|
ĐỀ TÀI VIII
LINH ĐẠO KI-TÔ HỮU THEO GIÁO HUẤN
CỦA THÁNH PHAO-LÔ
|
I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu đề tài
cuối cùng của Giáo Trình Khóa Thánh Phao-lô đại
chúng. Đó là đề tài thứ VIII với tựa đề «Linh Đạo
Ki-tô hữu theo Giáo Huấn của Thánh Phao-lô». Hiểu
được Giáo Huấn này, chúng ta có sẽ có thái độ
biết ơn và khiêm tốn đối với Thiên Chúa, vì ơn
được nên công chính, được thánh hóa và được cứu
độ đều do Thiên Chúa ban cho chúng ta một cách
nhưng không. Cũng nhờ hiểu được Giáo Huấn này,
chúng ta có sẽ sống đạo một cách truởng thành và
vô vị lợi hơn. Chúng ta hãy hướng tâm trí về
Thiên Chúa Tình Yêu mà cùng nhau dâng lời chúc
tụng, ngợi khen và cảm tạ lên Người!
- Cùng cầu nguyện: KHÚC HÁT TẠ ƠN.
ĐK: Xin dâng kính câu ca tạ ơn. Ca khen Chúa mến
yêu nhân trần. Ngàn đời kính chúc Vua muôn loài.
Danh Chúa luôn rạng ngời.
PK 1: Vì tình Cha ôi quý trọng thay. Muôn ơn lành
chan chứa trời mây. Từng cao xanh lừng tiếng ngàn
dân. Hát khúc ca tạ ơn.
PK 2: Bầu trời long lanh ánh ngàn sao. Mây lưng
trời sương tuyết ngàn cao. Rền vang lên nhạc khúc
hoà ca. Kính đáp ân tình Cha.
II. CHIA SẺ KHÁM PHÁ / CẢM NGHIỆM / QUYẾT TÂM /
THAY ĐỔI LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI VII VỀ GIÁO HUẤN
CỦA THÁNH PHAO-LÔ VỀ «ƠN ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH»
Bạn muốn chia sẻ «khám phá», «cảm nghiệm», «quyết
tâm» hay «thay đổi» gì mới, hoặc muốn nêu «ý
kiến» hay «thắc mắc» gì liên quan tới Đề Tài VII:
Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về «Ơn được nên công
chính» mà bạn đã học lần trước, xin mời bạn chia
sẻ hay phát biểu.
III. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Ngoài các Giáo Huấn quan trọng về «Hội Thánh»,
về «Thánh Thể», về «Thân Xác và Hôn Nhân Gia
Đình», về «Ơn được nên công chính» Thánh Phao-lô
còn để lại «di sản» quý giá nào cho Hội Thánh và
các Ki-tô hữu?
2. Thế nào là linh đạo hay cách sống hay con
đường nên thánh của Ki-tô hữu?
3. Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh
Phao-lô phải được hiểu và sống như thế nào?
IV. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ
1. Ngoài các Giáo Huấn quan trọng về «Hội Thánh»,
về «Thánh Thể», về «Thân Xác và Hôn Nhân Gia
Đình», về «Ơn được nên công chính» Thánh
Phao-lô còn để lại một «di sản» vô cùng quý giá
cho Hội Thánh và cho các Ki-tô hữu chúng ta.
Di sản đó là: «Linh Đạo Ki-tô hữu» hay «cách
sống» hay «con đường nên thánh» của các Ki-tô
hữu.
2. Có nhiều định nghĩa về linh đạo (hay cách sống
hay con đường nên thánh) của
Ki-tô hữu.
Sau đây là một vài định nghĩa có thể giúp chúng
ta hiểu rõ hơn:
a) «Trong kinh nghiệm của tôi, định nghĩa tốt
nhất và chính xác nhất của linh đạo đơn giản chỉ
là “tôi đối phó thế nào với cuộc sống.» (Gerard
Broccolo, Vital Spiritualities).
b) «Trong nghĩa thông thường nhất, linh đạo là
những con đường (cách) và mô hình nhờ đó một
người, bằng trí tuệ, cảm xúc và thể lý, liên hệ
được với cái là thực nhất và quí giá nhất cho
người ấy.» (James Nelson, The Intimated
Connection).
c) «Trong nghĩa rộng, linh đạo có thể được miêu
tả là con đường nên thánh… nhưng khi các phương
thế kết hiệp với Thiên Chúa trở nên cụ thể thì
xuất hiện nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một cách
tiếp cận đặc biệt để kết hiệp với Thiên Chúa được
gọi là linh đạo.» (George Lane, Christian
Spirituality).
d) «… Linh đạo không được miêu tả một cách thỏa
đáng là xây dựng mối tương quan cá nhân với Thiên
Chúa: một não trạng “Chúa Giê-su và tôi”. Có lẽ
sự canh tân cơ bản nhất của Công Đồng Vatican II
là “chiều kích cộng đoàn” của mối tương quan của
chúng ta với Thiên Chúa là Đấng muốn cứu rỗi
chúng ta không phải với tư cách cá nhân mà với tư
cách cộng đoàn: “Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn
thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ,
thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành
một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân
lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện.»
(Ánh sáng muôn dân, 2) (Katherine Dyckman & Pat
Carroll, Inviting the Mystic, Supporting the
Prophet).
e) «Linh đạo là cách chúng ta đáp lại cuộc sống
như thế nào với tất cả sự thật của mình.» (Jean
Hunter đồng ý với Jen Galbraith).
f) «... Các bản văn Thánh Kinh là những lời đáp
lại sự hiện diện khai mào và mầu nhiệm của Thiên
Chúa trong quá trình cuộc sống con người.»
(Michael Fishbane, Text and Texture).
g) «Linh đạo Thánh Kinh mời gọi chúng ta, từng cá
nhân cũng như với tư cách cộng đoàn, đưa bản văn
Thánh Kinh vào trong tiến trình trở nên chính
chúng ta, một tiến trình cực nhọc, lâu dài và khổ
đau, là một phần của mầu nhiệm hình thành của
Nước Thiên Chúa. Chúng ta phải để cho Lời Chúa
thấm sâu vào sự tự vệ của chúng ta, thách đố
chúng ta một cách quyết liệt, để chúng ta trở lại
và đi vào cuộc sống mới. Nhưng tiến trình này
cũng đòi hỏi chúng ta từ bỏ chính mình. Có nghĩa
là một phần của chúng ta phải chết đi.» (Karen
Barta, Gospel of Mark).
3. Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh
Phao-lô phải được hiểu và sống như thế nào?
Linh mục Norbertô Nguyễn Văn Khanh, ofm, đã dành
Chương XIII là Chương Chót trong Cuốn THÁNH
PHAO-LÔ CUỘC ĐỜI VÀ TƯ TƯỞNG (2008), từ trang
181 đến hết trang 205, cho chủ đề “Linh Đạo Ki-tô
hữu theo Thánh Phao-lô”. Thiết nghĩ khó có ai có
thể viết một bài đầy đủ hơn chương XIII này, nên
tôi sẽ dựa vào đó mà trình bày, cách vắn gọn.
Trước hết chúng ta hãy ghi nhận ý kiến xác đáng
của cha Khanh trong câu nói này: “Khi nói đến đời
sống thiêng liêng, chúng ta không chỉ nghĩ tới
đời sống nội tâm, liên hệ đến phần tâm linh, mà
tới đời sống cụ thể của con người toàn diện gồm
linh hồn và thể xác, cá nhân và cộng đoàn, một
đời sống được linh hoạt bởi tinh thần Ki-tô hữu
hay chính xác và sâu xa hơn, bởi Thần Khí của
Thiên Chúa” (sđd, trang 181).
Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh
Phao-lô gồm 3 giai đoạn: Trước hết là bước vào
đời sống mới, kế đến là gia nhập Cộng đoàn các
tín hữu và sau cùng là sống đời Ki-tô hữu như thế
nào? Mỗi giai đoạn có nội dung riêng như sau:
A. Bước vào đời sống mới
1.- Đức Tin
a) Đời sống Ki-tô hữu bắt đầu bằng đức tin (là
thái độ tôn giáo cơ bản). Niềm tin Ki-tô hữu là
“niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô” (Gl 2,16.20; Rm
3,22.26 v.v.).
b) Đức tin là mối tương quan liên-ngôi-vị, là một
sự phó thác thân mình cho Đức Ki-tô. Sau khi bị
Đức Ki-tô “chộp bắt” (Pl 3,12), Thánh Phao-lô
không còn là chủ nhân của bản thân mình nữa mà là
Đức Ki-tô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là
tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi
sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên
Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.”
(Gl 20).
c) Niềm tin ấy được diễn tả qua một công thức cơ
bản: “Đức Giê-su là Chúa” (Rm 10,9a): Có nghĩa là
tuyên xưng Vương Quyền của Đức Giê-su trên vũ
trụ; cũng đồng nghĩa với việc tin rằng “Thiên
Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết.” (Rm
10,9b; 4,24).
d) Đức tin là thái độ nội tâm, nhưng được biểu lộ
ra nên ngoài bằng lời tuyên xưng trên môi miệng
trong bí tích Thánh Tẩy. Hậu quả là tạo nên những
tương quan mới giữa người tín hữu với Đức Ki-tô,
với Chúa Thánh Thần và với Chúa Cha.
2.- Trở nên một với Đức Ki-tô
a) Ngay tại Đa-mát, Phao-lô đã ý thức mình được
dẫn vào một đời sống mới (Rm 6,4; 7,6; Tt 3,5),
được trở thành một thụ tạo mới (Gl 6,15; Ep
3,10).
b) Nhờ đức tin và bí tích Thánh Tẩy, người tín
hữu thuộc về Đức Ki-tô: “27 Quả thế,
bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về
Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. 28
Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô
lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả
anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. 29
Mà nếu anh em thuộc về Đức Ki-tô, thì anh em là
dòng dõi ông Áp-ra-ham, những người thừa kế theo
lời hứa” (Gl 3,27-29; Rm 7,4).
c) Người ta có thể nói đến một sự đồng hóa
với Đức Ki-tô. Chúa Cha đã tiền định cho
các tín hữu nên đồng hình đồng dạng với Con
của Người (Rm 8,29), nhưng điều đó cũng
đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực vươn tới không
ngừng, như một vận động viên chạy đua nơi thao
trường (Pl 3,12-14).
d) Nhờ đức tin và bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô
hữu được thông phần vào tình trạng chịu đóng
đinh, chịu chết, mai táng và sống lại của Đức
Ki-tô: “3 Anh em không biết rằng: khi
chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về
Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong
cái chết của Người sao? 4 Vì được dìm
vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng
được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người
đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh
hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống
một đời sống mới. 5 Thật vậy, vì chúng
ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như
Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với
Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại.”
(Rm 6,3-5).
3.- Ơn Chúa Thánh Thần
a) Đây cũng là một trong những ân huệ tiên khởi
mà các Ki-tô hữu được đón nhận. Tại Đa-mát Sa-un
đã nghe Kha-na-ni-a tuyên bố: "Anh Sa-un, Chúa đã
sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã
hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai
tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy
Thánh Thần" (Cv 9,17).
b) Chính Chúa Thánh Thần biểu lộ quyền năng của
Người nơi lời rao giảng của vị Tông Đồ để cho
người nghe đón nhận và tin (1 Tx 1,5; Rm 15,9).
c) Khi nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu lãnh
nhận Chúa Thánh Thần. Chính Người là đối tượng
của lời hứa mà Thiên Chúa đã tuyên bố với
Áp-ra-ham ngày xưa: “Như thế là để nhờ Đức Giê-su
Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành
dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng
ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần
Khí.” (Gl 3,14).
d) Chính Chúa Thánh Thần là “ân huệ mở đầu”
cho mọi ân huệ khác (Rm 8,3), là “ấn tín”
bảo đảm ơn cứu chuộc chung cuộc (2 Cr
1,21; 5,5). Người thánh hóa Ki-tô hữu và tạo nên
trong họ một quy luật mới, tức luật của sự sống:
“Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong
Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của
tội và sự chết” (Rm 8,2).
e) Chính nhờ Thánh Thần mà người Ki-tô hữu thuộc
về Đức Ki-tô: “Nhưng anh em không bị tính xác
thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì
Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai
không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc
về Đức Ki-tô.” (Rm 8,9).
4.- Tương quan mới với Chúa Cha
a) Khi cứu chuộc chúng ta trong Đức Ki-tô, Thiên
Chúa cho chúng ta được giao hòa với Người. Từ nay
không còn gì tách biệt chúng ta khỏi Thiên Chúa:
“Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên (dân Do Thái và
Dân Ngoại), chúng ta được liên kết trong một Thần
Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2,18).
b) Việc tín hữu được “đến cùng Thiên Chúa” giả
định một tương quan đặc biệt: tương quan con cái
đối với Cha mình. Thiên Chúa cho chúng ta làm em
của Đức Giê-su và được ơn làm con (Rm 8,29; Ep
1,5). Ơn ấy gắn liền với sự hiện diện của Chúa
Thánh Thần: “14 Quả vậy, phàm ai được
Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái
Thiên Chúa. 15 Phần anh em, anh em đã
không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành
nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí
làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được
kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi! 16 Chính Thần
Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng
ta là con cái Thiên Chúa. 17 Vậy đã là
con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho
thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô;
vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta
sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người.” (Rm
8,14-17).
c) Ơn làm con tạo nên sự dạn dĩ và ngoan ngoãn
hoàn toàn theo tác động của Thần Khí. Cũng tạo
nên những quyền lợi cho các tín hữu: quyền thừa
tự (hưởng gia sản của người cha).
d) Ơn làm con đã được ban ngay bây giờ cho người
tín hữu, nhưng nó không ngừng phát triển cho tới
mức viên mãn ở đời sau, vì “chúng ta đã lãnh nhận
Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi
Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là
cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.” (Rm 8,23).
5.- Ơn được nên công chính
a) Hậu quả của đức tin, dưới một góc độ khác, là
người tín hữu được “trở nên công chính”
trước mặt Thiên Chúa: “38 Vậy thưa anh
em, xin biết cho điều này: chính nhờ Đấng ấy mà
ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi
anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà
trở nên công chính nhờ tuân giữ Luật Mô-sê,
39 thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên
công chính.” (Cv 13,38-39).
Và: “Trái lại người nào không dựa vào việc làm
nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo
nên công chính, thì lòng tin làm cho người ấy
được Thiên Chúa kể là công chính.” (Rm 4,5).
b) Thiên Chúa “công chính hóa” người tín hữu
không phải bằng một lời tuyên bố bên ngoài, nhưng
biến đổi họ tận tâm can, làm cho họ nên
“một thụ tạo mới.”
c) Người tín hữu, từ hoàn cảnh tội lỗi, được trở
nên “công chính” nghĩa là được tha thứ tội
lỗi: “Thật vậy, cũng như vì một người duy
nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người
thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã
vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành
người công chính” (Rm 5,19).
d) Được giải phóng khỏi tội lội, người tín hữu
cũng được giải phóng khỏi sự chết đời đời
và sẽ được tham gia vào sự sốnng lại của
Đức Ki-tô” (Rm 8,11).
e) Ơn được trở nên công chính nhắm làm cho người
tín hữu thông phần vào một phẩm chất khác của
Thiên Chúa: đó là sự thánh thiện:
“Thiên Chúa đã chọn anh em ngay từ lúc khởi đầu,
để cứu độ anh em nhờ Thần Khí thánh hóa và nhờ
lòng tin vào chân lý” ( 2 Tx 2,13). Sự thánh
thiện nằm ở chỗ, nhờ tác động của Thần Khí, người
tín hữu thanh luyện mình dần đần khỏi tội lỗi và
kết hiệp một ngày một sâu sắc hơn với Thiên Chúa
chí thánh. Sự công chính đi liền với sự thánh
thiện và phúc cứu độ: “Phần anh em, chính nhờ
Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức
Giê-su Ki-tô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của
chúng ta, sự khôn ngoan xuất phát từ Thiên Chúa,
Đấng làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh
hóa và cứu cuộc anh em…” (1 Cr 1,30).
B. Gia nhập Cộng đoàn các tín hữu
Bí tích thánh tẩy liên kết người tín hữu với Đức
Ki-tô, nhưng đồng thời cũng dẫn đưa họ vào trong
một cộng đoàn là Giáo hội. Khi mới được ơn trở
lại, Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được một thực
tại gồm hai sắc thái: một đàng người gặp được cá
nhân Đức Ki-tô, Đấng đã chết nhưng nay đang sống
trong vinh quang; đàng khác người gặp được “Đức
Ki-tô huyền nhiệm”, nghĩa là chính Đức Ki-tô ấy
hiện diện nơi các tín hữu kà người đang bắt bớ.
Khi Phao-lô hỏi: “Ngài là ai?”, thì có tiếng đáp”
“Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,5;
22,8; 26,14).
1.- Bản chất của Giáo hội
a) Thánh Phao-lô dùng nhiều hình ảnh bổ túc cho
nhau để diễn tả bản chất sâu xa của cộng đoàn các
tín hữu là Giáo hội: thửa ruộng (1 Cr 3,9), cây
trồng (1 Cr 3,6), ngôi nhà (1 Cr 3,9-11; Ep
2,20-21), tương quan vợ chồng (Ep 5, 25-32).
b) Hình ảnh thường được dùng nhất là “thân mình
của Đức Ki-tô”. Hình ảnh và kiểu nói này xuất
hiện trước hết trong thư 1 Cô-rin-tô (6,12-20;
10,14-17; 12,12-27), sau đó trong thư Rô-ma
(12,4-5), trong các thư Cô-lô-xê (3,15) và
Ê-phê-xô (2,16);
b) Giáo hội là thân mình Đức Ki-tô (Cl 1,24); các
Ki-tô hữu là chi thể của nhau (Ep 4,25) và của
Chúa Ki-tô (Ep 5,20). Trong thư Ga-lát, Thánh
Phao-lô nhấn mạnh sự hiệp nhất của các Ki-tô hữu:
“Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy lạp,
nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả
anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô (Gl 3,28).
Trong thư 1 Cr Thánh Phao-lô dùng hình ảnh “thân
mình Đức Ki-tô” để làm sáng tỏ bản chất của sự
hiệp nhất ấy (1 Cr 12,4-11).
c) Đức Ki-tô đóng vai là đầu của Thân Thể (Nhiệm
Thể): “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là
đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18), “Đức Ki-tô là đầu
của Hội Thánh, chính Người là Đấng Cứu Chuộc Hội
Thánh, thân thể Người” (Ep 5,23).
d) Các Ki-tô hữu được “nên một” với Đức Ki-tô,
thì cũng “nên một” với nhau (1 Cr 12,12-27; Rm
12,4-5). Các chi thể trong nhiệm thể sống được
nhờ liên kết với đầu và lớn lên được nhờ sự liên
kết đó mỗi ngày một chặt chẽ hơn: “15
Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái,
chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới
Đức Ki-tô vì Người là Đầu. 16 Chính
Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và
toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân
mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo
chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn
thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.
(Ep 4,15-16)
e) Thánh Phao-lô còn dùng một hình ảnh khác rất
có ý nghĩa là tương quan vợ chồng. Trong cựu ước
Ít-ra-en đã được Thiên Chúa đối xử như một người
vợ, một người vợ bất tring (Hs 2, 4-5; Is 54,5;
62,5; Gr 2,2-23; nhất là Ed 16 và Diệu Ca). Đức
Giê-su cũng đã tự xem mình là lang quan cộng đoàn
của mình (Mc 2,19-20) Gio-an Tẩy Gỉa cũng đã
triển khai (Ga 3,29). Sau này trong sách Khải
Huyền Giáo hội được gọi là “Hiền Thê của Con
Chiên” (Kh 21,2.9;22,17).
“22 Người làm vợ hãy tùng phục chồng
như tùng phục Chúa, 23 vì chồng là đầu
của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội Thánh,
chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể
của Người.24 Và như Hội Thánh tùng
phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng
phục chồng trong mọi sự như vậy.
25
Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức
Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội
Thánh;26 như vậy, Người thánh hoá và
thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống,
27 để trước mặt Người, có một Hội
Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết
nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh
thiện và tinh tuyền. 28 Cũng thế,
chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình.
Yêu vợ là yêu chính mình. 29 Quả vậy,
có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người
ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như
Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh,30
vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người.
31 Sách Thánh có lời chép rằng: Chính
vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với
vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.
32 Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi
muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh. 33
Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính
mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng. (Ep 5,22-33).
2.- Một kiểu nói độc đáo: “Trong Đức Ki-tô
Giê-su”
a) Thánh Phao-lô thường nói “trong Đức Ki-tô
Giê-su” hay “trong Đức Ki-tô” và không bao giờ
nói “trong Đức Giê-su” hay “trong Đức Giê-su
Ki-tô” (như Gio-an). Đó là chứng cớ hiển nhiên
cho thấy Phao-lô không nhìn Đức Giê-su trong tư
cách cá nhân, nhưng theo chức năng Mê-si-a của
Người, trong tư cách là A-đam mới.
b) Kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” rõ ràng liên
hệ đến thần học của Thánh Tông Đồ về Thân Thể Mầu
Nhiệm:
- “Nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái
Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su” (en Khristô
Iesu). Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh
tẩy trong Đức Ki-tô” (eis Khriston), đều mặc lấy
Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay
Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà;
nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô”
(Gl 3,26-27).
- “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm
vào nước trong Đức Ki-tô Giê-su” (eis Khriston
Iesoun), là chúng ta được dìm vào trong cái chết
của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của
Người, chúng ta cùng được mai táng với Người. Bởi
thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết
nhờ quyền na7ng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng
ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì
chúng ta đã nên một thân cây với Đức Ki-tô, nhờ
được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ
nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã
sống lại” (Rm 6,3-5).
- “Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết,
thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại.
Quả thế, như mọi người phải chết trong A-đam, thì
mọi người cũng được Thiên Chúa cho sống lại trong
Đức Ki-tô” ( 1 Cr 15,21-22).
c) Ý nghĩa của kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su”:
* Nghĩa mạnh (nghĩa bình thường): “trong Đức
Ki-tô Giê-su” diễn tả môi trường sự sống trong đó
toàn thể các Ki-tô hữu hoặc mỗi một Ki-tô hữu
lãnh nhận các ân huệ của Thiên Chúa, nhờ Đức
Ki-tô là Trung Gian. Trong trường hợp này kiểu
nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” nói lên tương quan
sống động giữa các Ki-tô hữu với Đức Ki-tô và với
nhau trong cùng một Nhiệm Thể duy nhất.
* Trong một số ít trường hợp theo nghĩa nhẹ, kiểu
nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” có nghĩa theo tinh
thần Phúc âm hay tinh thần Ki-tô giáo.
Vậy chúng ta có thể kết luận là “trong Đức Ki-tô
Giê-su” là kiểu nói ám chỉ Giáo hội với tư cách
là Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô.
C. Sống đời Ki-tô hữu thế nào?
Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về sự tháp nhập vào
Đức Ki-tô và vào thân mình mầu nhiệm của Người
chi phối toàn bộ nền luân lý Ki-tô giáo trên bình
diện cá nhân và tập thể. Được Thiên Chúa tái tạo
trong Đức Ki-tô, người Ki-tô hữu sẽ sống một đời
sống mới. Sau đây là những nguyên tắc cơ bản của
đời sống ấy.
1.- Đồng hóa với Đức Ki-tô
a) Được cứu độ nhờ Đức Ki-tô và cho Đức Ki-tô,
các Ki-tô hữu không thuộc về mình nữa, nhưng
thuộc về Người (Rm 14,7-9; 2 Cr 5,15). Người là
Chúa của họ, là “nguồn sống của họ” (Cl 3,4). Vì
thế nguyên tắc đầu tiên của đời sống Ki-tô hữu là
họ phải sống, không phải cho chính mình, nhưng
cho Đấng đã chết và sống lại cho họ”
b) Từ nay chính Đức Ki-tô sống và hoạt động trong
họ (Gl 2,20). Vì là thụ tạo có lý trí và tự do,
họ được mời gọi cộng tác với Ơn Chúa: họ phải có
một nỗ lực cá nhân được biểu lộ qua việc noi
gương lối sống của Chúa. Thánh Phao-lô nhiều lần
diễn tả bổn phận noi gương Chúa một cách cụ thể:
“Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức
Ki-tô (1 Cr 11,4; 4,16; 1 Tx 1,6; 2 Tx 3,7).
Người mời gọi họ hãy sống xứng đáng với Chúa (Cl
1,10; 2,6; Ep 4,1). Sự noi gương này chính là sự
đồng hóa với Đức Ki-tô, tức với cái chết và sự
sống lại của Người: “10 Chúng tôi luôn
mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức
Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu
lộ nơi thân mình chúng tôi. 11 Thật
vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe dọa
vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng
được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng
tôi. 12 Như thế, sự chết hoạt động nơi
chúng tôi, còn sự sống thì lại hoạt động nơi anh
em.” (2 Cr 4,10-12).
2.- Nhờ Thần Khi mà tiến bước
a) Kinh nghiệm Ki-tô hữu đầu tiên của Phao-lô
cũng như các Ki-tô hữu khác là được sở hữu (theo
nghĩa chủ động và thụ động) Đức Ki-tô và Thần
Khí. Đó là một trong những hậu quả của bí tích
Thánh Tẩy. Chính nhờ sự hiện diện ấ`y mà xuất
hiện nơi Ki-tô hữu một “thần khí mới” một tinh
thần mới, nhờ đó Ki-tô hữu trở thành “một thụ tạo
mới” (2 Cr 5,17; Gl 6,15; Ep 4,24).
b) Ngay từ bây giờ Thần Khí biến đổi các Ki-tô
hữu thành những con cái của Chúa Cha và những
người em của Đức Ki-tô (Gl 4,6). Tất nhiên họ
không phải là những người con theo bản tính,
nhưng theo ơn được nhận: tuy nhiên ơn dưỡng tử
này này cũng không phải là một tương quan pháp
lý, nhưng biến chúng ta nên đồng hình đồng dạng
với Đức Ki-tô, để rồi Đức Ki-tô trở nên anh
trưởng giữa một đàn em đông đảo (Rm 8,29). Thần
Khí vừa là nguyên lý tạo nên sự biến đổi đồng
thời là chứng cớ bảo đảm cho sự chân thật: “Chính
Thần Khí chứng thực cho trần trí chúng ta rằng
chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16).
c) Bởi đó người Ki-tô hữu phải từ bỏ lối sống
“theo xác thịt” nghĩa là theo những thúc đầy của
con người tự nhiên, để sống theo Thần Khí (Gl
5,25). Phao-lô nêu ra một số hành vi cụ thể của
hai lối sống đối lập ấy trong thư gửi tín hữu
Ga-lát: “16 Tôi xin nói với anh em là
hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ
không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa.
17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những
điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại
ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt,
đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm
được điều anh em muốn. 18 Nếu anh em
để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn
lệ thuộc Lề Luật nữa. 19 Những việc do
tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm
bôn, ô uế, phóng đãng, 20 thờ quấy,
phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng
giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, 21
ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác
giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi
đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không
được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. 22
Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc,
bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín,
23 hiền hoà, tiết độ. Không có luật
nào chống lại những điều như thế.” (Gl 5,16-23).
d) Ngoài ơn trọng đại là biến đổi các Ki-tô hữu
thành con cái Thiên Chúa, Thần Khí còn là nguyên
lý của sự khôn ngoan (1 Cr 10,14-16; Ep 1,17-20),
của sức mạnh nội tâm (R, 8,14-16; Ep 3,16; 2 Tm
1,7) và nhất là của tình yêu (Rm 5,5).
e) Thần Khí đích thực là nguồn sự sống cho các
tín hữu. Chính người là sức mạnh nhờ đó Chúa Cha
đã cho Đức Giê-su trỗi dậy từ cõi chết (Rm 1,4).
Nay Người không ngừng hoạt động nới các tín hữu
để giúp họ thực hiện cuộc sống công chính và
thánh thiện (Rm 8,10-11): cuộc sống này tuy còn
bất toàn, bao lâu con người còn sống trên trần
gian, nhưng sẽ triển nở thành sự sống đời đời (Gl
6,8; Rm 6,22). Bây giờ các tín hữu mới thu lượm
hoa trái đầu mùa; mai sau sẽ là mùa màng chan
chứa ( 2 Cr 1,22; 5,5; Rm 8,23; Ep 1,14).
f) Được khắc ghi dấu ấn của Thần Khí trong ngày
chịu phép Thánh Tầy (Ep 1,13), được Thần Khí giải
khát và nuôi sống ( 1 Cr 12,13), được trở nên
đền thờ của Người (1 Cr 6,9) người tín hữu có bổn
phận là lắng nghe tiếng Người, đứng dập tắt sự
thúc đầy của Nguời (1 Tx 5,19). Tất cả đời sống
và nền tảng luân lý của Ki-tô hữu có thể được tóm
tắt trong một câu: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần
Khí, thì cũng hãy nhở Thần Khí mà tiến bước” (Gl
5,25).
3.- Đến với Chúa Cha khởi điểm và cùng đích
a) Chúng ta biết điều mà Thiên Chúa nhắm trong
công trình sáng tạo và cứu chuộc của Người là đặt
để Con Một của Người làm trưởng tử giữa một đàn
em đông đảo (Rm 8, 29; Ep 1,5). Chương trình ấy
đã được thực hiện qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con
Thiên Chúa (Gl 4,6-7).
b) Hậu quả là các tín hữu được trở thành con cái
của Chúa Cha nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô (Gl
3,26): tương quan ấy không ngừng phát triển cho
tới ngày Đức Ki-tô và mọi chi thể của Người xuất
hiện trong vinh quang (Rm 8,19-23; Cl 3,4). Mọi
tín hữu đều vững tin rằng họ sẽ được dẫn vào
trong tình thân ái của Chúa Cha: “Thật vậy, nhờ
Người (Đức Ki-tô) cả đôi bên, chúng ta được liên
kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa
Cha.” (Ep 2,18).
c) Đối với các Ki-tô hữu Thiên Chúa là người Cha:
Cha của Đức Giê-su Ki-tô và Cha của họ. Chính
Người có sáng kiến đặt ra chương trình vĩ đại ấy,
và chỉ với mục đích là đổ tràn trên chúng ta
nguồn vinh quang chan chứa của Người. Người là
nguồn gốc mọi ân huệ ban xuống cho con người một
cách nhưng không.
d) Thiên Chúa cũng là cùng đích. Vì thế nỗ lực
của chúng ta là làm đẹp lòng Người (1 Tx 4,1; Rm
14,18; Ep 5,10; Pl 4,18), thực hiện thánh ý Người
(Rm 12,2; Cl 4,12), tìm kiếm vinh quang của Người
(1 Cr 10,31; Cl 3,17), làm sao để mọi hoạt động
của chúng ta trở thành một lễ phẩm được Người vui
nhận (Rm 12,1; 15,16; Pl 4,18).
4.- Trong tâm tình tạ ơn, hoan lạc và bình an
a) Người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy một nền
linh đạo như thế triển nở trong tâm tình tạ ơn,
hoan lạc và bình an.
b) Mặc dầu Phao-lô vẫn luôn luôn ý thức thân phận
tội lỗi và hèn yếu của mình (1 Tm 1,15; 2 Cr 4,
7; 11,29-30), nhưng ý nghĩ về tình yêu cứu chuộc
của Thiên Chúa được biểu lộ ra nơi lễ tế của Đức
Ki-tô luôn tạo ra nơi vị tông đồ một niềm tin
tưởng không bao giờ phai nhạt: cuộc chiến thắng
của Đức Ki-tô trên sự tội và sự chết chẳng bảo
đảm cho các Ki-tô hữu là họ cũng sẽ chiến thắng
như Người và nhờ Người sao? (1 Cr 15,57). Vì thế
mà tâm tình tri ân và cảm tạ được Người nhắc đi
nhắc lại:
- “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm
như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức
Ki-tô Giê-su” (1 Tx 5,18).
- “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự hãy nhân danh
Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên
Chúa là Cha” (Ep 5,20).
- “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói
nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ
Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17).
- “Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu
khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt
Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl
4,6).
- “Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập
nỗi vui mừng trong mọi cơn gian khốn khó” (2 Cr
7,4).
- “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa.
Tôi nhắc lại: vui lên anh em” (Pl 4,4).
- “Anh em hãy vui mừng luôn mãi” (1 Tx 5,16).
- “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt trên mọi
hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết
hợp vời Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 4,4).
- “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống,
nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong
Thánh Thần” (Rm 14,17).
5.- Trước viễn cảnh đời đời.
a) Chúng ta không còn sống trong thời gian chuẩn
bị nữa, thời gian mà chúng ta còn là “vị thành
niên” bị cầm giữ bởi những yếu tố trần thế: cùng
với sự xuất hiện của Con Thiên Chúa, thì thời
gian viên mãn đã đến (Gl 4,2-4; Ep 1,10). Thánh
Phao-lô còn nói A-đam là hình bóng của Đấng sẽ
đến, tức là Đức Ki-tô (x Rm 5,14), và những quy
luật Do Thái là “hình bóng những điều sắp tới,
nhưng thực tại là thân thể Đức Ki-tô” (Cl 2,17).
b) Các tác giả khác của Tân Ước dùng một hình ảnh
gợi hình hơn: chúng ta đang sống vào “những ngày
cuối cùng” (Cv 2,17; 1 Pr 1,20; 1 Ga 2,18: giờ
cuối cùng).
Còn các ngôn sứ xưa dùng kiểu nói “Thời cuối
cùng” (Is 2,2; Mi 4,1 v.v…). Thánh Phao-lô dùng
kiểu nói này một đôi lần (1 Tm 4,1; 2 Tm 3,1).
Kiểu nói này ám chỉ một tương lai xa xôi, nhưng
là thời gian hiện tại, thời gian hoạt động của
Đấng Cứu thế.
c) Thời gian hiện tại là thời gian mà Nhiệm Thể
Chúa Ki-tô đang phải lớn lên cho đến ngày đạt tới
mức mà Thiên Chúa đã ấn định (Ep 4,15-16), Mỗi cá
nhân Ki-tô hữu phải lớn lên và ngôi đền thờ Giáo
hội cũng phải vươn tới chỗ hoàn tất (Cl 2,19; Ep
4,16). Cuộc khải hoàn của Đức Ki-tô sẽ được mở
rộng tới muôn loài, muôn vật; rồi chính Đức Ki-tô
lại trao toàn quyền lại cho Thiên Chúa. (1 Cr
15,25-28).
d) Người Ki-tô hữu không những sẽ được ở với Chúa
mãi mãi (1 Tx 4,17), nhưng thân xác của họ sẽ
được sống lại vào ngày tận thế dưới tác động của
Chúa Thánh Thần; và trong thân xác được biến đổi
ấy họ sẽ hoàn toàn nên giống Chúa Ki-tô. Đó là
niềm hy vọng của người Ki-tô hữu viễn ảnh cho bản
thân mình và cho mọi người thiện tâm. Đó cũng là
viễn cảnh trong đó họ đang sống, làm việc và xây
dựng thế giới này.
V. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC
- Gợi ý của người hướng dẫn:
Hôm nay chúng ta kết thúc Khóa học về Thánh
Phao-lô. Tuy khóa học thật ngắn ngủi nhưng chắc
chắn cũng đã đem lại cho mỗi người trong chúng ta
rất nhiều điều tốt lành, cả về mặt hiểu biết về
con người và giáo huấn của Thánh Phao-lô, cả về
mặt tâm linh tức tác động của những trang, những
đoạn hoặc những câu Lời Chúa trong các Thư của
Thánh Phao-lô trên tâm hồn và cuộc sống đức tin
của chúng ta. Cùng với Ngài, chúng ta hãy dâng
lên Thiên Chúa lời tri ân cảm tạ.
- Cùng cầu nguyện:
Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Ki-tô Giê-su và là
Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và
chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho Hội Thánh Cha một
người con ưu tú là Phao-lô, một môn đệ xuất sắc
noi gương cho chúng con bắt chước Chúa Ki-tô, một
Tông Đồ Nhiệt Thành đã đóng góp bao nhiêu công
sức cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng cho Dân Ngoại
và xây dựng Hội Thánh thời khởi đầu. Xin Cha ban
cho chúng con lòng mến Chúa yêu người nồng nàn và
tâm hồn cháy bỏng lửa Truyền Giáo của Thánh
Phao-lô. Chúng con xin vì Danh Chúa Giê-su Ki-tô,
Con Chúa, Chúa chúng con. A-men.
- Cùng hát: TÌNH YÊU CHÚA CAO VỜI
ĐK: Tình yêu Chúa cao vời biết bao nào con biết
đáp đền thế nào, để cho cân xứng Chúa ơi. Để cho
cân xứng Chúa ơi.
PK 1: Ôi tình yêu thương Chúa cao vời, tình yêu
thương Chúa muôn đời. Người yêu con tự ngàn xưa.
Từ khi chưa có đồi non, từ khi chưa có trời cao,
chưa có vầng trăng với ngàn sao. Gọi con giữa
muôn muôn người, tìm con giữa nơi bùn nhơ.
PK 2: Ôi vì thương con Chúa quên mình, vì yêu nên
hiến thân mình gọi con nên bạn tình Cha. Dù bao
sóng gió hiểm nguy, dìu con trên bước đường đi,
ơn Chúa ngày đêm ấp ủ con. Vì con Chúa quên thân
mình, đời con dám mơ gì hơn.
PK 3: Con thành tâm dâng hiến trọn đời, thành tâm
dâng hiến xác hồn để nên tông đồ của Cha. Và nên
nhân chứng của Cha, truyền rao chân lý của Cha,
gieo rắc Lời Cha khắp gần xa. Đời con sẽ đi khắp
miền, làm nhân chứng cho tình yêu