CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
VI
-ĐỨC
GIÁO
HOÀNG
PHAOLỒ
VI
ĐIỀU
HƯỚNG
VÀ
KIỆN
TOÀN
CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
Khi
Đức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
băng
hà
vào
tháng
6
năm
1963,
Công
Đồng
Vatican
II
vừa
mới
bắt
đầu.
Tám
chục
vị
Hồng
Y
đã
tập
họp
bầu
vị
giáo
hoàng
kế
tục
mà
vị
đó
có
thể
đình
chỉ
hay
hủy
bỏ
công
đồng.
Thay
vào
đó,
các
ngài
đã
bầu
Đức
Giáo
Hoàng
Phao-lồ
VI
là
vị
đã
tức
thời
tuyên
bố
ý
định
muốn
thấy
Công
Đồng
tiếp
tục
và
tái
xác
nhận
mục
tiêu
của
Đức
Giáo
Hoàng
Gioan
XXIII
là
muốn
làm
cho
Công
Đồng
trở
thành
khí
cụ
đổi
mới
cho
Giáo
Hội.
Khóa
họp
đầu
tiên
của
Công
Đồng
-
từ
ngày
11
tháng
10
đến
ngày
8
tháng
12
năm
1962
–
đã
không
đưa
ra
một
văn
kiện
quan
trọng
nào.
Hôm
trước
ngày
chấm
dứt
khóa
họp,
các
vị
giám
mục
đã
bỏ
phiếu
phần
đầu
của
Hiến
Chế
về
Phụng
Vụ
Thánh
và
đã
chấp
thuận
với
một
tỉ
số
lớn
lao
về
những
nguyên
tắc
cải
tổ
phụng
vụ
bao
gồm
việc
thờ
phượng
có
thể
dùng
ngôn
ngữ
địa
phương
và
những
nghi
thức
phụng
vụ
được
thích
nghi
với
những
nền
văn
hóa
địa
phương.
Khi
họp
lại
trong
ba
khóa
kế
tiếp
vào
các
mùa
thu
dưới
triều
đại
của
Đức
Giáo
Hoàng
Phao-lồ
VI,
Công
Đồng
đã
đưa
ra
16
hiến
chế,
những
sắc
lệnh
hay
tuyên
ngôn
mà
nhiều
văn
bản
cho
thấy
sự
dấn
thân
thâm
sâu
của
Giáo
Hội.
Linh
mục
Joseph
A.
Komonchak
đã
nói:
“Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
có
một
ý
thức
tổ
chức
công
tác
khả
quan
hơn
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
trước
kia.”
Cha
là
một
thần
học
gia
thuộc
Đại
Học
Công
Giáo
Hoa
Kỳ
và
là
người
đảm
trách
tài
liệu
về
Lịch
sử
Vatican
II
gồm
5
quyển
-
một
tập
nghiên
cứu
chung
quyết
của
một
nhóm
học
giả
quốc
tế.
Trong
một
cuộc
phỏng
vấn,
cha
Komonchak
cho
biết
sau
khóa
I
của
Công
Đồng,
Đức
Hồng
Y
Giovanni
Battista
Montini
là
vị
sẽ
trở
thành
Giáo
Hoàng
Phao-lồ
sau
nầy,
trong
một
cuộc
nói
chuyện,
Ngài
đã
phát
biểu
là
Công
Đồng
cần
một
trọng
điểm
hợp
nhất.
Cha
Komonchak
còn
nói
thêm:
“Trong
diễn
văn
khai
mạc
Khóa
II
và
đó
là
lần
đầu
tiên
Ngài
chủ
tọa,
Ngài
đã
làm
cho
Giáo
Hội
trở
thành
chủ
đề
chính
của
Công
Đồng,
nghĩa
là
Giáo
Hội
phải
tự
nhận
thức
về
chính
mình,
Giáo
Hội
nghĩ
về
mình
như
thế
nào
và
Giáo
Hội
nghĩ
về
tương
quan
của
mình
với
thế
giới
ra
sao?”
Và
cha
cũng
cho
biết
trong
“Ecclesiam
Suam”
(Giáo
Hội
của
Chúa)
–
Thông
Điệp
đầu
tiên
của
Ngài
-
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
đã
mạnh
mẽ
đề
xướng
bằng
những
lời
lẽ
hùng
hồn
và
mỹ
lệ
về
khái
niệm
đối
thoại.
Đó
là
một
trong
những
đặc
điểm
chính
của
những
tài
liệu
Công
Đồng
về
đối
thoại
với
những
tín
hữu
Kitô
giáo
khác,
với
những
tín
đồ
các
tôn
giáo
khác,
với
thế
giới
tân
tiến…
Những
người
lớn
tuổi
đều
nhớ
lại
rất
ít
có
sự
đối
thoại
diễn
ra
giữa
các
tín
hữu
Công
giáo
và
không
Công
giáo,
nhất
là
ở
Bắc
Mỹ.
Lúc
bấy
giờ
vấn
đề
đại
kết
thường
được
Roma
kiểm
soát
rất
chặt
chẽ.
Riêng
đối
với
việc
đối
thoại
với
thế
gới
tân
tiến,
thái
độ
nổi
bật
là
luôn
luôn
ngờ
vực
và
kết
án.
Đức
Giáo
Hoàng
Phao-lồ
VI,
theo
lời
cha
Komonchak,
“đã
bắt
đầu
từ
từ
nắm
vai
trò
lãnh
đạo
nhiều
hơn
cho
nên
khi
một
thiểu
số
khư
khư
bày
tỏ
sự
dè
dặt
đối
với
giáo
lý
về
giám
mục
đoàn
trong
chương
3
của
“Ánh
Sáng
Muôn
Dân”,
Ngài
đã
ra
lệnh
thêm
vào
một
lời
chú
thích
có
tính
cách
chuẩn
bị
và
làm
nền
tảng
mà
trên
đó
các
giám
mục
sẽ
bỏ
phiếu
về
chương
đó.
Ngài
cũng
can
thiệp
cho
đến
phần
kết
thúc
liên
quan
tới
Sắc
Lệnh
về
Đại
Kết.”
Những
hành
động
đó
làm
xoa
dịu
một
thiểu
số
những
viên
chức
cao
cấp
thuộc
Giáo
Triều
Roma,
tuy
ít
ỏi
nhưng
có
quyền
lực
điều
khiển,
vì
họ
nghĩ
rằng
Công
Đồng
đã
đi
quá
xa
đối
với
một
số
vấn
đề”
Cha
Komonchak
nói:
“Tôi
thiết
tưởng
Ngài
cương
quyết
không
để
cho
Công
Đồng
được
nối
tiếp
bằng
một
cuộc
ly
giáo
và
Ngài
không
muốn
một
thiểu
số
-
trong
trường
hợp
nầy
là
“thiểu
số
bảo
thủ”
-
có
thể
than
phiền
về
cung
cách
mà
họ
đã
bị
đối
xử
tại
Công
Đồng
Vatican
II
như
cách
thức
mà
“thiểu
số
tự
do”
tại
Công
Đồng
Vatican
I
đã
than
phiền.
Vì
vậy
Ngài
đã
làm
bất
cứ
điều
gì
hầu
có
thể
đạt
tới
một
sự
đồng
thuận
càng
nhiều
càng
tốt
đối
với
những
vấn
đề
gây
nhiều
tranh
luận.”
Cha
Komonchak
cho
biết
Đức
Giáo
Hoàng
Phao-lồ
VI
cũng
đã
can
thiệp
vào
những
giai
đoạn
soạn
thảo
của
Công
Đồng
đối
với
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Mạc
Khải
của
Chúa.
Linh
mục
thần
học
gia
đó
nói:
“Ngài
nhấn
mạnh
là
họ
đã
đưa
ra
một
văn
bản
về
sự
tương
quan
giữa
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền
và
một
văn
bản
khác
về
sử
tính
của
Thánh
Kinh
mà
Ngài
nhận
thấy
văn
bản
thứ
nhất
xem
ra
tối
nghĩa.
Ngài
muốn
đưa
ra
một
công
thức
có
thể
gợi
lên
một
vấn
đề
chưa
được
giải
quyết
là
Thánh
Truyền
chứa
đựng
những
chân
lý
mà
Thánh
Kinh
không
có,
và
điều
đó
đã
thể
hiện
trong
văn
bản
cuối
cùng.”
Cha
Komonchak
còn
nói:
“Một
vấn
nạn
khác
liên
quan
đến
vấn
đề
linh
ứng.
Đức
Thánh
Cha
muốn
điều
đó
được
diễn
tả
như
thế
nào
để
người
ta
có
thể
xác
nhận
rằng
toàn
bộ
Thánh
Kinh
được
linh
ứng,
và
điều
đó
được
đọc
thấy
trong
một
văn
bản
theo
đó
Chúa
đã
ban
hành
vì
phần
rổi
chúng
ta.
Nói
cách
khác,
làm
thế
nào
khi
người
ta
đọc
văn
bản
đó,
người
ta
đọc
những
gì
được
đề
cập
tới
phần
rổi
chúng
ta,
chứ
không
phải
những
điều
nói
về
miền
Cận
Đông
xưa
kia
và
về
thực
vật
học.”
Khi
thực
thi
Công
Đồng
trong
thời
gian
13
năm,
kể
từ
khi
bế
mạc
cho
đến
lúc
Ngài
băng
hà
vào
năm
1978,
theo
cha
Komonchak,
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
“đã
bị
công
kích
nặng
nề
từ
cánh
tả
cũng
như
cánh
hữu
và
đối
với
tôi
điều
đó
có
nghĩa
là
Ngài
đã
hành
xử
đúng.”
Cha
Komonchak
nói
thêm:
“Dĩ
nhiên
Ngài
không
hoàn
toàn
hài
lòng
với
hết
mọi
điều
xảy
ra
thời
hậu
Công
Đồng;
nhưng
ai
có
thể
hài
lòng
đây?
Tôi
thiết
tưởng
Ngài
rất
đau
buồn
bởi
những
biểu
hiện
của
một
thứ
chống
đối
và
cả
cách
mạng
nữa,
nhưng
tôi
thiết
nghĩ
Ngài
đã
hoàn
thành
một
công
việc
tốt.
Ngài
vẫn
thực
thi
Hiến
Chế
Phụng
Vụ
và
trong
thực
tế,
Ngài
đã
cho
phép
những
sự
cải
cách
còn
đi
xa
hơn
những
gì
mà
chính
Công
Đồng
đã
đề
nghị.
Tôi
thiết
tưởng
Ngài
cố
thực
hiện
sự
đối
thoại
với
với
những
Kitô
hữu
khác
và
Ngài
đã
thiết
lập
một
văn
phòng
đối
thoại
với
những
tín
hữu
không
phải
Kitô
hữu
và
những
người
không
tín
ngưỡng
và
Ngài
đã
viết
đôi
văn
kiện
quan
trọng
về
xã
hội.
Ngài
đã
chủ
tọa
Thượng
Hội
Đồng
Giám
Mục
một
cách
cởi
mở
hơn
dưới
triều
đại
của
vị
giáo
hoàng
kế
tiếp
Ngài.”
Cha
Komonchak
cho
biết
Thông
Điệp
“Humanae
Vitae”
(Sự
Sống
Con
Người)
vào
năm
1968
mà
theo
đó
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
tái
xác
quyết
giáo
huấn
truyền
thống
của
Giáo
Hội
là
việc
sử
dụng
phương
pháp
ngừa
thai
nhân
tạo
trong
những
quan
hệ
vợ
chồng
tự
bản
chất
vốn
sai
lầm
là
“một
thánh
giá
nặng
nề
đối
với
Ngài.”
Theo
cha
Komonchak:
“Một
phần
của
vấn
đề
là
chưa
đầy
ba
năm
sau
khi
Công
Đồng
bế
mạc,
việc
thi
hành
quyền
giáo
huấn
(magisterium)
tối
cao
rõ
rệt
của
hội
đồng
giám
mục
theo
Công
Đồng
đã
đột
ngột
được
thay
thế
bới
sự
thi
hành
độc
nhất
về
quyền
đó
bởi
Đức
Giáo
Hoàng.
Và
phản
ứng
đối
với
điều
đó
đã
khiến
Đức
Giáo
Hoàng
buồn
phiền
cho
đến
đỗi
Ngài
không
bao
giờ
ban
bố
một
thông
điệp
nào
khác
nữa.”
Trên
bình
diện
đại
kết,
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
đã
có
những
“cử
chỉ
ngoạn
mục”,
chẳng
hạn
Ngài
ôm
hôn
Đức
Giáo
Chủ
Chính
Thống
Đại
Kết
là
Athenagoras
ở
Constantinople
nhân
dịp
Ngài
đi
thăm
viếng
Thánh
Địa
năm
1964.
Ngài
cũng
đã
khai
mạc
nhiều
cuộc
đối
thoại
đại
kết
có
tính
cách
song
phương
và
đa
phương
còn
tiếp
tục
cho
đến
ngày
nay.
(Phỏng
theo
Jerry
Filteau
–
Washington
–
CNS)
