-ốt |
45 |
|
|
|
Hành trình truyền giáo I của Phao-lô |
46-49 |
|
|
|
Công đồng Giê-ru-sa-lem |
49 |
|
|
|
|
|
51 |
1 Tx |
|
Hành trình truyền giáo II của Phao-lô |
50-52 |
|
|
|
Hành trình truyền giáo III của Phao-lô |
54-58 |
54 |
Gl |
|
|
|
55 |
1 Cr |
|
|
|
56 |
Pl |
|
|
|
56-57 |
2 Cr |
|
Phao-lô bị tù ở Xê-da-rê |
58-60 |
58 |
Rm |
|
Phao-lô đến Rô-ma |
60-61 |
|
|
|
Phao-lô bị tù ở Rô-ma |
61-63 |
62 |
Plm.
Cl |
|
Phê-rô và Phao-lô tử đạo trong cuộc bách hại
của Nê-rô ở Rô-ma |
64 (67) |
64 |
Mc |
|
Chiến tranh giữa người Do Thái và Rô-ma |
67-70 |
66-70 |
Gc ? |
|
Đền thờ Giê-ru-sa-lem bị phá hủy |
70 |
70 |
Ep,
2 Tx,
Mt |
|
|
85 (90) |
|
Lc/Cv,
Ga/Kh, |
|
Cuộc bách hại của Đô-mi-xi-a-nô |
90-96 |
|
Thư Mv
2 Pr |
|
Cuôc nổi dậy của người Do Thái dưới thời Bar
Kochbah |
132-135 |
|
|
|
Giê-ru-sa-lem bị phá bình địa |
135
|
|
|
4. Những đặc điểm về thân thế, sự nghiệp của
Thánh Phao-lô:
a)
Nguồn gốc, nền giáo dục và cuộc đổi đời lạ
lùng: Thánh Phao-lô là người Do Thái (tên là
Sa-un hay Sao-lô), sinh tại Tác-xô (Thổ Nhĩ Kỳ
ngày nay), thậm chí là một Pha-ri-sêu thông thái,
nhiệt thành, am tường Thánh Kinh Do Thái, nhưng
lại có quốc tịch Ro-ma (tên là Phao-lô). Thánh
Phao-lô chẳng những hấp thụ nền giáo dục Do Thái
giáo, mà còn thông thạo văn hóa Hy Lạp là văn hóa
thịnh hành thời bấy giờ.
Biến cố «bị/được» Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh
«chộp bắt» trên đường Đa-mát đã làm thay đổi cách
kỳ diệu con nguời và cuộc sống của Phao-lô. Một
«cuộc đổi đời có một không hai» trong lịch sử
nhân loại nói chung và Ki-tô giáo nói riêng.
b) Ơn gọi và sứ mạng đặc biệt:
«15 Nhưng Thiên Chúa đã dành riêng tôi
ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi
nhờ ân sủng của Người. 16 Người đã
đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để
tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các
dân ngoại.» (Gl 1,15-16).
c) Đời sống thánh thiện:
«3 Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm
gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có
thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi.
4 Trái lại, trong mọi sự, chúng tôi
luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của
Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, 5
đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất
ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu
đựng. 6 Chúng tôi còn chứng tỏ điều đó
bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục,
nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một
tình thương không giả dối, 7 bằng lời
chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi
lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ,
8 khi vinh cũng như khi nhục, lúc được
tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là
bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành;
9 bị coi là vô danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực
chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp
chết, nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như
bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết;
10 coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ
thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng,
nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên
giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng
tôi có tất cả.» (2 Cr 6,3-10).
d) Một cuộc đời tận hiến cho việc truyền giáo được
thể hiện qua 3 hành trình truyền giáo: Theo sách
Công Vụ Tông Đồ, Thánh Phao-lô có 3 hành trình
truyền giáo, thêm vào đó, chuyến cuối cùng là bị
giải từ Giê-ru-sa-lem về Rô-ma để thụ án do chính
quyền tố cáo.
Hành trình thứ nhất
(khoảng từ năm 45-49)
được ghi lại trong Công Vụ Tông Đồ 13,1 - 14,28.
Phao-lô và Bar-na-ba rời tàu từ An-ti-o-ki-a
(vùng Sy-ri-a) qua Cy-rus, qua Per-ga ở
Pam-phi-li-a, qua An-ti-ô-ki-a (vùng Pi-si-di-a),
rồi đến I-co-ni-um, Lys-tra, và Der-be trong vùng
Tiểu Á. Sau đó Phao-lô dự Công Đồng Giê-su-ra-lem
cùng với Bar-na-ba và trở về lại An-ti-ô-ki-a
(vùng Sy-ri-a).
Hành trình thứ hai
(khoảng năm 50-52)
được ghi lại trong Cv 15,6 – 18,22. Sau khi bất
đồng ý kiến với Bar-na-ba, Phao-lô chọn Si-lô làm
người đồng hành truyền giáo. Họ rao giảng khắp
vùng Sy-ri-a, Ci-li-ci-a, Tiểu Á, qua đến
Phry-gi-a và Ga-lát. Tại Troa bên bờ Tiểu Á,
Phao-lô có thị kiến là được tàu đưa qua
Ma-ce-do-ni-a. Từ đó, Ngài theo đường bộ đến
Phi-lip-phê, Thê-xa-lo-ni-ca, Be-ro-e-a, A-then
và Cô-rin-tô. Rồi theo tàu về E-phê-sô ở Tiểu Á
và vào Cê-sa-rê và Giê-ru-sa-lem. Sau cùng các
Ngài về lại An-ti-o-ki-a (vùng Sy-ri-a).
Hành trình thứ ba
(khoảng năm 53-58)
được ghi lại trong Cv 18,23 - 21,17. Từ
Giê-ru-sa-lem, Phao-lô đi về Ga-lát, Phry-gi-a và
E-phê-sô để vượt qua vùng Ma-ce-do-ni-a. Ý định
theo tàu về lại Sy-ri-a bị hủy bỏ vì Ngài biết có
người muốn ám hại Ngài trên đường qua
Ma-ce-do-ni-a đến Troa. Phao-lô và đồng bạn dùng
tàu đến My-ti-le-ne, Sa-mos và Mi-le-tus, băng
qua E-phê-sô để đến Rho-des và Ty-re trong vùng
Sy-ri-a. Sau một thời gian ngắn, Phao-lô trở lại
Giê-ru-sa-lem để gặp tông đồ Gia-cô-bê.
Hành trình cuối cùng
(khoảng năm 60) là bị giải về Rô-ma cùng với các
tù nhân khác, được kể lại trong Cv 27,1-28,16. Họ
đi từ Xê-da-rê đến Xi-đon, My-ra trong vùng Tiểu
Á, rồi đến Crê-tê. Từ Crê-tê đến Man-ta, thời
tiết xấu làm đắm tàu tại Man-ta. Sau 3 tháng, họ
đi tàu đến Sy-ra-cu-se, Rhe-gi-ô và Ro-ma, nơi
Phao-lô bị quản chế và bị giết (Lm Mát-thêu
Nguyễn Khắc Hy, S.S. «Sống Năm Thánh Phao-lô -
Bài 5: Những hành trình của Thánh Phaolô thế
nào? »).
e) Kho tàng các Thư gửi cộng đoàn và cá nhân:
Đọc trong Tân Ước, ta thấy có 13 thư mang tên tác
giả Phao-lô gởi cho các giáo đoàn hay cá nhân
theo thứ tự: Rô-ma, 1 và 2 Cô-rin-tô, Ga-lát,
E-phê-sô, Phi-lip-phê, Cô-lô-sê, 1 và 2
Thê-xa-lô-ni-ca, 1 và 2 Ti-mô-thê, Ti-tô, và
Phi-lê-mon.
Một số học giả Thánh Kinh cho rằng tất cả 13 thư
trên là do Phao-lô viết hay những trợ tá trực
tiếp viết. Nhưng phần lớn các học giả Thánh kinh
ngày nay tin rằng chỉ có 7 thư do chính Phao-lô
viết là: Ro-ma, 1 và 2 Cô-rin-tô, Ga-lát,
Phi-lip-phê, 1 Thê-xa-lô-ni-ca và Phi-lê-mon.
Ngay cả trong số 7 thư này cũng có những cộng sự
viên cùng viết với Ngài và tên của họ được liệt
kê trong những lời giới thiệu đầu thư như thư 1
và 2 Cô-rin-tô, Phi-lip-phê, 1 Thê-xa-lô-ni-ca và
Phi-lê-mon. Còn sáu thư còn lại (2
Thê-xa-lô-ni-ca, Ê-phê-sô, Cô-lô-sê, 1 và 2
Ti-mô-thê và Ti-tô) là đề tài tranh luận giữa
những học giả Thánh Kinh về tác quyền, và họ gọi
những thư này là Thứ Kinh (Deutero-Pauline
letters).
Về thời gian, rất khó biết chính xác, nhưng các
học giả sắp xếp những thư như sau: 1
Thê-xa-lô-ni-ca chừng 50-51; 1 và 2 Cô-rin-tô
chừng 54-55; Ga-lát chừng 54-55; Phi-líp-phê
chừng 56; Rô-ma chừng 57-58; Phi-lê-mon chừng
60-61; 2 Thê-xa-lô-ni-ca, Cô-lô-sê và E-phê-sô
chừng giữa thập niên 80 (và nếu thật sự Phao-lô
viết những thư này thì có thể vào giữa những năm
50); 1 và 2 Ti-mô-thê và Ti-tô chừng giữa 60-90
(và nếu thật sự Phao-lô viết thì có thể đầu những
năm 60).
Nhìn chung, tất cả 13 thư trên đều trình bày
những giáo huấn thống nhất của một Phao-lô cương
nghị, dứt khoát và nhiệt tình trong giảng dạy (Lm
Mát-thêu Nguyễn Khắc Hy, S.S. «Sống Năm Thánh
Phao-lô - Bài 3: Phaolô viết bao nhiêu thư và khi
nào?)
g) Cái chết chứng nhân tại Ro-ma:
Việc tử vì đạo của Thánh Phao-lô được kể lại đầu
tiên trong sách Công Vụ của Thánh Phao-lô, được
viết vào cuối thế kỷ thứ II. Sách tường thuật
rằng hoàng đế Nê-rô lên án chém đầu ngài, và bản
án được thi hành ngay sau đó (x. 9,5). Ngày chết
của ngài khác nhau ngay từ những tài liệu cổ,
khoảng giữa cuộc bách hại mà chính hoàng đế Nê-rô
phát động sau vụ hỏa hoạn của thành Ro-ma, xảy ra
vào tháng 7 năm 64, và năm cuối cùng của triều
đại Nê-rô là năm 68 (x. Giêrônimô, De viris ill.
5,8). Tường thuật ấy như sau :
“Nhằm đạt được điều ấy (Nê-rô) ra sắc chỉ
là tất cả những ai được phát hiện là Ki-tô hữu và
lính của Đức Ki-tô đều sẽ bị giết chết. Và
Phao-lô cũng bị cầm tù trong số nhiều người; tất
cả các bạn tù là người có đạo lưu ý đến ngài
khiến Xê-da-rê quan sát thấy rằng ngài là người
chỉ huy. Ông ta nới với Phao-lô: “Người của vua
vĩ đại nay trở thành tù nhân trong tay ta, tại
sao ngươi đã cho là tốt việc bí mật đến đế quốc
Rô-ma của ta và lối kéo các binh lính của ta ra
khỏi tỉnh của ta?” Nhưng Phao-lô, đầy Thần Khí,
nói trước mọi người rằng: “Thưa ngài Xê-da-rê,
chúng tôi chiêu dụ binh lính không chỉ từ các
tỉnh của ngài mà từ khắp thế giới. Vì nhiệm vụ
này được giao cho chúng tôi, để không một ai bị
loại trừ nếu người ấy muốn phụng sự Đức Vua. Nếu
ngài cho rằng đó là việc tốt, ngài hãy phụng sự
Người. Không có của cải vinh hoa nào của cuộc đời
này sẽ cứu được ngài, nhưng nếu ngài đầu phục
Người, Người sẽ cứu ngài. Vì chỉ trong một ngày
Người sẽ phá hủy thế giới bằng lửa. Khi Xê-da-rê
nghe những lời ấy, ông ra lệnh thiêu tất cả các
tù nhân, nhưng Phao-lô thì phải bị chém đầu theo
luật của người Rô-ma… Lúc ấy Phao-lô đứng hướng
mặt về phía đông, giơ tay lên trời mà cầu nguyện
lần cuối. Và sau khi hiệp thông trong cầu nguyện
bằng tiếng Híp-ri với các tổ tiên, ông chìa cổ ra
mà không nói thêm một lời nào nữa. Nhưng khi viên
lý hình kéo đầu ông ra, sữa phun vào áo của người
lính ấy. Và khi chúng nhìn thấy vậy, người lính
và tất cả những người đứng gần đó đều kinh ngạc
và chúc tụng Thiên Chúa là Đấng đã ban cho
Phao-lô vinh quang ấy. Họ ra đi và báo cáo cho
Xê-da-rê sự việc đã xẩy ra.” (Cv của Thánh
Phao-lô 11,1-3.5).
5. Chúng ta có thể học được gì từ việc tìm hiểu
thời đại và tiểu sử của Thánh Phao-lô? (Xem phần
ỨNG DỤNG)
V. ỨNG DỤNG [LINH ĐẠO VÀ SỐNG LINH ĐẠO]
1. Từ việc tìm hiểu thời đại của Thánh Phao-lô,
chúng ta có thể học được những điều sau đây:
a) Tin Mừng của Thiên Chúa cần được rao giảng cho
mọi người (lớn/bé, già/trẻ, tự do/nô lệ…) và mọi
dân (Do Thái cũng như Dân Ngoại).
b) Tin Mừng của Thiên Chúa có khả năng thích ứng
với và đi sâu vào các nền văn hóa khác nhau của
nhân loại.
c) Tin Mừng của Thiên Chúa sẽ phúc âm hóa các nền
văn hóa tức đón nhận và phát huy những điều tốt
đẹp của các nền văn hóa ấy và thanh luyện, bổ
sung và hoàn thiện những gì còn khiếm khuyết của
các nền văn hóa ấy.
2. Từ việc tìm hiểu tiểu sử của Thánh Phao-lô,
chúng ta có thể học được những điều sau đây:
a) Thiên Chúa có thể dẫn đưa một con người từ
chốn lầm lạc trở về chân lý. Thiên Chúa cũng có
thể biến đổi một con người từ tội lỗi nên thánh
thiện để người ấy làm vinh danh Thiên Chúa và đem
lại lợi ích thiêng liêng cho các linh hồn. Thánh
Phao-lô là một điển hình “có một không hai” trong
lịch sử Ki-tô giáo.
b) Thiên Chúa có một kế hoạch riêng cho mỗi Ki-tô
hữu.
c) Thiên Chúa cần đến tất cả những gì là tốt đẹp
sẵn có trong mỗi con người chúng ta để chúng ta
dễ bề chu toàn sứ mạng được giao.
d) Chúng ta có học cùng Thánh Phao-lô trong đời
sống đức tin cậy mến: tin tuởng, cậy trông, yêu
mến và phụng sự Thiên Chúa hêt lòng, hết trí
khôn, hết linh hồn và yêu tha nhân như chính
mình.
VI. CHUẨN BỊ BÀI SAU
|
CHUẨN BỊ ĐỀ TÀI III
CÔNG CUỘC, CHIẾN THUẬT VÀ PHƯƠNG THẾ
TRUYỀN GIÁO CỦA THÁNH PHAO-LÔ
|
|
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
Nhờ đề tài II về «thời đại» và «tiểu sử» của
Thánh Phao-lô bạn có «khám phá», «cảm
nghiệm», «quyết tâm» hay «thay đổi» gì mới?
Xin ghi «nhật ký» để chuẩn bị chia sẻ
vào lần học tới với các anh chị em khác.
Câu hỏi gợi ý tìm hiểu:
1. Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ
Dân Ngoại?
2. Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin
Mừng có tầm quan trọng như thế nào đối với
Thánh Phao-lô?
3. Để loan báo Tin Mừng, Thánh Phao-lô đã sử
dụng chiến thuật và phương thế nào?
4. Chúng ta có thể học được gì từ Thánh
Phao-lô là Nhà Truyền Giáo nhiệt thành, là Vị
Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo?
|
VII. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
.
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Chúng ta vừa học về thời đại và tiểu sử của Thánh
Phao-lô, qua đó chúng ta thấy Thánh Phao-lô đã nỗ
lực hết sức mình để đem Ki-tô giáo vào trong thế
giới và xã hội thời của Ngài. Chúng ta cũng có
trách nhiệm đem hết khả năng và ân sủng mà chúng
ta đã nhận từ Thiên Chúa mà đem Tin Mừng đến cho
đồng bào của chúng ta. Chúng ta hãy cùng cảm tạ
ngợi khen Chúa về sứ mạng cao trọng mà Người đã
giao và cùng cầu xin Chúa ban cho chúng ta sức
mạnh của Thánh Thần để thực thi sứ mạng ấy.
- Cùng cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa là Cha của chúng con, Cha đã yêu
thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người cho thế
gian. Chúa Giê-su Ki-tô là Con Cha, đã xuống thế
làm người và đi vào lịch sử nhân loại. Người đã
chiêu mộ những con người trung thực và nhiệt
thành là các Tông Đồ, nhất là Thánh Phao-lô, để
đem Tin Mừng yêu thương đến với mọi người, mọi
dân tộc. Chúng con xin cảm tạ Cha và cảm tạ Con
Cha là Chúa Giê-su Ki-tô, về Chương Trình Cứu Độ
mà chúng con được thừa hưởng và mời tham dự.
Chúng con cảm tạ Cha cách đặc biệt trong việc Cha
tuyển chọn Thánh Phao-lô và biến Người thành vị
thánh lớn lao, thành nhà truyền giáo vĩ đại.
Xin Cha giúp chúng con biết noi gương bắt chước
Thánh Phao-lô mà sống hết mình với Chúa Giê-su
Ki-tô, Con Cha và với Tin Mừng của Ngài, với anh
chị em trong cộng đoàn Hội Thánh và với những
người còn ở ngoài Hội Thánh.
- Cùng hát :
TÁN TỤNG HỒNG ÂN
ĐK : Xin dâng lời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa bao
la. Xin dâng lời cảm mến hòa theo tiếng hát dâng
lên. Đôi bàn tay Chúa nâng đỡ con, xin dâng lời
cảm tạ. Cho đời con vững một niềm tin, xin dâng
lời cảm mến. Đôi bàn tay Chúa dẫn con đi, xin
dâng lời cảm tạ. Tay hồng ân Chúa đưa con về, xin
dâng lời cảm mến. Chúa cho con Trời mới Đất mới,
đường đời con (i) đổi mới. Con sẽ ca ngợi lòng
thương xót Chúa muôn muôn đời.
1. Đời đời Người đã thương con. Đời đời Người vẫn
thương con. Thương con như gà mẹ ủ ấp con dưới
cánh. Chúa thương yêu ấp ủ con đêm ngày.