CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
X -
TỰ
DO
TÔN
GIÁO
HIỆN
ĐẠI
HÓA
NHỮNG
QUAN
HỆ
GIỮA
GIÁO
HỘI
VÀ
NHÀ
NƯỚC
Linh
mục
Đa-Minh
Yves
Congar
và
hai
linh
mục
Dòng
Tên
John
Courtney
Murray
và
Henri
de
Bac
là
những
thần
học
gia
vào
thập
niên
1950
đã
bị
Vatican
bắt
phải
im
hơi
lặng
tiếng
nhưng
đã
nổi
bật
lên
và
trở
thành
những
tiếng
nói
quan
trọng
trong
Công
Đồng
Vatican
II.
Cha
Congar
và
Lubac
về
sau
được
chọn
làm
hồng
y.
Một
trong
những
văn
kiện
cuối
cùng
được
Công
Đồng
Vatican
II
chấp
thuận
và
có
lẽ
là
văn
kiện
được
tranh
luận
nhiều
nhất,
đó
là
“Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo”
mà
cao
điểm
là
Công
giáo
trong
thế
giới
hiện
đại,
xét
về
những
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
nhà
nước.
Văn
kiện
đó
đặt
nền
móng
cho
Giáo
Hội
đối
phó
với
những
nền
dân
chủ
thế
tục,
tôn
giáo
đa
nguyên
thuộc
Tây
phương
và
Đức
Thánh
Cha
Gioan
Phaolồ
II
đã
báo
động
tình
trạng
bắt
bớ
Giáo
Hội
ở
những
nước
Cộng
Sản
cai
trị.
Tuyên
ngôn
“Dignitatis
Humanae”
mang
lại
niềm
tín
nhiệm
của
Công
Đồng
mời
gọi
đối
thoại
đại
kết
và
đối
thoại
với
những
tín
hữu
không
phải
Kitô
giáo.
Trong
quá
trình
soạn
thảo,
văn
kiện
nầy
được
phục
hoạt
do
soạn
thảo
viên
chính
của
tuyên
ngôn
là
cha
John
Courtney
Murray
-
một
linh
mục
Dòng
Tên
vào
thập
niên
1950
đã
bị
Vatican
cấm
không
được
viết
về
những
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
nhà
nước,
nhất
là
những
nỗ
lực
hòa
giải
Giáo
Hội
Công
giáo
với
sự
tách
biệt
giữa
Giáo
Hội
và
nhà
nước
theo
kiểu
Hoa
Kỳ.
Cuối
cùng
vị
linh
mục
đó
đã
được
mời
tham
gia
“Văn
Phòng
Cổ
Võ
Hiệp
Nhất
Kitô
giáo”
của
Vatican
là
cơ
quan
của
Tòa
Thánh
soạn
thảo
tài
liệu.
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
tuyên
bố
rằng,
vì
nhân
phẩm,
mỗi
cá
nhân
có
quyền
dân
sự
đối
với
tự
do
tôn
giáo
và
thực
thi
niềm
tin
tôn
giáo
ở
trong
cộng
đồng
với
kẻ
khác.
Đó
là
một
điểm
xuất
phát
rất
rõ
nét
vì
từ
nhiều
thế
kỷ
trước,
Giáo
Hội
dạy
rằng
tự
do
tôn
giáo
trọn
vẹn
chỉ
thuộc
về
Giáo
Hội
Công
giáo
như
là
một
định
chế
bởi
vì
Giáo
Hội
chứa
đựng
sự
sung
mãn
của
chân
lý
thiêng
liêng.
Trong
bài
bình
luận
sau
Công
Đồng
vào
năm
1966
-
được
phát
hành
sau
khi
cha
qua
đời,
cha
Murray
ghi
chú
như
sau:
“Giáo
Hội
không
còn
ứng
phó
với
trật
tự
trần
thế
theo
tiêu
chuẩn
nước
đôi:
tự
do
đối
với
Giáo
Hội
khi
tín
hữu
Công
giáo
là
thiểu
số,
đặc
quyền
đối
với
Giáo
Hội
và
bất
khoan
dung
đối
với
kẻ
khác
khi
tín
hữu
Công
giáo
chiếm
đa
số.”
Cha
Murray
còn
viết:
“Tuyên
Ngôn
đã
mở
đường
cho
một
sự
tín
nhiệm
mới
trong
những
tương
quan
đại
kết
và
sự
thẳng
thắn
trong
những
tương
quan
giữa
Giáo
Hội
và
thế
giới.”
Tuyên
Ngôn
công
bố:
“Quyền
tự
do
tôn
giáo
được
căn
cứ
trên
chính
nhân
phẩm
mỗi
cá
nhân
như
được
biết
đến
qua
lời
mạc
khải
của
Chúa
và
chính
bằng
lý
trí.”
Sự
tự
do
đó
phải
được
nhìn
nhận
và
bảo
đảm
bởi
các
quốc
gia
như
là
một
quyền
dân
sự
bởi
vì
sự
thi
hành
quyền
tự
do
tôn
giáo
đòi
buộc
phải
được
“chước
miễn
mọi
sự
ép
buộc
từ
bên
ngoài.
Quyền
được
chước
miễn
đó
tiếp
tục
hiện
hữu
ngay
cả
đối
với
những
ai
không
sống
theo
sự
bắt
buộc
phải
truy
tầm
chân
lý
và
bám
trụ
vào
đó.”
Tuyên
Ngôn
đã
được
chấp
thuận
bởi
cuộc
bỏ
phiếu
với
tỉ
số
2,308
-
70
vào
ngày
7-12-1965.
Đó
là
ngày
bỏ
phiếu
sau
cùng
và
cũng
là
ngày
trước
khi
Công
Đồng
bế
mạc.
Công
Đồng
chỉ
chấp
thuận
sau
khi
đã
“thảo
luận
một
cách
sôi
nổi”
với
sự
chống
đối
dữ
dội
từ
nhiều
viên
chức
Vatican
và
các
vị
giám
mục
đến
từ
những
quốc
gia
mà
Giáo
Hội
Công
giáo
rất
mạnh
như
Tây-Ban-Nha
và
Ý-Đại-Lợi,
theo
như
Gregory
Baum
cho
biết.
Gregory
Baum
là
một
chuyên
viên
thuộc
“Văn
Phòng
Cồ
Võ
sự
Hợp
Nhất
Kitô
giáo
của
Công
Đồng”.
Văn
Phòng
đã
soạn
thảo
tài
liệu
tự
do
tôn
giáo
vì
tầm
mức
quan
trọng
đối
với
vấn
đề
đại
kết.
Vào
thời
điểm
đó,
Baum
còn
là
linh
mục
dòng
thánh
Augustinô.
Sau
đó
Baum
hoàn
tục
và
trở
thành
giáo
sư
về
tôn
giáo
học
ở
Đại
Học
McGill
Montreal
và
nay
đã
hồi
hưu,
cho
biết:
“Giáo
Hội
Công
giáo
đã
kết
án
tự
do
tôn
giáo
vào
thế
kỷ
19
và
những
người
phản
đối
Tuyên
Ngôn
không
muốn
công
nhận
rằng
Giáo
Hội
đã
sai
lầm.”
Theo
Baum,
lập
trường
trước
đây
là
“chân
lý
có
hết
mọi
quyền,
còn
lầm
lạc
không
có
quyền
nào.”
Khi
thực
hành
như
vậy
có
nghĩa
là
vì
họ
theo
một
tôn
giáo
lầm
lạc
nên
không
có
quyền
tự
do
tôn
giáo,
“nhưng
điều
đó
vô
nghĩa.
Chân
lý
là
một
khái
niệm
trừu
tượng.
Dân
chúng
có
quyền
lợi
của
họ.”
Baum
nhận
thấy
Tuyên
Ngôn
đã
khiến
Vatican
duyệt
lại
những
thỏa
ước
với
nhiều
quốc
gia
mà
đại
đa
số
theo
Công
giáo
để
Công
giáo
không
còn
là
quốc
giáo
nữa.
Những
người
phản
đối
Tuyên
Ngôn
lý
luận
rằng
khi
chấp
thuận
nguyên
tắc
tự
do
tôn
giáo,
Giáo
Hội
tự
mâu
thuẫn
với
chính
mình.
Quan
điểm
đó
ngược
lại
với
quan
điểm
của
các
thần
học
gia
khác,
như
linh
mục
Murray,
theo
đó
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
cần
tiến
hóa,
căn
cứ
trên
những
hoàn
cảnh
đổi
thay,
một
tiến
trình
được
gọi
là
sự
“triển
khai
giáo
lý”.
Bài
bình
luận
của
cha
Murray
vào
năm
1966
cho
thấy
việc
chống
đối
sự
triển
khai
giáo
lý
ở
đằng
sau
hầu
hết
những
sự
chống
đối.
Cha
Murray
viết:
“Ý
niệm
triển
khai,
chứ
không
phải
ý
niệm
tự
do
tôn
giáo,
là
móc
điểm
thực
tế
đối
với
nhiều
người
chống
lại
Tuyên
Ngôn
cho
đến
cuối
cùng.”
Sau
cùng,
khi
Tuyên
Ngôn
được
chấp
thuận,
cũng
có
kèm
theo
một
sự
nhìn
nhận
là
trong
quá
khứ
Giáo
Hội
đã
vi
phạm
tự
do
tôn
giáo.
Tuyên
Ngôn
viết:
“Dẫu
cho
ở
trong
đời
sống
dân
Chúa…có
những
thời
điểm
xuất
hiện
một
hình
thức
đối
xử
khó
mà
đúng
với
tinh
thần
Phúc
Âm
và
ngay
cả
ngược
lại
với
Tin
Mừng
nữa.
Giáo
huấn
của
Giáo
Hội
luôn
luôn
vẫn
là
không
ép
buộc
ai
phải
tin
theo.”
Lời
thú
nhận
đó
đã
được
gợi
ý
bởi
Đức
Hồng
Y
Joseph
Beran
ở
Prague,
Czechoslovakia,
lúc
bấy
giờ
bị
đặt
dưới
quyền
thống
trị
của
Cộng
Sản.
Ghi
nhận
những
vụ
thiêu
đốt
những
người
ly
giáo
và
những
vụ
bắt
buộc
theo
Công
giáo
trong
lịch
sử
quê
hương
mình,
Đức
Hồng
Y
Beran
xin
Công
Đồng
chấp
thuận
Tuyên
Ngôn
“trong
tinh
thần
đền
bù
những
lỗi
lầm
trong
quá
khứ.”
Đức
Hồng
Y
Beran
và
các
nghị
phụ
đến
từ
những
quốc
gia
do
Cộng
Sản
chiếm
đóng
đã
liên
kết
với
các
giám
mục
Hoa-Kỳ
để
trở
thành
những
người
ủng
hộ
Tuyên
Ngôn
một
cách
mạnh
mẽ.
Các
giám
mục
sau
bức
Màn
Sắt
nhận
thấy
cần
thiết
phải
duy
trì
một
số
điều
giống
nhau
trong
đời
sống
Giáo
Hội
ở
trên
quê
hương
họ,
bởi
vì
Tuyên
Ngôn
cổ
võ
việc
thực
thi
nguyên
tắc
tự
do
tôn
giáo.
Tuyên
Ngôn
cũng
mạnh
mẽ
kêu
gọi
Giáo
Hội
độc
lập
đối
với
nhà
nước
và
bảo
vệ
khỏi
bị
nhà
nước
xâm
phạm
những
tôn
giáo
có
tổ
chức.
Tuyên
Ngôn
công
bố:
“Nếu
chính
quyền
dân
sự
cho
mình
có
quyền
kiểm
soát
hay
hạn
chế
sinh
hoạt
tôn
giáo,
phải
nói
rằng
chính
quyền
đã
vượt
khỏi
giới
hạn
quyền
bính
của
mình.”
Trong
số
những
người
ủng
hộ
Tuyên
Ngôn
thuộc
khối
Sô-viết
là
Đức
Tổng
Giám
Mục
Karol
Wojtyla
của
Krakow,
Ba-Lan,
về
sau
được
bầu
làm
Giáo
Hoàng
Gioan
Phao-lồ
II
năm
1978.
Ở
trong
phòng
họp
Công
Đồng
năm
1965,
vị
tổng
giám
mục
45
tuổi
tranh
luận
rằng
không
nhà
nước
nào
có
quyền
khống
chế
tôn
giáo.
Theo
giáo
sư
Baum,
Đức
Tổng
Giám
Mục
Wojtyla
tỏ
ra
“xuất
sắc
đối
với
văn
kiện.
Ngài
trở
thành
vô
địch
về
nhân
quyền
khắp
nơi
trên
thế
giới,
không
chỉ
quyền
lợi
tôn
giáo
mà
thôi,
mà
còn
căn
cứ
trên
nhân
phẩm
nữa.”
(Phỏng
theo
Agostino
Bono
–
Washington
–
CNS)
