CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
III
-
CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
–
HÔM
QUA
VÀ
HÔM
NAY
Bốn
mươi
năm
sau
khi
Công
Đồng
Vatican
II
bế
mạc,
sự
thay
đổi
sâu
xa
đang
còn
vang
động
trong
lòng
Giáo
Hội
từ
những
hành
lang
giáo
đô
Vatican
cho
đến
những
dãy
ghế
trong
những
giáo
xứ
địa
phương.
Bốn
khóa
họp
của
Công
Đồng
từ
1962
đến
1965
và
16
văn
kiện
hiện
đại
hóa
về
phụng
vụ,
đổi
mới
nếp
sống
linh
mục
và
tu
sĩ,
đề
cao
vai
trò
giáo
dân,
việc
mở
ra
những
cuộc
đối
thoại
với
các
giáo
hội
khác
và
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo,
cùng
sự
nhận
diện
Giáo
Hội
như
là
“dân
Chúa”
đã
hài
hòa
những
vấn
nạn
và
niềm
hy
vọng
của
thế
giới.
Mặc
dù
Công
Đồng
không
đưa
ra
một
tín
lý
mới,
nhưng
những
tín
hữu
Công
giáo
sống
qua
thời
đại
Công
Đồng
Vatican
II
không
bao
giờ
quên
được
những
thay
đổi,
đôi
khi
đột
xuất,
đã
xảy
ra
trong
những
cộng
đoàn
Giáo
Hội
vào
thập
niên
1960.
Vào
ngày
25-01-1959,
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
công
bố
ý
định
triệu
tập
Công
Đồng
II.
Đó
là
công
đồng
chung
thứ
21
trong
lịch
sử
Giáo
Hội.
Trong
bốn
khóa
họp
của
Công
Đồng
từ
1962
đến
1965,
có
147
biên
bản
và
2,212
diễn
văn
cũng
như
4,361
bài
can
thiệp
bằng
viết.
Vào
năm
1962
có
2,908
nghị
phụ
hợp
lệ.
Số
giám
mục
tham
dự
trung
bình
hằng
ngày
là
2,200
vị.
Có
460
chuyên
viên
được
chính
thức
bổ
nhiệm,
gồm
235
linh
mục
triều,
45
linh
mục
Dòng
Tên,
42
linh
mục
Dòng
Đa-Minh
và
15
linh
mục
Dòng
Phan-xi-cô.
Công
Đồng
có
168
cuộc
họp
công
khai
với
10
cuộc
họp
khoáng
đại.
DIỂN
TIẾN
CÔNG
ĐỒNG
1958
-
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
lên
ngôi
giáo
hoàng
ngày
28
tháng
10.
1959-
Đức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
công
bố
kế
hoạch
triệu
tập
Công
Đồng.
Khi
ký
văn
kiện
triệu
tập,
Đức
Thánh
Cha
đã
minh
định:
xã
hội
tân
tiến
đang
có
nhiều
tiến
bộ
về
khoa
học
và
kỹ
thuật,
nhưng
không
có
sự
tiến
bộ
tương
ứng
về
phong
hóa.
Vì
vậy
Ngài
sẽ
triệu
tập
Công
Đồng
để
Giáo
Hội
có
thể
đóng
góp
một
cách
tích
cực
cho
một
giải
pháp
đối
với
những
vấn
nạn
của
thời
đại
tân
tiến.
1962
-
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII,
khi
khai
mạc,
đã
tuyên
bố
mục
tiêu
của
Công
Đồng
nhằm
tiêu
trừ
những
mầm
mống
bất
hòa
và
cổ
võ
hòa
bình
cùng
hợp
nhất
giữa
cộng
đồng
nhân
loại.
KHÓA
I
kéo
dài
từ
ngày
11
tháng
10
đến
ngày
8
tháng
12,
bao
gồm
36
cuộc
họp
công
khai.
1963
-
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
lên
ngôi
giáo
hoàng
ngày
21
tháng
6.
KHÓA
II
kéo
dài
từ
ngày
29
tháng
9
đến
ngày
4
tháng
12,
bao
gồm
43
cuộc
họp
công
khai
và
kết
thúc
với
những
văn
kiện
về
phụng
vụ
và
truyền
thông
xã
hội.
1964
-
KHÓA
III
kéo
dài
từ
ngày
14
tháng
9
đến
ngày
21
tháng
11
bao
gồm
48
cuộc
họp
công
khai
và
kết
thúc
với
sự
công
bố
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội
và
tách
rời
những
sắc
lệnh
về
đại
kết
với
các
sắc
lệnh
về
các
Giáo
Hội
Công
giáo
Đông
phương.
1965
-
KHÓA
IV
kéo
dài
từ
ngày
14
tháng
9
đến
ngày
8
tháng
12
bao
gồm
41
cuộc
họp
công
khai
và
kết
thúc
với
những
sắc
lệnh
về
chức
vụ
giám
mục,
đào
tạo
linh
mục,
đời
sống
tu
sĩ,
mục
vụ
của
linh
mục,
sinh
hoạt
truyền
giáo
và
vai
trò
giáo
dân.
Ngoài
ra
còn
có
những
tuyên
cáo
về
giáo
dục
Kitô
giáo,
tự
do
tôn
giáo
và
liên
lạc
với
các
tôn
giáo
ngoài
Kitô
giáo;
Hiến
Chế
Mục
vụ
của
Giáo
Hội
đối
với
Thế
Giới
Tân
Tiến
và
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Mạc
Khải
của
Chúa.
NHỮNG
CẢI
TIẾN
CỦA
CÔNG
ĐỒNG
Trước
hết
bàn
thờ
được
xoay
lại
để
linh
mục
đối
diện
với
giáo
dân.
Thánh
Lễ
bằng
La
ngữ
được
thay
thế
bằng
Thánh
Lễ
dùng
ngôn
ngữ
bản
xứ.
Việc
thi
hành
các
bí
tích
khác
được
cập
nhật
hóa
và
đơn
giản
hóa.
Những
nam
nữ
tu
sĩ
chấp
nhận
một
kiểu
tu
phục
tân
thời
hơn.
Không
phải
mọi
thay
đổi
đều
xảy
ra
tức
thời,
tuy
nhiên
các
vị
lãnh
đạo
Giáo
Hội
đã
bắt
đầu
một
tiến
trình
lâu
dài
và
đôi
khi
có
phần
xung
khắc
về
việc
duyệt
lại
hầu
hết
mọi
lãnh
vực
thuộc
đời
sống
mục
vụ,
từ
việc
dạy
giáo
lý
cho
đến
tông
đồ
giáo
dân.
Cha
Dario
Vitali
giảng
dạy
môn
lịch
sử
Giáo
Hội
ở
Đại
Học
Giáo
Hoàng
tại
Vatican
đã
nói:
“Công
Đồng
biểu
hiệu
một
cuộc
cách
mạng
của
Copernic
đối
với
Giáo
Hội
đang
tự
thách
đố
mình
bằng
cách
tự
vấn
làm
thế
nào
Giáo
Hội
có
thể
nối
lại
cuộc
đối
thoại
với
thế
giới
tân
tiến.
Qua
Công
Đồng,
Giáo
Hội
tiến
lại
gần
hơn
với
những
người
nam
cũng
như
người
nữ
hiện
đại
và
làm
cho
Phúc
Âm
có
ý
nghĩa
hơn
đối
với
họ.
Nếu
không
có
Công
Đồng
Vatican
II,
tôi
thiết
nghĩ
Giáo
Hội
ngày
nay
có
thể
trở
thành
một
nhóm
nhỏ,
co
cụm
lại
với
những
lễ
nghi
mà
não
trạng
tân
tiến
hiện
đại
không
thể
hiểu
được.”
Không
phải
mọi
viên
chức
trong
Giáo
Hội
nhìn
xem
Công
Đồng
một
cách
tích
cực.
Một
số
tín
hữu
Công
giáo
còn
luyến
tiếc
việc
phụng
vụ
của
thời
xa
xưa
và
đôi
khi
một
số
viên
chức
Giáo
Hội,
kể
cả
nhiều
vị
ở
tại
giáo
triều
Roma,
đã
công
kích
cách
thức
mà
người
ta
am
tường
và
thực
thi
những
huấn
thị
của
Công
Đồng.
Trong
nhiều
trường
hợp,
cuộc
tranh
luận
phản
ảnh
những
vấn
đề
đã
tranh
cãi
sôi
nổi
ngay
trong
thời
Công
Đồng.
Ngày
8
tháng
12
năm
nay
(2005)
kỷ
niệm
ngày
bế
mạc
Công
Đồng
vào
năm
1965,
và
mùa
thu
năm
nay,
thành
phố
Roma
và
giáo
đô
Vatican
đã
tiếp
đón
nhiều
cuộc
gặp
gỡ
để
duyệt
lại
việc
Giáo
Hội
đã
dấn
thân
như
thế
nào
trong
bốn
thập
niên
qua.
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI
đã
tham
dự
Công
Đồng
với
tư
cách
là
một
chuyên
viên
thần
học,
đã
nhắc
tới
tầm
mức
quan
trọng
của
những
văn
kiện
Công
Đồng.
Mặc
dù
Ngài
có
công
kích
một
vài
sự
đổi
thay
trong
thời
hậu
Công
Đồng,
Đức
Thánh
Cha
đã
công
bố
rõ
ràng
là
Vatican
II
sẽ
là
“kim
chỉ
nam”
đối
với
triều
đại
giáo
hoàng
của
Ngài.
Đã
hẵn
kim
chỉ
nam
định
rõ
phương
hướng,
vì
vậy
tùy
vị
tân
Giáo
Hoàng
sẽ
cung
cấp
chi
tiết.
Đức
Thánh
Cha
đã
nhấn
mạnh
việc
kiện
toàn
Công
Đồng
là
một
công
tác
đang
triển
khai
trong
lòng
Giáo
Hội,
chứ
không
chỉ
là
một
biến
cố
đã
xảy
ra
cách
đây
40
năm.
Mục
tiêu
chắc
chắn
là
đừng
làm
cho
Công
Đồng
Vatican
II
trở
thành
một
sự
kiện
lịch
sử
xa
xưa
đối
với
những
thế
hệ
trẻ
thuộc
tầng
lớp
giáo
hữu
ngày
nay.
Alberto
Melloni,
một
sử
gia
về
Giáo
Hội
học
trong
thời
đại
Công
Đồng
Vatican
II
đã
nói:
“Những
tín
hữu
Công
giáo
trẻ
trung
hơn
có
thể
không
quan
tâm
đến
Công
Đồng
trên
bình
diện
trí
thức,
nhưng
họ
tiếp
tục
chứng
nghiệm
những
thành
quả
của
Công
Đồng.
Nhờ
Công
Đồng,
giới
trẻ
được
chỉ
bảo
cho
biết
thế
giới
không
phải
là
mối
đe
dọa
đối
với
đời
sống
Kitô
hữu,
nhưng
là
một
cơ
hội
để
loan
báo
Tin
Mừng.”
Vatican
II
đôi
khi
được
mô
tả
như
một
cuộc
cách
mạng,
nhưng
Công
Đồng
diễn
ra
không
phải
hoàn
toàn
bất
ngờ.
Đã
có
20
công
đồng
trước
kia
qua
suốt
chiều
dài
lịch
sử
Giáo
Hội,
kể
cả
Công
Đồng
Vatican
I
vào
những
năm
1869-1870.
Vatican
I
xác
định
tín
điều
giáo
hoàng
bất
khả
ngộ
và
tính
ưu
việt
thuộc
quyền
tài
phán
của
giáo
hoàng,
nhưng
công
đồng
nầy
đã
đình
chỉ
khi
chiến
tranh
xảy
ra
ở
Âu
châu
và
không
bao
giờ
bắt
đầu
trở
lại.
Sự
hăng
say
về
thần
học
vào
giữa
thế
kỷ
20
đã
giúp
xây
đắp
nền
móng
cho
Công
Đồng
Vatican
II.
Những
nhà
thần
học
đi
tiên
phong
như
linh
mục
Dòng
Đa-Minh
Yves
Congar
và
các
linh
mục
Dòng
Tên
như
John
Courtney
Murray
và
Henri
de
Lubac
đã
cố
gắng
bắt
nhịp
cầu
giữa
những
chân
lý
thời
xa
xưa
của
Kitô
giáo
và
thế
giới
hiện
đại.
Cả
ba
vị
đều
im
hơi
lặng
tiếng
theo
một
cung
cách
nào
đó
vào
thập
niên
1950,
nhưng
đã
xuất
hiện
và
trở
thành
những
tiếng
nói
quan
trọng
của
Công
Đồng.
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
đã
làm
cho
hầu
hết
mọi
người
sửng
sốt
khi
công
bố
Ngài
sẽ
triệu
tập
Công
Đồng,
chỉ
ba
tháng
sau
khi
được
bầu
làm
giáo
hoàng.
Ngài
đề
cập
đến
nhu
cầu
phải
cập
nhựt
hóa
Giáo
Hội
và
cổ
võ
sự
hiệp
nhất
Kitô
giáo.
Ngài
cho
biết,
trên
tất
cả,
Ngài
muốn
chứng
tỏ
cho
thế
giới
tân
tiến
là
Giáo
Hội
đã
thay
đổi
và
được
tăng
cường
trên
bình
diện
trí
thức.
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
cho
biết
thế
giới
được
đánh
dấu
bởi
sự
nghèo
nàn
về
tâm
linh
và
cần
Giáo
Hội
tiếp
sức,
nhưng
về
sau
Ngài
nói
rằng
Giáo
Hội
muốn
cống
hiến
cho
thế
giới
tân
tiến
“liều
thuốc
của
lòng
từ
bi”
chứ
không
phải
sự
kết
án
nghiêm
khắc.
Sự
chuẩn
bị
cho
Công
Đồng
gần
ba
năm
và
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
mặc
dù
được
chẩn
đoán
bị
ung
thư
khi
công
Đồng
khai
mạc,
đã
chủ
tọa
khóa
I
vào
mùa
thu
1962
là
khóa
đầu
tiên
trong
tất
cả
bốn
khóa
đều
xảy
ra
cũng
vào
mùa
thu.
Sự
mời
gọi
những
viên
chức
thuộc
Tin
Lành,
Chính
Thống
và
những
thành
phần
khác
không
thuộc
Công
giáo
tham
dự
Công
Đồng
đã
làm
cho
Vatican
II
trở
thành
một
biến
cố
lịch
sử.
Đức
Giáo
Hoàng
Phaolồ
VI
đã
hướng
dẫn
để
công
tác
của
Công
Đồng
được
hoàn
tất,
bằng
cách
chủ
tọa
ba
khóa
họp
kia
và
điều
hướng
sự
liên
tục
của
những
công
tác
quan
trọng
thuộc
các
lãnh
vực
phụng
vụ,
đại
kết,
đời
sống
tu
sĩ
và
Phúc
Âm
hóa.
Khoảng
2,000
đến
2,500
giám
mục
đã
tham
dự
mỗi
khóa
họp
của
Công
Đồng
và
các
tham
dự
viên
cho
biết
những
cuộc
thảo
luận
được
xếp
loại
từ
phát
biểu
tự
do
với
lời
lẽ
ôn
tồn
cho
tới
cả
việc
tranh
cãi
không
phải
là
không
có.
Một
thí
dụ
khi
bảng
dự
thảo
đầu
tiên
của
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội
(tức
“Lumen
Gentium”
-
Ánh
Sáng
Muôn
Dân)
được
trình
bày,
đã
bị
công
kích
thẳng
thắn
là
mang
tính
chất
khải
hoàn
ca,
có
tính
cách
giáo
sĩ
và
nhằm
hợp
pháp
hóa.
Văn
kiện
đã
được
chấp
thuận
sau
hai
năm
với
nhiều
tu
chính.
Ngay
từ
đầu,
các
giám
mục
xác
nhận
rằng
vai
trò
của
họ
không
chỉ
cập
nhật
hóa
những
việc
thực
hành
đạo
giáo
mà
còn
là
một
tiến
trình
“trở
về
nguồn”,
hay
trở
về
với
nguồn
cội
Đức
Tin.
Ở
giữa
các
tham
dự
vên
có
một
cảm
thức
chung
là
họ
thực
sự
đang
làm
nên
lịch
sử,
như
Đức
Giám
Mục
Frank
Fernando
ở
Chilaw,
Sri
Lanka,
đã
phát
biểu.
Ngài
là
một
trong
số
ít
những
người
còn
hăng
say
hoạt
động
trong
những
giám
mục
đã
tham
dự
ít
nhất
một
khóa
họp
của
Công
Đồng.
Ngài
nói:
“Cuộc
thào
luận
rất
có
phương
pháp,
với
nhiều
trao
đổi
quan
điểm.
Văn
kiện
được
trình
đi
trình
lại
với
nhiều
tu
chính
mà
các
giám
mục
đã
nghiên
cứu.
Do
đó
những
văn
kiện
của
Công
Đồng
được
gọt
dũa,
chứ
không
phải
là
những
tài
liệu
được
trình
bày
hôm
nay
và
hôm
sau
được
thông
qua.”
Cuối
cùng,
Công
Đồng
đã
ban
bố
bốn
hiến
chế
về
phụng
vụ,
bản
chất
và
cơ
cấu
Giáo
Hội,
Giáo
Hội
trong
thế
giới
hiện
đại
và
mặc
khải
của
Chúa.
Công
Đồng
cũng
ban
hành
chín
sắc
lệnh
về
Giáo
Hội
và
truyền
thông,
đại
kết,
các
Giáo
Hội
Công
giáo
Đông
phương,
các
giám
mục,
sự
đào
tạo
linh
mục,
đời
sống
tu
sĩ,
giáo
dân
và
hoạt
động
thừa
sai.
Công
đồng
cũng
đã
ban
bố
ba
tuyên
ngôn
về
các
tôn
giáo
không
thuộc
Kitô
giáo,
nền
giáo
dục
Kitô
giáo
và
tự
do
tôn
giáo.
Phần
đông
các
chuyên
viên
đã
liệt
kê
những
thành
quả
lớn
lao
của
Công
Đồng
như
là
một
đường
hướng
giúp
hiểu
rõ
Giáo
Hội
như
là
“dân
Chúa”
và
không
chỉ
là
một
cơ
cấu
cấp
bực
và
như
là
“bí
tích”
cho
thế
giới
với
một
sứ
vụ
tích
cực
trong
mọi
lãnh
vực
của
xã
hội
nhân
sinh.
Hiến
chế
“Ánh
Sáng
Muôn
Dân”
đã
trình
bày
Giáo
Hội
như
là
một
huyền
nhiệm
và
một
cộng
đoàn
các
tín
hữu
đã
được
nhận
lãnh
Bí
Tích
Thánh
Tẩy
đang
tiến
tới
quê
trời
như
là
một
nhiệm
thể
thánh
thiện,
tuy
nhiên
bất
toàn
trong
khi
đang
ở
nơi
trần
thế.
Văn
kiện
đã
nói
rõ
là
mặc
dù
tổ
chức
theo
đẳng
cấp,
Giáo
Hội
trong
tư
cách
một
cộng
đồng
là
nhiệm
thể
sống
động
mà
những
thành
phần
được
mời
gọi
nên
thánh
và
mỗi
một
thành
viên
giữ
một
vai
trò
riêng,
có
những
đặc
quyền
và
trách
nhiệm
riêng.
Hiến
Chế
về
Mục
Vụ
Giáo
Hội
trong
Thế
Giới
Tân
Tiến
(“Vui
Mừng
và
Hy
Vọng”)
được
viết
ra
cho
những
độc
giả
trung
bình
hơn
và
được
chấp
thuận
vào
năm
1965,
trong
cuộc
bỏ
phiếu
cuối
cùng
của
Công
Đồng.
Đức
Giám
Mục
Fernando
nhớ
lại
thời
gian
đó
rất
rõ
và
ngài
cho
biết
Hiến
Chế
“Vui
Mầng
và
Hy
Vọng”
là
văn
kiện
quan
trọng
hơn
hết
mà
Công
Đồng
đã
ban
bố.
Ngài
còn
nói
thêm:
nhiều
giám
mục
nghĩ
rằng
những
văn
kiện
đầu
tiên
của
Công
Đồng
nhắm
tới
những
chuyên
viên
và
mong
muốn
văn
kiện
sau
cùng
nầy
chuyển
tải
một
sứ
điệp
cho
toàn
thế
giới.
“Vui
Mầng
và
Hy
Vọng”
kêu
gọi
Giáo
Hội
dấn
thân
đối
thoại
với
xã
hội
hiện
đại
và
những
vấn
nạn
của
xã
hội
đó,
mang
giáo
huấn
và
những
giá
trị
luân
lý
của
Giáo
Hội
cho
một
thế
giới
quá
tả
tơi
bởi
hận
thù,
chiến
tranh
và
bất
công.
Văn
kiện
nhận
chân
khoa
học
và
văn
hóa
có
những
điều
để
ban
bố
cho
Giáo
Hội,
nhưng
văn
kiện
cũng
xác
định
Giáo
Hội
có
sứ
mệnh
thánh
hóa
thế
giới
chung
quanh.
Trong
những
năm
sau
khi
Công
Đồng
bế
mạc,
sự
đổi
mới
mà
Công
Đồng
phác
họa
đã
được
tinh
luyện
và
soạn
thành
những
điều
luật
bằng
một
số
sắc
lệnh,
quy
tắc
và
những
thay
đổi
trong
giáo
luật.
Giáo
Hội
đã
chứng
kiến
rất
nhiều
đổi
thay:
-
Quyển
“Sách
Lễ
Roma
mới”
được
ấn
hành
năm
1970
với
một
chu
kỳ
mới
gồm
những
bài
đọc
nhằm
cống
hiến
một
sự
chọn
lựa
phong
phú
những
đoạn
Thánh
Kinh
thích
ứng.
Năm
phụng
vụ
được
đơn
giản
hóa.
Những
nghi
thức
bí
tích
được
duyệt
lại
nhằm
nhấn
mạnh
đến
những
khía
cạnh
có
tính
cách
cộng
đồng
trong
việc
hiến
tế.
Nghi
Thức
Khai
Tâm
đối
với
người
trưởng
thành
được
phục
hồi
và
cải
tiến.
Với
những
thay
đổi
đang
tiến
hành,
sự
tham
gia
phụng
vụ
cách
tích
cực
đã
gia
tăng
một
cách
đột
ngột
trong
nhiều
cộng
đoàn
địa
phương
của
Giáo
Hội.
-
“Mục
vụ
giáo
dân”
được
gia
tăng
bội
phần.
Những
giáo
dân
đọc
sách
thánh
và
làm
thừa
tác
viên
Thánh
Thể
xuất
hiện
trong
các
Thánh
Lễ.
Giáo
dân
được
đại
diện
trong
các
hội
đồng
giáo
xứ
và
những
ủy
ban
giáo
phận.
Những
nam
nữ
giáo
dân
mà
nhiều
người
có
văn
bằng
thần
học
đã
thay
thế
các
giáo
sĩ
trong
nhiều
chức
vụ
điều
hành
Giáo
Hội.
-
Bàng
bạc
trong
Giáo
Hội,
người
ta
chú
tâm
đổi
mới
việc
“học
hỏi
Thánh
Kinh”,
phụng
vụ
và
nền
linh
đạo
có
tính
cách
riêng
tư.
-
Các
“Giáo
Hội
Công
giáo
Đông
phương”
được
khuyến
khích
trở
về
với
những
truyền
thống
riêng
của
họ,
chấm
dứt
một
thời
kỳ
La
ngữ
hóa
và
mở
ra
một
sự
đánh
giá
mới
về
tính
cách
đa
dạng
trong
lòng
Giáo
Hội
hoàn
vũ.
-
Vấn
đề
“đại
kết”
được
phong
phú
hóa
qua
những
cuộc
đối
thoại
chính
thức
giữa
các
viên
chức
Công
giáo
và
các
giáo
hội
Kitô
giáo
khác
cũng
như
trong
các
buổi
cầu
nguyện
hay
trao
đổi
thân
mật
ở
các
cấp
địa
phương.
-
Sau
khi
Công
Đồng
công
nhận
có
thể
có
sự
cứu
rỗi
đối
với
những
người
ngoài
Kitô
giáo,
Giáo
Hội
cũng
bắt
đầu
“đối
thoại
với
các
tôn
giáo
khác”.
-
“Đời
sống
tu
trì”
cũng
thay
đổi
một
cách
đột
xuất,
như
các
hội
dòng
chấp
nhận
những
qui
tắc
và
viết
lại
hiến
pháp,
có
một
cái
nhìn
mới
liên
quan
đến
quyền
bính,
cộng
đoàn
và
căn
tính.
-
Công
Đồng
tái
lập
chức
“phó
tế
vĩnh
viễn”
như
một
thánh
chức
và
cho
phép
các
người
nam
lập
gia
đình
được
tấn
phong
phó
tế
vĩnh
viễn.
Hiện
nay
có
hơn
19,000
phó
tế
vĩnh
viễn
trên
thế
giới.
-
Công
Đồng
dạy
rằng
Đức
Giáo
Hoàng
cùng
với
các
giám
mục
làm
thành
một
cơ
cấu
chung
đưa
tới
việc
thành
lập
những
hội
đồng
giám
mục.
“Thượng
Hội
Đồng
Giám
Mục
Thế
Giới”
được
thành
lập
để
gặp
gỡ
thường
xuyên
và
cố
vấn
cho
Đức
Thánh
Cha.
-
Nền
“thần
học”
được
phục
hoạt,
nhất
là
nền
thần
học
luân
lý,
càng
ngày
càng
tập
trung
vào
nguồn
gốc
Thánh
kinh
và
lương
tâm
cá
nhân,
hơn
là
luật
lệ
và
quyền
bính
Giáo
Hội.
-
Công
Đồng
nhấn
mạnh
sự
liên
đới
với
nhân
loại
thay
vì
phân
cách
khỏi
thế
giới
trần
tục
và
điều
đó
dẫn
tới
sự
nở
rộ
những
“sinh
hoạt
bác
ái
xã
hội”.
Những
cấp
lãnh
đạo
Giáo
Hội
thường
xuyên
nhắc
nhở
đến
sự
đồng
nhất
hóa
của
Giáo
Hội
với
những
người
nghèo
và
người
đau
khổ
và
Đức
Giáo
Hoàng
trở
thành
người
biện
hộ
cho
nhân
quyền
mạnh
mẽ
nhất.
-
Cùng
một
trật,
Giáo
Hội
trải
qua
một
số
“diễn
biến
đầy
ưu
tư”,
như
việc
giảm
sút
thê
thảm
về
ơn
gọi
và
sự
gia
tăng
số
lượng
đối
với
nhiều
linh
mục
và
tu
sĩ
xin
hoàn
tục.
Số
người
tham
dự
Thánh
Lễ
giảm
xuống
ở
nhiều
nơi,
nhiều
người
không
đi
xưng
tội
và
sự
bất
đồng
quan
điểm
đối
với
một
số
giáo
huấn
như
ngừa
thai
đang
lan
tràn.
-
Tất
cả
những
điều
đó
đã
làm
hâm
nóng
trở
lại
cuộc
tranh
luận
qua
bốn
thập
niên
nên
cần
thiết
“phải
đọc
lại
một
cách
thích
đáng”
và
nhất
là
việc
“thực
thi
Công
Đồng”.
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
trước
đây
đôi
khi
đã
lên
tiếng
chỉ
trích
trong
các
cuộc
tranh
luận
đó,
nhưng
Ngài
luôn
phân
biệt
rõ
rệt
giữa
Công
Đồng
và
việc
thực
thi
những
giáo
huấn
của
Công
Đồng.
Ngài
đã
cho
biết
điều
làm
thương
tổn
Giáo
Hội
trong
thập
niên
tiếp
theo
sau
Công
Đồng
Vatican
II
“không
phải
Công
Đồng
nhưng
là
sự
chối
từ
chấp
nhận
Công
Đồng.”
(Phỏng
theo
John
Thavis
-
Vatican
City
-
CNS)
