CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
IX
-
QUAN
NIỆM
HÔN
NHÂN
THAY
ĐỔI
KỂ
CẢ
ĐỐI
VỚI
NHỮNG
NGƯỜI
KHÔNG
CÔNG
GIÁO
Trước
khi
Louise
Cook
kết
hôn
với
người
chồng
Công
giáo
vào
năm
1945,
bà
là
một
tín
hữu
thuộc
Giáo
Hội
Giám
Lý,
sinh
trưởng
tại
Kansas,
đã
quyết
định
theo
Công
giáo.
Bà
không
muốn
bị
khước
từ
làm
đám
cưới
trong
một
Thánh
lễ
Công
giáo
hay
bị
nghi
ngờ
bà
sẽ
không
nuôi
nấng
con
cái
như
tín
hữu
Công
giáo.
Sau
khi
trở
thành
góa
phụ
năm
1970,
bà
tái
giá
và
lần
nầy
với
một
người
thuộc
Giáo
Hội
Trưởng
Lão.
Người
nầy
gắn
bó
mãnh
liệt
với
đức
tin
của
mình.
Lễ
cưới
xảy
ra
vào
năm
1974
trong
một
nhà
thờ
thuộc
Giáo
Hội
Trưởng
Lão
với
vị
mục
sư
của
ông
và
vị
linh
mục
Công
giáo
của
bà
là
hai
vị
chủ
tế
đồng
hạng.
Những
thay
đổi
về
hôn
nhân
Công
giáo,
do
Công
Đồng
Vatican
II
mang
lại,
đã
đi
khá
xa
đối
với
hôn
nhân
hỗn
hợp.
Và
theo
nhiều
người,
những
thay
đổi
đó
là
những
dấu
chỉ
rõ
rệt
nhất
đối
với
sự
cởi
mở
và
đổi
mới
của
Giáo
Hội
do
Công
Đồng
mang
lại.
Nhiều
sự
thích
nghi
đã
bắt
đầu
một
thời
gian
lâu
trước
Công
Đồng,
như
cha
Joseph
M.
Champlin
đã
viết
trong
sách
“Cùng
Nhau
Cho
Sự
Sống”
vẫn
còn
được
dùng
cho
bốn
trong
năm
cặp
nam
nữ
dự
định
kết
hôn
trong
Giáo
Hội
Công
giáo
ở
Hoa
Kỳ.
Cha
Champlin
nhận
thấy
ngay
chính
trong
gia
đình
ngài
những
đám
cưới
hỗn
hợp
đã
thay
đổi
từ
một
nghi
thức
ở
trong
phòng
mặc
áo
lễ
của
Linh
mục
-
còn
gọi
là
phòng
thánh
(như
trường
hợp
mẹ
ngài
và
người
bố
dượng
không
Công
giáo
vào
thập
niên
1940)
cho
đến
ở
trong
nhà
thờ,
nhưng
không
có
rước
lễ
(đó
là
trường
hợp
người
anh
ruột
và
chị
dâu
không
Công
giáo
của
ngài
vào
thập
niên
1940)
hoặc
ở
nơi
cung
thánh
nhà
thờ
trong
khuôn
khổ
một
Thánh
Lễ
vào
thập
niên
1950.
“Điều
đó
đã
làm
vơi
đi
nhiều
điều
có
thể
gây
nên
thương
tổn”
và
đôi
khi
người
phối
ngẫu
không
Công
giáo
cảm
thấy
như
bị
loại
bỏ,
cha
xứ
của
nhà
thờ
“Đức
Bà
Chỉ
Bảo
Đàng
Lành”
ở
Warner,
N.Y.
cho
biết
như
thế.
Sau
Vatican
II,
Giáo
Hội
đã
nới
lỏng
một
điều
ràng
buộc
khác
đối
với
những
đôi
hôn
nhân
hỗn
hợp,
đó
là
người
phối
ngẫu
không
Công
giáo
không
phải
ký
giấy
cam
kết
sẽ
nuôi
nấng
và
dạy
dỗ
con
cái
như
người
Công
giáo.
Bắt
đầu
thập
niên
1960,
những
người
không
Công
giáo
chỉ
cam
kết
bằng
miệng
mà
thôi.
Theo
cha
Champlin:
“Đó
là
nguồn
gốc
chọc
giận
những
người
không
giữ
lời
hứa”.
Điều
thay
đổi
chính
trong
hôn
lễ
Công
giáo
sau
Công
Đồng
Vatican
II
là
sự
tham
gia
của
đôi
tân
hôn
vào
việc
lên
chương
trình
đối
với
lễ
cưới
của
họ.
Theo
cha
Champlin,
trước
Vatican
II,
những
yếu
tố
thuộc
nghi
lễ
hôn
phối
“đúng
hơn
là
có
tính
cách
cứng
nhắc
và
giống
nhau
cho
hết
mọi
người”,
nhưng
về
sau
“Giáo
Hội
khuyến
khích
các
đôi
tân
hôn
nên
tham
gia
vào
việc
phụng
vụ.”
Giờ
đây
các
đôi
nam
nữ
có
thể
chọn
lựa
những
đoạn
Thánh
Kinh
được
đọc
cũng
như
những
bài
hát,
nói
cách
khác
là
cá
nhân
hóa
nghi
lễ
hôn
phối.
“Điều
đó
có
âm
hưởng
tức
thời
đối
với
giới
trẻ”,
cha
Champlin
đã
viết
như
thế
trong
quyển
sách
“Cùng
Nhau
Cho
Sự
Sống”
với
nhiều
sự
duyệt
lại
trong
nhiều
năm
và
đã
bán
9
triệu
quyển.
Ngoài
nghi
thức
phụng
vụ
ra,
Vatican
II
còn
thay
đổi
quan
niệm
thực
sự
về
hôn
nhân
trong
Giáo
Hội
Công
giáo,
theo
như
H.
Richard
McCord,
giám
đốc
điều
hành
“Văn
Phòng
Tổng
Thư
Ký
về
Gia
Đình,
Giáo
Dân,
Phụ
Nữ
và
Giới
Trẻ
của
Hội
Đồng
Giám
Mục
Hoa
Kỳ”.
Theo
McCord,
trong
Hiến
Chế
Mục
Vụ
“Vui
Mừng
và
Hy
Vọng”
của
Giáo
Hội,
Công
Đồng
tuyên
bố
hôn
nhân
không
chỉ
để
truyền
sinh
mà
thôi.
Công
Đồng
“đã
trở
lại
sự
hiểu
biết
Thánh
Kinh
về
giao
ước”
để
định
nghĩa
lời
cam
kết
bí
tích
giữa
vợ
chồng.
Hiến
Chế
đã
minh
định:
“Hôn
nhân,
một
cách
chắc
chắn,
không
được
lập
ra
duy
nhất
nhằm
để
truyền
sinh;
đúng
hơn
bản
chất
đích
thực
của
hôn
nhân
là
một
khế
ước
không
thể
phá
vỡ
giữa
đôi
vợ
chồng
và
sự
phúc
lợi
của
con
cái.
Cả
hai
điều
đó
đòi
buộc
“tình
yêu
hỗ
tương”
giữa
hai
người
phối
ngẫu…tăng
trưởng
và
trở
nên
chính
chắn
hơn.
Vì
vậy
hôn
nhân
bền
bỉ
một
cách
trọn
vẹn
và
đôi
vợ
chồng
chia
sẻ
cuộc
sống
cùng
duy
trì
chân
giá
trị
và
sự
bất
khả
phân
ly,
cho
dù
đôi
vợ
chồng
hết
sức
mong
muốn
nhưng
không
thể
sinh
con
đẻ
cái
được.”
Theo
McCord,
ý
niệm
hôn
nhân
như
là
một
giao
ước
cũng
nhấn
mạnh
“sự
bình
đẳng
cơ
bản
đối
với
con
người”
vào
một
thời
điểm
mà
một
số
người
còn
xem
phụ
nữ
như
là
vật
sở
hữu
của
người
chồng.
Mỗi
người
phối
ngẫu
đều
đóng
góp
trọn
vẹn
năng
khiếu
và
quà
tặng
của
mình
cho
nhau
và
đối
lại
cũng
được
nhận
lãnh
như
vậy.
Theo
McCord,
“Ánh
Sáng
Muôn
Dân”
-
tức
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội
–
cũng
đóng
góp
“một
khái
niệm
căn
bản
vẫn
còn
tiếp
tục
trong
công
cuộc
mục
vụ
của
Giáo
Hội;
đó
là
ý
niệm
gia
đình
Kitô
hữu
như
là
một
Giáo
Hội
tại
gia.
McCord
còn
ghi
nhận
thêm:
“Cách
thức
hiểu
biết
mới
về
vai
trò
của
gia
đình
Công
giáo
đó”
là
một
ý
niệm
cổ
xưa
trước
tiên
được
Thánh
Gioan
Chrysostom
(347-407)
nhấn
mạnh
và
“được
các
nghị
phụ
tái
khám
phá”.
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI
đã
tuyên
bố
như
sau
trong
cuộc
nói
chuyện
với
một
nhóm
giám
mục
Mễ-Tây-Cơ:
trong
vai
trò
những
người
đứng
đầu
Giáo
Hội
tại
gia,
cha
mẹ
là
“những
người
đầu
tiên
truyền
bá
Phúc
Âm
cho
con
cái
mình”
và
là
“những
học
đường
đầu
tiên
về
sự
sống
và
đức
tin”.
McCord
nói:
những
điều
công
bố
của
Công
Đồng
về
hôn
nhân
còn
giữ
một
vai
trò
lớn
lao
trong
việc
giúp
đỡ
những
nhà
lãnh
đạo
Giáo
Hội
Công
giáo
ngày
nay
phát
biểu
rõ
ràng
tại
sao
họ
chống
lại
những
cố
gắng
hợp
pháp
hóa
hôn
nhân
cho
những
đôi
đồng
tính.
Theo
McCord:
“Yếu
tố
xác
định
đặc
điểm
hôn
nhân
là
tình
yêu
vợ
chồng
chỉ
có
thể
có
giữa
một
người
nam
và
một
người
nữ.
Đó
không
phải
chỉ
là
phong
tục
hay
truyền
thống
mà
thôi.”
(Phỏng
theo
Nancy
Frazier
O’Brien
–
Washington
–
CNS)
