Vai
trò
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
dưới
ánh
sáng
Công
Đồng
Vatican
II
và
trong
môi
trường
xã
hội
Việt
Nam
thực
tại
Sau
đây
là
bài
diễn
thuyết
ngày
15/9/2005
của
Đức
Cha
Phanxicô
Xaviê
Nguyễn
Văn
Sang
Như
chúng
ta
được
biết
Công
Đồng
chung
Vatican
II
được
long
trọng
khai
mạc
vào
ngày
11
tháng
10
Năm
1960
và
bế
mạc
ngày
8
tháng
12
năm
1965.
“Ngày
14
tháng
9
năm
1965,
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI
đã
mở
đầu
phiên
họp
thứ
4
của
Công
Đồng
bằng
một
bài
giảng
thuyết
đáng
phải
được
giữ
lại
trong
ký
ức
chúng
ta.
Người
nói:
‘Công
Đồng
làm
cho
chúng
ta
hiểu
rõ
hơn
rằng
Giáo
Hội
chúng
ta
là
một
Giáo
Hội
được
xây
dựng
trên
sự
hiệp
nhất
đức
tin
và
phổ
quát
tính
của
tình
yêu...
Và
tình
yêu
của
chúng
ta
ở
đây
đã
tiếp
nhận
và
sẽ
tiếp
nhận
các
hình
thức
biểu
thị
mang
đặc
tính
Công
Đồng
này.
Giáo
Hội
Công
Giáo
lúc
đó
đang
làm
gì?.
..Giáo
Hội
đã
yêu...
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
mục
vụ.
Giáo
Hội
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
truyền
giáo,...
và
Giáo
Hội
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
đại
kết...’”.
(Bài
giảng
tại
Công
Đồng
Vatican
II).
“Ngày
nay,
người
ta
nói
nhiều
về
một
Giáo
Hội
trong
tranh
luận.
Nói
đúng
ra
là
Công
Đồng
Vatican
II
đang
mời
gọi
chúng
ta
tranh
luận
trong
Giáo
Hội.
Là
một
Giáo
Hội
trong
tranh
luận
bao
hàm
cả
mối
nguy
hiểm
tập
trung
những
cái
nhìn
của
chúng
ta
vào
chính
chúng
ta.
Đúng
hơn,
chúng
ta
hãy
nói
về
tranh
luận
trong
Giáo
Hội.
Công
Đồng
đã
thực
hiện
cuộc
tranh
luận
ấy.
Trong
khi
khẳng
định
tính
giám
mục
đoàn,
Công
Đồng
đã
cho
phép
lập
lên
ở
mọi
cấp
độ,
những
cấu
trúc
Synode,
từ
Synode
Roma
đến
các
hội
đồng
linh
mục
và
đến
các
hội
đồng
mục
vụ
trong
các
giáo
phận
chúng
ta.
Biết
bao
nhiêu
địa
điểm
đối
thoại
tập
hợp
các
tham
dự
viên
đồng
nhất
cùng
một
quy
chế,
một
sứ
vụ
hoặc
một
thừa
tác
vụ,
vẫn
hoàn
toàn
mở
rộng
tới
cả
các
chuyên
viên,
các
quan
sát
viên
Kitô
và
tới
cả
các
khách
mời
khác
biệt
nhất
như
Công
Đồng
đã
làm
trước
đây
vậy.
Giáo
xứ
cũng
có
một
kinh
nghiệm
lớn
trong
những
lĩnh
vực
đó.
Sự
cộng
tác
linh
mục,
giáo
dân
với
nhau
đã
từ
lâu
là
một
thực
tại,
dù
cho
đây
đó
cũng
gặp
một
vài
khó
khăn
tạm
thời,...
Dù
thế
nào
đi
nữa
thì
cuộc
đối
thoại
này
cũng
phải
được
theo
đuổi,
được
ưu
tiên,
và
nhất
là
muốn
cho
chính
đối
thoại
đó
nên
như
phần
tử
cấu
tạo
nên
đời
sống
Giáo
Hội.
Việc
mọi
người
tham
dự
vào
đối
thoại
này
cũng
là
một
dấu
chỉ
cho
xã
hội
đương
thời
của
chúng
ta”.
(Trích
trong:
Vui
mừng
và
hy
vọng
-
40
năm
sau
Công
Đồng,
của
Đức
Cha
Anrê
ACRAMPE
-
Tổng
Giám
Mục
Besancon).
Vậy
đề
tài
mà
tôi
được
vinh
dự
trình
bày
ở
đây
là
một
trong
những
đề
tài
khá
quen
thuộc
đã
được
đề
cập
tới
ở
những
lĩnh
vực
khác
nhau
với
các
ý
nghĩa
khác
nhau
và
do
nhiều
Đấng
bậc
lỗi
lạc
trong
Giáo
Hội,
và
vẫn
còn
mời
gọi
chúng
ta
đào
sâu.
Nhưng
vốn
biết
bản
thân
không
đủ
khả
năng
bước
vào
cuộc
tranh
luận
đó,
nên
tôi
chỉ
đề
cập
tới
nó
như
một
chứng
nhân
lịch
sử
trước
và
sau
Công
Đồng
Vatican
II
ở
cả
hai
miền,
chủ
yếu
là
miền
Bắc
trong
đất
nước
Việt
Nam.
Vậy
nên
đề
tài
của
tôi
trình
bày
sẽ
là
vai
trò
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
dưới
Ánh
sáng
Công
đồng
Vatican
II
trong
môi
trường
xã
hội
Việt
Nam
thực
tại.
Do
hoàn
cảnh
đặc
biệt
của
đất
nước
nhiều
năm
bị
chia
đôi,
nhất
là
trong
thời
gian
diễn
ra
Công
đồng,
chúng
ta
bắt
buộc
phải
nói
tới
vai
trò
của
người
giáo
dân
ở
các
miền
Nam
Bắc
khác
nhau.
Trước
khi
có
Công
đồng
Vaticanô
II,
tôi
chỉ
xin
giới
hạn
từ
năm
1945
trở
đi,
nhất
là
từ
năm
1945
Miền
bắc
sống
dưới
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa,
miền
Nam
từ
vĩ
tuyến
17
trở
vào
dưới
chính
quyền
Sài
Gòn.
Vai
trò
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
miền
Bắc
trước
Công
đồng.
Nói
chung,
vai
trò
đó
được
tượng
trưng
bằng
hình
ảnh
quen
thuộc
nổi
tiếng:
Hình
ảnh
kim
tự
tháp,
“trong
đó
có
sự
phân
biệt
nền
tảng
giữa
giáo
sĩ
với
giáo
dân:
giáo
sĩ
nắm
trọn
mọi
quyền
hành,
còn
giáo
dân
chẳng
có
gì.
Hồng
y
Gasquet
kể
giai
thoại
sau:
ngày
kia
ở
giai
đoạn
tiền
Công
đồng,
một
người
dự
tòng
hỏi
một
linh
mục
Công
giáo
về
vị
thế
của
người
giáo
dân
trong
Giáo
Hội.
Vị
linh
mục
điềm
nhiên
trả
lời:
giáo
dân
có
2
vị
thế
trong
Giáo
hội:
Thứ
nhất
quì
gối
trước
bàn
thờ;
thứ
hai
ngồi
trên
ghế,
vị
Hồng
y
dí
dỏm
nói
thêm
người
ta
quên
mất
vai
trò
thứ
ba
là:
móc
ví
lấy
tiền
để
công
đức
cho
nhà
thờ”.
(Sứ
vụ
người
giáo
dân
trong
thời
đại
mới
trong
hội
thảo
Sống
Đạo
theo
cung
cách
Việt
Nam,
tác
giả
Lm.
Nguyễn
Thái
Hợp,
trang
114).
Ở
các
nước
Âu
châu,
nền
văn
minh
tôn
trọng
giá
trị
con
người,
địa
vị
giáo
dân
còn
như
vậy
thì
ở
Việt
Nam
trong
xã
hội
mang
chút
ít
phong
kiến
chịu
ảnh
hưởng
của
Nho
giáo,
thường
tôn
sùng
kính
trọng
quá
mức
đối
với
Bề
trên,
thì
vai
trò
và
địa
vị
của
người
giáo
dân
trước
Công
đồng
sẽ
ra
sao?
Tôi
còn
nhớ
khi
làm
linh
mục
đi
làm
lễ
ở
một
xứ
ngoại
thành
Hà
Nội,
trao
đổi
công
việc
với
ban
chánh
trương
trùm
trưởng,
thấy
họ
tự
ti,
tự
hạ
quá
đáng
đến
chỗ
mất
hết
sáng
kiến,
nực
cười.
Tôi
hỏi
một
vị
trùm
ở
xứ:
-
Mai
lễ
Chúa
nhật
các
ông
thích
làm
lễ
mấy
giờ?
-
Thưa
theo
ý
cha
mọi
đàng.
-
Sau
lễ
có
đi
rước
kiệu
như
mọi
khi
không?
-
Thưa
theo
ý
Cha
mọi
đàng.
-
Sau
lễ
có
dùng
bữa
như
mọi
khi
không?
-
Thưa
theo
ý
Cha
mọi
đàng.
Tôi
hơi
bực
mình
vì
có
ý
hỏi
đùa
ông,
Có
thể
họ
bị
ảnh
hưởng
về
một
số
nền
thần
học
lạc
hậu
trước
Công
đồng
cho
nên
có
thái
độ:
-
Khinh
thường
các
sự
việc
thế
gian.
-
Sống
co
cụm
trong
các
khu
vực
công
giáo.
-
Kỳ
thị
các
tôn
giáo
khác
v.v...
Cũng
trong
thời
kỳ
đó,
vai
trò
của
các
giáo
dân
miền
Nam
cũng
gần
giống
như
đồng
bào
của
họ
ở
miền
Bắc,
song
nhờ
vào
tiếp
xúc
nhiều
với
nền
văn
hóa
xứ
tây
âu,
nhiều
thành
phần
tri
thức
hơn,
nhiều
hội
đoàn
tiên
tiến
trong
Giáo
Hội
như
Công
giáo
tiến
hành,
Thanh
lao
công
v.v...
Người
giáo
dân
cải
thiện
vai
trò
và
vị
trí
của
mình
trong
Giáo
Hội
địa
phương.
Giai
đoạn
1954
tới
1975
trong
đó
có
gian
đoạn
diễn
ra
Công
đồng
chung
Vaticanô
II
1960
-
1965.
A-
Miền
Bắc
xã
hội
chủ
nghĩa,
chế
độ
bao
cấp
thịnh
hành,
nên
người
giáo
dân
Việt
Nam
ít
nhiều
khó
tìm
được
vai
trò
đúng
đắn
của
mình
trong
Giáo
Hội.
Vô
tri
bất
mộ,
suốt
thời
gian
Công
đồng
diễn
ra
cũng
như
sau
đó
một
tháng,
hầu
như
ánh
sáng
của
Công
đồng
không
lọt
tới
được
miền
Bắc,
ngay
cả
tới
hàng
giáo
sĩ,
chưa
nói
tới
hàng
ngũ
giáo
dân.
Sau
khi
Công
đồng
bế
mạc
tới
3,
4
năm,
tôi
đang
dạy
tại
Đại
Chủng
Viện
Hà
Nội
mới
được
một
vị
trong
Mặt
Trận
Tổ
Quốc
T.P.
Hà
Nội
cho
một
cuốn
sách
tài
liệu
về
các
bản
văn
Công
đồng
bằng
tiếng
pháp,
sau
khi
đã
ca
ngợi
hướng
đi
đúng
đắn
và
tiến
bộ
của
Công
đồng
Vatican
II,
phải
đợi
tới
khi
Đức
Tổng
Giám
Mục
giáo
phận
Hà
Nội
Giuse
M.
Trịnh
Văn
Căn
tham
dự
Thượng
Hội
đồng
thế
giới
về
Giáo
lý
trở
về
mang
được
một
số
sách
nói
về
Công
đồng,
nhất
là
sau
khi
đất
nước
thống
nhất
vào
năm
1975,
những
thông
tin
tốt
đẹp
của
Công
đồng
được
phổ
biến
cho
giáo
dân
miền
Bắc
trong
các
nhà
thờ,
các
lớp
giáo
lý,
sự
đi
lại
giao
lưu
giữa
giáo
dân
hai
miền
Nam-Bắc,
tất
cả
đã
đóng
góp
cho
các
giáo
dân
miền
Bắc
thấy
vai
trò
của
họ:
là
sống
tính
cách
trần
thế
của
họ
giữa
cuộc
đời,
dấn
thân
phục
vụ
con
người,
nhất
là
con
người
nghèo
khổ,
tôn
trọng
những
giá
trị
của
các
thực
tại
trần
gian,
đoàn
kết
yêu
thương
đối
thoại
với
các
tôn
giáo,
nhiệm
vụ
truyền
giáo
v.v...
Nhưng
do
thiếu
thốn
các
linh
mục
trầm
trọng
ở
miền
Bắc,
thiếu
người
hướng
dẫn
tốt,
thiếu
sách
vở,
nên
tình
trạng
người
giáo
dân
Việt
Nam
ở
miền
Bắc
ý
thức
được
việc
làm
của
mình
trong
Giáo
Hội
địa
phương
và
nhất
là
đem
ra
sống
thực
tế
trong
xã
hội,
ở
mức
độ
yếu
kém.
Đàng
khác
do
một
số
giáo
dân
vào
Nam
học
tập
không
thấu
đáo
về
những
điểm
tiến
bộ
của
Công
đồng
chung
Vatican
II
đem
về
phổ
biến
cho
giáo
dân
nên
gây
ra
tình
trạng
lộn
xộn,
tranh
dành
quyền
lợi
với
hàng
giáo
sĩ
và
với
nhau.
Dẫu
thế,
cuộc
sống
của
người
giáo
dân
miền
Bắc
mặc
dù
sống
trong
hoàn
cảnh
không
nhiều
thuận
lợi
nhưng
nhờ
vào
tác
động
của
Chúa
Thánh
Thần,
đã
có
những
nét
tốt
đẹp
khác
phù
hợp
với
nội
dung
Công
đồng
chung
Vatican
II:
như
đức
tin
sống
mạnh
mẽ,
lòng
trung
thành
tuyệt
đối
với
Giáo
Hội,
sự
sùng
kính
mãnh
liệt
đối
với
Đức
Mẹ
Maria.
Trong
bài
phát
biểu
tại
Thượng
Hội
Đồng
thế
giới
về
giáo
dân,
tôi
đã
từng
nói:
“Giáo
dân
Việt
Nam
đã
sống
các
lý
tưởng
của
Công
đồng
trước
khi
biết
đến
Công
đồng
theo
đúng
câu
phương
ngôn
Latinh:
Primum
vivere,
Deinde
Philosophare:
“Đầu
tiên
là
sống
trước
đã
rồi
triết
lý
sau”.
Và
trong
bài
phát
biểu
khác
ở
Thượng
Hội
Đồng
thế
giới
về
Á
châu,
tôi
tả
vẽ
hình
ảnh
một
người
mẹ
công
giáo
Việt
Nam
đầu
đội
thúng
gạo,
tay
trái
dắt
con
nhỏ,
tay
phải
cầm
tràng
hạt
lần
kính
Đức
Mẹ,
và
trích
câu
nói
của
nhà
văn,
đại
ý:
“Đạo
đức
mê
tín
đến
như
vậy
làm
sao
cải
tạo
được,
mọi
cố
gắng
ở
đây
đều
như
hòn
đá
ném
xuống
ao
tù,
mặt
ao
đầy
váng
có
tan
ra
trong
chốc
lát,
rồi
lại
khép
vào
đâu
vẫn
hoàn
đấy”.
Sức
sống
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
miền
Bắc
là
như
vậy.
Trong
môi
trường
xã
hội
Việt
Nam
thực
tại
Như
chúng
ta
được
biết
Công
Đồng
chung
Vatican
II
được
long
trọng
khai
mạc
vào
ngày
11
tháng
10
Năm
1962
và
bế
mạc
ngày
8
tháng
12
năm
1965.
“Ngày
14
tháng
9
năm
1965,
Đức
Thánh
Cha
Phaolô
VI
đã
mở
đầu
phiên
họp
thứ
4
của
Công
Đồng
bằng
một
bài
giảng
thuyết
đáng
phải
được
giữ
lại
trong
ký
ức
chúng
ta.
Người
nói:
‘Công
Đồng
làm
cho
chúng
ta
hiểu
rõ
hơn
rằng
Giáo
Hội
chúng
ta
là
một
Giáo
Hội
được
xây
dựng
trên
sự
hiệp
nhất
đức
tin
và
phổ
quát
tính
của
tình
yêu...
Và
tình
yêu
của
chúng
ta
ở
đây
đã
tiếp
nhận
và
sẽ
tiếp
nhận
các
hình
thức
biểu
thị
mang
đặc
tính
Công
Đồng
này.
Giáo
Hội
Công
Giáo
lúc
đó
đang
làm
gì?..
.Giáo
Hội
đã
yêu...
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
mục
vụ.
Giáo
Hội
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
truyền
giáo,...
và
Giáo
Hội
đã
yêu
bằng
một
quả
tim
đại
kết...’”.
(Bài
giảng
tại
Công
Đồng
Vatican
II).
“Ngày
nay,
người
ta
nói
nhiều
về
một
Giáo
Hội
trong
tranh
luận.
Nói
đúng
ra
là
Công
Đồng
Vatican
II
đang
mời
gọi
chúng
ta
tranh
luận
trong
Giáo
Hội.
Là
một
Giáo
Hội
trong
tranh
luận
bao
hàm
cả
mối
nguy
hiểm
tập
trung
những
cái
nhìn
của
chúng
ta
vào
chính
chúng
ta.
Đúng
hơn,
chúng
ta
hãy
nói
về
tranh
luận
trong
Giáo
Hội.
Công
Đồng
đã
thực
hiện
cuộc
tranh
luận
ấy.
Trong
khi
khẳng
định
tính
giám
mục
đoàn,
Công
Đồng
đã
cho
phép
lập
lên
ở
mọi
cấp
độ,
những
cấu
trúc
Synode,
từ
Synode
Roma
đến
các
hội
đồng
linh
mục
và
đến
các
hội
đồng
mục
vụ
trong
các
giáo
phận
chúng
ta.
Biết
bao
nhiêu
địa
điểm
đối
thoại
tập
hợp
các
tham
dự
viên
đồng
nhất
cùng
một
quy
chế,
một
sứ
vụ
hoặc
một
thừa
tác
vụ,
vẫn
hoàn
toàn
mở
rộng
tới
cả
các
chuyên
viên,
các
quan
sát
viên
Kitô
và
tới
cả
các
khách
mời
khác
biệt
nhất
như
Công
Đồng
đã
làm
trước
đây
vậy.
Giáo
xứ
cũng
có
một
kinh
nghiệm
lớn
trong
những
lĩnh
vực
đó.
Sự
cộng
tác
linh
mục,
giáo
dân
với
nhau
đã
từ
lâu
là
một
thực
tại,
dù
cho
đây
đó
cũng
gặp
một
vài
khó
khăn
tạm
thời,...
Dù
thế
nào
đi
nữa
thì
cuộc
đối
thoại
này
cũng
phải
được
theo
đuổi,
được
ưu
tiên,
và
nhất
là
muốn
cho
chính
đối
thoại
đó
nên
như
phần
tử
cấu
tạo
nên
đời
sống
Giáo
Hội.
Việc
mọi
người
tham
dự
vào
đối
thoại
này
cũng
là
một
dấu
chỉ
cho
xã
hội
đương
thời
của
chúng
ta”.
(Trích
trong:
Vui
mừng
và
hy
vọng
-
40
năm
sau
Công
Đồng,
của
Đức
Cha
Anrê
ACRAMPE
-
Tổng
Giám
Mục
Besancon).
Vậy
đề
tài
mà
tôi
được
vinh
dự
trình
bày
ở
đây
là
một
trong
những
đề
tài
khá
quen
thuộc
đã
được
đề
cập
tới
ở
những
lĩnh
vực
khác
nhau
với
các
ý
nghĩa
khác
nhau
và
do
nhiều
Đấng
bậc
lỗi
lạc
trong
Giáo
Hội,
và
vẫn
còn
mời
gọi
chúng
ta
đào
sâu.
Nhưng
vốn
biết
bản
thân
không
đủ
khả
năng
bước
vào
cuộc
tranh
luận
đó,
nên
tôi
chỉ
đề
cập
tới
nó
như
một
chứng
nhân
lịch
sử
trước
và
sau
Công
Đồng
Vatican
II
ở
cả
hai
miền,
chủ
yếu
là
miền
Bắc
trong
đất
nước
Việt
Nam.
Vậy
nên
đề
tài
của
tôi
trình
bày
sẽ
là
vai
trò
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
dưới
Ánh
sáng
Công
đồng
Vatican
II
trong
môi
trường
xã
hội
Việt
Nam
thực
tại.
Do
hoàn
cảnh
đặc
biệt
của
đất
nước
nhiều
năm
bị
chia
đôi,
nhất
là
trong
thời
gian
diễn
ra
Công
đồng,
chúng
ta
bắt
buộc
phải
nói
tới
vai
trò
của
người
giáo
dân
ở
các
miền
Nam
Bắc
khác
nhau.
Trước
khi
có
Công
đồng
Vaticanô
II,
tôi
chỉ
xin
giới
hạn
từ
năm
1945
trở
đi,
nhất
là
từ
năm
1945
Miền
bắc
sống
dưới
chế
độ
xã
hội
chủ
nghĩa,
miền
Nam
từ
vĩ
tuyến
17
trở
vào
dưới
chính
quyền
Sài
Gòn.
Vai
trò
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
miền
Bắc
trước
Công
đồng.
Nói
chung,
vai
trò
đó
được
tượng
trưng
bằng
hình
ảnh
quen
thuộc
nổi
tiếng:
Hình
ảnh
kim
tự
tháp,
“trong
đó
có
sự
phân
biệt
nền
tảng
giữa
giáo
sĩ
với
giáo
dân:
giáo
sĩ
nắm
trọn
mọi
quyền
hành,
còn
giáo
dân
chẳng
có
gì.
Hồng
y
Gasquet
kể
giai
thoại
sau:
ngày
kia
ở
giai
đoạn
tiền
Công
đồng,
một
người
dự
tòng
hỏi
một
linh
mục
Công
giáo
về
vị
thế
của
người
giáo
dân
trong
Giáo
Hội.
Vị
linh
mục
điềm
nhiên
trả
lời:
giáo
dân
có
2
vị
thế
trong
Giáo
hội:
Thứ
nhất
quì
gối
trước
bàn
thờ;
thứ
hai
ngồi
trên
ghế,
vị
Hồng
y
dí
dỏm
nói
thêm
người
ta
quên
mất
vai
trò
thứ
ba
là:
móc
ví
lấy
tiền
để
công
đức
cho
nhà
thờ”.
(Sứ
vụ
người
giáo
dân
trong
thời
đại
mới
trong
hội
thảo
Sống
Đạo
theo
cung
cách
Việt
Nam,
tác
giả
Lm.
Nguyễn
Thái
Hợp,
trang
114).
Ở
các
nước
Âu
châu,
nền
văn
minh
tôn
trọng
giá
trị
con
người,
địa
vị
giáo
dân
còn
như
vậy
thì
ở
Việt
Nam
trong
xã
hội
mang
chút
ít
phong
kiến
chịu
ảnh
hưởng
của
Nho
giáo,
thường
tôn
sùng
kính
trọng
quá
mức
đối
với
Bề
trên,
thì
vai
trò
và
địa
vị
của
người
giáo
dân
trước
Công
đồng
sẽ
ra
sao?
Tôi
còn
nhớ
khi
làm
linh
mục
đi
làm
lễ
ở
một
xứ
ngoại
thành
Hà
Nội,
trao
đổi
công
việc
với
ban
chánh
trương
trùm
trưởng,
thấy
họ
tự
ti,
tự
hạ
quá
đáng
đến
chỗ
mất
hết
sáng
kiến,
nực
cười.
Tôi
hỏi
một
vị
trùm
ở
xứ:
-
Mai
lễ
Chúa
nhật
các
ông
thích
làm
lễ
mấy
giờ?
-
Thưa
theo
ý
cha
mọi
đàng.
-
Sau
lễ
có
đi
rước
kiệu
như
mọi
khi
không?
-
Thưa
theo
ý
Cha
mọi
đàng.
-
Sau
lễ
có
dùng
bữa
như
mọi
khi
không?
-
Thưa
theo
ý
Cha
mọi
đàng.
Tôi
hơi
bực
mình
vì
có
ý
hỏi
đùa
ông,
Có
thể
họ
bị
ảnh
hưởng
về
một
số
nền
thần
học
lạc
hậu
trước
Công
đồng
cho
nên
có
thái
độ:
-
Khinh
thường
các
sự
việc
thế
gian.
-
Sống
co
cụm
trong
các
khu
vực
công
giáo.
-
Kỳ
thị
các
tôn
giáo
khác
v.v...
Cũng
trong
thời
kỳ
đó,
vai
trò
của
các
giáo
dân
miền
Nam
cũng
gần
giống
như
đồng
bào
của
họ
ở
miền
Bắc,
song
nhờ
vào
tiếp
xúc
nhiều
với
nền
văn
hóa
xứ
tây
âu,
nhiều
thành
phần
tri
thức
hơn,
nhiều
hội
đoàn
tiên
tiến
trong
Giáo
Hội
như
Công
giáo
tiến
hành,
Thanh
lao
công
v.v...
Người
giáo
dân
cải
thiện
vai
trò
và
vị
trí
của
mình
trong
Giáo
Hội
địa
phương.
Giai
đoạn
1954
tới
1975
trong
đó
có
gian
đoạn
diễn
ra
Công
đồng
chung
Vaticanô
II
1960
-
1965.
A-
Miền
Bắc
xã
hội
chủ
nghĩa,
chế
độ
bao
cấp
thịnh
hành,
nên
người
giáo
dân
Việt
Nam
ít
nhiều
khó
tìm
được
vai
trò
đúng
đắn
của
mình
trong
Giáo
Hội.
Vô
tri
bất
mộ,
suốt
thời
gian
Công
đồng
diễn
ra
cũng
như
sau
đó
một
tháng,
hầu
như
ánh
sáng
của
Công
đồng
không
lọt
tới
được
miền
Bắc,
ngay
cả
tới
hàng
giáo
sĩ,
chưa
nói
tới
hàng
ngũ
giáo
dân.
Sau
khi
Công
đồng
bế
mạc
tới
3,
4
năm,
tôi
đang
dạy
tại
Đại
Chủng
Viện
Hà
Nội
mới
được
một
vị
trong
Mặt
Trận
Tổ
Quốc
T.P.
Hà
Nội
cho
một
cuốn
sách
tài
liệu
về
các
bản
văn
Công
đồng
bằng
tiếng
pháp,
sau
khi
đã
ca
ngợi
hướng
đi
đúng
đắn
và
tiến
bộ
của
Công
đồng
Vatican
II,
phải
đợi
tới
khi
Đức
Tổng
Giám
Mục
giáo
phận
Hà
Nội
Giuse
M.
Trịnh
Văn
Căn
tham
dự
Thượng
Hội
đồng
thế
giới
về
Giáo
lý
trở
về
mang
được
một
số
sách
nói
về
Công
đồng,
nhất
là
sau
khi
đất
nước
thống
nhất
vào
năm
1975,
những
thông
tin
tốt
đẹp
của
Công
đồng
được
phổ
biến
cho
giáo
dân
miền
Bắc
trong
các
nhà
thờ,
các
lớp
giáo
lý,
sự
đi
lại
giao
lưu
giữa
giáo
dân
hai
miền
Nam-Bắc,
tất
cả
đã
đóng
góp
cho
các
giáo
dân
miền
Bắc
thấy
vai
trò
của
họ:
là
sống
tính
cách
trần
thế
của
họ
giữa
cuộc
đời,
dấn
thân
phục
vụ
con
người,
nhất
là
con
người
nghèo
khổ,
tôn
trọng
những
giá
trị
của
các
thực
tại
trần
gian,
đoàn
kết
yêu
thương
đối
thoại
với
các
tôn
giáo,
nhiệm
vụ
truyền
giáo
v.v...
Nhưng
do
thiếu
thốn
các
linh
mục
trầm
trọng
ở
miền
Bắc,
thiếu
người
hướng
dẫn
tốt,
thiếu
sách
vở,
nên
tình
trạng
người
giáo
dân
Việt
Nam
ở
miền
Bắc
ý
thức
được
việc
làm
của
mình
trong
Giáo
Hội
địa
phương
và
nhất
là
đem
ra
sống
thực
tế
trong
xã
hội,
ở
mức
độ
yếu
kém.
Đàng
khác
do
một
số
giáo
dân
vào
Nam
học
tập
không
thấu
đáo
về
những
điểm
tiến
bộ
của
Công
đồng
chung
Vatican
II
đem
về
phổ
biến
cho
giáo
dân
nên
gây
ra
tình
trạng
lộn
xộn,
tranh
dành
quyền
lợi
với
hàng
giáo
sĩ
và
với
nhau.
Dẫu
thế,
cuộc
sống
của
người
giáo
dân
miền
Bắc
mặc
dù
sống
trong
hoàn
cảnh
không
nhiều
thuận
lợi
nhưng
nhờ
vào
tác
động
của
Chúa
Thánh
Thần,
đã
có
những
nét
tốt
đẹp
khác
phù
hợp
với
nội
dung
Công
đồng
chung
Vatican
II:
như
đức
tin
sống
mạnh
mẽ,
lòng
trung
thành
tuyệt
đối
với
Giáo
Hội,
sự
sùng
kính
mãnh
liệt
đối
với
Đức
Mẹ
Maria.
Trong
bài
phát
biểu
tại
Thượng
Hội
Đồng
thế
giới
về
giáo
dân,
tôi
đã
từng
nói:
“Giáo
dân
Việt
Nam
đã
sống
các
lý
tưởng
của
Công
đồng
trước
khi
biết
đến
Công
đồng
theo
đúng
câu
phương
ngôn
Latinh:
Primum
vivere,
Deinde
Philosophare:
“Đầu
tiên
là
sống
trước
đã
rồi
triết
lý
sau”.
Và
trong
bài
phát
biểu
khác
ở
Thượng
Hội
Đồng
thế
giới
về
Á
châu,
tôi
tả
vẽ
hình
ảnh
một
người
mẹ
công
giáo
Việt
Nam
đầu
đội
thúng
gạo,
tay
trái
dắt
con
nhỏ,
tay
phải
cầm
tràng
hạt
lần
kính
Đức
Mẹ,
và
trích
câu
nói
của
nhà
văn,
đại
ý:
“Đạo
đức
mê
tín
đến
như
vậy
làm
sao
cải
tạo
được,
mọi
cố
gắng
ở
đây
đều
như
hòn
đá
ném
xuống
ao
tù,
mặt
ao
đầy
váng
có
tan
ra
trong
chốc
lát,
rồi
lại
khép
vào
đâu
vẫn
hoàn
đấy”.
Sức
sống
của
người
giáo
dân
Việt
Nam
miền
Bắc
là
như
vậy.
B-
Vai
trò
của
giáo
dân
miền
Nam.
Chúng
tôi
không
đề
cập
tới
khía
cạnh
chính
trị
của
vấn
đề
để
khỏi
phải
gọi
ai
là
ngụy
quân
ngụy
quyền
như
Cha
Thiện
Cẩm
đã
có
lần
viết
trên
tập
san
Công
Giáo
Và
Dân
Tộc,
song
phải
khách
quan
mà
nói.
Những
giai
đoạn
từ
1954
tới
khi
thống
nhất,
cả
những
năm
hiện
tại,
người
giáo
dân
miền
Nam
sống
trong
một
xã
hội
mở
ra
thế
giới
bên
ngoài.
Đã
mở
cửa
thì
phải
chịu
hậu
quả
tốt
xấu.
Đón
làn
gió
mát
thời
cũng
hứng
chịu
những
ruồi
muỗi
bay
vào.
Những
nếp
sống
xa
đọa
của
thế
giới
hưởng
thụ
đã
tràn
vào
phá
hoại
không
ít
những
gia
đình
giáo
dân
Việt
Nam,
nhất
là
đám
thanh
niên
nam
nữ,
làm
lung
lay
những
khung
mộng
của
nền
lễ
giáo.
Nhưng
cũng
làn
gió
mới
thổi
từ
Công
đồng
Vatican
II
đã
đến
Việt
Nam
nhờ
vào
cánh
cửa
rộng
mở
này.
Các
Giám
Mục
có
thể
tới
dự
các
phiên
họp
Công
đồng.
Các
sách
vở
báo
chí
thông
tin
về
Công
đồng
được
phổ
biến
rộng
rãi.
Cuốn
sách
dịch
công
phu
của
Học
viện
Đà
lạt
mang
ánh
sáng
Công
đồng
đến
cho
dân
Chúa
ở
Việt
Nam
suốt
mấy
chục
năm
qua,
tạo
điều
kiện
cho
giáo
dân
ý
thức
được
rõ
rệt
vai
trò
để
dấn
thân
phục
vụ
kết
quả
hơn
do
tính
cách
thế
trần
của
họ.
Các
hội
đoàn
giáo
dân
xuất
hiện
ngày
càng
nhiều
và
làm
cho
sự
phục
vụ,
dấn
thân
thêm
đa
dạng
và
kết
quả.
Ngày
nay,
các
khách
tới
thăm
miền
Nam
đều
ca
ngợi
một
Giáo
hội
Việt
Nam
đầy
sức
sống.
Hội
đoàn
có
những
sinh
hoạt
phong
phú,
các
lớp
học
về
Tôn
Giáo
đa
dạng,
các
dòng
tu
hội
đoàn
dấn
thân
hoạt
động
hiệu
quả.
Tuy
còn
một
số
khó
khăn
nhất
định,
song
hàng
ngũ
giáo
dân
đã
ý
thức
được
vai
trò
của
mình
trong
Giáo
Hội
với
xã
hội
và
đem
ra
thực
hiện
để
xây
dựng
sự
hưng
thịnh
ngày
nay.
Trong
các
lớp
đàn
anh
tre
già
nhưng
vẫn
còn
cứng
cựa,
còn
măng
non
mọc
lên
cũng
chứa
chan
sức
trẻ.
Họ
chính
là
chủ
lực
cho
Giáo
Hội
phía
Nam,
còn
là
kho
dự
trữ
để
tiếp
tế
cho
anh
em
phía
Bắc.
Chúng
tôi
được
biết
rõ
các
giáo
dân
miền
Bắc
vào
Nam
lập
nghiệp,
song
cũng
là
để
học
hỏi
về
giáo
lý,
tu
đức,
sinh
hoạt
hội
đoàn
ngày
càng
đông,
và
cũng
khích
lệ
các
anh
chị
em
giáo
dân
trong
Nam
bằng
cách
này
cách
khác
quan
tâm
và
nỗ
lực
giúp
đỡ
anh
chị
em
mình,
đón
ánh
sáng
Công
đồng,
sống
đúng
vai
trò
của
mình
trong
Giáo
Hội
và
xã
hội.
C-
Ngày
nay
trong
một
đất
nước
hoàn
toàn
thống
nhất,
đã
thoát
khỏi
quan
liêu
bao
cấp,
mở
rộng
nhiều
mặt
về
kinh
tế,
chính
trị
v.v...
chúng
tôi
mong
muốn
câu
nói:
“Miền
Nam
đi
trước
về
sau
(về
mặt
chính
trị)
và
miền
Bắc
đi
trước
về
sau
(về
mặt
tôn
giáo)
không
thành
sự
thực.
Các
giáo
dân
miền
Nam
đã
ý
thức
vai
trò
của
mình
được
ánh
sáng
Công
đồng
Vaticanô
II
và
đóng
vai
trò
đó
mạnh
mẽ
trong
xã
hội
ngày
nay
được
tạo
mọi
điều
kiện
tốt
hơn
nữa
để
công
cuộc
phục
vụ
dấn
thân
với
tính
thế
trần
của
họ.
Các
giáo
dân
miền
Bắc
nói
chung
vẫn
còn
mu
mơ
trong
ý
thức
vai
trò
của
mình
dưới
ánh
sáng
Công
đồng
Vatican
II,
còn
yếu
kém
hơn
trong
việc
thực
hiện
vai
trò
đó
trong
Giáo
Hội
và
xã
hội.
Một
lý
do
quan
trọng
nhất
là
họ
thiếu
hướng
dẫn,
thiếu
học
tập,
nói
chung
thiếu
sách
vở,
thiếu
thầy
dạy.
Điều
này
rất
khó
khắc
phục
với
nhân
sự
hiếm
hoi
như
lá
mùa
thu
và
yếu
kém
ở
miền
Bắc.
Điều
mong
ước
là
được
các
chuyên
viên
về
giáo
lý,
về
các
hội
đoàn
giáo
dân
từ
miền
Nam
công
khai
được
ra
giúp
đỡ
anh
em
mình
ở
miền
Bắc.
Đất
nước
ta
đã
thống
nhất
mở
ra
trong
nhiều
lãnh
vực,
chúng
ta
đón
các
giáo
sư,
các
chuyên
viên
quốc
tế
giảng
dạy
ở
Việt
Nam,
tạo
điều
kiện
cho
các
cuộc
giao
lưu
mọi
miền
trong
đất
nước,
vậy
tại
sao
vẫn
“bế
quan
tỏa
cảng”
đối
với
các
vấn
đề
tôn
giáo.
Đây
là
lúc
chứng
tỏ
năng
lực
hữu
hiệu
của
Ủy
Ban
Đoàn
Kết
và
các
Ủy
ban
làm
cầu
nối
trong
xã
hội,
không
nên
để
tình
trạng
“bí
quá”
phải
“làm
chui”
vừa
tác
hại
nhiều
mặt
và
nhiều
phía.
-
Về
phía
các
tổ
chức,
hội
đoàn,
việc
xử
dụng
giáo
dân
trong
các
cơ
cấu
nên
rộng
rãi
hơn.
Ủy
Ban
đoàn
kết
là
của
ai,
gồm
những
ai,
tôi
nghĩ,
có
thể
là
một
hình
thức
nào
đó
giúp
giáo
dân
sống
tính
cách
trần
thế
của
mình,
không
nên
chỉ
do
hàng
giáo
sĩ
tham
gia
điều
khiển.
Tôi
nghe
dịp
thành
lập
Ủy
Ban
đoàn
kết
trong
giáo
phận
Xuân
Lộc,
có
tới
100
linh
mục
đăng
ký
tham
gia,
còn
“chỗ”
đâu
dành
cho
giáo
dân!!!
-
Ngay
về
phía
Giáo
Hội,
cũng
cần
có
sự
mạnh
dạn
rộng
rãi
hơn,
nhất
là
lòng
tin
vào
người
giáo
dân.
Họ
là
số
đông
trong
Giáo
Hội
nhưng
rất
ít
người
là
bè
rối
bè
đảng
hơn
các
Đấng
các
bậc.
Các
Hội
nghị
dành
cho
giáo
dân,
các
phái
đoàn
đi
“phó”
hội
không
nên
chỉ
gồm
có
Giám
mục,
Linh
mục,
Tu
sĩ
nam
nữ
mà
dành
ít
nhiều
chỗ
cho
giáo
dân.
Đại
hội
giới
trẻ
mỗi
năm
của
Việt
Nam
ở
thế
giới
thành
phần
giáo
dân
cũng
quá
ít,
luôn
chỉ
giữ
vai
trò
phụ:
hát
hò,
múa
nhảy,
không
có
cơ
hội
phát
huy
khả
năng
là
sứ
ngôn
của
Chúa
Kitô
theo
Bí
Tích
Rửa
Tội.
Mấy
lần
công
du
nước
ngoài,
tôi
gặp
các
bạn
bè
năm
châu
đều
ca
ngợi
Việt
Nam
chúng
ta
có
ổn
định
an
ninh
trật
tự,
nhất
là
khéo
tổ
chức
các
hội
nghị
lớn
thành
công
tốt
đẹp
như:
Tiger
Cup,
Seagame
22,
Agribankcup,
Cộng
đồng
nói
tiếng
Pháp,
Asean,
Assam
v.v...
nhưng
họ
chê
tôi
là
lạc
hậu:
“Ông
là
Chủ
Tịch
Ủy
Ban
giáo
dân
mà
không
tổ
chức
được
một
hội
nghị
nào
mang
tầm
vóc
quốc
tế
như:
Đại
Hội
giới
trẻ
ở
Paris,
Tôrôntô,
Rôma,
Philipin,
thậm
chí
nơi
rất
ít
Công
giáo
như
Thái
Lan,
Ấn
Độ
v.v..
Ở
Việt
Nam,
tại
thủ
đô
Hà
Nội
có
sân
Mỹ
đình
có
thể
dùng
làm
nơi
diễn
ra
các
cuộc
Hội
nghị
an
toàn,
trật
tự,
an
ninh...
mà
sân
đó
cũng
ít
người
thuê
trong
năm.
Tôi
nghe
lời
trở
về,
đề
cập
điều
đó
với
các
vị
có
trách
nhiệm,
được
các
vị
trả
lời:
“Xưa
nay
không
có
thói
quen
đó.
Phải
đợi”.
Từ
đó
đến
nay,
3
năm
trôi
qua,
chúng
tôi
sắp
sửa
đón
tiếp
vị
Bộ
Trưởng
Bộ
Truyền
Giáo
Tòa
thánh
Vatican
sang
thăm
Việt
Nam
và
dự
định
phong
chức
cho
gần
100
linh
mục
miền
Bắc.
Con
số
người
tham
dự
sẽ
rất
đông,
dự
liệu
có
thể
40
đến
50
ngàn
người.
Đức
Tổng
Giám
Mục
Hà
Nội
cũng
đề
nghị
xin
giúp
cho
thuê
sân
Mỹ
đình
để
giải
quyết
các
vấn
đề
trật
tự
giao
thông,
an
ninh
ổn
định,
và
cũng
một
câu
trả
lời:
“Xưa
nay
chưa
có
thói
quen.
Hãy
đợi
đấy”.
Hay
là
các
vị
chưa
thực
sự
tin
vào
giáo
dân
Công
giáo
Việt
Nam.
Hãy
điểm
lại
các
vi
phạm
luật
lệ,
an
ninh
trật
tự
từ
khi
đất
nước
thống
nhất
cho
tới
nay:
có
thể
là
rất
ít
người
Công
giáo
so
với
các
tổ
chức
và
cộng
đoàn
khác.
Tôi
cũng
tâm
đắc
với
bài
báo
của
cụ
Nguyên
Thủ
Tướng
Võ
Văn
Kiệt
đăng
trên
báo
Tuổi
trẻ
số
96/2005,
ra
ngày
30/4/2005
có
đoạn
viết:
“Nhìn
những
cháu
bé
đang
chơi
với
nhau
ấy,
làm
sao
có
thể
phân
biệt
được
cháu
nào
là
con
Quốc
Gia,
cháu
nào
là
con
Cộng
Sản
(tôi
xin
thêm:
cháu
nào
là
theo
đạo
Công
giáo,
hay
Phật
giáo
v.v...).
Cố
Tổng
Giám
Mục
Nguyễn
Văn
Bình
nhất
trí
với
tôi:
“Chỉ
có
người
lớn
mới
phải
chịu
trách
nhiệm
về
những
sự
phân
biệt
ấy”.
Nhất
là
chúng
ta
đánh
giá
thế
nào
về
suy
nghĩ
của
Thủ
Tướng
đương
nhiệm:
Mùa
Xuân
năm
2000,
Ban
Thường
vụ
Hội
Đồng
Giám
Mục
Việt
Nam
tới
chào
Thủ
tướng
Phan
Văn
Khải,
chúng
tôi
được
nghe
Thủ
tướng
nói:
“Nơi
nào
có
đồng
bào
(giáo
dân)
công
giáo
sống,
nơi
đó
ít
có
nếp
sống
tiêu
cực,
xì
ke
ma
túy,
nơi
đó
có
an
toàn
và
giữ
dìn
trật
tự
an
ninh
tốt”.
Chúng
tôi
cám
ơn
Thủ
tướng
và
xin
Ngài
tạo
mọi
điều
kiện
cho
chúng
tôi
giúp
đỡ
giáo
dân
duy
trì
và
phát
triển
nếp
sống
tốt
lành
đó.
Ngày
nay
giáo
dân
Việt
Nam
ý
thức
được
vai
trò
của
mình
dưới
ánh
sáng
Công
đồng
Vatican
II,
vẫn
còn
rực
sáng
soi
trên
mọi
nẻo
đường,
đang
và
sẽ
làm
cho
cuộc
sống
của
giáo
dân
“tốt
đời
tươi
đạo”.
Tôi
muốn
đổi
câu
nói
thường
ngày
“tốt
đời
đẹp
đạo”
lại
thành
“tốt
đời
tươi
đạo”,
vì
câu
đối
trên
không
chỉnh
trong
lãnh
vực
văn
chương,
nhất
là
dưới
ánh
sáng
của
Công
Đồng
Vatican
II:
giáo
dân
Việt
Nam
phải
lạc
quan
yêu
đời,
tôn
trọng
thực
tại
trần
thế
sống
đạo
tươi
vui
như
những
bông
hoa
tươi
rực
rỡ
muôn
màu,
như
các
các
bạn
trẻ
xinh
tươi,
hứa
hẹn
một
cuộc
sống
sáng
tươi.
Chúng
ta
hãy
nghe
lời
khuyên
của
các
Đức
Giám
Mục
trong
bức
thư
mục
vụ
năm
2005
gửi
cộng
đồng
dân
Chúa
tại
Việt
Nam:
“Trong
một
xã
hội
còn
thiếu
tôn
trọng
sự
thật,
Kitô
hữu
phải
tập
và
nêu
gương
sống
ngay
thẳng.
Trong
một
xã
hội
còn
thiếu
tôn
trọng
sự
sống
con
người,
Kitô
hữu
quyết
tâm
cổ
võ
và
bảo
vệ
nền
văn
hóa
sự
sống.
Trong
một
xã
hội
chạy
theo
lợi
nhuận,
thiếu
tôn
trọng
phẩm
giá
con
người,
gạt
người
nghèo
sang
bên
lề
cuộc
sống...
Kitô
hữu
được
mời
gọi
dấn
thân
xây
dựng
nền
văn
minh
tình
thương”.
Đúng
như
nghị
quyết
của
Hội
nghị
lần
thứ
7
Ban
Chấp
Hành
Trung
Ương
Đảng
Cộng
Sản
Việt
Nam
khóa
IX:
“Vì
tôn
giáo
chính
là
nhu
cầu
tinh
thần
đang
và
sẽ
tồn
tại
cùng
dân
tộc”.
Giám
Mục
Thái
Bình
GM
Nguyễn
Văn
Sang
Vietcatholic
