CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
VIII
-
SỰ
CHUYỂN
HƯỚNG
VỀ
PHÍA
GIÁO
DÂN
Thừa
tác
viên
trong
giáo
xứ
ngày
nay
có
lẽ
đúng
hơn
là
một
giáo
dân
nam
hay
nữ.
Trước
Công
Đồng
Vatican
II,
hầu
hết
những
giáo
dân
liên
hệ
đến
những
sinh
hoạt
thường
nhật
tại
một
xứ
đạo
Công
giáo
là
dọn
dẹp
nhà
thờ
cho
sạch
sẽ
và
giúp
lễ.
Với
nhiều
linh
mục
được
bổ
nhiệm
cho
giáo
xứ
và
một
tu
viện
có
nhiều
nữ
tu
bên
cạnh,
giáo
dân
chỉ
được
làm
những
công
việc
thứ
yếu,
có
tính
cách
mgoại
biên,
như
trả
lời
điện
thoại
trong
nhà
xứ,
làm
“giám
thị”
cho
các
lớp
tiểu
học
hay
tình
nguyện
viên
cho
Hội
Thánh
Vincent
de
Paul.
Chuẩn
bị
các
đôi
hôn
nhân,
sắp
xếp
phụng
vụ,
giữ
sổ
sách
tài
chánh,
dạy
dỗ
giáo
lý
tân
tòng
và
thi
hành
mục
vụ
như
thăm
viếng
bệnh
nhân…đều
là
công
việc
của
“Cha”.
Những
phần
vụ
lớn
không
do
linh
mục
đảm
trách
như
dạy
học
ở
trường
nhà
xứ,
các
lớp
giáo
lý
và
những
công
việc
khác
liên
quan
đến
giáo
dục
đều
thuộc
trách
nhiệm
các
“Dì”.
Thời
hậu
Công
Đồng
chuyển
cho
giáo
dân
đảm
trách
hầu
hết
những
phần
vụ
đó,
khởi
đầu
cách
chầm
chậm,
nhưng
trong
ít
năm
gần
đây
đã
lan
rộng
một
cách
đột
ngột.
Cha
Eugene
Lauer,
giám
đốc
“Trung
Tâm
Quốc
Gia
về
Đời
Sống
Mục
Vụ”
cho
biết
cho
tới
trước
năm
1990,
ít
khi
giáo
xứ
tuyển
dụng
giáo
dân
cho
những
công
việc
thông
thường
do
linh
mục
đảm
trách,
nhưng
ngày
nay,
ở
Hoa-Kỳ,
số
giáo
dân
giữ
những
nhiệm
vụ
đó
đã
vượt
mức
linh
mục
trong
phạm
vi
mục
vụ
giáo
xứ.
Theo
cha,
có
khoảng
31,000
giáo
dân
hoạt
động
với
tư
cách
chuyên
viên
mục
vụ
tại
hai
phần
ba
giáo
xứ
Hoa-Kỳ.
Con
số
đó
không
bao
gồm
các
giáo
viên,
giáo
sư
và
nhân
viên
điều
hành
các
học
đường
Công
giáo
cùng
những
nhân
viên
hỗ
trợ
như
thư
ký,
người
quản
lý
và
giữ
sổ
sách.
Cha
Lauer
cho
biết
có
khoảng
28,000
linh
mục
hoạt
động
chủ
yếu
trong
các
giáo
xứ.
“Đó
là
một
sự
thay
đổi
đột
ngột
từ
15
hay
20
năm
trước
đây”,
cha
đã
nói
với
“Cơ
Quan
Thông
Tin
Công
Giáo”
như
thế.
Cha
Lauer
còn
cho
biết,
chỉ
từ
năm
1990
thôi,
đã
có
22,000
giáo
dân
đảm
trách
các
phần
vụ
đọc
sách,
mục
vụ
giới
trẻ,
điều
hành
công
tác
xã
hội
và
phối
kết
giáo
dục
thanh
thiếu
niên
hoặc
trong
những
phần
vụ
chuyên
môn
về
mục
vụ
khác.
Trước
Công
Đồng
Vatican
II,
chưa
tới
một
phần
trăm
những
công
việc
đó
ở
Hoa
Kỳ
được
các
giáo
dân
đảm
trách.
Ngài
nói:
“Đó
là
một
hiện
tượng
hầu
như
ít
ai
biết
đến.”
Các
nam
nữ
tu
sĩ,
đứng
trên
phương
diện
kỷ
thuật,
cũng
được
định
nghĩa
như
giáo
dân,
nhưng
từ
Công
Đồng
Vatican
II,
con
số
tu
sĩ
đã
giảm
thiểu
đột
ngột
hơn
nhiều
so
với
linh
mục.
Một
bài
nghiên
cứu
do
Trung
Tâm
Quốc
Gia
về
Đời
Sống
Mục
Vụ
trong
một
số
phát
hành
gần
đây,
cho
thấy
kể
từ
1990
số
nữ
tu
đảm
trách
mục
vụ
giáo
xứ
đã
giảm
từ
41
xuống
còn
16
phần
trăm.
Theo
“Trung
Tâm
Nghiên
Cứu
Ứng
Dụng
về
Sứ
Vụ
Tông
Đồ”
tại
Đại
Học
Georgetown,
từ
năm
1965,
số
nữ
tu
ở
Hoa-Kỳ
đã
giảm
từ
180,000
xuống
còn
69,000.
Số
nam
tu
sĩ
giảm
từ
12,000
xuống
còn
độ
5,000.
Tổng
số
59,000
linh
mục
trong
toàn
quốc
vào
năm
1965
đã
xuống
còn
43,000.
Trong
lúc
đó,
số
giáo
dân
Hoa-Kỳ
đã
tăng
từ
46
triệu
trong
17,700
giáo
xứ
lên
tới
68
triệu
trong
18,900
giáo
xứ.
Ngày
nay
giáo
dân
đảm
trách
việc
thăm
viếng
mục
vụ
đối
với
các
bệnh
nhân,
đặt
kế
hoạch
tổ
chức
phụng
vụ,
lo
các
ca
đoàn,
lập
thời
khóa
biểu
cho
các
người
đọc
sách
thánh
và
những
thừa
tác
viên
đặc
biệt
về
Thánh
Thể
cũng
như
điều
hành
những
chương
trình
giáo
dục
thanh
thiếu
niên,
chuẩn
bị
những
đôi
nam
nữ
dự
định
kết
hôn
và
những
trẻ
em
đi
học
các
trường
công
lập.
William
D’Antonio,
một
giảng
viên
thuộc
“Viện
Nghiên
Cứu
về
Chu
Kỳ
Đời
Sống”
tại
Đại
Học
Công
Giáo
Hoa-Kỳ
ở
Washington
cho
biết,
mặc
dù
những
văn
kiện
Công
Đồng
Vatican
II
đã
mở
cửa
cho
giáo
dân
dấn
thân
trong
hầu
hết
mọi
lãnh
vực
về
mục
vụ
giáo
xứ,
những
thay
đổi
đó
không
được
thực
hiện
một
cách
đồng
nhất.
D’Antonio
nói:
“Trong
một
số
giáo
xứ
và
giáo
phận,
số
giáo
dân
liên
hệ
đến
công
tác
mục
vụ
xem
ra
khá
cao”,
nhưng
trong
một
số
nơi
khác
“vẫn
còn
nhiều
quyền
uy
lớn
lao
ở
thượng
tầng
nên
ngăn
cản
dân
chúng
làm
thành
Giáo
Hội
‘ở
hạ
tầng’
khiến
họ
khó
có
thể
dấn
thân
hơn.”
Cha
Lauer
cho
biết
những
giáo
xứ
lớn
có
nhiều
tiền
lắm
bạc
nên
có
nhiều
giáo
dân
trong
hội
đồng
mục
vụ
là
điều
dễ
hiểu,
nhưng
cũng
còn
những
sự
khác
biệt
tùy
vùng
có
thể
liên
hệ
đến
số
linh
mục
có
sẵn.
Chẳng
hạn,
những
giáo
xứ
thuộc
Tổng
Giáo
Phận
New
York
xem
ra
có
ít
giáo
dân
đảm
trách
mục
vụ
giáo
xứ
hơn
là
những
xứ
đạo
thuộc
Tổng
Giáo
Phận
Chicago,
vì
nhiều
nguyên
nhân
khác
nhau,
chẳng
hạn
ở
New
York
có
nhiều
tổ
chức
và
đại
học
lớn
của
Giáo
Hội
nên
có
tỷ
số
linh
mục
cao
hơn
và
đã
bổ
khuyết
nhu
cầu
nhân
viên.
Cũng
theo
Cha
Lauer,
những
giáo
xứ
ở
miền
Tây
và
miền
Trung
Tây
Hoa-Kỳ
thông
thường
lớn
hơn
nên
có
nhiều
giáo
dân
trong
ban
nhân
viên
chuyên
môn
hơn
là
ở
miền
Đông
và
miền
Nam
Hoa-Kỳ.
Ngài
nói:
“Có
rất
nhiều
yếu
tố
để
các
giáo
xứ
có
thể
cung
ứng
thành
phần
dân
sự
thuộc
giáo
dân.”
Theo
nghiên
cứu
của
“Trung
Tâm
Đời
Sồng
Mục
Vụ”,
41
phần
trăm
giáo
dân
làm
việc
cho
giáo
xứ
có
trình
độ
cao
học
trong
lãnh
vực
hoạt
động
của
họ,
với
số
lương
trung
bình
khoảng
38,000
đôn
một
năm.
Mức
lương
đó
xem
ra
hơi
thấp
so
với
những
người
tốt
nghiệp
đại
học.
Cha
Lauer
cho
biết,
theo
sự
nghiên
cứu,
hai
phần
ba
những
nhân
viên
giáo
xứ
cho
rằng
mức
lương
của
họ
thỏa
đáng.
Theo
cha
nhận
xét,
với
số
phụ
nữ
chiếm
tới
80
phần
trăm
nhân
viên
giáo
xứ,
việc
làm
của
họ
thường
là
lợi
tức
gia
đình
thứ
hai,
khiến
cho
tỷ
số
lương
trên
thị
trường
trở
thành
ít
quan
trọng
đối
với
nhiều
người.
Cha
Lauer
cho
biết,
điều
đáng
ghi
nhận
hơn
là
85
phần
trăm
nhân
viên
giáo
dân
trong
giáo
xứ
mô
tả
công
việc
của
họ
là
có
ý
nghĩa
và
họ
lấy
làm
vừa
ý.
Ngoài
ra
95
phần
trăm
cho
biết
họ
sẽ
làm
việc
cho
giáo
xứ
luôn
mãi
hay
ít
nhất
trong
vài
năm
tới.
Sự
kiện
nhiều
giáo
dân
dấn
thân
nhiều
hơn
trong
mục
vụ
giáo
xứ
khiến
họ
đóng
một
vai
trò
quan
trọng
hơn
đối
với
Giáo
Hội
và
họ
được
chuẩn
bị
cho
những
giáo
xứ
có
ít
linh
mục
hơn.
Một
cuộc
thăm
dò
gần
đây
do
“Viện
Nghiên
Cứu
Chu
Kỳ
Đời
Sống”
thực
hiện
cho
tạp
chí
“Phóng
Viên
Công
Giáo
Toàn
Quốc”
cho
thấy
89
phần
trăm
tín
hữu
Công
Giáo
Hoa-Kỳ
muốn
giáo
dân
nên
có
quyền
tham
gia
những
quyết
định
về
vấn
đề
chi
tiêu
đối
với
lợi
nhuận
trong
giáo
xứ.
Có
72
phần
trăm
cho
biết
giáo
dân
nên
được
tham
gia
trong
việc
chọn
lựa
linh
mục
cho
giáo
xứ
của
họ.
Và
83
phần
trăm
ngỏ
ý
nên
để
họ
tham
gia
quyết
định
trong
trường
hợp
giáo
xứ
phải
đóng
cửa.
Vì
số
linh
mục
thi
hành
mục
vụ
cho
giáo
dân
ở
Hoa-Kỳ
bị
giảm
thiểu,
đa
số
những
người
được
thăm
dò
bởi
“Viện
Nghiên
Cứu
về
Chu
Kỳ
Đời
Sống”
tổ
chức
cho
biết
trong
một
chừng
mục
nào
đó
có
thể
chấp
nhận
được
việc
đem
những
linh
mục
từ
các
xứ
khác
vào
nước
hay
chia
sẻ
những
linh
mục
với
các
giáo
xứ
khác.
Trong
số
những
chọn
lựa
khác,
đại
đa
số
dân
chúng
cho
biết
trong
một
mức
độ
nào
đó
có
thể
chấp
nhận
việc
có
một
quản
lý
viên
cho
giáo
xứ
hay
có
những
linh
mục
thỉnh
thoảng
thăm
viếng,
nhập
những
giáo
xứ
gần
nhau
vào
một
và
thỉnh
thoảng
có
một
nghi
thức
Rước
Lễ
thay
vì
Thánh
lễ.
Đại
đa
số
cho
biết
họ
không
thể
chấp
nhận
việc
có
Thánh
Lễ
ít
hơn
một
lần
trong
tuần
cũng
như
việc
đóng
cửa
giáo
xứ
của
họ.
(Phỏng
theo
Patricia
Zapor
–
Washington
–
CNS)
