MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 

MỪNG NĂM THÁNH PHAOLÔ 28.6.2008-29.6.2009
HỌC VÀ SỐNG  TINH THẦN THÁNH PHAOLÔ
[TÀI LIỆU KHÓA THÁNH PHAO-LÔ ĐẠI CHÚNG]
Giêrôminô Nguyễn Văn Nội
Mục Lục: Giới thiệu - Đề tài 1 - Đề tài 2 - Đề tài 3 - Đề tài 4 - Đề tài 5 - Đề tài 6 - Đề tài 7 - Đề tài 8 - Bài đọc thêm

ĐỀ TÀI VIII

LINH ĐẠO KI-TÔ HỮU THEO GIÁO HUẤN

CỦA THÁNH PHAO-LÔ 

I. CẦU NGUYỆN MỞ ĐẦU

- Gợi ý của người hướng dẫn: Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu đề tài cuối cùng của Giáo Trình Khóa Thánh Phao-lô đại chúng. Đó là đề tài thứ VIII với tựa đề «Linh Đạo Ki-tô hữu theo Giáo Huấn của Thánh Phao-lô». Hiểu được Giáo Huấn này, chúng ta có sẽ có thái độ biết ơn và khiêm tốn đối với Thiên Chúa, vì ơn được nên công chính, được thánh hóa và được cứu độ đều do Thiên Chúa ban cho chúng ta một cách nhưng không. Cũng nhờ hiểu được Giáo Huấn này, chúng ta có sẽ sống đạo một cách truởng thành và vô vị lợi hơn. Chúng ta hãy hướng tâm trí về Thiên Chúa Tình Yêu mà cùng nhau dâng lời chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ lên Người!

 

- Cùng cầu nguyện: KHÚC HÁT TẠ ƠN.

ĐK: Xin dâng kính câu ca tạ ơn. Ca khen Chúa mến yêu nhân trần. Ngàn đời kính chúc Vua muôn loài. Danh Chúa luôn rạng ngời.

PK 1: Vì tình Cha ôi quý trọng thay. Muôn ơn lành chan chứa trời mây. Từng cao xanh lừng tiếng ngàn dân. Hát khúc ca tạ ơn.

PK 2: Bầu trời long lanh ánh ngàn sao. Mây lưng trời sương tuyết ngàn cao. Rền vang lên nhạc khúc hoà ca. Kính đáp ân tình Cha.

II. CHIA SẺ KHÁM PHÁ / CẢM NGHIỆM / QUYẾT TÂM / THAY ĐỔI LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI VII VỀ GIÁO HUẤN CỦA THÁNH PHAO-LÔ VỀ «ƠN ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH»

Bạn muốn chia sẻ «khám phá», «cảm nghiệm», «quyết tâm» hay «thay đổi» gì mới, hoặc muốn nêu «ý kiến» hay «thắc mắc» gì liên quan tới Đề Tài VII: Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về «Ơn được nên công chính» mà bạn đã học lần trước, xin mời bạn chia sẻ hay phát biểu.

 

III. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Ngoài các Giáo Huấn quan trọng về «Hội Thánh», về «Thánh Thể», về «Thân Xác và Hôn Nhân Gia Đình», về «Ơn được nên công chính» Thánh Phao-lô còn để lại «di sản» quý giá nào cho Hội Thánh và các Ki-tô hữu?

2. Thế nào là linh đạo hay cách sống hay con đường nên thánh của Ki-tô hữu?  

3. Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh Phao-lô phải được hiểu và sống như thế nào?

 

IV. HỌC HỎI VÀ CHIA SẺ

1. Ngoài các Giáo Huấn quan trọng về «Hội Thánh», về «Thánh Thể», về «Thân Xác và Hôn Nhân Gia Đình», về «Ơn được nên công chính» Thánh Phao-lô còn để lại một «di sản» vô cùng quý giá cho Hội Thánh và cho các Ki-tô hữu chúng ta. Di sản đó là: «Linh Đạo Ki-tô hữu» hay «cách sống» hay «con đường nên thánh» của các Ki-tô hữu.

 

2. Có nhiều định nghĩa về linh đạo (hay cách sống hay con đường nên thánh) của Ki-tô hữu.

Sau đây là một vài định nghĩa có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn:

a) «Trong kinh nghiệm của tôi, định nghĩa tốt nhất và chính xác nhất của linh đạo đơn giản chỉ là “tôi đối phó thế nào với cuộc sống.» (Gerard Broccolo, Vital Spiritualities).

b) «Trong nghĩa thông thường nhất, linh đạo là những con đường (cách) và mô hình nhờ đó một người, bằng trí tuệ, cảm xúc và thể lý, liên hệ được với cái là thực nhất và quí giá nhất cho người ấy.» (James Nelson, The Intimated Connection).

c) «Trong nghĩa rộng, linh đạo có thể được miêu tả là con đường nên thánh… nhưng khi các phương thế kết hiệp với Thiên Chúa trở nên cụ thể thì xuất hiện nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một cách tiếp cận đặc biệt để kết hiệp với Thiên Chúa được gọi là linh đạo.» (George Lane, Christian Spirituality).

d) «… Linh đạo không được miêu tả một cách thỏa đáng là xây dựng mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa: một não trạng “Chúa Giê-su và tôi”. Có lẽ sự canh tân cơ bản nhất của Công Đồng Vatican II là “chiều kích cộng đoàn” của mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa là Đấng muốn cứu rỗi chúng ta không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách cộng đoàn: “Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện.» (Ánh sáng muôn dân, 2) (Katherine Dyckman & Pat Carroll, Inviting the Mystic, Supporting the Prophet).

e) «Linh đạo là cách chúng ta đáp lại cuộc sống như thế nào với tất cả sự thật của mình.»  (Jean Hunter đồng ý với Jen Galbraith).

f) «... Các bản văn Thánh Kinh là những lời đáp lại sự hiện diện khai mào và mầu nhiệm của Thiên Chúa trong quá trình cuộc sống con người.» (Michael Fishbane, Text and Texture).

g) «Linh đạo Thánh Kinh mời gọi chúng ta, từng cá nhân cũng như với tư cách cộng đoàn, đưa bản văn Thánh Kinh vào trong tiến trình trở nên chính chúng ta, một tiến trình cực nhọc, lâu dài và khổ đau, là một phần của mầu nhiệm hình thành của Nước Thiên Chúa. Chúng ta phải để cho Lời Chúa thấm sâu vào sự tự vệ của chúng ta, thách đố chúng ta một cách quyết liệt, để chúng ta trở lại và đi vào cuộc sống mới. Nhưng tiến trình này cũng đòi hỏi chúng ta từ bỏ chính mình. Có nghĩa là một phần của chúng ta phải chết đi.» (Karen Barta, Gospel of Mark).

 

3. Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh Phao-lô phải được hiểu và sống như thế nào?

Linh mục Norbertô Nguyễn Văn Khanh, ofm, đã dành Chương XIII là Chương Chót trong Cuốn THÁNH PHAO-LÔ CUỘC ĐỜI VÀ TƯ TƯỞNG (2008), từ trang 181 đến hết trang 205, cho chủ đề “Linh Đạo Ki-tô hữu theo Thánh Phao-lô”. Thiết nghĩ khó có ai có thể viết một bài đầy đủ hơn chương XIII này, nên tôi sẽ dựa vào đó mà trình bày, cách vắn gọn.

 

Trước hết chúng ta hãy ghi nhận ý kiến xác đáng của cha Khanh trong câu nói này: “Khi nói đến đời sống thiêng liêng, chúng ta không chỉ nghĩ tới đời sống nội tâm, liên hệ đến phần tâm linh, mà tới đời sống cụ thể của con người toàn diện gồm linh hồn và thể xác, cá nhân và cộng đoàn, một đời sống được linh hoạt bởi tinh thần Ki-tô hữu hay chính xác và sâu xa hơn, bởi Thần Khí của Thiên Chúa” (sđd, trang 181).

 

Linh đạo Ki-tô hữu theo giáo huấn của Thánh Phao-lô gồm 3 giai đoạn:  Trước hết là bước vào đời sống mới, kế đến là gia nhập Cộng đoàn các tín hữu và sau cùng là sống đời Ki-tô hữu như thế nào? Mỗi giai đoạn có nội dung riêng như sau:

 

A. Bước vào đời sống mới

1.- Đức Tin 

a) Đời sống Ki-tô hữu bắt đầu bằng đức tin (là thái độ tôn giáo cơ bản). Niềm tin Ki-tô hữu là “niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô” (Gl 2,16.20; Rm 3,22.26 v.v.).

b) Đức tin là mối tương quan liên-ngôi-vị, là một sự phó thác thân mình cho Đức Ki-tô. Sau khi bị Đức Ki-tô “chộp bắt” (Pl 3,12), Thánh Phao-lô không còn là chủ nhân của bản thân mình nữa mà là Đức Ki-tô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi.” (Gl 20).

c) Niềm tin ấy được diễn tả qua một công thức cơ bản: “Đức Giê-su là Chúa” (Rm 10,9a): Có nghĩa là tuyên xưng Vương Quyền của Đức Giê-su trên vũ trụ; cũng đồng nghĩa với việc tin rằng “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết.” (Rm 10,9b; 4,24).

d) Đức tin là thái độ nội tâm, nhưng được biểu lộ ra nên ngoài bằng lời tuyên xưng trên môi miệng trong bí tích Thánh Tẩy. Hậu quả là tạo nên những tương quan mới giữa người tín hữu với Đức Ki-tô, với Chúa Thánh Thần và với Chúa Cha.

 

2.- Trở nên một với Đức Ki-tô

a) Ngay tại Đa-mát, Phao-lô đã ý thức mình được dẫn vào một đời sống mới (Rm 6,4; 7,6; Tt 3,5), được trở thành một thụ tạo mới (Gl  6,15; Ep 3,10).

b) Nhờ đức tin và bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu thuộc về Đức Ki-tô: “27 Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. 28 Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. 29 Mà nếu anh em thuộc về Đức Ki-tô, thì anh em là dòng dõi ông Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa” (Gl 3,27-29; Rm 7,4).  

c) Người ta có thể nói đến một sự đồng hóa với Đức Ki-tô. Chúa Cha đã tiền định cho các tín hữu nên đồng hình đồng dạng với Con của Người (Rm 8,29), nhưng điều đó cũng đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực vươn tới không ngừng, như một vận động viên chạy đua nơi thao trường (Pl 3,12-14).

d) Nhờ đức tin và bí tích Thánh Tẩy, người Ki-tô hữu được thông phần vào tình trạng chịu đóng đinh, chịu chết, mai táng và sống lại của Đức Ki-tô: “3 Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? 4 Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. 5 Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại.” (Rm 6,3-5).  

 

3.- Ơn Chúa Thánh Thần

a) Đây cũng là một trong những ân huệ tiên khởi mà các Ki-tô hữu được đón nhận. Tại Đa-mát  Sa-un đã nghe Kha-na-ni-a tuyên bố: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giê-su, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần" (Cv 9,17).

b) Chính Chúa Thánh Thần biểu lộ quyền năng của Người nơi lời rao giảng của vị Tông Đồ để cho người nghe đón nhận và tin (1 Tx 1,5; Rm 15,9).

c) Khi nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Chính Người là đối tượng của lời hứa mà Thiên Chúa đã tuyên bố với Áp-ra-ham ngày xưa: “Như thế là để nhờ Đức Giê-su Ki-tô, các dân ngoại cũng được hưởng phúc lành dành cho ông Áp-ra-ham, và để nhờ đức tin, chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa tức là Thần Khí.” (Gl 3,14).

d) Chính Chúa Thánh Thần là “ân huệ mở đầu” cho mọi ân huệ khác (Rm 8,3), là “ấn tín” bảo đảm ơn cứu chuộc chung cuộc (2 Cr 1,21; 5,5). Người thánh hóa Ki-tô hữu và tạo nên trong họ một quy luật mới, tức luật của sự sống: “Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8,2).

e) Chính nhờ Thánh Thần mà người Ki-tô hữu thuộc về Đức Ki-tô: “Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô, thì không thuộc về Đức Ki-tô.” (Rm 8,9).

 

4.- Tương quan mới với Chúa Cha

a) Khi cứu chuộc chúng ta trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa cho chúng ta được giao hòa với Người. Từ nay không còn gì tách biệt chúng ta khỏi Thiên Chúa: “Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên (dân Do Thái và Dân Ngoại), chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2,18).

b) Việc tín hữu được “đến cùng Thiên Chúa” giả định một tương quan đặc biệt: tương quan con cái đối với Cha mình. Thiên Chúa cho chúng ta làm em của Đức Giê-su và được ơn làm con (Rm 8,29; Ep 1,5). Ơn ấy gắn liền với sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: “14 Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. 15 Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi! 16 Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. 17 Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người.” (Rm 8,14-17).

c) Ơn làm con tạo nên sự dạn dĩ và ngoan ngoãn hoàn toàn theo tác động của Thần Khí. Cũng tạo nên những quyền lợi cho các tín hữu: quyền thừa tự (hưởng gia sản của người cha). 

d) Ơn làm con đã được ban ngay bây giờ cho người tín hữu, nhưng nó không ngừng phát triển cho tới mức viên mãn ở đời sau, vì “chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa.” (Rm 8,23).

                                                                        

5.- Ơn được nên công chính

a) Hậu quả của đức tin, dưới một góc độ khác, là người tín hữu được “trở nên công chính” trước mặt Thiên Chúa: “38 Vậy thưa anh em, xin biết cho điều này: chính nhờ Đấng ấy mà ơn tha tội được loan báo cho anh em; và trong khi anh em không thể được giải thoát khỏi tội lỗi mà trở nên công chính nhờ tuân giữ Luật Mô-sê, 39 thì nhờ Người, mọi kẻ tin đều được nên công chính.” (Cv 13,38-39).

Và: “Trái lại người nào không dựa vào việc làm nhưng tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ vô đạo nên công chính, thì lòng tin làm cho người ấy được Thiên Chúa kể là công chính.” (Rm 4,5).

b) Thiên Chúa “công chính hóa” người tín hữu không phải bằng một lời tuyên bố bên ngoài, nhưng biến đổi họ tận tâm can, làm cho họ nên “một thụ tạo mới.”

c) Người tín hữu, từ hoàn cảnh tội lỗi, được trở nên “công chính” nghĩa là được tha thứ tội lỗi: “Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19).

d) Được giải phóng khỏi tội lội, người tín hữu cũng được giải phóng khỏi sự chết đời đời và sẽ được tham gia vào sự sốnng lại của Đức Ki-tô” (Rm 8,11).

e) Ơn được trở nên công chính nhắm làm cho người tín hữu thông phần vào một phẩm chất khác của Thiên Chúa: đó là  sự thánh thiện: “Thiên Chúa đã chọn anh em ngay từ lúc khởi đầu, để cứu độ anh em nhờ Thần Khí thánh hóa và nhờ lòng tin vào chân lý” ( 2 Tx 2,13). Sự thánh thiện nằm ở chỗ, nhờ tác động của Thần Khí, người tín hữu thanh luyện mình dần đần khỏi tội lỗi và kết hiệp một ngày một sâu sắc hơn với Thiên Chúa chí thánh. Sự công chính đi liền với sự thánh thiện và phúc cứu độ: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hóa và cứu cuộc anh em…” (1 Cr 1,30).

 

B. Gia nhập Cộng đoàn các tín hữu

Bí tích thánh tẩy liên kết người tín hữu với Đức Ki-tô, nhưng đồng thời cũng dẫn đưa họ vào trong một cộng đoàn là Giáo hội. Khi mới được ơn trở lại, Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm  được một thực tại gồm hai sắc thái: một đàng người gặp được cá nhân Đức Ki-tô, Đấng đã chết nhưng nay đang sống trong vinh quang; đàng khác người gặp được “Đức Ki-tô huyền nhiệm”, nghĩa là chính Đức Ki-tô ấy hiện diện nơi các tín hữu kà người đang bắt bớ. Khi Phao-lô hỏi: “Ngài là ai?”, thì có tiếng đáp” “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ” (Cv 9,5; 22,8; 26,14).

 

1.- Bản chất của Giáo hội

a) Thánh Phao-lô dùng nhiều hình ảnh bổ túc cho nhau để diễn tả bản chất sâu xa của cộng đoàn các tín hữu là Giáo hội: thửa ruộng (1 Cr 3,9), cây trồng (1 Cr 3,6), ngôi nhà (1 Cr 3,9-11; Ep 2,20-21), tương quan vợ chồng (Ep 5, 25-32).  

b) Hình ảnh thường được dùng nhất là “thân mình của Đức Ki-tô”. Hình ảnh và kiểu nói này xuất hiện trước hết trong thư 1 Cô-rin-tô (6,12-20; 10,14-17; 12,12-27), sau đó trong thư Rô-ma (12,4-5), trong các thư Cô-lô-xê (3,15) và Ê-phê-xô (2,16);

b) Giáo hội là thân mình Đức Ki-tô (Cl 1,24); các Ki-tô hữu là chi thể của nhau (Ep 4,25) và của Chúa Ki-tô (Ep 5,20). Trong thư Ga-lát, Thánh Phao-lô nhấn mạnh sự hiệp nhất của các Ki-tô hữu: “Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong  Đức Ki-tô (Gl 3,28). Trong thư 1 Cr Thánh Phao-lô dùng  hình ảnh “thân mình Đức Ki-tô” để làm sáng tỏ bản chất của sự hiệp nhất ấy (1 Cr 12,4-11).

c) Đức Ki-tô đóng vai là đầu của Thân Thể (Nhiệm Thể): “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18), “Đức Ki-tô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng Cứu Chuộc Hội Thánh, thân thể Người” (Ep 5,23).

d) Các Ki-tô hữu được “nên một” với Đức Ki-tô, thì cũng “nên một” với nhau (1 Cr 12,12-27; Rm 12,4-5). Các chi thể trong nhiệm thể sống được nhờ liên kết với đầu và lớn lên được nhờ sự liên kết đó mỗi ngày một chặt chẽ hơn: “15 Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. 16 Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái. (Ep 4,15-16)

e) Thánh Phao-lô còn dùng một hình ảnh khác rất có ý nghĩa là tương quan vợ chồng. Trong cựu ước Ít-ra-en đã được Thiên Chúa đối xử như một người vợ, một người vợ bất tring (Hs 2, 4-5; Is 54,5; 62,5; Gr 2,2-23; nhất là Ed 16 và Diệu Ca). Đức Giê-su cũng đã tự xem mình là lang quan cộng đoàn của mình (Mc 2,19-20) Gio-an Tẩy Gỉa cũng đã triển khai (Ga 3,29). Sau này trong sách Khải Huyền Giáo hội được gọi là “Hiền Thê của Con Chiên” (Kh 21,2.9;22,17).  

22 Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, 23 vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người.24 Và như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy.

25 Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh;26 như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, 27 để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. 28 Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. 29 Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh,30 vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. 31 Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. 32 Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh. 33 Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng. (Ep 5,22-33).

 

2.- Một kiểu nói độc đáo: “Trong Đức Ki-tô Giê-su”

a) Thánh Phao-lô thường nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” hay “trong Đức Ki-tô” và không bao giờ nói “trong Đức Giê-su” hay “trong Đức Giê-su Ki-tô” (như Gio-an). Đó là chứng cớ hiển nhiên cho thấy Phao-lô không nhìn Đức Giê-su trong tư cách cá nhân, nhưng theo chức năng Mê-si-a của Người, trong tư cách là A-đam mới.

b) Kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” rõ ràng liên hệ đến thần học của Thánh Tông Đồ về Thân Thể Mầu Nhiệm:

- “Nhờ đức tin, tất cả anh em đều là con cái Thiên Chúa trong Đức Ki-tô Giê-su” (en Khristô Iesu). Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy trong Đức Ki-tô” (eis Khriston), đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,26-27).

- “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước trong Đức Ki-tô Giê-su” (eis Khriston Iesoun), là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền na7ng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một thân cây với Đức Ki-tô, nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6,3-5).

- “Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Quả thế, như mọi người phải chết trong A-đam, thì mọi người cũng được Thiên Chúa cho sống lại trong Đức Ki-tô” ( 1 Cr 15,21-22).

c) Ý nghĩa của kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su”:

* Nghĩa mạnh (nghĩa bình thường): “trong Đức Ki-tô Giê-su” diễn tả môi trường sự sống trong đó toàn thể các Ki-tô hữu hoặc mỗi một Ki-tô hữu lãnh nhận các ân huệ của Thiên Chúa, nhờ Đức Ki-tô là Trung Gian. Trong trường hợp này kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” nói lên tương quan sống động giữa các Ki-tô hữu với Đức Ki-tô và với nhau trong cùng một Nhiệm Thể duy nhất.

* Trong một số ít trường hợp theo nghĩa nhẹ, kiểu nói “trong Đức Ki-tô Giê-su” có nghĩa theo tinh thần Phúc âm hay tinh thần Ki-tô giáo.

Vậy chúng ta có thể kết luận là “trong Đức Ki-tô Giê-su” là kiểu nói ám chỉ Giáo hội với tư cách là Nhiệm Thể của Chúa Ki-tô.

 

C. Sống đời Ki-tô hữu thế nào?

Giáo Huấn của Thánh Phao-lô về sự tháp nhập vào Đức Ki-tô và vào thân mình mầu nhiệm của Người chi phối toàn bộ nền luân lý Ki-tô giáo trên bình diện cá nhân và tập thể. Được Thiên Chúa tái tạo trong Đức Ki-tô, người Ki-tô hữu sẽ sống một đời sống mới. Sau đây là những nguyên tắc cơ bản của đời sống ấy.

 

1.- Đồng hóa với Đức Ki-tô

a) Được cứu độ nhờ Đức Ki-tô và cho Đức Ki-tô, các Ki-tô hữu không thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về Người (Rm 14,7-9; 2 Cr 5,15). Người là Chúa của họ, là  “nguồn sống của họ” (Cl 3,4). Vì thế nguyên tắc đầu tiên của đời sống Ki-tô hữu là họ phải sống, không phải cho chính mình, nhưng cho Đấng đã chết và sống lại cho họ”

b) Từ nay chính Đức Ki-tô sống và hoạt động trong họ (Gl 2,20). Vì là thụ tạo có lý trí và tự do, họ được mời gọi cộng tác với Ơn Chúa: họ phải có một nỗ lực cá nhân được biểu lộ qua việc noi gương lối sống của Chúa. Thánh Phao-lô nhiều lần diễn tả bổn phận noi gương Chúa một cách cụ thể: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Ki-tô (1 Cr 11,4; 4,16; 1 Tx 1,6; 2 Tx 3,7). Người mời gọi họ hãy sống xứng đáng với Chúa (Cl 1,10; 2,6; Ep 4,1). Sự noi gương này chính là sự đồng hóa với Đức Ki-tô, tức với cái chết và sự sống lại của Người: “10 Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. 11 Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe dọa vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi. 12 Như thế, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, còn sự sống thì lại hoạt động nơi anh em.” (2 Cr 4,10-12).

 

2.- Nhờ Thần Khi mà tiến bước

a) Kinh nghiệm Ki-tô hữu đầu tiên của Phao-lô cũng như các Ki-tô hữu khác là được sở hữu (theo nghĩa chủ động và thụ động) Đức Ki-tô và Thần Khí. Đó là một trong những hậu quả của bí tích Thánh Tẩy. Chính nhờ sự hiện diện ấ`y mà xuất hiện nơi Ki-tô hữu một “thần khí mới” một tinh thần mới, nhờ đó Ki-tô hữu trở thành “một thụ tạo mới” (2 Cr 5,17; Gl 6,15; Ep 4,24).

b) Ngay từ bây giờ Thần Khí biến đổi các Ki-tô hữu thành những con cái của Chúa Cha và  những người em của Đức Ki-tô (Gl 4,6). Tất nhiên họ không phải là những người con theo bản tính, nhưng theo ơn được nhận: tuy nhiên ơn dưỡng tử này này cũng không phải là một tương quan pháp lý, nhưng biến chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, để rồi Đức Ki-tô trở nên anh trưởng giữa một đàn em đông đảo (Rm 8,29). Thần Khí vừa là nguyên lý tạo nên sự biến đổi đồng thời là chứng cớ bảo đảm cho sự chân thật: “Chính Thần Khí chứng thực cho trần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16).

c) Bởi đó người Ki-tô hữu phải từ bỏ lối sống “theo xác thịt” nghĩa là theo những thúc đầy của con người tự nhiên, để sống theo Thần Khí (Gl 5,25). Phao-lô nêu ra một số hành vi cụ thể của hai lối sống đối lập ấy trong thư gửi tín hữu Ga-lát: “16 Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. 17 Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. 18 Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa. 19 Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, 20 thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, 21 ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa. 22 Còn hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, 23 hiền hoà, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế.” (Gl 5,16-23).

d) Ngoài ơn trọng đại là biến đổi các Ki-tô hữu thành con cái Thiên Chúa, Thần Khí còn là nguyên lý của sự khôn ngoan (1 Cr 10,14-16; Ep 1,17-20), của sức mạnh nội tâm (R, 8,14-16; Ep 3,16; 2 Tm 1,7) và nhất là của tình yêu (Rm 5,5).

e) Thần Khí đích thực là nguồn sự sống cho các tín hữu. Chính người là sức mạnh nhờ đó Chúa Cha đã cho Đức Giê-su trỗi dậy từ cõi chết (Rm 1,4). Nay Người không ngừng hoạt động nới các tín hữu để giúp họ thực hiện cuộc sống công chính và thánh thiện (Rm 8,10-11): cuộc sống này tuy còn bất toàn, bao lâu con người còn sống trên trần gian, nhưng sẽ triển nở thành sự sống đời đời (Gl 6,8; Rm 6,22). Bây giờ các tín hữu mới thu lượm hoa trái đầu mùa; mai sau sẽ là mùa màng chan chứa ( 2 Cr 1,22; 5,5; Rm 8,23; Ep 1,14).

f) Được khắc ghi dấu ấn của Thần Khí trong ngày chịu phép Thánh Tầy (Ep 1,13), được Thần Khí giải khát và  nuôi sống ( 1 Cr 12,13), được trở nên đền thờ của Người (1 Cr 6,9) người tín hữu có bổn phận là lắng nghe tiếng Người, đứng dập tắt sự thúc đầy của Nguời (1 Tx 5,19). Tất cả đời sống và nền tảng luân lý của Ki-tô hữu có thể được tóm tắt trong một câu: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhở Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25).

 

3.- Đến với Chúa Cha khởi điểm và cùng đích

a) Chúng ta biết điều mà Thiên Chúa nhắm trong công trình sáng tạo và cứu chuộc của Người là đặt để Con Một của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đảo (Rm 8, 29; Ep 1,5). Chương trình ấy đã được thực hiện qua Mầu Nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa (Gl 4,6-7).

b) Hậu quả là các tín hữu được trở thành con cái của Chúa Cha nhờ tin vào Đức Giê-su Ki-tô (Gl 3,26): tương quan ấy không ngừng phát triển cho tới ngày Đức Ki-tô và mọi chi thể của Người xuất hiện trong vinh quang (Rm 8,19-23; Cl 3,4). Mọi tín hữu đều vững tin rằng họ sẽ được dẫn vào trong tình thân ái của Chúa Cha: “Thật vậy, nhờ Người (Đức Ki-tô) cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2,18).

c) Đối với các Ki-tô hữu Thiên Chúa là người Cha: Cha của Đức Giê-su Ki-tô và Cha của họ. Chính Người có sáng kiến đặt ra chương trình vĩ đại ấy, và chỉ với mục đích là đổ tràn trên chúng ta nguồn vinh quang chan chứa của Người. Người là nguồn gốc mọi ân huệ ban xuống cho con người một cách nhưng không.

d) Thiên Chúa cũng là cùng đích. Vì thế nỗ lực của chúng ta là làm đẹp lòng Người (1 Tx 4,1; Rm 14,18; Ep 5,10; Pl 4,18), thực hiện thánh ý Người (Rm 12,2; Cl 4,12), tìm kiếm vinh quang của Người (1 Cr 10,31; Cl 3,17), làm  sao để mọi hoạt động của chúng ta trở thành một lễ phẩm được Người vui nhận (Rm 12,1; 15,16; Pl 4,18).

 

4.- Trong tâm tình tạ ơn, hoan lạc và bình an

a) Người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy một nền linh đạo như thế triển nở trong tâm tình tạ ơn, hoan lạc và bình an.

b) Mặc dầu Phao-lô vẫn luôn luôn ý thức thân phận tội lỗi và hèn yếu của mình (1 Tm 1,15; 2 Cr 4, 7; 11,29-30), nhưng ý nghĩ về tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa được biểu lộ ra nơi lễ tế của Đức Ki-tô luôn tạo ra nơi vị tông đồ một niềm tin tưởng không bao giờ phai nhạt: cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô trên sự tội và sự chết chẳng bảo đảm cho các Ki-tô hữu là họ cũng sẽ chiến thắng như Người và nhờ Người sao? (1 Cr 15,57). Vì thế mà tâm tình tri ân và cảm tạ được Người nhắc đi nhắc lại:

- “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Ki-tô Giê-su” (1 Tx 5,18).

- “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự hãy nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,20).

- “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,17).

- “Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4,6).

- “Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi  vui mừng trong mọi cơn gian khốn khó” (2 Cr 7,4).

- “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em” (Pl 4,4).

- “Anh em hãy vui mừng luôn mãi” (1 Tx 5,16).

- “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp vời Đức Ki-tô Giê-su” (Pl 4,4).

- “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17).

 

5.- Trước viễn cảnh đời đời.

a) Chúng ta không còn sống trong thời gian chuẩn bị nữa, thời gian mà chúng ta còn là “vị thành niên” bị cầm giữ bởi những yếu tố trần thế: cùng với sự xuất hiện của Con Thiên Chúa, thì thời gian viên mãn đã đến (Gl 4,2-4; Ep 1,10). Thánh Phao-lô còn nói A-đam là hình bóng của Đấng sẽ đến, tức là Đức Ki-tô (x Rm 5,14), và những quy luật Do Thái là “hình bóng những điều sắp tới, nhưng thực tại là thân thể Đức Ki-tô” (Cl 2,17).

b) Các tác giả khác của Tân Ước dùng một hình ảnh gợi hình hơn: chúng ta đang sống vào “những ngày cuối cùng” (Cv 2,17; 1 Pr 1,20; 1 Ga 2,18: giờ cuối cùng).

Còn các ngôn sứ xưa dùng kiểu nói “Thời cuối cùng” (Is 2,2; Mi 4,1 v.v…). Thánh Phao-lô dùng kiểu nói này một đôi lần (1 Tm 4,1; 2 Tm 3,1). Kiểu nói này ám chỉ một tương lai xa xôi, nhưng là thời gian hiện tại, thời gian hoạt động của Đấng Cứu thế. 

c) Thời gian hiện tại là thời gian mà Nhiệm Thể Chúa Ki-tô đang phải lớn lên cho đến ngày đạt tới mức mà Thiên Chúa đã ấn định (Ep 4,15-16), Mỗi cá nhân Ki-tô hữu phải lớn lên và ngôi đền thờ Giáo hội cũng phải vươn tới chỗ hoàn tất (Cl 2,19; Ep 4,16). Cuộc khải hoàn của Đức Ki-tô sẽ được mở rộng tới muôn loài, muôn vật; rồi chính Đức Ki-tô lại trao toàn quyền lại cho Thiên Chúa. (1 Cr 15,25-28).

d) Người Ki-tô hữu không những sẽ được ở với Chúa mãi mãi (1 Tx 4,17), nhưng  thân xác của họ sẽ được sống lại vào ngày tận thế dưới tác động của Chúa Thánh Thần; và trong thân xác được biến đổi ấy họ sẽ hoàn toàn nên giống Chúa Ki-tô. Đó là niềm hy vọng của người Ki-tô hữu viễn ảnh cho bản thân mình và cho mọi người thiện tâm. Đó cũng là viễn cảnh trong đó họ đang sống, làm việc và xây dựng thế giới này.

 

V. CẦU NGUYỆN KẾT THÚC 

- Gợi ý của người hướng dẫn: Hôm nay chúng ta kết thúc Khóa học về Thánh Phao-lô. Tuy khóa học thật ngắn ngủi nhưng chắc chắn cũng đã đem lại cho mỗi người trong chúng ta rất nhiều điều tốt lành, cả về mặt hiểu biết về con người và giáo huấn của Thánh Phao-lô, cả về mặt tâm linh tức tác động của những trang, những đoạn hoặc những câu Lời Chúa trong các Thư của Thánh Phao-lô trên tâm hồn và cuộc sống đức tin của chúng ta. Cùng với Ngài, chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa lời tri ân cảm tạ.

 

- Cùng cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Ki-tô Giê-su và là Cha của chúng con, chúng con cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Cha vì Cha đã ban cho Hội Thánh Cha một người con ưu tú là Phao-lô, một môn đệ xuất sắc noi gương cho chúng con bắt chước Chúa Ki-tô, một Tông Đồ Nhiệt Thành đã đóng góp bao nhiêu công sức cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng cho Dân Ngoại và xây dựng Hội Thánh thời khởi đầu.  Xin Cha ban cho chúng con lòng mến Chúa yêu người nồng nàn và tâm hồn cháy bỏng lửa Truyền Giáo của Thánh Phao-lô. Chúng con xin vì Danh Chúa Giê-su Ki-tô, Con Chúa, Chúa chúng con. A-men.

 

- Cùng hát:  TÌNH YÊU CHÚA CAO VỜI

ĐK: Tình yêu Chúa cao vời biết bao nào con biết đáp đền thế nào, để cho cân xứng Chúa ơi. Để cho cân xứng Chúa ơi.

PK 1: Ôi tình yêu thương Chúa cao vời, tình yêu thương Chúa muôn đời. Người yêu con tự ngàn xưa. Từ khi chưa có đồi non, từ khi chưa có trời cao, chưa có vầng trăng với ngàn sao. Gọi con giữa muôn muôn người, tìm con giữa nơi bùn nhơ.

PK 2: Ôi vì thương con Chúa quên mình, vì yêu nên hiến thân mình gọi con nên bạn tình Cha. Dù bao sóng gió hiểm nguy, dìu con trên bước đường đi, ơn Chúa ngày đêm ấp ủ con. Vì con Chúa quên thân mình, đời con dám mơ gì hơn.

PK 3: Con thành tâm dâng hiến trọn đời, thành tâm dâng hiến  xác hồn để nên tông đồ của Cha. Và nên nhân chứng của Cha, truyền rao chân lý của Cha, gieo rắc Lời Cha khắp gần xa. Đời con sẽ đi khắp miền, làm nhân chứng cho tình yêu

 

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us
===oOo===
Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.