CÔNG
ĐỒNG
VATICAN
II
QUA
BỐN
THẬP
NIÊN
Chương:
01
02
03
04
05
06
07
08
09
10
11
12
13
Hương
Vĩnh
XIII
-
VAI
TRÒ
CỦA
ĐỨC
THÁNH
CHA
BÊNÊDITÔ
XVI
Đức
Giáo
Hoàng
Bênêditô
XVI
là
người
bị
ảnh
hường
sâu
đậm
bởi
những
cuộc
thảo
luận
tại
Công
Đồng
Vatican
II,
giờ
đây
Ngài
đang
ở
trong
một
vị
thế
điều
hướng
cách
thức
mà
theo
đó
Giáo
Hội
thực
thi
những
giáo
huấn
của
mình.
Nhiều
năm
trước
đây
Ngài
đã
cảnh
báo
rằng
Giáo
Hội
đã
trải
qua
một
“tiến
trình
thoái
hóa”
với
danh
nghĩa
là
“tinh
thần
Công
Đồng”,
nhất
là
Ngài
phê
phán
những
cải
cách
về
phụng
vụ
mà
Cộng
Đồng
đề
xướng.
Tuy
nhiên
trong
bài
thuyết
giảng
đầu
tiên
với
tư
cách
là
giáo
hoàng
vào
tháng
tư
năm
2005,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
đã
tuyên
bố
không
chút
nghi
ngờ
gì
về
Công
Đồng
Vatican
II
và
việc
am
hiểu
tường
tận
Phúc
Âm
sẽ
là
“kim
chỉ
nam”
cho
triều
đại
của
Ngài.
Ngài
nói:
“Càng
nhiều
năm
trôi
qua,
những
tài
liệu
Công
Đồng
không
mất
thời
gian
tính
bao
giờ.
Quả
thật,
những
giáo
huấn
của
Công
Đồng
đang
chứng
tỏ
thích
ứng
một
cách
đặc
biệt
với
tình
cảnh
mới
của
Giáo
Hội
và
xã
hội
đương
thời
đang
được
toàn
cầu
hóa.”
Xét
về
nhiều
phương
diện,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
biểu
hiện
hình
ảnh
trọn
vẹn
về
kinh
nghiệm
Công
Đồng
Vatican
II
trong
Giáo
Hội,
bởi
vì:
-
Với
tư
cách
cố
vấn
thần
học
cho
Đức
Hồng
Y
người
Đức
là
Joseph
Frings
ở
Cologne,
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI,
lúc
bấy
giờ
là
linh
mục,
đã
tham
dự
tất
cả
bốn
khóa
họp
của
Công
Đồng
từ
1962-1965
và
đã
hăng
say
theo
sát
công
tác
khởi
đầu
cũng
như
sự
thăm
dò
dũng
cảm
đưa
đến
việc
đổi
mới.
-
Ngài
bắt
đầu
tỏ
lộ
lo
âu
trong
những
khóa
họp
về
sau
là
Công
Đồng
cho
người
ta
cảm
tưởng
Giáo
Hội
sinh
hoạt
như
một
nghị
trường
và
“đức
tin
có
thể
bị
thay
đổi”.
-
Sau
khi
Công
Đồng
kết
thúc,
Ngài
cảnh
cáo
về
việc
chuyển
hướng
sai
lầm
trong
việc
thực
thi
và
cuối
cùng
Ngài
giúp
hình
thành
một
tạp
chí
thần
học
để
cân
bằng
điều
mà
Ngài
gọi
là
sự
tiếp
cận
thần
học
của
“hoạt
động
chính
trị
trong
giới
giáo
sĩ”.
-
Trong
tư
cách
là
viên
chức
tối
cao
về
tín
lý
trong
gần
24
năm,
Ngài
đã
hoạt
động
để
kiềm
chế
những
sự
lạm
dụng
và
minh
định
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
trong
những
lãnh
vực
bao
gồm
sự
thí
nghiệm
thần
học,
những
văn
bản
phụng
vụ,
sự
học
hỏi
Thánh
Kinh,
vấn
đề
tông
đồ
giáo
dân,
vai
trò
của
những
hội
đồng
giám
mục
và
cuộc
đối
thoại
liên
tôn
cũng
như
đại
kết.
Học
giả
người
Hoa
Kỳ
là
George
Weigel
cho
biết
trong
tư
cách
là
một
chuyên
viên
thần
học
trẻ
tuổi,
linh
mục
Ratzinger
hiểu
rõ
sự
thật
chủ
yếu
về
Vatican
II
là
“aggiornamento”
tức
sự
“hiện
đại
hóa”
Giáo
Hội
Công
Giáo
phải
đặt
căn
bản
trên
sự
“trở
về
nguồn”,
một
sự
trở
về
với
nguồn
gốc
của
sự
khôn
ngoan
Kitô
giáo
và
sự
Giáo
Hội
tự
hiểu
biết
chính
mình
một
cách
sâu
sắc
hơn.
Weigel
phát
biểu:
“Ngài
Ratzinger…hiểu
rằng
cả
hai
điều
đó
phải
song
hành:
“cập
nhật
hóa
mà
không
hiểu
chính
mình
‘một
cách
sâu
sắc’
thì
chỉ
hướng
Giáo
Hội
vào
một
tổ
chức
tự
nguyện
khác
dành
cho
những
việc
từ
thiện
mà
thôi.”
Weigel
đã
đề
cập
tới
chủ
đề
về
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
và
Công
Đồng
Vatican
II
trong
một
quyển
sách
mới
nhất
của
ông
là
“Sự
Chọn
Lựa
của
Thiên
Chúa:
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
và
tương
lai
Giáo
Hội
Công
Giáo”,
cho
biết
Đức
tân
Giáo
Hoàng
đã
có
một
ảnh
hưởng
lớn
lao
trên
việc
thực
thi
Công
Đồng
dưới
triều
đại
của
Đức
Thánh
Cha
Gioan
Phao-lồ
II.
Weigel
nói:
“Ngày
nay,
thử
thách
lớn
nhất
của
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
trong
tư
cách
là
‘người
thực
thi’
Công
Đồng
Vatican
II,
sẽ
thành
công
trong
việc
tìm
kiếm
được
những
vị
giám
mục
thể
hiện
được
tầm
nhìn
của
Công
Đồng
đối
với
vai
trò
giám
mục
như
là
tông
đồ.”
Alberto
Melloni
-
một
sử
gia
về
Giáo
Hội
học
người
Ý –
cho
biết
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
đã
mang
lại
chiều
kích
lớn
lao
về
thần
học
cho
Vatican
II
và
Ngài
vẫn
là
một
“người
con
của
Công
Đồng”
xét
về
nhiều
phương
diện,
nhưng
với
việc
Ngài
được
bầu
làm
giáo
hoàng
thì
công
cuộc
thực
thi
Công
Đồng
Vatican
II
đối
với
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
đã
trở
thành
một
vấn
đề
cai
quản
và
không
chỉ
là
một
sự
tranh
luận
có
tính
cách
trí
thức
hay
thần
học.
Học
giả
Alberto
Melloni
viết:
“Những
gì
Ngài
đã
nghĩ
và
làm
tại
Công
Đồng
thì
rất
quan
trọng,
nhưng
điều
đáng
kể
hơn
nhiều
ngày
nay
là
điều
Ngài
sẽ
làm
trên
cương
vị
Giáo
Hoàng,
nhất
là
trong
những
lãnh
vực
gay
cấn
như
giám
mục
đoàn
và
vấn
đề
đại
kết.”
Trong
những
năm
trước
khi
được
bầu
làm
giáo
hoàng,
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
đã
bình
luận
về
di
sản
của
Vatican
II
khiến
nhiều
người
chú
ý
rất
nhiều,
nhất
là
khi
Ngài
nói
tới
phụng
vụ.
Vào
năm
1997,
Ngài
bày
tỏ
một
cách
quyết
liệt
theo
đó
việc
Đức
Thánh
Cha
Phao-lồ
VI
cải
tổ
phụng
vụ
đã
làm
“phương
hại
lớn
lao”
cho
Giáo
Hội.
Theo
Ngài,
trong
thực
tế,
không
phải
những
thay
đổi
không
cần
thiết,
xét
về
nhiều
phương
diện,
“Sách
Lễ
Roma
mới”
là
một
sự
cải
tiến.
Trong
tầm
nhìn
của
Ngài,
vấn
đề
là
phụng
vụ
cũ
đã
bị
phá
huỷ
và
Thánh
Lễ
mới
được
xây
dựng
trên
những
mảnh
vụn
của
phụng
vụ
cũ.
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
kêu
gọi
một
“tiến
trình
phụng
vụ
mang
lại
sức
sống
cho
di
sản
đích
thực
của
Công
Đồng
Vatican
II”.
Năm
1999,
Ngài
cho
ra
đời
một
tác
phẩm
về
chủ
đề
đó,
khi
Ngài
cho
rằng
phụng
vụ
tân
thời
cần
dành
nhiều
chỗ
hơn
cho
sự
thinh
lặng,
những
động
tác
truyền
thống
của
Kitô
giáo,
âm
nhạc
thích
hợp
và
những
yếu
tố
khác
làm
tăng
trưởng
thái
độ
cung
kính.
Đức
Hồng
Y
cũng
đã
làm
dấy
lên
một
cuộc
tranh
luận
vào
năm
1990
khi
Ngài
cho
biết
là
đồng
ý
với
những
luận
cứ
thần
học
về
vấn
đề
xoay
bàn
thờ
về
vị
trí
như
trước
Công
Đồng
Vatican
II
trong
đó
linh
mục
khi
dâng
Thánh
Lễ
thì
xây
lưng
về
phía
cộng
đoàn.
Ngài
cũng
cho
biết
có
lẽ
quá
trễ
để
đảo
ngược
những
sự
đổi
thay
đó
mà
không
làm
cho
giáo
dân
trở
nên
bối
rối
hơn
bao
giờ
hết
và
một
sự
trở
về
toàn
diện
đối
với
việc
dâng
Thánh
lễ
bằng
La
ngữ
thì
ngày
nay
không
thể
xảy
ra
được
và
có
lẽ
không
phải
là
điều
đáng
mong
ước.
Vì
những
lời
phát
biểu
của
Ngài
trong
quá
khứ,
nhiều
tín
hữu
trông
chờ
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
sẽ
có
những
thay
đổi
ngoạn
mục
trong
nghi
lễ
giáo
hoàng,
như
dẹp
bỏ
những
yếu
tố
có
tính
cách
đa
văn
hóa
thường
rất
nổi
bật
dưới
triều
đại
của
Đức
Thánh
Cha
Gioan
Phao-lồ
II.
Cho
đến
bây
giờ,
điều
đó
đã
không
xảy
ra.
Vào
những
Ngày
Giới
Trẻ
Thế
Giới
vừa
qua
ở
Đức
quốc
chẳng
hạn,
Thánh
Lễ
giáo
hoàng
được
sinh
động
bằng
những
hồi
trống
của
người
dân
Phi
châu,
đàn
xita
và
kèn
của
người
Nam
Mỹ.
Trong
buổi
kinh
chiều
có
cả
những
nghệ
sĩ
múa
hát
nữa.
Ngoài
vấn
đề
phụng
vụ,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
luôn
quan
tâm
đến
ý
nghĩa
thần
học
và
giáo
hội
học
đằng
sau
phụng
vụ.
Vào
năm
1962
khi
Công
Đồng
bắt
đầu
thảo
luận
gay
cấn
về
nguồn
gốc
mạc
khải,
vị
linh
mục
trẻ
tuổi
Ratzinger
đã
trở
thành
một
diễn
viên
cốt
cán.
Việc
thảo
luận
về
mạc
khải
đặt
ra
vấn
đề
là
làm
sao
Thánh
Kinh
và
Thánh
Truyền
liện
hệ
với
nhau
và
cả
hai
đã
liên
hệ
đến
quyền
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
(magisterium)
như
thế
nào.
Đó
là
một
cuộc
thào
luận
của
các
chuyên
viên,
nhưng
đã
có
tác
động
lớn
lao
trên
cách
thế
theo
đó
Giáo
Hội
tự
hiểu
biết
chính
mình.
Trong
tầm
nhìn
của
Cha
Ratzinger
lúc
bấy
giờ,
có
một
chiều
hướng
nguy
hiểm
trong
việc
giải
thích
Thánh
Kinh
như
là
kho
tàng
trọn
vẹn
chứa
đựng
đức
tin,
một
đường
hướng
trao
ban
một
quyền
bính
lớn
lao
cho
những
nhà
chú
giải
Thánh
Kinh
và
quyền
bính
rất
ít
hay
không
có
gì
cả
cho
quyền
giáo
huấn
và
cho
truyền
thống
Giáo
Hội.
Ngài
cho
biết
các
nhà
chú
giải
Thánh
Kinh
thường
bất
đồng
ý
kiến
và
điều
đó
làm
cho
đức
tin
bị
tổn
thương
hơn
đối
với
sự
kiện
những
giả
thuyết
và
những
quan
điểm
luôn
luôn
thay
đổi.
Trong
khi
Công
Đồng
thảo
luận
về
vấn
đề
nầy,
cha
Ratzinger
soạn
thảo
một
bài
thuyết
trình
dựa
trên
lịch
sử
để
chứng
tỏ,
như
Ngài
đã
viết
sau
nầy,
là
“mạc
khải…thì
rộng
lớn
hơn
ngay
cả
đối
với
những
lời
ghi
trong
Thánh
Kinh”
và
Giáo
Hội
cũng
như
Thánh
Truyền,
theo
bản
chất,
cả
hai
đều
bao
gồm
trong
mạc
khải.
Nhiều
luận
cứ
nầy
cuối
cùng
đã
chiếm
ưu
thế
tại
Công
Đồng.
Về
sau
nầy
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
đã
gọi
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Mạc
Khải
của
Chúa
là
một
trong
những
văn
bản
sáng
giá
của
Công
Đồng
và
là
một
văn
bản
mà
Giáo
Hội
chưa
am
tường
thấu
đáo.
Theo
một
quan
điểm
tổng
quát
hơn,
điều
đã
làm
cho
vị
Giáo
hoàng
tương
lai
cảm
thấy
bất
an
nhiều
nhất
đối
với
hậu
quả
tai
hại
của
Công
Đồng
là
cảm
tưởng
cho
rằng
mọi
việc
trong
Giáo
Hội
đều
được
đem
ra
duyệt
xét
lại
hết
và
đường
hướng
chính
trị
của
trần
thế
có
thể
trao
lại
cho
Giáo
Hội
để
lấy
quyết
định.
Ngài
đã
cảnh
báo
sự
dấy
lên
của
niềm
phẫn
uất
chống
lại
khuynh
hướng
Roma
và
quan
điểm
về
một
thứ
“giáo
quyền
của
nhân
dân”
hay
“Giáo
Hội
từ
bên
dưới”
mà
trong
đó
nhân
dân
xác
quyết
về
định
nghĩa
“Giáo
Hội”.
Ngài
cũng
tỏ
ra
lo
âu
về
sự
tín
nhiệm
mới
mà
Công
Đồng
Vatican
II
đã
truyền
đạt
nơi
các
thần
học
gia
đã
khiến
cho
họ
cảm
thấy
mình
không
còn
phụ
thuộc
các
giám
mục
nữa.
Những
sự
quan
tâm
đó
được
phản
ảnh
trong
nhiều
văn
kiện
được
phổ
biến
trong
thời
gian
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
đảm
trách
Thánh
Bộ
Tín
Lý
và
Đức
Tin.
Đáng
chú
ý
nhất
là
vào
năm
1984
khi
Thánh
Bộ
cảnh
cáo
việc
sử
dụng
những
khái
niệm
Mác-xít
trong
thần
học
giải
phóng.
Vào
năm
1990
Thánh
Bộ
kêu
gọi
những
thần
học
gia
bất
đồng
ý
kiến
với
những
giáo
huấn
của
Giáo
Hội
đừng
sử
dụng
những
phương
tiện
truyền
thông
để
phổ
biến
quan
điểm
của
mình
hay
làm
áp
lực
để
thay
đổi.
Và
năm
1992
Thánh
Bộ
tuyên
bố
các
thần
học
gia
không
được
nhấn
mạnh
thái
quá
đến
quyền
tự
trị
của
các
giáo
hội
địa
phương
và
thu
hẹp
sự
hiệp
thông
các
giáo
sĩ
vào
thực
tế
có
tính
cách
xã
hội.
Vatican
II
đã
mở
cửa
cho
vấn
đề
đại
kết
và
việc
đối
thoại
liên
tôn
và
Thánh
Bộ
Tín
Lý
của
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
đã
đưa
ra
những
tiêu
chuẩn
quan
trọng
cho
cả
hai
lãnh
vực.
Vào
năm
2000,
Thánh
Bộ
Tín
Lý
đã
ban
hành
tài
liệu
“Dominus
Jesus”
(Chúa
Giêsu),
nói
về
sự
được
cứu
rỗi
chỉ
qua
Chúa
Giêsu
mà
thôi
và
một
tài
liệu
thứ
hai
về
các
“Giáo
Hội
Anh
Em”.
Cả
hai
tài
liệu
đều
bị
chỉ
trích
bởi
những
thành
viên
tham
gia
công
cuộc
đối
thoại
của
Giáo
Hội.
Khi
tuyên
bố
Chúa
Giêsu
Kitô
và
Giáo
Hội
cần
thiết
cho
sự
cứu
rỗi,
“Dominus
Jesus”
đã
làm
cho
một
số
độc
giả
có
cảm
tưởng
như
văn
bản
mang
tính
cách
loại
trừ,
cho
dù
Vatican
đã
đoan
quyết
đó
chỉ
là
một
lối
diễn
tả
của
đức
tin
Công
Giáo
mà
thôi.
Văn
kiện
về
các
“Giáo
Hội
Anh
Em”
đã
giải
bày
từ
ngữ
đó
chỉ
được
sử
dụng
để
diễn
tả
những
giáo
hội
còn
duy
trì
một
giám
mục
đoàn
và
Bí
Tích
Thánh
Thể
có
hiệu
lực,
như
các
Giáo
Hội
Chính
Thống
Giáo;
điều
đó
bị
chỉ
trích
kịch
liệt
bởi
các
nhà
lãnh
đạo
Anh
Giáo
và
Tin
lành.
Cả
hai
văn
kiện
hoàn
toàn
dựa
trên
những
giáo
huấn
của
Công
Đồng
Vatican
II
để
bênh
đỡ
những
luận
cứ
liên
hệ
đến
hai
văn
kiện
đó.
“Dominus
Jesus”
đã
trích
dẫn
những
văn
bản
Công
Đồng
hơn
50
lần,
kể
cả
xác
quyết
về
sự
“trung
gian
duy
nhất”
của
Chúa
Kitô
trong
sự
cứu
rỗi.
Khi
công
bố
văn
kiện,
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
cho
biết
ý
kiến
là
Giáo
Hội
không
bao
giờ
nhấn
mạnh
chân
lý
của
sứ
điệp
mình
“hoàn
toàn
khác
biệt”
với
điều
mà
Vatican
II
đã
xác
định.
Trong
quyển
sách
“Giáo
Hội,
Vấn
Đề
Đại
Kết
và
Chính
Trị”
phát
hành
năm
1987,
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
trình
bày
rằng
để
hiểu
rõ
giáo
huấn
của
Công
Đồng
về
vấn
đề
đối
thoại,
người
ta
phải
am
tường
“giáo
huấn
nòng
cốt”
về
Giáo
Hội
như
là
một
cộng
đồng
hiệp
thông.
Ngài
thối
thúc
mọi
người
đọc
kỹ
hơn
cách
diễn
đạt
những
văn
bản
của
Vatican
II
để
đối
lại
ý
kiến
của
một
nhóm
người
chỉ
có
thể
“hội
họp
nhau,
đọc
Phúc
Âm
và
nói:
‘Giờ
đây
chúng
ta
là
Giáo
Hội’”.
Ngài
cũng
tranh
luận
rằng
Công
Đồng
đã
triển
khai
“giám
mục
đoàn”
như
là
một
thực
thể
có
tính
cách
thần
học,
nhưng
điều
đó
đã
bị
ngộ
nhận
như
một
hình
thức
phân
chia
quyền
bính.
Đặc
biệt,
Ngài
đặt
thành
vấn
đề
“quyền
giáo
huấn
của
các
hội
nghị
giám
mục”
và
vào
năm
1985,
Ngài
tuyên
bố
là
các
hội
nghị
đó
“không
có
căn
bản
thần
học”.
Năm
1998
một
văn
kiện
giáo
hoàng
mà
Đức
Hồng
Y
đã
giúp
soạn
thảo
nhấn
mạnh
đến
giới
hạn
quyền
bính
thuộc
các
hội
nghị
các
giám
mục
và
Ngài
cho
rằng
những
vấn
nạn
thuộc
tín
lý
không
bao
giờ
được
quyết
định
bằng
một
cuộc
đầu
phiếu
với
đa
số.
Sự
đa
dạng
về
những
công
tác
mục
vụ
thuộc
giáo
dân
trong
Giáo
Hội
cũng
được
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
xem
xét
cẩn
thận.
Bộ
Tín
Lý
đã
giúp
điều
hướng
việc
soạn
thảo
một
văn
kiện
vào
năm
1997.
Văn
kiện
đó
hoàn
toàn
dựa
vào
những
văn
bản
của
Vatican
II
đã
ca
ngợi
sự
dấn
thân
của
giáo
dân
trong
công
việc
của
Giáo
Hội
nhưng
cảnh
cáo
việc
nhầm
lẫn
vai
trò
giáo
dân
với
những
thừa
tác
viên
được
tấn
phong.
Trong
nhiều
trường
hợp,
Đức
Hồng
Y
Ratzinger
đã
nhấn
mạnh
là
nhiệm
vụ
trước
tiên
của
giáo
dân
được
dự
kiến
bởi
Vatican
II
là
phúc
âm
hóa
và
thánh
hóa
thế
giới.
Cả
hằng
trăm
lần
khi
nói
hay
viết
về
Công
Đồng
Vatican
II,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
luôn
ủng
hộ
uy
quyền
của
những
giáo
huấn
Công
Đồng
nhưng
Ngài
cũng
tuyên
bố
chính
những
giáo
huấn
đó
đòi
hỏi
một
sự
học
hỏi
nghiên
cứu
thấu
đáo,
một
cái
nhìn
thận
trọng
để
phân
biệt
và
trên
tất
cả
là
một
sự
hiểu
biết
thích
đáng
về
Giáo
Hội
và
sứ
mệnh
của
Giáo
Hội.
Một
cách
tổng
quát,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
XVI
đã
nhìn
Công
Đồng
qua
sự
kiện
Giáo
Hội
ảnh
hưởng
thế
gìới
chứ
không
phải
thế
giới
ảnh
hưởng
Giáo
Hội.
Thị
kiến
đó
được
phản
ảnh
rõ
rệt
trong
văn
kiện
của
bộ
Tín
Lý
vào
năm
2003
về
“người
Công
Giáo
và
chính
trị”.
Văn
kiện
cho
biết
những
cử
tri
và
những
người
làm
luật
phải
để
đức
tin
của
mình
soi
chiếu
những
vấn
đề
liến
quan
đến
chính
trị.
Văn
bản
chịu
ảnh
hưởng
rất
nhiều
bởi
Hiến
Chế
Mục
Vụ
về
Giáo
Hội
trong
Thế
Giới
Tân
Tiến.
Ngoài
những
cải
tổ
trong
nội
bộ
Giáo
Hội
do
Vatican
II,
Đức
Thánh
Cha
Bênêditô
đã
nhấn
mạnh
mục
đích
rộng
lớn
hơn
của
Công
Đồng
là
mang
đức
tin
ra
khỏi
phạm
vi
riêng
tư
và
phục
hồi
đức
tin
như
là
một
động
lực
đối
với
lịch
sử.
Để
hiểu
rõ
Vatican
II
một
cách
nghiêm
chỉnh,
Ngài
nói
người
ta
phải
bắt
đầu
với
câu
đầu
tiên
của
Hiến
Chế
Tín
Lý
về
Giáo
Hội:
“Đức
Kitô
là
ánh
sáng
muôn
dân.”
Ngài
còn
nói
thêm
là
vấn
đề
ở
chỗ
Giáo
Hội
bắt
đầu
bằng
cách
nói
về
Đức
Kitô
chứ
không
phải
về
chính
mình.
Theo
hảng
thông
tấn
Zenit,
ngày
22-12-2005,
tại
Vatican
City,
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI
đã
ngỏ
ý
cuộc
khủng
hoảng
nổi
lên
trong
Giáo
Hội
tiếp
theo
sau
Công
Đồng
Vatican
II
không
phài
do
các
văn
kiện
Công
Đồng,
nhưng
đúng
hơn
do
sự
giải
thích
các
văn
kiện
đó.
Đức
Thánh
Cha
đã
phân
tích
cặn
kẽ
di
sản
trao
lại
do
cuộc
hội
họp
vào
những
năm
1962-1965
của
các
giám
mục
trên
thế
giới,
khi
Ngài
gặp
gỡ
các
cộng
sự
viên
ngày
hôm
đó
tại
Giáo
Triều
Roma
để
bày
tỏ
những
lời
chúc
mầng
Giáng
Sinh
của
Ngài.
Đức
Thánh
Cha
đã
lớn
tiếng
hỏi:
“Điều
gì
tốt
và
điều
gì
khiếm
khuyết
hay
bị
hiểu
lấm?”
trong
vấn
đề
thực
thi
những
văn
kiện
Công
Đồng.
Theo
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô
XVI,
việc
tiếp
nhận
những
sứ
điệp
của
Công
Đồng
xảy
ra
tùy
theo
hai
cách
giải
thích
“đối
chọi
nhau
hay
thảo
luận
với
nhau.”
Cách
giải
thích
thứ
nhất
–
đối
chọi
nhau
–
được
Đức
Thánh
Cha
gọi
là
“khoa
chú
giải
không
liên
tục
và
gián
đoạn
giữa
Giáo
Hội
tiền
Công
Đồng
và
hậu
Công
Đồng.”
Đức
Thánh
Cha
cho
biết,
theo
quan
điểm
đó,
điều
gì
quan
trọng
đối
với
Công
Đồng
không
phải
là
những
văn
bản
mà
là
tinh
thần
đổi
mới
mang
vào
Giáo
Hội.
Theo
Ngài
nhận
xét,
quan
điểm
đó
“thường
thích
sử
dụng
thị
hiếu
của
giới
truyền
thông
và
cũng
là
một
thành
phần
của
nền
thần
học
tân
thời.”
Theo
Đức
Thánh
Cha
Bênêđitô,
cách
giải
thích
thứ
hai
–
thảo
luận
với
nhau
–
là
“khoa
chú
giải
về
cải
tiến”
được
đề
nghị
bởi
các
Đức
Giáo
Hoàng
đã
khai
mạc
và
bế
mạc
Công
Đồng
–
các
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII
và
Phaolô
VI
–
và
đã
mang
lại
những
thành
quả
“một
cách
âm
thầm
nhưng
trông
thấy
rõ
rệt.”
Theo
quan
điểm
đó,
mục
tiêu
của
Công
Đồng
và
của
bất
cứ
cải
cách
nào
trong
Giáo
Hội
là
“truyền
đạt
giáo
lý
nguyên
tuyền
và
toàn
vẹn,
không
giảm
bớt
hay
bóp
méo”,
ý
thức
rằng
“bổn
phận
chúng
ta
không
những
phải
lo
bảo
vệ
kho
tàng
quý
báu
đó,
như
thể
chúng
ta
quan
tâm
không
những
về
thời
xa
xưa
mà
còn
dấn
thân
bằng
một
ý
muốn
cương
quyết
và
không
sợ
sệt
cho
công
tác
mà
thời
đại
chúng
ta
đòi
hỏi.”
Lặp
lại
lời
Đức
Thánh
Cha
Gioan
XXIII,
Ngài
nói:
“Một
là
kho
tàng
Đức
Tin,
tức
những
chân
lý
chứa
đựng
trong
giáo
lý
đáng
tôn
kính
của
chúng
ta
và
hai
là
cách
thức
những
chân
lý
đó
được
diễn
đạt,
tuy
nhiên
vẫn
bảo
toàn
cũng
một
ý
nghĩa
và
sự
sung
mãn.”
Đức
Thánh
Cha
Bêneđitô
XVI
vạch
rõ:
theo
cách
thức
đó,
Công
Đồng
đã
trình
bày
một
“định
nghĩa
mới
về
tương
quan
giữa
đức
tin
của
Giáo
Hội
và
một
số
yếu
tố
thiết
yếu
của
tư
duy
hiện
đại.”
Ngài
còn
nhấn
mạnh:
“Giáo
Hội,
cả
trước
hay
sau
Công
Đồng,
là
một
Giáo
Hội
duy
nhất,
thánh
thiện,
công
giáo
và
tông
truyền,
đang
lữ
hành
qua
thời
gian.”
Ngài
còn
nói
thêm:
“Ngày
nay
chúng
ta
nhìn
lại
Công
Đồng
Vatican
II
với
lòng
biết
ơn.
Nếu
chúng
ta
đọc
và
lãnh
hội,
nhờ
được
hướng
dẫn
bởi
một
khoa
chú
giải
thích
hợp,
điều
đó
có
thể
sẽ
gia
tăng
tiềm
lực
lớn
lao
đối
với
sự
đổi
mới
cần
thiết
trong
Giáo
Hội.”
(Phỏng
theo
John
Thavis
–
Vatican
City
–
CNS)
