|
ĐỀ TÀI III
CÔNG CUỘC, CHIẾN THUẬT VÀ PHƯƠNG THẾ TRUYỀN
GIÁO CỦA THÁNH PHAO-LÔ
|
I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Hôm nay chúng ta sẽ học cùng Thánh Phao-lô, vị
Tông Đồ Dân Ngoại, để biết Ngài coi trọng Công
Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng như thế
nào và biết Ngài đã dùng những Chiến Thuật và
Phương Thế nào để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của
Thiên Chúa mà Chúa Giê-su Ki-tô đã đem đến cho
nhân loại. Chúng ta hãy nguyện xin Thánh Thần
Thiên Chúa xuống trên mỗi anh chị em chúng ta, để
Người biến đổi chúng ta thành những tông đồ nhiệt
thành, ra đi loan báo Tin Mừng cho những ngưòi
đang khát khao gặp được Thiên Chúa. Chúng ta hãy
cùng nhau cầu nguyện bằng bài ca «Thần Khí Chúa
sai đi!»
- Cùng hát:
THẦN KHÍ SAI ĐI.
ĐK.- Thần Khí Chúa đã sai tôi đi. Sai tôi đi loan
báo Tin Mừng. Thần Khí Chúa đã hiến thánh tôi.
Sai tôi đi, Ngài sai tôi đi.
1. Sai tôi đến với người nghèo khó, sai tôi đến
với người lao tù. Mang Tin Mừng giải thoát: Thiên
Chúa đã cứu tôi.
2. Sai tôi đến với người than khóc, sai tôi đến
với người âu sầu. Mang Tin Mừng an ủi: Thiên Chúa
đã cứu tôi.
II. CHIA SẺ KHÁM PHÁ / CẢM NGHIỆM / QUYẾT TÂM /
THAY ĐỔI LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI II VỀ «THỜI ĐẠI VÀ
TIỂU SỬ» CỦA THÁNH PHAO-LÔ
Bạn muốn chia sẻ «khám phá», «cảm nghiệm »,
«quyết tâm» hay «thay đổi» gì mới (hoặc muốn nêu
«ý kiến» hay «thắc mắc» gì liên quan tới đề tài
II về «Thời Đại và Tiểu Sử» của Thánh Phao-lô mà
bạn đã học lần trước, xin mời bạn chia sẻ hay
phát biểu.
III. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân
Ngoại?
2. Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng có
tầm quan trọng như thế nào đối với Thánh Phao-lô?
3. Để loan báo Tin Mừng, Thánh Phao-lô đã sử dụng
chiến thuật và phương thế nào?
4. Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Phao-lô
là Nhà Truyền Giáo nhiệt thành, là Vị Tông Đồ Dân
Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo?
IV. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ
1. Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại:
Linh mục Mát-thêu Nguyễn Khắc Hy, thuộc Hội Xuân
Bích, giáo sư Kinh Thánh tại Mỹ, trả lời câu hỏi
“Tại sao Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân
Ngoại?” như sau: “Câu trả lời một cách
ngắn gọn là vì trong thư gởi tín hữu Ga-lát,
Phao-lô đã tự nhận danh hiệu này cho mình:
“Tôi đã được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng
cho những người không được cắt bì, cũng như
Phê-rô được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng
cho những người được cắt bì. Thật vậy, Đấng đã
dùng ông Phê-rô hoạt động tông đồ cho những người
được cắt bì, cũng đã dùng tôi hoạt động cho dân
ngoại” (Gl 2, 7-8).
“Về mặt lịch sử, bối cảnh của giáo đoàn Ga-lát mà
Phao-lô viết những lời này giúp ta hiểu hơn về
vai trò Tông Đồ Dân Ngoại của ông. Trong chuyến
hành trình đến Ga-lát lần thứ hai, khi còn dừng
chân ở Ê-phê-sô, Phao-lô đã nghe biết một số
người loan tin rằng Phao-lô không phải là Tông
Đồ, và sứ mạng ông rao giảng không được Chúa
Ki-tô hay các Tông đồ trao phó (Gl 1,1.7.12). Hơn
nữa, Phao-lô rao giảng ngụy tin mừng (không là
Tin Mừng thật) (Gl 1,7) vì ông cho phép những
người theo Ki-tô giáo không cần phải giữ luật
Mô-sê, như không giữ những ngày lễ ghi trong lịch
Do Thái và không chịu cắt bì chẳng hạn (Gl 4,10;
6,12). Nhiều người còn vu cáo ông là người “đón
gió trở cờ” hay theo cơ hội, vì có lúc ông chấp
nhận phép cắt bì cho tân tòng (Gl 5,11), nay thì
dạy là không cần cắt bì để nhằm có thêm nhiều tân
tòng gia nhập đạo. Những tin đồn và vu cáo này là
nguyên nhân khiến Phao-lô viết thư khẳng định
giáo huấn thần học Ngài dạy và vai trò “Tông Đồ
Dân Ngoại” của mình.
“Trước hết, với những người Do Thái trung thành
với luật Mô-sê mà nay tin theo Chúa Ki-tô,
Phao-lô tôn trọng những luật lệ họ giữ, và nêu rõ
là Phê-rô được sai đến với họ, “những người chịu
cắt bì này” (Gl 2,7-8). Với những người ngoại
(không chịu cắt bì như người Hy Lạp, Ro-ma, Ai
Cập…), Phao-lô rao giảng rằng họ không cần phải
chịu cắt bì hay giữ tất cả luật Mô-sê khi tin
theo Đức Giê-su Ki-tô. Quyết định này không là ý
kiến cá nhân Phao-lô mà là kết quả của Công Đồng
Giê-ru-sa-lem trong đó Thánh Gia-cô-bê, Giám Mục
Giê-ru-sa-lem, thay mặt các Tông Đồ công bố (Cv
15,1-21).
“Vì thế Phao-lô đã phản bác những tuyên truyền
sai lạc của những người mà Ngài gọi là “kẻ phá
rối” (Gl 1,7), và khẳng định rằng Ngài chính là
Tông Đồ, được sai bởi Thiên Chúa, và Tin Mừng
Ngài rao giảng được Thiên Chúa mặc khải qua Đức
Giê-su Ki-tô (Gl 1,1.12). Và với tính khẳng khái,
Phao-lô công bố rằng Tin Mừng Ngài nhận là từ
Thiên Chúa chứ không phải từ loài người. Do đó,
nếu có ai đến rao giảng những gì nghịch lại với
Tin Mừng Ngài dạy, ngay cả các Tông Đồ hay các
Thiên Thần từ trời xuống, Phao-lô cảnh báo giáo
dân không được tin theo (Gl 1,8-9).”
2. Tầm quan trọng của Công Cuộc Truyền Giáo hay
Loan Báo Tin Mừng đối với Thánh Phao-lô:
Muốn hiểu Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin
Mừng quan trọng như thế nào đối với Thánh
Phao-lô, thì chúng ta cần nêu lên một số điểm sau
đây:
a) Trước hết là động lực thúc đẩy Thánh
Phao-lô lao mình vào Công Cuộc Truyền Giáo hay
Loan Báo Tin Mừng là lòng mến Chúa yêu ngưòi.
* Trước hết là tình yêu nồng nàn đối với Chúa
Giê-su Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã “chộp bắt” ngài
trên đường Đa-mát.
Linh mục Giu-se Linh Tiến Khải, trong Đề Tài II:
Cuộc gặp gỡ đổi đời của Thánh Phao-lô với Chúa
Ki-tô Phục Sinh đã viết về tâm hồn Thánh Phao-lô
như sau: “Sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô
phục sinh, Phao-lô say mê Chúa Ki-tô chịu đóng
đanh tới độ ông không còn trông thấy gì khác
ngoài Chúa Ki-tô. Phao-lô coi tất cả mọi sự trên
trần gian này là một mất mát và nhận chịu mất mát
mọi sự, kể cả mạng sống mình, miễn là có thể đem
mọi người về với Chúa Ki-tô (Pl 3,8-9). Nghĩa là
Phao-lô đổi hướng đời mình 180 độ: từ chỗ tự mãn
tưởng mình toàn năng, có thể tự cứu rỗi qua những
gì mình làm, tới chỗ nhận rằng mình tùy thuộc và
tín thác hoàn toàn nơi Chúa Ki-tô; từ thái độ
tuân giữ luật lệ như nô lệ tới thái độ vâng phục
của lòng tin.”
Vì yêu mến Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh và yêu
thương con người mãnh liệt như vậy nên Thánh
Phao-lô dành trọn cuộc đời mình cho Công
Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng.
Chính Thánh Phao-lô đã khẳng định
quan điểm, lập trường và chọn lựa
của ngài như sau:
- “Thật ra Chúa Ki-tô không gửi tôi đi rửa tội,
nhưng là để loan báo Tin Mừng” (1 Cr 1,17);
- “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin
Mừng” (1 Cr 9,16);
- “Hãy rao giảng Lời Chúa! hãy lên tiếng, lúc
thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện!” (2 Tm
4,2).
c) Cũng xuất phát từ tình yêu ấy đối với Chúa
Giê-su Ki-tô mà Thánh Phao-lô đã thực hiện 3
Hành Trình Truyền Giáo phi thường. Ngoài
những gì chúng ta đã đọc được trong đề tài II,
chúng ta nên đọc thêm những gì linh mục Giu-se
Linh Tiến Khải viết trong Đề Tài III về
“Thánh Phao-lô, nhà Truyền Giáo thời danh của
Giáo Hội Ki-tô tiên khởi” như sau: “Có
thể chia hoạt động truyền giáo của Phao-lô thành
ba giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất
khá tối tăm, bắt đầu từ lúc hoán cải cho tới lúc
gia nhập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a.
Giai đoạn thứ hai bao gồm các hoạt
động rao giảng Tin Mừng tại An-ti-ô-ki-a, cứ điểm
truyền giáo đầu tiên, nơi Phao-lô đã trở thành
nhân vật nổi bật, và sau đó được cộng đoàn đề cử
đem Tin Mừng tới cho các anh chị em ngoài Do Thái
giáo. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn
truyền giáo độc lập. Phao-lô bôn ba ngang dọc,
giảng đạo trong vùng Tiểu Á và bên Hy Lạp, thành
lập nhiều cộng đoàn Ki-tô đia phương. Đặc biệt
trong giai đoạn này Phao-lô trở thành một nhân
vật rất có uy tín trong các giáo đoàn nói tiếng
Hy Lạp, và hoàn toàn độc lập đối với truyền thống
văn hóa và tôn giáo Do Thái.
“Chúng ta có ít tin tức liên quan tới giai đoạn
truyền giáo thứ nhất. Sách Cv chương 9 cho biết
sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô Phục Sinh
trên đường tới Đa-mát, Phao-lô bị mù mắt và được
các người đồng hành dẫn vào thành. Chúa Ki-tô sai
Kha-na-ni-a, một Ki-tô hữu của cộng đoàn Ki-tô
Đa-mát, tới gặp Phao-lô để đặt tay cho ông sáng
mắt. Phao-lô được tràn đầy Chúa Thánh Thần và
lãnh nhận phép rửa tội, rồi lưu lại với các Ki-tô
hữu Đa-mát vài ngày.
“Sau đó Phao-lô bắt đầu công khai rao giảng Chúa
Ki-tô Phục Sinh trong các hội đường Do Thái tại
Đa-mát và vùng đông nam Đa-mát (Gl 1,17). Phao-lô
trưng dẫn các lý chứng vững vàng cho thấy Đức
Giê-su là Đấng Cứu Thế, khiến cho người Do Thái
tức giận lập mưu hạ sát ông. Họ cho người canh
giữ cửa thành nghiêm ngặt. Nhưng đang đêm các
Ki-tô hữu có nhà xây trên tường thành giúp
Phao-lô trốn thoát, bằng cách bỏ Phao-lô vào
thúng và thòng xuống bên ngoài tường thành. Sau
này thánh nhân cũng nhắc lại các chống đối gặp
phải và lần chết hụt thứ nhất này trong chương
11,32-33 thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô.
“Từ Đa-mát Phao-lô về Giê-ru-sa-lem và lưu lại
đây một thời gian ngắn để làm quen với Kê-pha,
tức Phê-rô, rồi sau đó sang Sy-ri-a và
Xi-li-ci-a, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, như
thánh nhân viết trong thư gửi tín hữu Ga-lát
(1,21). Vài nét chấm phá ấy tóm gọn các sinh hoạt
của 15 năm trời kể từ biến cố bị đánh ngã trên
đường đi Đa-mát. Sách Tông đồ Công Vụ cũng không
thêm chi tiết nào mới mẻ.
“Tuy nhiên cả hai tài liệu đều cho biết Phao-lô
đã gặp khó khăn trong cố gắng làm quen và sát
nhập vào cộng đoàn. Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chẳng
những không quen biết Phao-lô mà còn tỏ ra nghi
ngờ đối với ông (Gl 1,22; Cv 9,26-30). Qua đó
chúng ta có thể kết luận rằng Phao-lô đã không
gặt hái nhiều thành công trong thời gian hoạt
động này.
“Giai đoạn truyền giáo thứ hai có nhiều tin tức
hơn. Chương 11 sách Công Vụ cho biết Bar-na-ba,
là nhân vật nổi bật của Ki-tô giáo thời khai
sinh, đã giới thiệu Phao-lô với giáo đoàn
An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a (Cv 11,25).
An-ti-ô-ki-a là thủ phủ của vùng này và là thành
phố lớn vào hàng thứ ba của Đế quốc Ro-ma thời
đó, nghĩa là chỉ sau Ro-ma và A-léc-xan-dri-a bên
Ai Cập.
“Trong lịch sử Giáo Hội và lịch sử truyền giáo,
An-ti-ô-ki-a có địa vị quan trọng và ý nghĩa, vì
là cứ điểm truyền giáo rộng lớn đầu tiên, nơi các
môn đệ chọn làm bản doanh cho công tác rao truyền
Tin Mừng cho dân ngoại (Cv 11,19 tt.), và cũng là
nơi lần đầu tiên các môn đệ Chúa Giê-su được gọi
là Ki-tô hữu (Cv 11,26). Giáo đoàn An-ti-ô-ki-a
là giáo đoàn hỗn hợp gồm các Ki-tô hữu gốc Do
Thái và không Do Thái. Phao-lô đã hoạt động tại
đây trong vòng một năm (Cv 11,26), và được giáo
đoàn sai phái cùng với Bar-na-ba đi truyền giáo
tại đảo Xýp và các vùng đông nam của Tiểu Á, như
trình thuật trong hai chương 13-14 sách Công Vụ.
“Qua chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát chúng ta
biết được rằng Phao-lô cộng tác với Bar-na-ba, là
thành phần của cộng đoàn Ki-tô An-ti-ô-ki-a và
gặt hái thành quả tốt trong công tác rao truyền
Tin Mừng cho các anh chị em ngoài Do Thái giáo.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau nảy sinh ra một vấn
nạn trầm trọng liên quan tới việc gia nhập đạo
của các người ngoài Do Thái giáo. Để trở thành
Ki-tô hữu họ phải theo các điều kiện nào: chấp
nhận tin vào Chúa Giê-su và Tin Mừng của Ngài là
đủ, hay phải tuân giữ luật cắt bì của Do Thái
giáo nữa?
“Phao-lô không phải là người đầu tiên khai mào
công tác truyền giáo trong thế giới không Do
Thái. Trước ông đã có một nhóm các Ki-tô hữu gốc
Do Thái nói tiếng Hy Lạp rao giảng Tin Mừng và
thành lập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a. Nhưng khi từ
một thói quen mục vụ truyền giáo bước sang việc
thảo luận trên bình diện thần học, tức liên quan
tới nguyên tắc do nhóm bảo thủ gồm các Ki-tô hữu
gốc Do Thái đặt ra, Phao-lô đã tỏ ra là người có
hành động sáng suốt và trung thực nhất theo tinh
thần Tin Mừng giải phóng của Chúa Ki-tô.
“Phao-lô bênh vực sự tự do của các anh chị em
ngoài Do Thái đối với luật lệ của Do Thái giáo,
mà các Ki-tô hữu gốc Do Thái vẫn tuân giữ. Cuộc
tranh luận đã sôi nổi tới độ giới lãnh đạo Giáo
Hội đã phải triệu tập hội nghị tại Giê-ru-sa-lem
để thảo luận và nghiên cứu vấn đề, như trình
thuật trong chương 15 sách Công Vụ, và trong
chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát. Hội nghị
Giê-ru-sa-lem đã là Công Đồng Chung đầu tiên
trong lịch sử Ki-tô giáo.
“Bar-na-ba và Phao-lô cùng với hai nhân vật khác
của giáo đoàn An-ti-ô-ki-a đại diện cho phe cởi
mở của cộng đoàn này tham dự Công Đồng. Sau khi
nghe Bar-na-ba và Phao-lô trình bày và thảo luận
phải trái trong Công Cồng, giới lãnh đạo Giáo Hội
Ki-tô tiên khởi đã chấp nhận nguyên tắc tự do của
các Ki-tô hữu ngoài Do Thái. Hàng lãnh đạo cộng
đoàn Ki-tô Giê-ru-sa-lem thỏa thuận với phái đoàn
đại diện giáo đoàn An-ti-ô-ki-a, và phân chia
công tác truyền giáo.
“Trong Gl 2,9 Thánh Phao-lô viết: “... sau khi
thừa nhận đặc sủng mà Thiên Chúa đã trao phó cho
tôi, Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an đã giơ tay phải
bắt tay tôi tỏ tình liên đới để chúng tôi đi
truyền giáo cho dân ngoại còn họ đi truyền giáo
cho các anh chị em được cắt bì”, tức tín hữu Do
Thái.
“Sau vụ đụng độ công khai với Thánh Phê-rô ở
An-ti-ô-ki-a (Gl 2), Phao-lô tách rời, không đi
truyền giáo với Bar-na-ba nữa, mà hoạt động một
cách độc lập với giáo đoàn An-ti-ô-ki-a. Phao-lô
trở thành tông đồ của Chúa Ki-tô, và không phải
tường trình với ai về công tác truyền giáo của
mình, như thánh nhân viết trong 1 Cr 4,4.”
d) Hơn nữa Thánh Phao-lô chấp nhận mọi hy
sinh, gian khổ vì Chúa Giê-su Ki-tô và vì các
giáo đoàn. Không gì tốt hơn là chúng ta đọc/nghe
những lời giãi bày và tổng kết của chính Thánh
Phao-lô:
- “Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm gì
gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể
đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi. Trái
lại, trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình
là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan,
khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc
nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất
mực kiên trì chịu đựng. Chúng tôi còn chứng tỏ
điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo,
nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh
thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời
chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi
lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ,
khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt
cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm,
nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô
danh tiểu tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi
người biết đến; bị coi là sắp chết,
nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị
trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi
như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn
vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực
chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi
như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất
cả.” (2 Cr 6,3-10).
- «Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là
người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống
Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy! Họ là người phục vụ
Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn
họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù,
hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết.
Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi
roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném
đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh
giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện
nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên
sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng
bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành
phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do
những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả
mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn
ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không
kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày
của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội
Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy
mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm
thấy lòng sôi lên? » (2 Cr 11,22-29).
e) Sau cùng là cái chết làm chứng cho
Tin Mừng tại Ro-ma (xem lại ở đề tài II).
3. Chiến thuật và phương thế Truyền Giáo của
Thánh Phao-lô:
a) Chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô :
Trong Đề Tài IV trình bày về «Chiến thuật Truyền
Giáo của Thánh Phao-lô» linh mục Giu-se Linh
Tiến Khải cho rằng Thánh Phao-lô đã dùng những
chiến thuật Truyền Giáo sau đây:
- Thứ nhất là Thánh Phao-lô chọn một thành phố
lớn làm cứ điểm chính, rồi từ đó rao truyền Tin
Mừng cho các vùng chung quanh. Điển hình là
trường hợp thành Cô-rin-tô, nơi thánh nhân đã lưu
lại truyền giáo từ năm 49 tới 52, và đặc biệt là
Ê-phê-sô trong chuyến truyền giáo thứ hai giữa
các năm 53 tới 57.
- Thứ hai là Thánh Phao-lô rao giảng cho người
đồng hương trước: Việc len lỏi và hội nhập vào
cuộc sống tại các thành phố này đã được dễ dàng
chính là nhờ có các cộng đoàn Do Thái sinh sống
tại đây. Nghĩa là Thánh Phao-lô đã sống giữa các
người đồng hương trong cộng đoàn Do Thái hải
ngoại, và rao giảng Tin Mừng cho họ trước tiên.
Trong các hội đường Do Thái Thánh Phao-lô đã gặp
rất nhiều người ngoại giáo có thiện cảm hay tân
tín đồ Do Thái, và họ đã là những người đầu tiên
theo Ki-tô giáo.
Trong sách Công vụ chương 19,8-10 Thánh sử Lu-ca
cho chúng ta biết tại Ê-phê-sô, sau khi giảng dậy
trong hội đường Do Thái ba tháng, Thánh Phao-lô
đã chọn trường học của ông Ti-ran-nos làm nơi
giảng dậy Trong hai năm liên tiếp thánh nhân đã
dùng phòng ốc trường học này để rao truyền Tin
Mừng cho các anh chị em ngoại giáo, từ giờ thứ 5
tới giờ thứ 10, tức từ 11 giờ sáng cho tới 16 giờ
chiều, là giờ trường ốc rảnh rỗi, vì dân chúng ăn
trưa và nghỉ trưa.
- Thứ ba là Thánh Phao-lô thường chọn các nơi
chưa có ai tới rao truyền Tin Mừng trước đó.
Thánh Phao-lô và các cộng sự viên theo nguyên tắc
không tới rao giảng tại những nơi đã có người rao
truyền Chúa Giê-su rồi, để không quá hãnh diện vì
kết quả đã do người khác nhọc công gieo vãi.
Chính Thánh Phao-lô cho chúng ta biết trong Rm
15,20 và trong 2 Cr 10,12-18.
- Thứ bốn là tuy nhu cầu loan báo Tin Mừng Nước
Trời khắp nơi cấp bách, Thánh Phao-lô đã không
vội vã bỏ nơi này sang nơi khác. Trái lại, ngài
dừng lại lâu trong thành phố này hay thành phố
nọ, để củng cố cộng đoàn Ki-tô đã được thành lập
ở đó và giúp cộng đoàn trưởng thành và tự lập
chừng nào có thể.
- Thứ năm là dù công tác rao truyền Tin Mừng chắc
chắn đã tốn kém không ít - vì Thánh Phao-lô phải
thanh toán chi phí di chuyển, thuê phòng ốc để
giảng dậy và tụ tập các tín hữu, cũng như cung
cấp phương tiện sống cho chính mình và các cộng
sự viên,- Thánh Phao-lô sống theo nguyên tắc “tự
lực cánh sinh” hay “tay làm hàm nhai” (Tx 2,9 và
1 Cr 9,18).
- Thứ sáu là Thánh Phao-lô có các cộng sự viên và
làm việc theo nhóm. Trong số các cộng sự viên đắc
lực và thân tín nhất phải kể tới Si-la hay
Sil-va-nô, Ti-mô-thê và Ti-tô. Dĩ nhiên Thánh
Phao-lô luôn là người lãnh đạo và phối trí công
tác truyền giảng Tin Mừng, nhưng thánh nhân rất
trân trọng và quý mến các cộng sự viên của mình.
Đó là lý do giải thích tại sao khi kể lại cho tín
hữu nghe công tác truyền giáo Thánh Phao-lô dùng
từ “chúng tôi” số nhiều (1 Tx; 2 Cr 1,19).
Đó chính là sáu (6) chiến thuật Truyền Giáo của
Thánh Phao-lô mà chúng ta cần học tập.
b) Phương thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô:
1°) Chứng tá đời sống.
2°) Tiếp xúc cá nhân.
3°) Giảng và dậy.
4°) Xây dựng các cộng đoàn Ki-tô hữu.
5°) Dùng ngôn ngữ thông dụng là tiếng Hy Lạp
trong rao giảng Tin Mừng và giảng dậy Giáo Lý.
6°) Hội nhập văn hóa để rao giảng Tin Mừng và
giảng dậy Giáo Lý: «19 Phải, tôi là
một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi
đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục
thêm được nhiều người. 20 Với người Do
Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người
Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã
trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn
phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những
người sống theo Lề Luật. 21 Đối với
những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người
sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật
Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để
chinh phục những người sống ngoài Lề Luật.
22 Tôi đã trở nên yếu với những người yếu,
để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất
cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một
số người. 3 Vì Tin Mừng, tôi làm tất
cả những điều đó, để cùng được thông chia phần
phúc của Tin Mừng.» (1 Cr 9,19-23)
7°) Viết Thư cho các cộng đoàn và cá nhân. Thư
tín là một hình thức tông đồ mục vụ (xem lại
trong đề tài II).
8°) Các chuyến đi (hay hành trình) Truyền Giáo
(xem lại ở trên).
4. Chúng ta có thể học được nhiều điều bổ ích từ
Thánh Phao-lô là Nhà Truyền Giáo Nhiệt Thành, là
Vị Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo. (Xem
phần ỨNG DỤNG).
V. ỨNG DỤNG [LINH ĐẠO VÀ SỐNG LINH ĐẠO]
a) Thánh Phao-lô là:
1°) Một con người sống gắn bó mật thiết với Chúa
Giê-su Ki-tô Phục Sinh: “Tôi sống, nhưng không
còn là tôi mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl
2,20).
2°) Một tông đồ nhiệt thành, đầy tài năng và sáng
kiến trong/dưới bàn tay của Thần Khí Thiên Chúa.
3°) Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận mọi hy sinh,
gian khổ, ngục tù, thậm chi cả cái chết vì Tin
Mừng.
4°) Một mục tử và một vị lãnh đạo cộng đoàn guơng
mẫu.
b) Mỗi chúng ta cần rèn luyện và cầu xin Ơn Trên
để
- Có:
1°) Một đời sống nội tâm sâu sắc, gắn bó mật
thiết với Chúa Giê-su Ki-tô.
2°) Một tình yêu nồng nàn đối với Chúa Giê-su
Ki-tô Phục Sinh và với tha nhân, nhất là với
những người chưa biết Chúa.
3°) Một tấm lòng cởi mở, dễ bảo dễ dậy đối với
Chúa Thánh Thần.
- Trở thành:
1°) Một tông đồ nhiệt thành và có khả năng.
2°) Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận hy sinh, gian
khổ, mất mát vì Phúc Âm và lợi ích các linh hồn.
3°) Một tôi tớ phục vụ cộng đoàn và cán bộ giáo
dân guơng mẫu, theo tinh thần của Chúa Ki-tô và
của Thánh Phao-lô!
VI. CHUẨN BỊ BÀI SAU
|
CHUẨN BỊ ĐỀ TÀI IV
GIÁO HUẤN CỦA THÁNH PHAO-LÔ
VỀ HỘI THÁNH
|
|
Câu hỏi gợi ý chia sẻ:
Nhờ đề tài III về «Công Cuộc, Chiến Thuật và
Phương Thế Truyền Giáo» của Thánh Phao-lô bạn
có «khám phá», «cảm nghiệm», «quyết tâm» hay
«thay đổi» gì mới?
Xin ghi “nhật ký” để chuẩn bị chia sẻ
vào lần học tới với các anh chị em khác.
Câu hỏi gợi ý tìm hiểu:
1. Ngoài thân thế và sự nghiệp lừng lẫy,
Thánh Phao-lô còn có gì khác đáng chúng ta
tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi?
2. Trong nhiều Giáo huấn của Thánh Phao-lô
thì chúng ta nên đặc biệt quan tâm đến những
Giáo Huấn nào? Tại sao?
3. Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về Hội Thánh
là “Hội Thánh của Thiên Chúa” và “Hội Thánh
là Thân Thể Chúa Ki-tô” phải được hiểu như
thế nào?
4. Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về Hội Thánh
là “Hội Thánh của Thiên Chúa” và “Hội Thánh
là Thân Thể Chúa Ki-tô” phải được các Ki-tô
hữu - với tư cách là chi thể của Chúa Ki-tô
và của nhau - sống như thế nào ?
|
VII. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Chúng ta vừa học hỏi, chia sẻ về Công Cuộc, Chiến
Thuật và Phương Thế Truyền Giáo của Thánh
Phao-lô, qua đó chúng ta thấy Thánh Phao-lô đã
đóng góp chẳng những tài năng trí tuệ mà cả tấm
lòng và mồ hôi xương máu của mình cho Tin Mừng
của Chúa Giê-su Ki-tô được nhiều lương dân và anh
chị em Do Thái đón nhận. Chúng ta cũng có trách
nhiệm đem hết mọi khả năng và ân sủng - là những
nén vàng, nén bạc mà Thiên Chúa đã ban cho chúng
ta – ra phục vụ việc đem Tin Mừng Cứu Độ đến cho
những người đang khao khát Chúa. Chúng ta hãy
cùng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa về
sứ mạng cao cả của chúng ta là làm Chứng Nhân
Tình Yêu và hãy quyết tâm sống đúng chức danh là
“Chứng Nhân Tình Yêu” trong môi trường sống ngày
hôm nay. Hợp ý và hợp lời ca chúng ta cùng cầu
nguyện và cùng hát bài “Chứng Nhân Tình Yêu.”
- Cùng cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là
Cha của chúng con, chúng con cảm tạ ngợi khen và
chúc tụng Cha vì Cha đã làm nên một Phao-lô vĩ
đại cho Hội Thánh. Chúng con cần học gương Thánh
Tông Đồ Dân Ngoại, để làm chứng cho Tình Yêu và
Tin Mừng Cứu Độ mà Cha đã mạc khải qua/nơi Chúa
Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng con. Chúng con
xin vì Danh Đấng Chí Thánh là Con Yêu Dấu của
Cha. Amen!
- Cùng hát:
CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU
PK 1: Khi con nghe tiếng kêu mời gọi con đi gieo
niềm tin mới. Con nay như thấy ngỡ ngàng vì Chúa
đã đoái thương chọn con. Rồi một ngày Thánh Thần
Chúa đã đến thánh hiến con cho Ngài sai con đi
khắp mọi nơi rắc gieo tin vui cho muôn người.
ĐK: Này đây Chúa ơi con hiến dâng cho Ngài, niềm
tin tâm tư cùng trái tim nồng cháy. Từ đây hăng
say theo bước chân của Ngài trung kiên làm chứng
nhân Nước Trời thắp lên hạnh phúc cho muôn người.
PK 2: Xin cho con suốt một tình yêu cho đi là lẽ
sống. Xin cho con biết trung thành hoàn tất những
bước chân đẹp xinh. Nguyện một đời con tìm đến,
đến với hết những ai chân tình, để tình người mãi
còn xanh ngát hương như hoa xuân trên cành.