MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 

MỪNG NĂM THÁNH PHAOLÔ 28.6.2008-29.6.2009
HỌC VÀ SỐNG  TINH THẦN THÁNH PHAOLÔ
[TÀI LIỆU KHÓA THÁNH PHAO-LÔ ĐẠI CHÚNG]
Giêrôminô Nguyễn Văn Nội

Mục Lục: Giới thiệu - Đề tài 1 - Đề tài 2 - Đề tài 3 - Đề tài 4 - Đề tài 5 - Đề tài 6 - Đề tài 7 - Đề tài 8 - Bài đọc thêm

ĐỀ TÀI III

CÔNG CUỘC, CHIẾN THUẬT VÀ PHƯƠNG THẾ TRUYỀN GIÁO CỦA THÁNH PHAO-LÔ

 

I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU

- Gợi ý của người hướng dẫn: Hôm nay chúng ta sẽ học cùng Thánh Phao-lô, vị Tông Đồ Dân Ngoại, để biết Ngài coi trọng Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng như thế nào và biết Ngài đã dùng những Chiến Thuật và Phương Thế nào để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa mà Chúa Giê-su Ki-tô đã đem đến cho nhân loại. Chúng ta hãy nguyện xin Thánh Thần Thiên Chúa xuống trên mỗi anh chị em chúng ta, để Người biến đổi chúng ta thành những tông đồ nhiệt thành, ra đi loan báo Tin Mừng cho những ngưòi đang khát khao gặp được Thiên Chúa. Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện bằng bài ca «Thần Khí Chúa sai đi!»

 

- Cùng hát: THẦN KHÍ SAI ĐI.

ĐK.- Thần Khí Chúa đã sai tôi đi. Sai tôi đi loan báo Tin Mừng. Thần Khí Chúa đã hiến thánh tôi. Sai tôi đi, Ngài sai tôi đi.

1. Sai tôi đến với người nghèo khó, sai tôi đến với người lao tù. Mang Tin Mừng giải thoát: Thiên Chúa đã cứu tôi.

2. Sai tôi đến với người than khóc, sai tôi đến với người âu sầu. Mang Tin Mừng an ủi: Thiên Chúa đã cứu tôi.

 

II. CHIA SẺ KHÁM PHÁ / CẢM NGHIỆM / QUYẾT TÂM / THAY ĐỔI LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI II VỀ «THỜI  ĐẠI VÀ TIỂU SỬ» CỦA THÁNH PHAO-LÔ

Bạn muốn chia sẻ «khám phá», «cảm nghiệm », «quyết tâm» hay «thay đổi» gì mới (hoặc muốn nêu «ý kiến» hay «thắc mắc» gì liên quan tới đề tài II về «Thời Đại và Tiểu Sử» của Thánh Phao-lô mà bạn đã học lần trước, xin mời bạn chia sẻ hay phát biểu.

 

III. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tại sao Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại?

2. Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng có tầm quan trọng như thế nào đối với Thánh Phao-lô?

3. Để loan báo Tin Mừng, Thánh Phao-lô đã sử dụng chiến thuật và phương thế nào?

4. Chúng ta có thể học được gì từ Thánh Phao-lô là Nhà Truyền Giáo nhiệt thành, là Vị Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo?

 

IV. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ

1. Thánh Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại: Linh mục Mát-thêu Nguyễn Khắc Hy, thuộc Hội Xuân Bích, giáo sư Kinh Thánh tại Mỹ, trả lời câu hỏi “Tại sao Phao-lô được gọi là Tông Đồ Dân Ngoại?” như sau: “Câu trả lời một cách ngắn gọn là vì trong thư gởi tín hữu Ga-lát, Phao-lô đã tự nhận danh hiệu này cho mình: “Tôi đã được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho những người không được cắt bì, cũng như Phê-rô được ủy thác nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho những người được cắt bì. Thật vậy, Đấng đã dùng ông Phê-rô hoạt động tông đồ cho những người được cắt bì, cũng đã dùng tôi hoạt động cho dân ngoại” (Gl 2, 7-8).

“Về mặt lịch sử, bối cảnh của giáo đoàn Ga-lát mà Phao-lô viết những lời này giúp ta hiểu hơn về vai trò Tông Đồ Dân Ngoại của ông. Trong chuyến hành trình đến Ga-lát lần thứ hai, khi còn dừng chân ở Ê-phê-sô, Phao-lô đã nghe biết một số người loan tin rằng Phao-lô không phải là Tông Đồ, và sứ mạng ông rao giảng không được Chúa Ki-tô hay các Tông đồ trao phó (Gl 1,1.7.12). Hơn nữa, Phao-lô rao giảng ngụy tin mừng (không là Tin Mừng thật) (Gl 1,7) vì ông cho phép những người theo Ki-tô giáo không cần phải giữ luật Mô-sê, như không giữ những ngày lễ ghi trong lịch Do Thái và không chịu cắt bì chẳng hạn (Gl 4,10; 6,12). Nhiều người còn vu cáo ông là người “đón gió trở cờ” hay theo cơ hội, vì có lúc ông chấp nhận phép cắt bì cho tân tòng (Gl 5,11), nay thì dạy là không cần cắt bì để nhằm có thêm nhiều tân tòng gia nhập đạo. Những tin đồn và vu cáo này là nguyên nhân khiến Phao-lô viết thư khẳng định giáo huấn thần học Ngài dạy và vai trò “Tông Đồ Dân Ngoại” của mình.

“Trước hết, với những người Do Thái trung thành với luật Mô-sê mà nay tin theo Chúa Ki-tô, Phao-lô tôn trọng những luật lệ họ giữ, và nêu rõ là Phê-rô được sai đến với họ, “những người chịu cắt bì này” (Gl 2,7-8). Với những người ngoại (không chịu cắt bì như người Hy Lạp, Ro-ma, Ai Cập…), Phao-lô rao giảng rằng họ không cần phải chịu cắt bì hay giữ tất cả luật Mô-sê khi tin theo Đức Giê-su Ki-tô. Quyết định này không là ý kiến cá nhân Phao-lô mà là kết quả của Công Đồng Giê-ru-sa-lem trong đó Thánh Gia-cô-bê, Giám Mục Giê-ru-sa-lem, thay mặt các Tông Đồ công bố (Cv 15,1-21).

“Vì thế Phao-lô đã phản bác những tuyên truyền sai lạc của những người mà Ngài gọi là “kẻ phá rối” (Gl 1,7), và khẳng định rằng Ngài chính là Tông Đồ, được sai bởi Thiên Chúa, và Tin Mừng Ngài rao giảng được Thiên Chúa mặc khải qua Đức Giê-su Ki-tô (Gl 1,1.12). Và với tính khẳng khái, Phao-lô công bố rằng Tin Mừng Ngài nhận là từ Thiên Chúa chứ không phải từ loài người. Do đó, nếu có ai đến rao giảng những gì nghịch lại với Tin Mừng Ngài dạy, ngay cả các Tông Đồ hay các Thiên Thần từ trời xuống, Phao-lô cảnh báo giáo dân không được tin theo (Gl 1,8-9).”

2. Tầm quan trọng của Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng đối với Thánh Phao-lô:

Muốn hiểu Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng quan trọng như thế nào đối với Thánh Phao-lô, thì chúng ta cần nêu lên một số điểm sau đây:

a) Trước hết là động lực thúc đẩy Thánh Phao-lô lao mình vào Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng là lòng mến Chúa yêu ngưòi.

* Trước hết là tình yêu nồng nàn đối với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã “chộp bắt” ngài trên đường Đa-mát.

Linh mục Giu-se Linh Tiến Khải, trong Đề Tài II: Cuộc gặp gỡ đổi đời của Thánh Phao-lô với Chúa Ki-tô Phục Sinh đã viết về tâm hồn Thánh Phao-lô như sau: “Sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô phục sinh, Phao-lô say mê Chúa Ki-tô chịu đóng đanh tới độ ông không còn trông thấy gì khác ngoài Chúa Ki-tô. Phao-lô coi tất cả mọi sự trên trần gian này là một mất mát và nhận chịu mất mát mọi sự, kể cả mạng sống mình, miễn là có thể đem mọi người về với Chúa Ki-tô (Pl 3,8-9). Nghĩa là Phao-lô đổi hướng đời mình 180 độ: từ chỗ tự mãn tưởng mình toàn năng, có thể tự cứu rỗi qua những gì mình làm, tới chỗ nhận rằng mình tùy thuộc và tín thác hoàn toàn nơi Chúa Ki-tô; từ thái độ tuân giữ luật lệ như nô lệ tới thái độ vâng phục của lòng tin.”

 

b) Thứ đến là lòng yêu người. Trong Tông huấn Loan Báo Tin Mừng” - Evangelii Nuntiandi - (số 79) được ban hành năm 1975, Đức Thánh Cha Phao-lô VI nói về tâm hồn của Thánh Phao-lô như sau: “Mẫu gương Truyền Giáo là Tông Đồ Phao-lô đã viết những lời này trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, và cũng là chương trình cho tất cả chúng ta: «Chúng tôi đã yêu mến anh em tha thiết, đến nỗi sẵn sàng chia sẻ với anh em, không những chỉ Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả chính mình chúng tôi, vì anh em đã trở nên rất thân yêu đối với chúng tôi’ (1 Tx 2,8). Tình yêu này là gì? Tình yêu ấy phải hơn tình yêu của một vị thầy; đó là tình yêu của một người cha; và cũng là tình yêu của một người mẹ. Đó chính là tình yêu mà Chúa mong mỏi nơi mỗi người rao giảng Tin Mừng, nơi mỗi người xây dựng Giáo Hội. Một dấu hiệu của tình yêu là quan tâm ban phát chân lý và đưa người ta đến hợp nhất. Một dấu hiệu khác của tình yêu là một lòng tận tụy rao giảng Đức Chúa Giê-su Ki-tô, mà không hạn chế hay quay đầu trở lại.»

 

Vì yêu mến Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh và yêu thương con người mãnh liệt như vậy nên Thánh Phao-lô dành trọn cuộc đời mình cho Công Cuộc Truyền Giáo hay Loan Báo Tin Mừng. Chính Thánh Phao-lô đã khẳng định quan điểm, lập trường và chọn lựa của ngài như sau:

- “Thật ra Chúa Ki-tô không gửi tôi đi rửa tội, nhưng là để loan báo Tin Mừng” (1 Cr 1,17); 

- “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr  9,16); 

- “Hãy rao giảng Lời Chúa! hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện!” (2 Tm 4,2).

 

c) Cũng xuất phát từ tình yêu ấy đối với Chúa Giê-su Ki-tô mà Thánh Phao-lô đã thực hiện 3 Hành Trình Truyền Giáo phi thường. Ngoài những gì chúng ta đã đọc được trong đề tài II, chúng ta nên đọc thêm những gì linh mục Giu-se Linh Tiến Khải viết trong Đề Tài III về “Thánh Phao-lô, nhà Truyền Giáo thời danh của Giáo Hội Ki-tô tiên khởi” như sau: “Có thể chia hoạt động truyền giáo của Phao-lô thành ba giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất khá tối tăm, bắt đầu từ lúc hoán cải cho tới lúc gia nhập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a. Giai đoạn thứ hai bao gồm các hoạt động rao giảng Tin Mừng tại An-ti-ô-ki-a, cứ điểm truyền giáo đầu tiên, nơi Phao-lô đã trở thành nhân vật nổi bật, và sau đó được cộng đoàn đề cử đem Tin Mừng tới cho các anh chị em ngoài Do Thái giáo. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn truyền giáo độc lập. Phao-lô bôn ba ngang dọc, giảng đạo trong vùng Tiểu Á và bên Hy Lạp, thành lập nhiều cộng đoàn Ki-tô đia phương. Đặc biệt trong giai đoạn này Phao-lô trở thành một nhân vật rất có uy tín trong các giáo đoàn nói tiếng Hy Lạp, và hoàn toàn độc lập đối với truyền thống văn hóa và tôn giáo Do Thái.

“Chúng ta có ít tin tức liên quan tới giai đoạn truyền giáo thứ nhất. Sách Cv chương 9 cho biết sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Ki-tô Phục Sinh trên đường tới Đa-mát, Phao-lô bị mù mắt và được các người đồng hành dẫn vào thành. Chúa Ki-tô sai Kha-na-ni-a, một Ki-tô hữu của cộng đoàn Ki-tô Đa-mát, tới gặp Phao-lô để đặt tay cho ông sáng mắt. Phao-lô được tràn đầy Chúa Thánh Thần và lãnh nhận phép rửa tội, rồi lưu lại với các Ki-tô hữu Đa-mát vài ngày.

“Sau đó Phao-lô bắt đầu công khai rao giảng Chúa Ki-tô Phục Sinh trong các hội đường Do Thái tại Đa-mát và vùng đông nam Đa-mát (Gl 1,17). Phao-lô trưng dẫn các lý chứng vững vàng cho thấy Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, khiến cho người Do Thái tức giận lập mưu hạ sát ông. Họ cho người canh giữ cửa thành nghiêm ngặt. Nhưng đang đêm các Ki-tô hữu có nhà xây trên tường thành giúp Phao-lô trốn thoát, bằng cách bỏ Phao-lô vào thúng và thòng xuống bên ngoài tường thành. Sau này thánh nhân cũng nhắc lại các chống đối gặp phải và lần chết hụt thứ nhất này trong chương 11,32-33 thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô.

“Từ Đa-mát Phao-lô về Giê-ru-sa-lem và lưu lại đây một thời gian ngắn để làm quen với Kê-pha, tức Phê-rô, rồi sau đó sang Sy-ri-a và Xi-li-ci-a, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, như thánh nhân viết trong thư gửi tín hữu Ga-lát (1,21). Vài nét chấm phá ấy tóm gọn các sinh hoạt của 15 năm trời kể từ biến cố bị đánh ngã trên đường đi Đa-mát. Sách Tông đồ Công Vụ cũng không thêm chi tiết nào mới mẻ.

“Tuy nhiên cả hai tài liệu đều cho biết Phao-lô đã gặp khó khăn trong cố gắng làm quen và sát nhập vào cộng đoàn. Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem chẳng những không quen biết Phao-lô mà còn tỏ ra nghi ngờ đối với ông (Gl 1,22; Cv 9,26-30). Qua đó chúng ta có thể kết luận rằng Phao-lô đã không gặt hái nhiều thành công trong thời gian hoạt động này.

“Giai đoạn truyền giáo thứ hai có nhiều tin tức hơn. Chương 11 sách Công Vụ cho biết Bar-na-ba, là nhân vật nổi bật của Ki-tô giáo thời khai sinh, đã giới thiệu Phao-lô với giáo đoàn An-ti-ô-ki-a bên Sy-ri-a (Cv 11,25). An-ti-ô-ki-a  là thủ phủ của vùng này và là thành phố lớn vào hàng thứ ba của Đế quốc Ro-ma thời đó, nghĩa là chỉ sau Ro-ma và A-léc-xan-dri-a bên Ai Cập.

“Trong lịch sử Giáo Hội và lịch sử truyền giáo, An-ti-ô-ki-a có địa vị quan trọng và ý nghĩa, vì là cứ điểm truyền giáo rộng lớn đầu tiên, nơi các môn đệ chọn làm bản doanh cho công tác rao truyền Tin Mừng cho dân ngoại (Cv 11,19 tt.), và cũng là nơi lần đầu tiên các môn đệ Chúa Giê-su được gọi là Ki-tô hữu (Cv 11,26). Giáo đoàn An-ti-ô-ki-a là giáo đoàn hỗn hợp gồm các Ki-tô hữu gốc Do Thái và không Do Thái. Phao-lô đã hoạt động tại đây trong vòng một năm (Cv 11,26), và được giáo đoàn sai phái cùng với Bar-na-ba đi truyền giáo tại đảo Xýp và các vùng đông nam của Tiểu Á, như trình thuật trong hai chương 13-14 sách Công Vụ.

“Qua chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát chúng ta biết được rằng Phao-lô cộng tác với Bar-na-ba, là thành phần của cộng đoàn Ki-tô An-ti-ô-ki-a và gặt hái thành quả tốt trong công tác rao truyền Tin Mừng cho các anh chị em ngoài Do Thái giáo. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau nảy sinh ra một vấn nạn trầm trọng liên quan tới việc gia nhập đạo của các người ngoài Do Thái giáo. Để trở thành Ki-tô hữu họ phải theo các điều kiện nào: chấp nhận tin vào Chúa Giê-su và Tin Mừng của Ngài là đủ, hay phải tuân giữ luật cắt bì của Do Thái giáo nữa?

“Phao-lô không phải là người đầu tiên khai mào công tác truyền giáo trong thế giới không Do Thái. Trước ông đã có một nhóm các Ki-tô hữu gốc Do Thái nói tiếng Hy Lạp rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn An-ti-ô-ki-a. Nhưng khi từ một thói quen mục vụ truyền giáo bước sang việc thảo luận trên bình diện thần học, tức liên quan tới nguyên tắc do nhóm bảo thủ gồm các Ki-tô hữu gốc Do Thái đặt ra, Phao-lô đã tỏ ra là người có hành động sáng suốt và trung thực nhất theo tinh thần Tin Mừng giải phóng của Chúa Ki-tô.

“Phao-lô bênh vực sự tự do của các anh chị em ngoài Do Thái đối với luật lệ của Do Thái giáo, mà các Ki-tô hữu gốc Do Thái vẫn tuân giữ. Cuộc tranh luận đã sôi nổi tới độ giới lãnh đạo Giáo Hội đã phải triệu tập hội nghị tại Giê-ru-sa-lem để thảo luận và nghiên cứu vấn đề, như trình thuật trong chương 15 sách Công Vụ, và trong chương 2 thư gửi tín hữu Ga-lát. Hội nghị Giê-ru-sa-lem đã là Công Đồng Chung đầu tiên trong lịch sử Ki-tô giáo.

“Bar-na-ba và Phao-lô cùng với hai nhân vật khác của giáo đoàn An-ti-ô-ki-a đại diện cho phe cởi mở của cộng đoàn này tham dự Công Đồng. Sau khi nghe Bar-na-ba và Phao-lô trình bày và thảo luận phải trái trong Công Cồng, giới lãnh đạo Giáo Hội Ki-tô tiên khởi đã chấp nhận nguyên tắc tự do của các Ki-tô hữu ngoài Do Thái. Hàng lãnh đạo cộng đoàn Ki-tô Giê-ru-sa-lem thỏa thuận với phái đoàn đại diện giáo đoàn An-ti-ô-ki-a, và phân chia công tác truyền giáo.

“Trong Gl 2,9 Thánh Phao-lô viết: “... sau khi thừa nhận đặc sủng mà Thiên Chúa đã trao phó cho tôi, Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an đã giơ tay phải bắt tay tôi tỏ tình liên đới để chúng tôi đi truyền giáo cho dân ngoại còn họ đi truyền giáo cho các anh chị em được cắt bì”, tức tín hữu Do Thái.

“Sau vụ đụng độ công khai với Thánh Phê-rô ở An-ti-ô-ki-a (Gl 2), Phao-lô tách rời, không đi truyền giáo với Bar-na-ba nữa, mà hoạt động một cách độc lập với giáo đoàn An-ti-ô-ki-a. Phao-lô trở thành tông đồ của Chúa Ki-tô, và không phải tường trình với ai về công tác truyền giáo của mình, như thánh nhân viết trong 1 Cr 4,4.”

 

d) Hơn nữa Thánh Phao-lô chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ vì Chúa Giê-su Ki-tô và vì các giáo đoàn. Không gì tốt hơn là chúng ta đọc/nghe những lời giãi bày và tổng kết của chính Thánh Phao-lô:

- Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi. Trái lại, trong mọi sự, chúng tôi luôn chứng tỏ mình là những thừa tác viên của Thiên Chúa: gian nan, khốn quẫn, lo âu, đòn vọt, tù tội, loạn ly, nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ, chúng tôi đều rất mực kiên trì chịu đựng. Chúng tôi còn chứng tỏ điều đó bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa. Chúng tôi lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ, khi vinh cũng như khi nhục, lúc được tiếng tốt cũng như khi mang tiếng xấu. Bị coi là bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; bị coi là vô danh tiểu  tốt, nhưng kỳ thực chúng tôi được mọi người biết đến; bị coi là sắp chết,

nhưng kỳ thực chúng tôi vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực chúng tôi luôn vui vẻ; coi như nghèo túng, nhưng kỳ thực chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; coi như không có gì, nhưng kỳ thực chúng tôi có tất cả.” (2 Cr 6,3-10).

- «Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy! Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một;  ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên? » (2 Cr 11,22-29).

 

e) Sau cùng là cái chết làm chứng cho Tin Mừng tại Ro-ma (xem lại ở đề tài II).

 

3. Chiến thuật và phương thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô:

a) Chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô :

Trong Đề Tài IV trình bày về «Chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô»  linh mục Giu-se Linh Tiến Khải cho rằng Thánh Phao-lô đã dùng những chiến thuật Truyền Giáo sau đây:

- Thứ nhất là Thánh Phao-lô chọn một thành phố lớn làm cứ điểm chính, rồi từ đó rao truyền Tin Mừng cho các vùng chung quanh. Điển hình là trường hợp thành Cô-rin-tô, nơi thánh nhân đã lưu lại truyền giáo từ năm 49 tới 52, và đặc biệt là Ê-phê-sô trong chuyến truyền giáo thứ hai giữa các năm 53 tới 57.

- Thứ hai là Thánh Phao-lô rao giảng cho người đồng hương trước: Việc len lỏi và hội nhập vào cuộc sống tại các thành phố này đã được dễ dàng chính là nhờ có các cộng đoàn Do Thái sinh sống tại đây. Nghĩa là Thánh Phao-lô đã sống giữa các người đồng hương trong cộng đoàn Do Thái hải ngoại, và rao giảng Tin Mừng cho họ trước tiên. Trong các hội đường Do Thái Thánh Phao-lô đã gặp rất nhiều người ngoại giáo có thiện cảm hay tân tín đồ Do Thái, và họ đã là những người đầu tiên theo Ki-tô giáo.

Trong sách Công vụ chương 19,8-10 Thánh sử Lu-ca cho chúng ta biết tại Ê-phê-sô, sau khi giảng dậy trong hội đường Do Thái ba tháng, Thánh Phao-lô đã chọn trường học của ông Ti-ran-nos làm nơi giảng dậy Trong hai năm liên tiếp thánh nhân đã dùng phòng ốc trường học này để rao truyền Tin Mừng cho các anh chị em ngoại giáo, từ giờ thứ 5 tới giờ thứ 10, tức từ 11 giờ sáng cho tới 16 giờ chiều, là giờ trường ốc rảnh rỗi, vì dân chúng ăn trưa và nghỉ trưa.

- Thứ ba là Thánh Phao-lô thường chọn các nơi chưa có ai tới rao truyền Tin Mừng trước đó. Thánh Phao-lô và các cộng sự viên theo nguyên tắc không tới rao giảng tại những nơi đã có người rao truyền Chúa Giê-su rồi, để không quá hãnh diện vì kết quả đã do người khác nhọc công gieo vãi. Chính Thánh Phao-lô cho chúng ta biết trong Rm 15,20 và trong 2 Cr 10,12-18.

- Thứ bốn là tuy nhu cầu loan báo Tin Mừng Nước Trời khắp nơi cấp bách, Thánh Phao-lô đã không vội vã bỏ nơi này sang nơi khác. Trái lại, ngài dừng lại lâu trong thành phố này hay thành phố nọ, để củng cố cộng đoàn Ki-tô đã được thành lập ở đó và giúp cộng đoàn trưởng thành và tự lập chừng nào có thể.

- Thứ năm là dù công tác rao truyền Tin Mừng chắc chắn đã tốn kém không ít - vì Thánh Phao-lô phải thanh toán chi phí di chuyển, thuê phòng ốc để giảng dậy và tụ tập các tín hữu, cũng như cung cấp phương tiện sống cho chính mình và các cộng sự viên,- Thánh Phao-lô sống theo nguyên tắc “tự lực cánh sinh” hay “tay làm hàm nhai” (Tx 2,9 và 1 Cr 9,18).

- Thứ sáu là Thánh Phao-lô có các cộng sự viên và làm việc theo nhóm. Trong số các cộng sự viên đắc lực và thân tín nhất phải kể tới Si-la hay Sil-va-nô, Ti-mô-thê và Ti-tô. Dĩ nhiên Thánh Phao-lô luôn là người lãnh đạo và phối trí công tác truyền giảng Tin Mừng, nhưng thánh nhân rất trân trọng và quý mến các cộng sự viên của mình. Đó là lý do giải thích tại sao khi kể lại cho tín hữu nghe công tác truyền giáo Thánh Phao-lô dùng từ  “chúng tôi” số nhiều (1 Tx;  2 Cr 1,19).

Đó chính là sáu (6) chiến thuật Truyền Giáo của Thánh Phao-lô mà chúng ta cần học tập.

 

b) Phương thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô:

1°)  Chứng tá đời sống.

2°)  Tiếp xúc cá nhân.

3°)  Giảng và dậy.

4°)  Xây dựng các cộng đoàn Ki-tô hữu.

5°) Dùng ngôn ngữ thông dụng là tiếng Hy Lạp trong rao giảng Tin Mừng và giảng dậy Giáo Lý.

6°) Hội nhập văn hóa để rao giảng Tin Mừng và giảng dậy Giáo Lý: «19 Phải, tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. 20 Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. 21 Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. 22 Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. 3 Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.» (1 Cr 9,19-23)

7°) Viết Thư cho các cộng đoàn và cá nhân. Thư tín là một hình thức tông đồ mục vụ  (xem lại trong đề tài II).

8°) Các chuyến đi (hay hành trình) Truyền Giáo (xem lại ở trên).

 

4. Chúng ta có thể học được nhiều điều bổ ích từ Thánh Phao-lô là Nhà Truyền Giáo Nhiệt Thành, là Vị Tông Đồ Dân Ngoại vĩ đại của Ki-tô giáo. (Xem phần ỨNG DỤNG).

 

V. ỨNG DỤNG [LINH ĐẠO VÀ SỐNG LINH ĐẠO]

a) Thánh Phao-lô là:

1°) Một con người sống gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi mà là Chúa Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).

2°) Một tông đồ nhiệt thành, đầy tài năng và sáng kiến trong/dưới bàn tay của Thần Khí Thiên Chúa.

3°) Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, ngục tù, thậm chi cả cái chết vì Tin Mừng.

4°) Một mục tử và một vị lãnh đạo cộng đoàn guơng mẫu.

 

b) Mỗi chúng ta cần rèn luyện và cầu xin Ơn Trên để

- Có:

1°)  Một đời sống nội tâm sâu sắc, gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su Ki-tô.

2°) Một tình yêu nồng nàn đối với Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh và với tha nhân, nhất là với những người chưa biết Chúa.

3°) Một tấm lòng cởi mở, dễ bảo dễ dậy đối với Chúa Thánh Thần.

- Trở thành:

1°)  Một tông đồ nhiệt thành và có khả năng.

2°)  Một chiến sĩ Phúc âm chấp nhận hy sinh, gian khổ, mất mát vì Phúc Âm và lợi ích các linh hồn.

3°)  Một tôi tớ phục vụ cộng đoàn và cán bộ giáo dân guơng mẫu, theo tinh thần của Chúa Ki-tô và của Thánh Phao-lô!

 

VI. CHUẨN BỊ BÀI SAU

 

CHUẨN BỊ ĐỀ TÀI IV

GIÁO HUẤN CỦA THÁNH PHAO-LÔ

VỀ HỘI THÁNH

 

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

Nhờ đề tài III về «Công Cuộc, Chiến Thuật và Phương Thế Truyền Giáo» của Thánh Phao-lô bạn có «khám phá», «cảm nghiệm», «quyết tâm» hay «thay đổi» gì mới?

Xin ghi “nhật ký” để chuẩn bị chia sẻ vào lần học tới với các anh chị em khác.

 

Câu hỏi gợi ý tìm hiểu:

1. Ngoài thân thế và sự nghiệp lừng lẫy, Thánh Phao-lô còn có gì khác đáng chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi?

2. Trong nhiều Giáo huấn của Thánh Phao-lô thì chúng ta nên đặc biệt quan tâm đến những Giáo Huấn nào? Tại sao?

3. Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về Hội Thánh là “Hội Thánh của Thiên Chúa” và “Hội Thánh là Thân Thể Chúa Ki-tô” phải được hiểu như thế nào?

4. Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về Hội Thánh là “Hội Thánh của Thiên Chúa” và “Hội Thánh là Thân Thể Chúa Ki-tô” phải được các Ki-tô hữu - với tư cách là chi thể của Chúa Ki-tô và của nhau - sống như thế nào ?

 

 

VII. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC

- Gợi ý của người hướng dẫn: Chúng ta vừa học hỏi, chia sẻ về Công Cuộc, Chiến Thuật và Phương Thế Truyền Giáo của Thánh Phao-lô, qua đó chúng ta thấy Thánh Phao-lô đã đóng góp chẳng những tài năng trí tuệ mà cả tấm lòng và mồ hôi xương máu của mình cho Tin Mừng của Chúa Giê-su Ki-tô được nhiều lương dân và anh chị em Do Thái đón nhận. Chúng ta cũng có trách nhiệm đem hết mọi khả năng và ân sủng - là những nén vàng, nén bạc mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta – ra phục vụ việc đem Tin Mừng Cứu Độ đến cho những người đang khao khát Chúa. Chúng ta hãy cùng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa về sứ mạng cao cả của chúng ta là làm Chứng Nhân Tình Yêu  và hãy quyết tâm sống đúng chức danh là “Chứng Nhân Tình Yêu” trong môi trường sống ngày hôm nay. Hợp ý và hợp lời ca chúng ta cùng cầu nguyện và cùng hát bài “Chứng Nhân Tình Yêu.”

 

- Cùng cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê-su Ki-tô và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã làm nên một Phao-lô vĩ đại cho Hội Thánh. Chúng con cần học gương Thánh Tông Đồ Dân Ngoại, để làm chứng cho Tình Yêu và Tin Mừng Cứu Độ mà Cha đã mạc khải qua/nơi Chúa Giê-su Ki-tô Con Cha, Chúa chúng con. Chúng con xin vì Danh Đấng Chí Thánh là Con Yêu Dấu của Cha. Amen!

 

- Cùng hát: CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU

PK 1: Khi con nghe tiếng kêu mời gọi con đi gieo niềm tin mới. Con nay như thấy ngỡ ngàng vì Chúa đã đoái thương chọn con. Rồi một ngày Thánh Thần Chúa đã đến thánh hiến con cho Ngài sai con đi khắp mọi nơi rắc gieo tin vui cho muôn người.

ĐK: Này đây Chúa ơi con hiến dâng cho Ngài, niềm tin tâm tư cùng trái tim nồng cháy. Từ đây hăng say theo bước chân của Ngài trung kiên làm chứng nhân Nước Trời thắp lên hạnh phúc cho muôn người.

PK 2: Xin cho con suốt một tình yêu cho đi là lẽ sống. Xin cho con biết trung thành hoàn tất những bước chân đẹp xinh. Nguyện một đời con tìm đến, đến với hết những ai chân tình, để tình người mãi còn xanh ngát hương như hoa xuân trên cành.

 

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us
===oOo===
Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.