CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
XI
-
HỒI
TƯỞNG
NHỮNG
NĂM
LỊCH
SỬ
CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
CỦA
MỘT
SỐ
CHUYÊN
VIÊN
HOA-KỲ
CÒN
SỐNG
Đức
Hồng
Y
William
H.
Keeler
ở
Baltimore
cho
biết
Công
Đồng
Vatican
II
đã
biến
đổi
cách
hiểu
biết
của
ngài
về
điều
gọi
là
“dùng
Lời
Chúa
trong
cách
giảng
dạy”.
Đối
với
Đức
Giám
Mục
hưu
trí
Raymond
W.
Lessard
ở
Savannah,
Ga.,
thì
chiều
kích
đại
kết
của
Công
Đồng,
ngay
cả
trong
giai
đoạn
chuẩn
bị,
là
điều
gây
ấn
tượng
sâu
sắc
nhất.
Còn
Đức
Giám
Mục
hưu
trí
John
S.
Cummins
ở
Okland,
California
thì
việc
Công
Đồng
nhấn
mạnh
về
Thánh
Kinh
đã
đòi
hỏi
ngài
rất
nhiều
trong
vấn
đề
giảng
dạy
tốt
hơn
và
“thay
đổi
cách
thức
chúng
ta
cầu
nguyện”.
Đức
ông
Robert
Trisco,
một
sử
gia
nổi
tiếng
về
Giáo
hội
học
cho
biết
thời
gian
Công
Đồng
nhóm
họp
1962-1965
“là
một
kinh
nghiệm
khá
lâu
dài
và
bao
hàm
một
cách
toàn
diện
khó
toát
lược.
Đó
là
một
phần
đời
sống
mà
tôi
khó
quên
nhất”.
Cả
bốn
giáo
sĩ
đó
có
một
điểm
chung:
họ
là
những
vị
trong
số
những
giáo
sĩ
ít
oi
người
Hoa-Kỳ
còn
sống
mà
đã
tham
dự
Công
Đồng
Vatican
II
với
tư
cách
học
giả
chuyên
viên.
Họ
đã
tham
dự
những
khóa
họp
có
độ
trên
2000
giám
mục
trên
khắp
thế
giới
nhóm
tại
Vương
Cung
Thánh
Đường
Thánh
Phêrô.
Những
chuyên
viên
gồm
có
hơn
450
linh
mục
khắp
nơi
trên
thế
giới,
trong
đó
có
50
vị
đến
từ
Hoa-Kỳ,
nhằm
giúp
đỡ
các
giám
mục
họp
nhau
tại
Roma
để
quyết
định
điều
gì
cần
thiết
nhằm
đổi
mới
Giáo
Hội
ở
bên
trong,
giúp
Giáo
Hội
dấn
thân
vào
thế
giới
theo
những
cách
thức
mới
mẽ
ngỏ
hầu
đi
vào
một
kỷ
nguyên
đối
thoại
thân
tình
với
những
giáo
hội
Kitô
khác
cũng
như
những
tôn
giáo
khác.
Một
số
chuyên
viên
giúp
dự
thảo
những
tài
liệu,
trong
khi
những
vị
khác
giúp
viết
ra
hay
chuyển
dịch
những
bài
diễn
văn
cho
các
giám
mục.
Chẳng
hạn
Đức
Hồng
Y
Keeler
và
Đức
Ông
Trisco
-
nằm
trong
danh
sách
báo
chí
Hoa
Kỳ
-
đã
gặp
gỡ
các
ký
giả
hằng
ngày.
Họ
cũng
là
những
thành
phần
thuộc
tổ
xuất
bản
“Tập
San
Thời
Sự”
của
Công
Đồng.
Đó
là
một
tài
liệu
tóm
tắt
các
biên
bản
bằng
Anh
ngữ
hằng
ngày
để
phân
phối
cho
các
giám
mục
nói
tiếng
Anh.
Hiện
nay
Đức
Ông
Trisco
là
một
giáo
sư
danh
dự
về
“lịch
sử
Giáo
Hội
ở
Đại
Học
Công
Giáo
Hoa-Kỳ”
và
là
chủ
bút
“Tạp
Chí
Lịch
Sử
Công
Giáo”,
cho
biết
một
trong
những
lúc
căng
thẳng
nhất
trong
Công
Đồng
vào
ngày
8-11-1963
là
khi
Đức
Hồng
Y
người
Đức
–
Joseph
Frings
– ở
Cologne
đã
gọi
những
thủ
tục
của
Thánh
bộ
Tín
Lý
và
Đức
Tin
là
lỗi
thời,
tai
hại
và
nhục
nhã.
Đức
Hồng
Y
Alfredo
Ottaviani
là
bộ
trưởng
Thánh
bộ
Tín
Lý
và
Đức
Tin,
nhưng
trong
thời
gian
đó
chính
Đức
Thánh
Cha
đứng
đầu.
Đức
Ông
Trisco
cho
biết
Đức
Hồng
Y
Ottaviani
“giận
dữ
và
khó
chịu
ra
mặt”
và
về
sau
trong
cũng
một
khóa
họp
đó
đã
xúc
động
phản
đối
lại
những
lời
chỉ
trích
trên
đây
của
Đức
Hồng
Y
Frings.
Đối
với
Đức
Ông
Trisco,
“đó
là
một
buổi
sáng
rất
bi
thảm”
bởi
vì
trước
kia
“không
ai
dám
chỉ
trích
Thánh
Bộ
Đức
Tin
như
thế
một
cách
công
khai
ở
nơi
công
cộng
và
nhất
là
do
một
vị
hồng
y ở
trong
Công
Đồng”.
Đức
Giám
Mục
Lessard
từ
khi
bị
đau
lưng
kinh
niên
đã
rời
khỏi
giáo
phận
Savannah
năm
1995
và
từ
đó
dạy
môn
thần
học
ở
Chủng
Viện
St.
Vincent
de
Paul
ở
Buynton
Beach,
Fla.,
cũng
đã
có
mặt
ở
Roma
trong
thời
gian
chuẩn
bị
Công
Đồng
và
về
sau
lưu
lại
đó
với
tư
cách
một
viên
chức
của
Bộ
Giám
Mục.
Ngài
nhớ
lại
ủy
ban
soạn
thảo
của
Công
Đồng
chuẩn
bị
việc
thảo
luận
mời
những
quan
sát
viên
các
giáo
hội
khác.
Ngài
cho
biết:
“Tôi
nghi
vấn
đề
nầy
do
chính
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII.”
Quyết
định
mời
các
quan
sát
viên
từ
các
giáo
hội
Kitô
khác
“là
một
khởi
đầu
rất
quan
trọng”
và
báo
trước
“những
tiến
bộ
quan
trọng”
trong
những
tương
quan
đại
kết
kể
từ
đó.
Làm
việc
với
cơ
quan
của
Vatican
trông
nom
các
giám
mục
cũng
như
những
hội
nghị
các
giám
mục,
Đức
Cha
Lessard
có
lợi
điểm
là
từ
đó
thấy
được
một
cách
toàn
diện
sự
thực
thi
những
giáo
huấn
của
Công
Đồng
trên
toàn
thế
giới
về
các
lãnh
vực
đó.
Ngài
cho
biết
nhiền
điều
đã
được
thực
hiện
để
bành
trướng
quyền
hành
của
các
giám
mục,
cổ
võ
giám
mục
đoàn
và
giải
quyết
những
vấn
nạn
thực
tế
phát
sinh
do
các
hội
đồng
giám
mục.
Ngài
gọi
việc
thiết
lập
Thượng
Hội
Đồng
Giám
Mục
Thế
Giới
là
một
“bước
tiên
phong”
chuyển
tải
tiếng
nói
của
các
giám
mục
trên
thế
giới
đối
với
những
vấn
đề
mà
Giáo
Hội
đang
đối
phó.
Ngài
gọi
vấn
đề
giám
mục
đoàn
là
một
“vấn
đề
thời
sự”
đang
tác
động
hỗ
tương
giữa
Giáo
Hội
hoàn
vũ
và
các
giáo
hội
địa
phương.
Trong
tư
cách
là
giáo
sư
môn
Giáo
Hội
học
-
môn
thần
học
về
Giáo
Hội
-
ngài
cho
biết:
“Tôi
say
mê
Lumen
Gentium
(văn
kiện
Tín
Lý
của
Công
Đồng
về
Hiến
Chế
Giáo
Hội)
và
tinh
hoa
của
văn
kiện
đó.
Tôi
không
thể
biết
được
tài
liệu
phong
phú
đến
mức
nào.”
Theo
ngài,
một
trong
những
điểm
quan
trọng
nhất
là
sự
khôi
phục
ý
nghĩa
của
Giáo
Hội
như
là
“koinonia”
tức
sự
hiệp
thông
hay
tình
bạn
giữa
các
tông
đồ
và
không
chỉ
bằng
một
ý
nghĩa
mang
tính
cách
trí
thức,
nhưng
“được
cảm
nhận
và
sống
như
thế
nào.”
Đúc
Cha
Lessard
cho
biết
một
trong
những
khía
cạnh
hấp
dẫn
nhất
của
công
tác
đào
tạo
linh
mục
là
“chống
lại
hội
chứng
trỗi
vượt
hiện
nay:
chủ
nghĩa
cá
nhân.
Chủ
nghĩa
đó
đã
ảnh
hưởng
trên
rất
nhiều
lãnh
vực
thuộc
tư
duy
và
đời
sống
chúng
ta.
Người
ta
sẽ
thu
hút
những
người
trẻ
đó
như
thế
nào
-
những
linh
mục
tương
lai
đó
-
theo
cách
thức
nhìn
sự
việc
có
tính
cách
giáo
sĩ
hơn…một
thực
tế
thần
học
hiệp
thông
với
giám
mục
và
tất
cả
các
linh
mục,
chưa
nói
tới
việc
tương
giao
với
giáo
dân
nữa?
Đó
là
một
thách
đố
lớn
lao,
làm
sao
người
ta
chuyển
biến
hết
những
ý
niệm
tân
kỳ
đó
vào
trong
linh
đạo
của
họ.”
Theo
Đức
Hồng
Y
Keeler,
khi
nhìn
lại
Công
Đồng,
“một
trong
những
điều
đánh
động
tôi
mạnh
mẽ
nhất”
là
khi
Đức
Hồng
Y
Augustin
Bea,
người
đứng
đầu
Hội
Đồng
Giáo
Hoàng
Cổ
Võ
sự
Hợp
Nhất
Kitô
Giáo
“đọc
diễn
văn…liên
quan
đến
người
Do-Thái”.
Đức
Hồng
Y
Keeler
cho
biết
bài
diễn
văn
đưa
ra
điều
mà
cuối
cùng
trở
thành
tuyên
ngôn
của
Công
Đồng
kết
án
chủ
nghĩa
bài
Do-Thái
và
nhìn
nhận
giao
ước
liên
tục
của
Chúa
với
người
Do-Thái
là
một
trong
những
điểm
ngoặt
của
Công
Đồng.
Theo
Ngài,
một
biến
cố
khác
mà
ngài
còn
ghi
nhớ
một
cách
sống
động
là
thời
biểu
đối
với
Tuyên
Ngôn
về
Tự
Do
Tôn
Giáo
trong
tuần
lễ
cuối
cùng
của
khóa
họp
thứ
ba
của
Công
Đồng.
Ngài
nói:
“Dân
chúng
trong
quốc
gia
chúng
tôi
và
phần
đông
ở
Âu
châu
rất
lo
lắng
bởi
sự
kiện
điều
đó
không
được
chấp
thuận,
nhưng
thực
sự
văn
kiện
đó
đã
trở
lại
trong
những
năm
sau
đó
và
đã
trở
thành
một
tài
liệu
hay
hơn
nhiều.”
Đức
Hồng
Y
Keeler
cho
biết
ngài
nhớ
lại
tầm
quan
trọng
mà
các
giám
mục
nhắm
tới
là
việc
cầu
nguyện
trước
Mình
Thánh
Chúa
ở
Vương
Cung
Thánh
Đường
Thánh
Phêrô
mỗi
sáng
trước
khi
buổi
họp
bắt
đầu.
“Rồi
việc
kế
tiếp
là
rước
quyển
Thánh
Kinh.
Quyển
Thánh
Kinh
được
rước
lên
giữa
lối
đi
chính
trong
Vương
Cung
Thánh
Đường
và
mở
ra
đặt
trên
bàn
thờ,
với
ý
nghĩa
là
quyển
Thánh
Kinh
chủ
tọa”
trên
Công
Đồng,
Đức
Hồng
Y
nói
như
thế.
Ngài
còn
cho
biết
thêm,
tầm
mức
quan
trọng
chính
của
Lời
Chúa
được
giải
thích
rõ
ràng
trong
Hiến
Chế
Tín
Lý
của
Công
Đồng
về
Mạc
Khải
của
Chúa.
Liên
quan
đến
chính
mục
vụ
của
mình,
ngài
nói:
“Điều
mà
tôi
tìm
thấy
được,
đó
là
tôi
có
thể
đem
ra
thực
hành
điều
hiểu
biết
do
chúng
tôi
đem
Lời
Chúa
ra
khi
chúng
tôi
giảng
dạy…Đó
là
một
cuộc
cách
mạng
trong
lối
suy
tư
thời
bấy
giờ
và
tôi
biết
điều
đó
có
một
ảnh
hưởng
đối
với
tôi
mãi
mãi
từ
đó.”
Một
điểm
nổi
bật
khác
đối
với
Đức
Hồng
Y
Keeler
là
sự
hiện
diện
và
ảnh
hưởng
của
các
giám
mục
thuộc
các
giáo
hội
Công
giáo
Đông
phương
khiến
các
giám
mục
La-tinh
nhận
thấy
rõ
ràng
hơn
sự
đa
dạng
của
các
truyền
thống
và
các
nền
văn
hóa
Công
giáo.
Ngài
cho
biết
sự
nhận
thức
sâu
đậm
hơn
của
Chúa
Thánh
Linh
đã
gây
ấn
tượng
trên
ngài
bởi
các
giáo
hội
Đông
phương,
ngài
luôn
cố
gắng
kết
thúc
những
thư
tín
quan
trọng
bằng
cách
nhắc
đến
Chúa
Thánh
Linh
“để
dân
chúng
sẽ
hiểu
rằng
Chúa
Thánh
Linh
không
phải
xa
lạ
đối
với
chúng
ta,
nhưng
Ngài
phải
ẩn
náu
trong
sâu
thẳm
chúng
ta.”
Tất
cả
các
chuyên
viên
đó
đều
trích
dẫn
những
cải
cách
về
phụng
vụ
nhằm
cổ
võ
dân
chúng
tham
dự
đông
đảo
hơn,
nhất
là
việc
đưa
tiếng
mẹ
đẻ
vào
trong
nghi
lễ
La-tinh,
như
quyết
định
của
Công
Đồng,
có
lẽ
đã
có
ảnh
hưởng
lớn
lao
tức
thời
và
lâu
dài
trên
cuộc
sống
hằng
ngày
của
tín
hữu
Công
giáo.
Đức
Hồng
Y
Keeler
ghi
chú
là
không
những
các
giám
mục
Âu
Mỹ
thúc
bách
việc
sử
dụng
các
ngôn
ngữ
địa
phương
nhưng
các
giám
mục
Nam
Bán
Cầu
cũng
cho
thấy
rằng
dân
chúng
của
họ
“nhận
thấy
La
ngữ
như
là
một
nền
văn
hóa
thống
trị;
đó
là
chủ
nghĩa
thực
dân
ngụy
trang
dưới
một
dạng
thức
khác.”
Khi
được
hỏi
về
những
thành
quả
lớn
lao
của
Công
Đồng,
Đức
Giám
Mục
Cummins
đưa
ra
ngay
một
danh
sách
như
sau:
“phụng
vụ,
Giáo
Hội,
tự
do
tôn
giáo,
đại
kết.”
Ngài
gọi
việc
dân
chúng
dấn
thân
một
cách
linh
động
vào
vấn
đề
phụng
vụ
là
một
chuyển
hướng
trọng
đại
từ
trước
Công
Đồng.
Ngài
cho
biết
giáo
huấn
của
Công
Đồng
về
Giáo
Hội
như
một
cộng
đồng
và
như
là
dân
Chúa
để
nhấn
mạnh
tầm
mức
quan
trọng
của
bí
tích
thánh
tẩy,
nhu
cầu
tham
khảo
và
sự
quan
trọng
của
công
luận
ở
trong
Giáo
Hội.
Ngài
còn
nói
thêm:
“Điều
đó
có
nghĩa
là
người
ta
phải
công
nhận
sáng
kiến
của
giáo
dân,
xét
về
mặt
quyền
uy,
người
ta
phải
tạo
cơ
hội
để
sáng
kiến
phát
sinh.”
Đức
Giám
Mục
Cummins
cho
biết
Công
Đồng
nhắm
tới
trọng
tâm
của
Thánh
Kinh
trong
nền
thần
học,
phụng
vụ
và
cầu
nguyện
“đối
với
tôi
là
một
thay
đổi
căn
bản.”
Ngài
cho
biết
khi
ngài
được
đào
tạo
trong
chủng
viện,
không
có
tầm
mức
quan
trọng
đối
với
vấn
đề
học
hỏi
Thánh
Kinh
và
đó
là
một
cuộc
chiến
đấu
đối
với
ngài:
học
hỏi
Thánh
Kinh
để
rao
giảng
hằng
ngày.
Ngài
cho
biết:
ngài
chỉ
tham
dự
khóa
họp
vào
năm
1963
mà
thôi
nhưng
nhận
thấy
thật
là
một
cơ
hội
“phi
thường”,
được
gặp
gỡ
nhiều
thần
học
gia
chủ
đạo
của
Giáo
Hội
và
nghe
họ
bàn
thảo
những
vấn
đề
mà
Giáo
Hội
phải
đối
phó.
Ngài
nói:
“Chúng
tôi
tham
dự
những
cuộc
mạn
đàm
về
thần
học
gần
như
mỗi
ngày.”
Theo
các
chuyên
viên,
cùng
với
sự
tiến
bộ
lớn
lao
trong
việc
thực
thi
Công
Đồng
trong
nhiều
lãnh
vực
thuộc
đời
sống
Giáo
Hội,
họ
cũng
nhận
thấy
còn
nhiều
việc
phải
làm.
Đức
Giám
Mục
Lessard
nói:
“Một
trong
những
thách
đố
lớn
lao
là
sự
thực
hiện
đường
lối
của
Công
Đồng
về
vấn
đề
mục
vụ”
bằng
cách
triển
khai
một
cách
hữu
hiệu
những
hội
đồng
mục
vụ
giáo
phận
và
giáo
xứ.
Đức
Hồng
Y
Keeler
cho
biết
phần
chương
trình
nghị
sự
chưa
hoàn
tất
“thực
ra
đang
cuốn
hút
sứ
điệp
chính”
của
Hiến
Chế
Công
Đồng
về
Giáo
Hội.
Ngài
nói:
“Điều
đó
chưa
được
dân
chúng
hấp
thụ
hoàn
toàn…Đó
là
một
công
tác
không
ngừng
cố
gắng
kêu
mời
dân
chúng
đóng
một
vai
trò
linh
động
hơn
trong
Giáo
Hội.”
(Phỏng
theo
Jerry
Filteau
–
Washington
–
CNS)
