DẪN
NHẬP TỔNG QUÁT

Lời
Giới Thiệu
của ÐTGM J.B. Phạm Minh Mẫn
Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh
cho các Kitô hữu (Vatican II, Mặc Khải. 22)
Ðó là trách nhiệm Hội Thánh tự đặt cho
mình như Công Ðồng Vaticanô II đã khẳng định. Tuy nhiên, nếu đây là
trách nhiệm chung cho hết mọi thành phần trong Hội Thánh, thì trước
hết là trách nhiệm của các mục tử. Chính vì vậy mà cách đây năm năm,
Ðức cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, vị tiền nhiệm của tôi,
khi giới thiệu cuốn Tân Ước do Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ
thực hiện, đã bày tỏ niềm mong ước của mình là sớm thấy bản dịch Cựu
Ước được hoàn tất. Mong ước đó nay đã thành hiện thực. Và chỉ hơn một
tháng sau ngày nhận trách nhiệm tại Tổng Giáo Phận Thành Phố Saigon,
tôi hân hạnh giới thiệu trọn bộ Kinh Thánh do Nhóm Phiên Dịch CÁC GIỜ
KINH PHỤNG VỤ thực hiện. Và đây là một niềm vui không nhỏ đối với tôi.
Thiết tưởng không cần lặp lại những gì
Ðức cố Tổng Giám Mục đã nói, nhất là sau 28 năm hiện diện và hoạt
động, đặc biệt trong lãnh vực Kinh Thánh và Phụng Vụ, Nhóm Phiên Dịch
CÁC GIỜ KINH PHỤNG VỤ không còn xa lạ gì đối với giới Công Giáo Việt
Nam. Không những thế, tính nghiêm túc của các công trình do Nhóm thực
hiện cũng đã gây được sự chú ý và thiện cảm của các giới chuyên môn,
bằng chứng là từ năm 1995 Nhóm đã được nhận vào Hiệp Hội Kinh Thánh
Công Giáo Thế Giới.
Vào giai đoạn đất nước đang chuyển
mình, khi mọi người công dân đang phấn đấu làm việc sao cho dân giàu
nước mạnh, và xây dựng một xã hội văn minh, người Kitô hữu Việt Nam
chúng ta chỉ có thể góp phần độc đáo của mình nếu mỗi người cố gắng
hơn để gần gũi với Lời Chúa, thấm nhuần Lời Chúa, để cho Lời Chúa nên
sức mạnh và ánh sáng giúp chúng ta sống và hoạt động. Và làm cho Lời
Chúa trở nên gần gũi với anh chị em tín hữu Việt Nam qua những bản
dịch vừa trung thành với nội dung mặc khải, vừa trong sáng, dễ hiểu,
phù hợp với cách diễn tả của người Việt Nam hôm nay, đó là mục tiêu mà
tập thể Nhóm Phiên Dịch không ngừng đeo đuổi từ bao nhiêu năm qua. Tôi
chân thành cầu mong cho công trình tập thể đầu tiên thuộc loại này
được phổ biến rộng rãi.
Trong tư cách một người mục tử, tôi xin
được bày tỏ lòng biết ơn đối với các anh chị em đã dày công thực hiện
công trình phiên dịch này, với tất cả những người trực tiếp hay gián
tiếp đã cộng tác vào việc thực hiện, cũng như với các cơ quan đã tận
tình giúp đỡ, đặc biệt với Liên Hiệp Thánh Kinh Hội.
Nguyện xin Chúa ban phúc lành cho tất
cả những ai đã ra sức làm việc cho dân Chúa có lương thực thường tồn.
Thành Phố Sàigòn, ngày 5 tháng 5
năm 1998
Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
Tổng Giám Mục
Giáo Phận Thành Phố Sàigòn
MẠC KHẢI VÀ SÁCH
THÁNH
Ðể giúp độc giả, dù tin vào Thiên
Chúa hay không, biết mình đang cầm cuốn sách nào trong tay và biết
cách đọc và hiểu cuốn Sách Thánh, chúng tôi xin tóm tắt giáo huấn của
Công Ðồng Va-ti-ca-nô II về Mặc Khải và Sách Thánh (Kinh Thánh), sau
đó chúng tôi giới thiệu đại cương từng phần của Sách Thánh.
1. Ðâu là nguồn gốc
của Sách Thánh?
"Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã
muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý
Người (x. Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ
Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông
phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2Pr 1,4). Trong việc mặc
khải này, với tình thương chan chứa của Người, Thiên Chúa vô hình (x.
Xh 33,11; Ga 15,14-15) ngỏ lời với loài người như với bạn hữu. Người
đối thoại với họ (x. Br 3,38) để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với
Người" (MK 2).
Thiên Chúa đã nói với loài người khi
nào, qua ai?
"Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên
Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau
hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử (Giê-su)" (Dt
1,1-2).
Thiên Chúa đã nói cách đây hàng mấy
chục thế kỷ, làm sao tôi có thể nghe được hôm nay?
"Thuở xưa" Lời Chúa phán dạy đã tạo
thành một dân tộc được tuyển chọn để nghe và giữ lời Thiên Chúa. Lời
ấy đã được lưu giữ trong giáo huấn, đời sống và phụng tự của Dân Thiên
Chúa trong thời Cựu Ước và đã được ghi chép thành Sách Thánh, tức là
sách Cựu Ước.
Còn lời Thiên Chúa đã phán qua Thánh Tử
Giê-su đã được truyền lại cho chúng ta nhờ sứ vụ của các Tông Ðồ:
"Hoặc qua lời giảng dạy, gương lành và các thể chế, các ngài đã truyền
lại những gì đã nhận lãnh từ miệng Chúa Ki-tô, khi chung sống với
Người và thấy Người hành động, hoặc đã học biết được nhờ Chúa Thánh
Thần soi sáng; một phần do chính các ngài và những người phụ tá các
ngài đã viết lại Tin Mừng cứu rỗi dưới sự linh hứng của cùng một Chúa
Thánh thần" (MK 7). Ðó là sách Tân Ước.
2. Làm sao biết được
đây là Sách Thánh?
Hàng ngày trong khi cử hành phụng vụ,
sau khi đọc Sách Thánh, người đọc hô lên: "Ðó là Lời Chúa", và toàn
thể cộng đoàn đáp lại: "Tạ ơn Chúa." Ðó là một lời tuyên xưng đức tin.
"Sách Thánh là Lời Chúa nói. Vì được ghi chép lại dưới sự linh hứng
của Chúa Thánh Thần" (MK 9). Như vậy thì chỉ có Thánh Thần mới có thể
làm cho Hội Thánh nhận ra "đó là Lời Chúa".
Trong Hội Thánh, Chúa Giê-su đã trao
cho các Tông Ðồ và các đấng kế vị quyền giáo huấn để "dạy người ta
tuân giữ mọi điều Chúa đã truyền" (x.Mt 28,20), và đã ban Thánh Thần
cho các vị này để thi hành sứ mạng (x.Ga 20,21-22). Thánh Thần đã dùng
các vị này để giúp cộng đoàn Hội Thánh dần dần xác định những sách nào
là Sách Thánh. Vào thế kỷ IV Hội Thánh Công Giáo đã có những bản kê
khai các sách được nhìn nhận là Sách Thánh: đó là quy điển, tức là
những sách được Thánh Thần linh hứng và có giá trị để Hội Thánh quy
chiếu vào đó mà biết những gì phải tin và những gì phải thực hành
trong đời sống. Ngày nay Hội Thánh Công Giáo vẫn trân trọng tôn kính,
giữ gìn và tuyên đọc Lời Chúa trong bộ Sách Thánh gồm phần Cựu Ước (46
cuốn ) và Tân Ước (27 cuốn).
3. Sách Thánh trong
đời sống của Ki-tô hữu
"Hội Thánh luôn tôn kính Sách Thánh như
chính Thân Thể Chúa. Nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không
ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc
Mình Chúa Ki-tô để ban phát cho các tín hữu" (MK 21).
Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là hai
cách hiện diện của Chúa Ki-tô Phục Sinh. Tin Mừng theo thánh Lu-ca gợi
cho chúng ta điều ấy trong câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau: Họ
thấy lòng mình bừng cháy khi Chúa Giê-su nói với họ và giải nghĩa Sách
Thánh cho họ trên đường, và họ nhận ra Người khi Người "cầm lấy bánh,
dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ" (x. Lc 24,13-32).
Lời Chúa và bí tích Thánh Thể là của ăn
thông ban và nuôi dưỡng sự sống đời đời nơi chúng ta. Trong Cựu Ước,
khi dẫn dân Chúa đi trong hoang địa, Thiên Chúa nuôi họ bằng man-na và
Lời Chúa: "Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh
em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng
chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống
không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa
phán ra" (Ðnl 8,3). Trong thời của Giao Ước Mới này, Chúa Ki-tô Phục
Sinh đồng hành với dân mới. Người nuôi chúng ta bằng Lời Chúa và bằng
Mình Máu Thánh Người. - "Ai tuân giữ lời tôi, thì sẽ không bao giờ
phải chết" (Ga 8,51) - "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn
bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là
thịt tôi đây, để cho thế gian được sống" (Ga 6,51).
"Hội Thánh luôn công bố Lời Chúa khi cử
hành các bí tích và các giờ kinh phụng vụ, vì Sách Thánh phân phát
cách bất di bất dịch Lời của chính Thiên Chúa và làm vang dội tiếng
nói của Chúa Thánh Thần qua các ngôn sứ cùng các Tôn g Ðồ. Bởi vậy,
mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh cũng như chính đạo thánh Chúa Ki-tô
phải được Sách Thánh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực tế, trong các Sách
Thánh, Cha trên trời đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ bằng
tất cả lòng trìu mến" (Mk 21).
Công Ðồng Va-ti-ca-nô II đã nhắc lại
lời thánh Giê-rô-ni-mô: "Không biết Sách Thánh là không biết Chúa
Ki-tô" rồi khuyến khích các tu sĩ "hăng hái tiếp xúc với chính bản văn
Sách Thánh" và khẳng định: "Các giám mục có phận sự dạy dỗ cách thích
hợp cho các tín hữu đã được trao cho mình biết sử dụng đúng đắn Sách
Thánh, nhất là Tân Ước và trước tiên là các sách Tin Mừng, nhờ các bản
dịch. Các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần
thiết và đầy đủ, để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Sách Thánh cách
bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Sách Thánh" (MK 25).
Hội Thánh muốn trao Sách Thánh vào tay
mỗi người tín hữu và cả những người ngoài Ki-tô giáo, bởi vì "cũng như
đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng lãnh nhận bí tích Thánh
Thể thì cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng sẽ có một đà tiến
mới nhờ gia tăng lòng sùng kính Lời Chúa", là lời "hằng tồn tại muôn
đời" (x. MK 25-26).
4. Làm thế nào để hiểu
Sách Thánh?
Sách Thánh là Lời Chúa đã thành lời
người, cũng như Ðức Ki-tô là Lời Chúa đã thành người phàm và cư ngụ
giữa chúng ta. Cả hai là công trình của Thánh Thần: Lời Chúa thành lời
người do Thánh Thần linh hứng cho các tác giả viết ra; Lời Chúa thành
người phàm do Thánh Thần tạo dựng tác động trong lòng Trinh Nữ
Ma-ri-a. Công Ðồng khẳng định: "Lời của Chúa diễn tả qua ngôn ngữ của
loài người, được đồng hoá với tiếng nói loài người, cũng như xưa Lời
của Chúa Cha hằng hữu đã trở nên giống loài người, sau khi nhận lấy sự
yếu đuối của xác phàm" (MK 13).
Tính cách "nhập thể" này khiến người ta
phải nhờ đến các phương pháp nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ, xã hội, các
phương pháp phân tích văn chương để "tìm hiểu điều các tác giả Sách
Thánh thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời
lẽ của họ" (x.MK12). Công việc này Công Ðồng kêu gọi các nhà chuyên
môn thực hiện để giúp những người có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa
"truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa cho các tín hữu". Còn chính
"những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa? phải gắn bó với Sách Thánh
nhờ chăm đọc và ân cần học hỏi? để khỏi trở thành kẻ huênh hoang rao
giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng bởi không lắng nghe Lời Thiên
Chúa trong lòng" (x. MK 23-26).
"Nhưng Sách Thánh đã được viết ra bởi
Chúa Thánh Thần, nên cũng phải được đọc và chú giải trong Chúa Thánh
Thần." Muốn thế, phải tôn trọng toàn thể hoạt động của Thánh Thần,
nghĩa là "phải ân cần lưu ý đến nội dung, và sự thống nhất toàn bộ
Kinh Thánh, dựa trên truyền thống sống động của toàn Hội Thánh và trên
sự tương hợp toàn bộ đức tin" (MK 12).
Vậy phải chăng người Ki-tô hữu giáo dân
(không phải là giáo sĩ, tu sĩ, nhà nghiên cứu?) đành chỉ chờ nghe
giảng dạy chứ không được cầm Sách Thánh trong tay mà đọc? Công Ðồng
Va-ti-ca-nô II đã ra lệnh: "Phải mở rộng lối vào Kinh Thánh cho các
Ki-tô hữu" (MK 22). Trách nhiệm của các giám mục là "dạy các Ki-tô hữu
biết sử dụng đúng đắn Sách Thánh? nhờ các bản dịch" (MK 25). Như vậy
Công Ðồng khuyến khích mọi Ki-tô hữu trực tiếp tiếp xúc với Sách
Thánh.
5. Làm thế nào để được
Lời Chúa nuôi dưỡng như lương thực?
Công việc của các nhà nghiên cứu và các
người rao giảng là giúp người Ki-tô hữu hiểu Lời Chúa trong Sách
Thánh. Nhưng sự hiểu biết đó không sinh ích gì nếu mỗi người không trở
thành mảnh đất tốt đón nhận hạt giống Lời Chúa, nghĩa là "những kẻ
nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, rồi nắm giữ và nhờ
kiên trì mà sinh hoa kết quả" (Lc 8,15).
Thánh Phê-rô tuyên xưng: "Thầy mới có
những lời đem lại sự sống đời đời" sau khi Chúa Giê-su tuyên bố: "Thần
Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với
anh em là Thần Khí và là sự sống" (Ga 6,63.68). Chính vì "tất cả những
gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng" (2 Tm 3,16) và
"chính nhờ có Thánh Thần thúc đẩy mà có những người nói theo lệnh của
Thiên Chúa" (2Pr 1,21), nên Lời Thiên Chúa có sức thông ban Thần Khí
cho chúng ta tương tự như các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Do
đó điều trước tiên là chúng ta phải cung kính đọc hoặc nghe với đức
tin cũng như khi lãnh nhận các bí tích.
Khung cảnh thuận lợi nhất để đón nhận
Lời Chúa là khi cử hành các giờ kinh phụng vụ và các bí tích, vì những
lúc ấy tâm hồn chúng ta được chuẩn bị, và phụng vụ nâng đỡ chúng ta.
Ngoài khung cảnh phụng vụ, chúng ta có
thể đọc và suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa. Ðây là hình thức đón nghe Lời
Chúa trong cầu nguyện đã có từ thời Dân Chúa bị lưu đày ở Ba-by-lon
(thế kỷ VI trước CN). Khi không còn phụng vụ tế tự tại đền thờ
Giê-ru-sa-lem, Dân Chúa mới chú ý đến lời ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ
tụ họp nhau trong Hội đường (ngày sa-bát) để nghe lại Lời Chúa đã phán
dạy qua ông Mô-sê và các ngôn sứ. Họ lắng nghe và nghiền ngẫm, đối
chiếu với những gì họ đang sống. Nhờ đó họ hiểu được nguyên nhân cuộc
sống hiện tại là do tội lỗi của họ gây ra, đồng thời họ tìm được niềm
hy vọng vì khi các ngôn sứ răn đe thì cũng công bố lời hứa cứu độ. Như
thế Lời Chúa dạy cho họ biết hoán cải và hy vọng. Từ đó họ ăn năn
thống hối, cầu xin ơn tha tội, ơn giải phóng, ơn cứu độ?
Trong các văn kiện gần đây, Ðức Gio-an
Phao-lô II đã đề cao việc suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa (xem Tông huấn
về "đào tạo linh mục" số 47; "Ðời sống thánh hiến" số 94; sứ điệp nhân
"ngày quốc tế giới trẻ" 1997 tại Paris, số 6). Chúng tôi xin giới
thiệu với độc giả vài nét về cách suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa này,
dựa theo cách giải thích của Ðức Hồng Y Carlo Maria Martini. Có thể
phân biệt ba bước trong tiến trình suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa:
a. Ðọc
Bắt lấy những yếu tố quan trọng của bản
văn bằng cách chú ý đến các động từ, các chủ từ, các tình cảm, tính
cách của hành động, các sự việc nối tiếp nhau vì lý do nào. Nếu chịu
khó đọc đi đọc lại, sẽ luôn thấy mới mẻ. Liên tưởng đến những đoạn
tương tự trong Sách Thánh giúp ta chuyển từ mạch văn trước mắt đến
những viễn tượng rộng lớn hơn, vì toàn Sách Thánh là một cuốn sách duy
nhất. Ðây là việc khảo sát bản văn, ai cũng có thể làm được. Có thể
nói đọc là tra vấn bản văn.
b. Suy niệm
Khi đọc ta mới chỉ chú ý đến ý nghĩa
của các từ ngữ. Suy niệm là nghiền ngẫm về những tình cảm, những hành
động, những thái độ do kết cấu của các từ ngữ gợi lên: có thể là thái
độ của Thiên Chúa đối với con người: lòng thương xót, sự thành tín, sự
công chính; hoặc thái độ của con người đối với Thiên Chúa và với nhau:
ngợi khen, cảm tạ, thống hối - phản bội, dối trá, hèn nhát? .
Nghiền ngẫm giúp ta nhận ra những giá
trị thường hằng hàm chứa trong bản văn. Sau đó ta đối chiếu với tình
trạng bản thân: tôi đảm nhận những giá trị thường hằng đó như thế nào?
Ðó là để cho Lời Chúa tra vấn, dạy dỗ, an ủi, mời gọi ta.
Việc suy niệm như thế khơi dậy trong
chúng ta những tâm tình, những ước nguyện để thân thưa với Thiên Chúa:
ngợi khen, cảm tạ, thống hối, cầu xin, dâng hiến? Lời Chúa đưa ta đến
chỗ đáp lại, đối thoại với Người. Ðó là cầu nguyện, như Công Ðồng nói:
"Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Sách Thánh, để có sự đối thoại
giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Thiên Chúa khi
cầu nguyện và chúng ta nghe Người nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn
của Chúa" (MK 25).
c. Chiêm ngắm
Việc nghiền ngẫm và cầu nguyện dần dần
tập trung lại trong việc chiêm ngắm chính mầu nhiệm Chúa Giê-su hiện
diện trong mọi trang Sách Thánh và nhất là trong sách Tin Mừng. Thánh
Thần đưa chúng ta vượt qua bản văn để cảm nghiệm và sống với sự hiện
diện của Thiên Chúa đang hành động trong mọi biến cố Sách Thánh kể
lại.
Như vậy chúng ta đi từ bản văn đến
những giá trị bản văn nêu lên và cuối cùng đến với chính Ðấng hành
động trong các biến cố và đang nói với ta.
Bước thứ nhất (đọc) có thể nhờ người
giải thích, giúp đỡ. Bước thứ hai (suy niệm chiêm ngắm) mỗi người phải
đích thân đi vào với ơn Chúa giúp. Bước thứ ba hoàn toàn do Thánh Thần
khơi dậy trong chúng ta.
Nhờ suy niệm chiêm ngắm Lời Chúa, mỗi
người sẽ được Thiên Chúa đưa vào một kinh nghiệm đích thân gặp gỡ
Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta cốt để đưa chúng ta vào
mầu nhiệm của Người, chia sẻ cho chúng ta sự sống của Người.
Dẫn
Nhập: CỰU ƯỚC
1. Nguồn gốc các sách
Cựu Ước
"Thiên Chúa chí ái đã ân cần trù liệu
và chuẩn bị việc cứu độ toàn thể nhân loại theo một kế hoạch lạ lùng:
Người đã tuyển chọn một dân tộc để ủy thác những lời ước hẹn. Quả vậy,
sau khi lập Giao Ước với ông Áp-ra-ham (x. St 15,18) và với dân
Ít-ra-en qua ông Mô-sê (x. Xh 24,8), Thiên Chúa đã dùng lời nói, việc
làm mặc khải cho dân Người đã chọn, để họ biết Người là Thiên Chúa độc
nhất, chân thật và hằng sống, và nghiệm thấy đâu là đường lối Thiên
Chúa đối xử với loài người. Thiên Chúa còn phán dạy họ qua các ngôn sứ
để ngày qua ngày, họ thấu hiểu các đường lối ấy sâu xa và rõ ràng hơn
hầu đem phổ biến rộng rãi nơi các dân tộc (x. Tv 21,28-29; 95,1-3; Is
2,1-4; Gr 3,17). Vì thế chương trình cứu độ được các tác giả Sách
Thánh tiên báo, thuật lại và giải thích đã trở thành Lời Chúa đích
thật trong các sách Cựu Ước. Bởi vậy các sách được Thiên Chúa linh
hứng này luôn có một giá trị vĩnh viễn: "Vì những gì đã được ghi chép
là để dạy dỗ chúng ta, hầu chúng ta được hy vọng nhờ sự kiên nhẫn và
nhờ sự an ủi của Sách Thánh" (Rm 15,4) (MK 14).
2. Tại sao các Ki-tô
hữu phải đọc Cựu Ước?
"Các Ki-tô hữu phải thành kính đón nhận
các sách Cựu Ước, vì các sách này diễn tả một cảm thức sâu sắc về
Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Người, những tư
tưởng khôn ngoan về đời sống con người, những kho tàng kinh nghiệm
tuyệt diệu, và sau cùng, ẩn chứa mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta" (MK 15).
"Thiên Chúa là Ðấng linh hứng và là tác
giả các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước, đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân
Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân
Ước. Thực vậy, dù Ðức Ki-tô thiết lập giao ước mới bằng máu Người (x.
Lc 22,20; 1Cr 11,25) nhưng các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn
trong sứ điệp Tin Mừng, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân
Ước (x. Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2Cr 3,14-16). Ngược lại Tân
Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước" (MK 16).
3. Ki-tô hữu đọc Cựu
Ước thế nào?
a. Cựu Ước cũng là Lời Chúa nói
với chúng ta, như chúng ta vẫn tuyên xưng trong Phụng Vụ.
b. Các sách Cựu Ước thuộc nhiều
thể loại văn chương khác nhau, do đó khi đọc cần chú ý đến thể loại
của từng cuốn sách hoặc từng phần. Thí dụ 11 chương đầu sách Sáng thế
đã gây bao vấn đề chỉ vì người ta ngộ nhận cho đó là thể loại lịch sử.
Ngay cả các sách gọi là lịch sử cũng không phải là lịch sử theo quan
niệm thực nghiệm (kể lại đúng như các sự kiện xảy ra) nhưng là lịch sử
cứu độ, nghĩa là tìm đọc ra ý nghĩa cứu độ, sự hiện diện cứu độ của
Thiên Chúa trong các diễn biến lịch sử.
c. Tính cách tiệm tiến của mặc
khải khiến cho các sách Cựu Ước còn nhiều điều chưa hoàn toàn, và chỉ
có giá trị cho một giai đoạn. Ðọc Mt 5-7 hoặc 19,1-9 chúng ta thấy rõ
điều đó. Hiến Chế về Mặc Khải cho chúng ta nguyên tắc này: "Thích ứng
với hoàn cảnh nhân loại sống trước thời cứu độ do Chúa Ki-tô thiết
lập, các sách Cựu Ước trình bày cho mọi người biết Thiên Chúa là ai,
con người là ai, đồng thời trình bày Thiên Chúa công bình và nhân từ
đối xử với loài người như thế nào, tuy có nhiều điều khiếm khuyết và
tạm bợ, nhưng các sách ấy minh chứng khoa sư phạm đích thực của Thiên
Chúa" (MK 15). Theo nguyên tắc tiệm tiến ấy, "Cựu Ước trở nên sáng tỏ
trong Tân Ước" (MK 16). Vì thế người Ki-tô hữu đọc Cựu Ước phải đối
chiếu với Tân Ước để hiểu cho đúng Chúa muốn dạy mình điều gì.
4. Ngũ Thư
Năm cuốn đầu tiên của Cựu Ước vẫn được
xếp vào một bộ với nhau nên gọi là Ngũ Thư. Người Do-thái gọi là Luật
(Tô-ra), vì đây là nền tảng cho đời sống của Dân Chúa trong Cựu Ước.
Ngũ Thư cho Dân Chúa hiểu biết nguồn gốc, căn tính và vị trí của họ
trong kế hoạch của Thiên Chúa cùng với các luật lệ để giúp họ sống làm
dân của Thiên Chúa. Truyền thống Do-thái vẫn coi tác giả của Ngũ Thư
là ông Mô-sê. Thực ra bộ Ngũ Thư chúng ta có hiện nay bằng tiếng
Híp-ri đã được hoàn thành vào khoảng năm 400 trước CN, nhưng không thể
loại trừ vai trò của ông Mô-sê ở phía đầu nguồn của truyền thống đã
được đã được đúc kết trong năm cuốn sách này.
Quả vậy, lịch sử Dân Chúa trong Cựu Ước
không thể lý giải nếu loại trừ vai trò của ông Mô-sê. Ông là vị ngôn
sứ lớn nhất Thiên Chúa đã sai đến để đưa một đám dân hỗn tạp ra khỏi
ách nô lệ ở Ai-cập và công bố Giao Ước của Chúa, quy tụ thành Dân của
Thiên Chúa và dạy họ sống làm Dân của Thiên Chúa, thờ phượng Chúa và
tôn trọng nhau như anh em.
Dòng truyền thống bắt nguồn từ hoạt
động của Mô-sê đã được các bộ lạc duy trì và phát triển, phối hợp với
các kinh nghiệm tôn giáo và truyền thống riêng của từng bộ lạc, từng
khu vực. Ta có thể nhận ra khu vực phía nam, khu vực Khép-rôn, khu vực
miền trung (Si-khem), khu vực phía bắc và khu vực bên kia sông
Gio-đan. Sự thống nhất thực sự của các khu vực này chỉ được thực hiện
vào thời vua Ða-vít và kéo dài đến hết đời vua Sa-lô-môn (chừng tám
mươi năm). Vào thời kỳ thống nhất này, cũng là hoàng kim thời đại của
lịch sử Dân Chúa trong Cựu Ước, Ða-vít đã nỗ lực xây dựng sự thống
nhất chính trị trên cơ sở sự thống nhất tôn giáo (một đền thờ, một
hàng tư tế). Do đó chắc chắn đã có một nỗ lực sưu tập và thống nhất
các truyền thống của các bộ lạc và các khu vực.
Sau thời Sa-lô-môn, các bộ lạc phía bắc
ly khai với Giê-ru-sa-lem. Phía bắc cũng lại mưu toan củng cố độc lập
bằng cách ly khai tôn giáo. Ðương nhiên trong tình trạng này, các
truyền thống lại phát triển trong cuộc sống của dân ở hai vương quốc.
Nhưng ở phía bắc, vì triều đình xa rời Thiên Chúa của Giao Ước, nên có
một trào lưu tôn giáo tách khỏi chính trị, do các ngôn sứ khởi xướng.
Trào lưu này trở về với Giao Ước Xi-nai, kêu gọi người ta trung thành
với Thiên Chúa của Giao Ước.
Sản phẩm của trào lưu này là một sách
Luật Giao Ước được đem xuống phía nam (hay biên soạn tại phía nam?),
sau khi vương quốc phía bắc bị tiêu diệt năm 722 trước CN. Một thế kỷ
sau, khi vua Giô-si-a trùng tu Ðền Thờ, người ta phát hiện ra cuốn
sách này ở trong đền thờ (năm 622) và vua dùng làm cơ sở cho việc phục
hưng tôn giáo. Hiện nay cuốn này là một phần trong sách Ðệ nhị luật
(các chương 5-26 và 28). Gọi là Ðệ nhị luật vì trong bộ Ngũ Thư các
Luật của Giao Ước đã được ghi ở ba cuốn trước (Xuất hành, Lê-vi, Dân
số).
Trong thời kỳ lưu đày ở Ba-by-lon, Dân
Chúa không còn gì để nương tựa ngoài Lời Chúa đã phán dạy qua ông
Mô-sê và các ngôn sứ, nên họ mới tìm lại các truyền thống xưa. Ðây là
lúc các môn đệ của các ngôn sứ và các tư tế ra công sưu tập và biên
soạn. Hoạt động này tiếp tục cả sau khi đã hồi hương.
Người ta nhận ra bàn tay của các tư tế
trong việc biên soạn bốn cuốn đầu, bàn tay của trào lưu đệ nhị luật
hoàn chỉnh cuốn Ðệ nhị luật.
a. Sách Sáng thế
Sách Sáng thế gồm hai phần rõ rệt. Phần
từ chương 12 đến hết, trình bày các truyền thống về thuỷ tổ của dân
Ít-ra-en và giải thích sự có mặt của họ trên đất Ai-cập.
Còn 11 chương đầu là một nỗ lực suy tư
khởi đi từ kinh nghiệm tôn giáo của Ít-ra-en nhằm lý giải nguồn gốc vũ
trụ và con người, nguồn gốc sự ác và ơn cứu độ. Ðây là một suy tư hoàn
toàn tôn giáo, vận dụng các truyền thống tôn giáo của Ít-ra-en và của
các dân tộc vùng Lưỡng Hà Ðịa nhằm diễn tả niềm tin rằng: Thiên Chúa
mà Ít-ra-en thờ là Ðấng đã làm cho vũ trụ và con người xuất hiện;
trong mọi loài thọ tạo, Thiên Chúa yêu thương và săn sóc con người hơn
cả, dành cho con người một cuộc sống vượt trên tất cả.
Sự ác đã có mặt trong cuộc sống là do
con người gây ra bởi sự từ chối vâng phục Ðấng Tạo Hoá và từ chối
nhau. Nhưng Thiên Chúa đã hứa giải thoát con người. Thế là lịch sử cứu
độ đã bắt đầu với lịch sử loài người. Kinh nghiệm của Ít-ra-en về tội
lỗi và cứu độ đã được mở ra bao trùm cả nhân loại. Ðiều này phản ánh ý
thức của Dân Chúa về lịch sử và sứ mạng của mình là làm chứng về Thiên
Chúa và ơn cứu độ của Người trước mặt muôn dân, để muôn dân được biết
Thiên Chúa và được cứu độ.
Ðiểm này là bước tiến quan trọng của
mặc khải mà Dân Chúa đã nhận được chính vào thời lưu đày.
b. Sách Xuất hành,
sách Lê-vi và sách Dân số
Ba cuốn sách này xoay quanh biến cố
thành lập Dân Chúa và Cựu Ước.
Sách Xuất hành kể lại cuộc ra khỏi
Ai-cập như một kinh nghiệm về quyền năng giải phóng của Thiên Chúa và
Giao Ước Xi-nai như một kinh nghiệm cộng đồng về sự gặp gỡ Thiên Chúa.
Ðây là hai thì của một biến cố: sự thành lập cộng đồng Dân Thiên Chúa
bằng Giao Ước do Thiên Chúa thiết lập qua trung gian ông Mô-sê. Với
Giao Ước này, Thiên Chúa nhận đám dân hỗn tạp từ Ai-cập thoát ra làm
Dân của Người và Người tự nhận là Thiên Chúa của họ. Người sẽ bênh vực
họ và dẫn họ vào chiếm lãnh miền đất Người đã hứa với tổ tiên họ. Phần
họ, họ phải tuân giữ các luật lệ Người ban qua ông Mô-sê. Cùng với
"Mười Lời" của Chúa (Mười Ðiều Răn), sách Xuất hành còn ghi một số
luật về phụng tự. Nhưng ngay sau đó dân đã vi phạm Giao Ước, đúc bò
vàng mà thờ theo kiểu dân Ca-na-an. Nhờ ông Mô-sê cầu khẩn, Chúa đã
tha thứ và ban lại Luật Giao Ước cho ông Mô-sê.
Sách Lê-vi là công trình sưu tập các
luật về phụng tự được xếp vào sau sách Xuất hành, coi như luật lệ do
Chúa đã ban qua ông Mô-sê. Thực sự các luật lệ này đã phát triển qua
nhiều thế hệ. Thiên Chúa dùng chính nền văn hoá của Ít-ra-en để từng
bước giáo dục họ.
Sách Dân số tiếp tục kể về cuộc hành
trình trong hoang địa. Mười chương đầu vẫn tiếp tục kể việc kiểm tra,
tổ chức dân chúng và nghi lễ thánh hiến hàng tư tế ở Xi-nai. Ở chương
11, dân chúng nhổ trại tiến bước như một đám rước kiệu Hòm Bia Giao
Ước. Cuộc hành trình qua hoang địa tiếp tục với những thăng trầm phức
tạp, nhưng Thiên Chúa luôn dẫn dắt họ. Mối cản trở chính không phải là
những khó khăn ngang đường, nhưng là sự không trung thành với Giao Ước
của Thiên Chúa. Sách này kết thúc với việc dân tới được đồng bằng
Mô-áp bên kia sông Gio-đan.
c. Sách Ðệ nhị luật
Sách Ðệ nhị luật được ráp nối vào sau
sách Dân số bằng khung cảnh giả tưởng đây là những lời ông Mô-sê nói
với dân Ít-ra-en ở bên kia sông Gio-đan, trước khi ông qua đời ở núi
Nơ-vô trên đỉnh Pít-ga đối diện với Giê-ri-khô, thành phố mà Ít-ra-en
sẽ chiếm được trước tiên sau khi vượt qua sông Gio-đan.
Ông Mô-sê ôn lại hành trình bốn mươi
năm dưới sự che chở và dìu dắt của Thiên Chúa, rồi tuyên lại Giao Ước
và kết thúc bằng một bài ca với lời chúc phúc cho từng bộ lạc và cho
toàn dân. Sách kết thúc với việc ông Mô-sê qua đời trên đỉnh Pít-ga.
Thực chất đây là một cuộc suy niệm về
Giao Ước và tình yêu của Thiên Chúa và một lời mời gọi, thuyết phục
dân đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, sau những kinh nghiêm bi đát của
vương quốc phía bắc, rồi vương quốc phía nam. Họ đã khước từ tình yêu
Thiên Chúa nên tự chuốc lấy những tai họa khủng khiếp đó (x. Ðnl 28).
Sách Ðệ nhị luật nhắn nhủ dân lưu đày hãy quay về với Thiên Chúa và
trung thành với Giao Ước.
5. Các sách Lịch Sử
thuộc trào lưu đệ nhị luật
Tuy được gắn vào vị trí thứ năm trong
Ngũ Thư, nhưng thực ra sách Ðệ nhị luật hiện có lại là cuốn mở đầu của
bộ lịch sử gồm: Giô-suê, Thủ Lãnh, 1-2 Sa-mu-en, 1-2 Vua. Tuy gọi là
"lịch sử", nhưng không phải theo nghĩa chúng ta quen hiểu. Ðây là một
nỗ lực đọc lại lịch sử Ít-ra-en dưới ánh sáng Giao Ước. Từ khi vào Ðất
Hứa cho đến khi cả hai vương quốc bị lưu đày. Những thăng trầm đều là
hậu quả của việc trung thành hay phản bội đối với Giao Ước của Thiên
Chúa (x. Tl 2,11-19).
a. Sách Giô-suê
Dựa vào các truyền thống phía bắc,
trình bày cuộc chiếm lãnh Ðất Hứa như một thiên anh hùng ca tiếp nối
thiên anh hùng ca của cuộc xuất hành: tất cả các bộ lạc đồng tâm góp
sức dưới sự chỉ huy của Giô-suê vượt qua sông Gio-đan như đã vượt qua
Biển Ðỏ bốn mươi năm trước, rồi tiến như vũ bão từ chiến thắng này qua
chiến thắng khác để chiếm lãnh toàn miền đất Thiên Chúa đã chỉ cho
Mô-sê thấy (ch. 1-12). Sau đó là cuộc phân chia đất đai giữa các bộ
lạc (ch. 13-21). Và cuối cùng là đại hội toàn dân ở Si-khem. Giô-suê
cũng nói những lời cuối cùng theo kiểu Mô-sê khi ở bên kia sông
Gio-đan, công bố lại Giao Ước và lập bia chứng ước. Giô-suê là người
được Thiên Chúa tuyển chọn để chạy tiếp sức với ông Mô-sê: Mô-sê dẫn
dân từ Ai-cập đến bờ sông Gio-đan, Giô-suê dẫn dân vào chiếm lãnh và
định cư trên Ðất Hứa. Cuốn sách kết thúc với việc hài cốt ông Giu-se
được an táng ở Si-khem tại phần đất ông Gia-cóp đã mua. Thế là cuộc
hành trình nhiều thế kỷ của nhà Gia_cóp đã khép kín: từ Si-khem xuống
Ai-cập nay lại về đến Si-khem. Lời hứa của Thiên Chúa cho tổ phụ
Aùp-ra-ham về một miền đất và một dòng dõi đông đúc nay đã thành sự.
b. Sách các Thủ lãnh
Gọi theo danh từ chung chỉ các vị anh
hùng trong cuốn sách, họ là những người được Thiên Chúa sai đến cầm
đầu các cuộc giải phóng rồi làm người xét xử mọi việc trong dân, vì
thế cũng dịch là "quan án", "phán quan" - "xét xử" ở nền văn hoá này
đồng nghĩa với cai trị. Về một số vị, sách chỉ nêu tên và số năm "xét
xử" chứ không kể một hành động giải phóng nào. Mười hai vị này chẳng
bao giờ "xét xử" toàn thể Ít-ra-en mà chỉ giới hạn trong từng bộ lạc.
Tuy nhiên, sách Thủ lãnh đã biến họ thành những anh hùng giải phóng
hoặc cai trị toàn thể Ít-ra-en, đồng thời phân bổ số năm hoạt động của
mỗi vị theo những con số ước lệ: 20, 40, 80 để có được con số bốn trăm
tám mươi năm tính từ khi ra khỏi Ai-cập cho đến khi xây đền thờ (1V
6,1).
Cuốn sách này trải qua nhiều lần biên
soạn. Hình thức hiện nay là của các soạn giả thuộc trào lưu đệ nhị
luật với một chương (2,6 - 3,6) dẫn nhập tổng quát nêu rõ ý nghĩa tôn
giáo của cuốn sách.
c. Sách Sa-mu-en và
sách các Vua
Trong bản văn gốc tiếng Do-thái có một
sách Sa-mu-en và một sách các Vua. Bản dịch Hy-lạp đã chia thành bốn
cuốn "Các triều đại", bản dịch La-tinh (Phổ thông) theo bản Hy-lạp,
chia thành bốn cuốn "Các Vua". Các bản dịch mới giữ cách chia bốn,
nhưng gọi là sách Sa-mu-en quyển 1 và 2 và sách các Vua quyển 1 và 2.
Sách Sa-mu-en quyển 1 và 2 khởi đầu với
nhân vật Sa-mu-en như là vị "thủ lãnh" cuối cùng và là người thiết lập
chế độ quân chủ theo yêu cầu của dân. Ông vua thứ nhất được Sa-mu-en
xức dầu tấn phong đã không trung thành với Thiên Chúa nên bị Thiên
Chúa phế bỏ. Ông vua thứ hai được Sa-mu-en xức dầu tấn phong nổi bật
như gương mẫu của sự trung thành với Thiên Chúa. Ông đã hoàn thành
cuộc chinh phục và thống nhất miền Ðất Hứa, loại trừ mối đe dọa là dân
Phi-li-tinh, mở rộng biên giới phía đông và phía bắc, ông chiếm được
Giê-ru-sa-lem, lập làm thủ đô và đưa Hòm Bia Giao Ước về đây. Ông đã
được Thiên Chúa hứa cho dòng dõi mãi mãi ngồi trên ngai. Bản dịch
Hy-lạp dựa theo một bản Híp-ri có nhiều điểm dị biệt so với bản Híp-ri
hiện có trong Sách Thánh (người ta đã tìm được một phần bản gốc Híp-ri
này ở Cum-ran).
Sách các Vua quyển 1 và 2 kể về các vua
từ Sa-lô-môn đến thời lưu đày. Sau vua Sa-lô-môn, công trình thống
nhất của Ða-vít sụp đổ, hai vương quốc bắc và nam kình địch với nhau.
Các vua phía nam thì có tám vị được khen là trung thành với Thiên
Chúa, nhưng sáu vị vẫn còn để các nơi thờ phượng ngoại đạo tồn tại,
chỉ có Khít-ki-gia và Giô-si-a được khen trọn vẹn. Lời phê về các vua
đều theo tiêu chuẩn là sự trung thành với Thiên Chúa và với một nơi
thờ phượng duy nhất.
6. Sách chuyện bà Rút
Trong bản Hy-lạp, La-tinh và các bản
dịch mới, sách Rút được đặt liền sau sách Thủ lãnh. Bản Do-thái đặt
trong bộ năm cuốn để đọc trong các dịp lễ nhất định: Diễm ca đọc dịp
lễ Vượt Qua; Rút, dịp lễ Ngũ Tuần; Ai ca, ngày 9 tháng Áp, kỷ niệm Ðền
Thờ bị thiêu hủy; Giảng viên, dịp lễ Lều; và Eùt-te, ngày lễ Pu-rim.
Sách kể chuyện một người đàn bà xứ Mô-áp đã trở thành bà cố nội của
vua Ðavít. Chính yếu tố này đem lại cho cuốn sách tầm quan trọng đặc
biệt.
7. Các sách Lịch Sử
thuộc trào lưu tư tế
Từ khi trở về sau lưu đày, dân xứ
Giu-đa đã xây dựng một cộng đồng lấy đền thờ làm trung tâm và Luật
Mô-sê làm luật sống. Cộng đồng này vẫn được đế quốc Ba Tư, rồi đế quốc
Hy-lạp dành cho một quyền tự trị dưới sự lãnh đạo của tầng lớp tư tế.
Nhưng từ ngày hồi hương, họ luôn gặp sự chống đối của cộng đồng
Sa-ma-ri ở phía bắc. Cộng đồng này cũng nhận sách Luật Mô-sê do Eùt-ra
công bố, nhưng vẫn không muốn thuộc quyền giới tư tế ở Giê-ru-sa-lem.
Vào những thập niên đầu của đế quốc Hy-lạp (do A-lê-xan-đê Ðại Ðế mở
mang), cộng đồng Sa-ma-ri đã xin được quyền xây một đền thờ trên núi
Ga-ri-dim. Thế là sự cạnh tranh giữa hai cộng đồng và hai đền thờ trở
nên gay gắt (x. Ga 4, câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người đàn bà
Sa-ma-ri).
Trong bối cảnh ấy, bộ lịch sử thuộc
trào lưu tư tế ra đời gồm các sách 1-2 Sử biên niên, Eùt-ra và
Nơ-khe-mi-a. Tác giả thuộc giới tư tế, trong thành phần lãnh đạo ở
Giê-ru-sa-lem. Sử dụng tư liệu trong các Sách Thánh có trước và nhiều
sách khác nay đã thất lạc, tác giả viết lại lịch sử của Ít-ra-en nhằm
giúp cho cộng đồng Do-thái lấy lại gốc rễ của mình và nhận ra mình
đang sống cùng một lịch sử thánh như các thế hệ trước lưu đày. Tác giả
trình bày vua Ða-vít như hình ảnh vương quyền của Thiên Chúa và đền
thờ Giê-ru-sa-lem là dấu chỉ sự hiện diện và tình thương của Thiên
Chúa. Công và tội của các vua được lượng giá tuỳ sự trung thành với Lề
Luật và phụng tự đền thờ. Sự khẳng định ấy đồng thời cũng là một lời
kết án và loại trừ đền thờ Ga-ra-dim và cộng đồng quy tụ quanh đền thờ
ấy. Nhằm minh chứng quan điểm thượng tôn Giê-ru-sa-lem, tác giả đã
đánh bóng khuôn mặt của Ða-vít và coi ông là người đã thiết lập toàn
bộ nền phụng tự đền thờ như đang diễn ra ở thời ông. Eùt-ra và
Nơ-khe-mi-a là hai vị lãnh đạo đã khôi phục Giê-ru-sa-lem, đền thờ,
Luật Mô-sê, việc phụng tự và sự trung thành với nòi giống.
8. Tô-bi-a, Giu-đi-tha
và É-te
Bản Phổ thông La-tinh xếp ba cuốn sách
này liền sau các sách Lịch Sử, một số thủ bản Hy-lạp cũng xếp như thế,
một số thủ bản Hy-lạp khác lại xếp sau các sách Khôn Ngoan. Bản văn
của ba cuốn này có nhiều dị biệt theo các truyền thống khác nhau và
được nhận vào quy điển khá trễ. Thể văn của ba cuốn này cũng đặc biệt.
Các yếu tố lịch sử và địa dư đều rất phóng khoáng đến độ không thể ráp
nối với thực tế. Có thể nói đây là ba cuốn tiểu thuyết đạo đức, ra đời
ở thế kỷ II trước CN.
Sách Tô-bi-a nhằm đề cao đời sống đạo
đức của những người sống xa Ðất Hứa. Chỉ cần trung thành giữ Luật
Chúa, cầu nguyện và làm việc lành phúc đức là đẹp lòng Chúa và được
chúc phúc.
Sách Giu-đi-tha và sách Eùt-te ca ngợi
quyền năng cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa có thể dùng những phụ nữ
yếu đuối như thế để cứu cả dân Do-thái, khi họ đặt hết niềm tin vào
Người. Hai sách này xuất hiện trong bối cảnh cuộc nổi dậy của anh em
Ma-ca-bê.
9. Sách 1-2 Ma-ca-bê
Hai cuốn sách lịch sử cuối cùng của Cựu
Ước, không có trong quy điển của người Do-thái, nhưng được nhận vào
quy điển của Hội Thánh Công Giáo.
Cuốn thứ nhất viết vào khoảng năm 100
trước CN, kể về giai đoạn lịch sử từ vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê lên
ngôi (175 trước CN) đến vua Gio-an Hiếc-ca-nô (134 trước CN): các mưu
đồ của vua Hy-lạp nhằm tiêu diệt đạo Do-thái và cuộc kháng chiến thành
công của anh em Ma-ca-bê. Chủ đích là chống lại phong trào chạy theo
văn hoá Hy-lạp và đề cao sự trung thành với Lề Luật và Ðền Thờ. Tác
giả có vẻ muốn biện minh cho dòng họ Ma-ca-bê lúc đó đang bị chỉ trích
vì những liên minh chính trị và việc tiếm đoạt chức tư tế.
Sách 2 Ma-ca-bê không phải là phần tiếp
theo của 1 Mcb, nhưng được soạn trước, khoảng năm 124 trước CN. 2 Mcb
kể về giai đoạn từ vua Xê-lêu-cô IV (trước vua An-ti-ô-khô) đến cái
chết của tướng Ni-ca-no.
Sách 1 Ma-ca-bê quan trọng vì cung cấp
những khẳng định rõ ràng về sự phục sinh, về sự thưởng phạt đời sau,
về việc cầu nguyện cho người chết, về công trạng của các vị tử đạo, sự
chuyển cầu của các thánh. Những điều này sẽ được Tân Ước xác nhận.
10. Các sách Giáo Huấn
Trong Sách Thánh Cựu Ước của Hội Thánh
Công Giáo, sau phần các sách Lịch Sử, có bảy cuốn thuộc thể loại giáo
huấn (cũng có người dịch là khôn ngoan, nhưng chúng tôi xin dành từ
khôn ngoan cho một cuốn sách vẫn có tên là "sách Khôn ngoan").
Dân tộc nào cũng biết tích luỹ và
truyền đạt kinh nghiệm sống của mình cho các thế hệ đến sau dưới những
hình thức đơn giản dễ nhớ, cũng như bằng những thiên sách suy lý về ý
nghĩa cuộc sống và cách sống ở đời. Dân Chúa trong Cựu Ước cũng biết
thu thập sự "khôn ngoan" của các dân chung quanh và biết tự tìm ra
những kinh nghiệm. Có điều đặc biệt là kinh nghiệm sống của Dân Chúa
là một kinh nghiệm tôn giáo. Từ chỗ cảm nghiệm về Thiên Chúa hiện diện
và hoạt động trong lịch sử từ ban đầu, họ đi tìm cảm nghiệm sự hiện
diện và hoạt động của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Trào lưu
văn học này đã có từ lâu trong lịch sử Ít-ra-en. Nhưng các sách Giáo
Huấn chúng ta có trong Sách Thánh hiện nay đều được biên soạn thời sau
lưu đày Ba-by-lon. Trong bảy cuốn sách được xếp vào phần này, có năm
cuốn thực sự thuộc thể loại "giáo huấn": Gióp, Châm ngôn, Giảng viên,
Khôn ngoan và Huấn ca. Còn Thánh vịnh và Diễm ca là hai tác phẩm thi
ca.
a. Sách Gióp
Là một vở kịch bằng thơ, có lẽ xây dựng
trên một cốt truyện có trước bằng văn xuôi. Chủ đề là vấn đề đau khổ.
Tác phẩm phản kháng quan niệm cổ điển về thưởng phạt, nhưng chưa đưa
ra một giải đáp cụ thể, mà chỉ đặt người ta đối diện với mầu nhiệm của
quyền năng Thiên Chúa và đưa đến thái độ im lặng tôn thờ.
b. Sách Thánh vịnh
Là bộ sưu tập thánh ca gồm những bài ca
vịnh được sáng tác ở nhiều thời đại khác nhau, từ thời vua Ða-vít đến
thế kỷ III trước CN. Trước thời lưu đày đã có những bộ sưu tập các
thánh vịnh để dùng trong phụng vụ ở đền thờ. Sau lưu đày, các bộ sưu
tập này lại có thêm những tác phẩm mới để dùng trong đền thờ mới. Ðây
là kho tàng kinh nguyện của dân Chúa trong Cựu Ước cũng như trong Tân
Ước. Mọi tình huống, mọi tâm tình của con người được diễn tả, bộc bạch
trước mặt Thiên Chúa với lòng đơn sơ, dạn dĩ, tin tưởng: cảm tạ, ngợi
khen, thống hối, ai oán, than van, vui, buồn, chất vấn Thiên Chúa và
để cho Thiên Chúa chất vấn, khẩn cầu. Hội Thánh Công Giáo sử dụng các
Thánh vịng trong các giờ kinh phụng vụ và phụng vụ Lời Chúa. Có thể
xếp theo thể loại: tụng ca, vương triều, khẩn cầu, tạ ơn, hành hương,
giáo huấn.
c. Sách Châm ngôn
Gồm nhiều bộ sưu tập châm ngôn: 10 -
22,16 và 25-29 (châm ngôn của Sa-lô-môn); 22,17 - 24,22 (lời của những
người khôn ngoan); 30,1-14 (lời của A-gua); 30,15-33 (châm ngôn theo
con số); 31,1-9 (lời của Lơ-mu-ên). Chín chương đầu là phần dẫn nhập:
cha dạy con (1-7) và chính sự khôn ngoan lên tiếng (8-9). Cuốn sách
như hiện nay có từ thế kỷ V trước CN. Cuốn sách được hình thành qua
nhiều thế kỷ, nên cần lưu ý đến sự phát triển về tư tưởng.
d. Sách Giảng viên
Ðược biên soạn ở thế kỷ III trước CN,
nhưng mạo xưng là của vua Sa-lô-môn. Tác giả suy tư khắc khoải về ý
nghĩa cuộc sống: tất cả là phù vân. Vậy thì sống để làm gì? Sau cuộc
sống này còn gì tồn tại? Phản kháng những quan niệm cũ về thưởng phạt
(như sách Gióp), nhưng cũng không đưa ra được giải đáp nào hơn là sự
khiêm tốn vâng phục Thiên Chúa và tinh thần "thoát tục". Nỗi khắc
khoải này Chúa Giêsu sẽ trả lời dứt khoát.
đ. Sách Diễm ca
Ðược soạn vào thời sau lưu đày (thế kỷ
V-IV trước CN). Sách gồm năm bài tình ca diễn tả mối tình giữa Chàng
và Nàng. Người Do-thái vẫn coi đây là bài ca tuyệt vời diễn tả mối
tình tuyệt vời giữa Thiên Chúa và Dân được tuyển chọn. Hội Thánh hiểu
về mối tình giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh; các giáo phụ, các nhà thần
bí hiểu về mối tình giữa Chúa Ki-tô và mỗi tâm hồn.
e. Sách Khôn ngoan
Ðược biên soạn ở thế kỷ thứ I trước CN,
nhưng mạo xưng là của vua Sa-lô-môn. Tác giả sống trong môi trường văn
hoá Hy-lạp ở A-lêxan-ri-a bên Ai-cập. Cuốn sách muốn chống lại sức
cuốn hút của văn hoá Hy-lạp đang làm cho nhiều người Do-thái bị lung
lạc bằng cách đề cao sự khôn ngoan của Thiên Chúa bộc lộ trong số phận
của mỗi con người và trong lịch sử Dân Chúa.
g. Sách Huấn ca
Do Ben Xi-ra viết bằng tiếng Híp-ri vào
khoảng 190-180 trước CN tại đất Do-thái, rồi cháu nội của ông dịch ra
tiếng Hy-lạp khoảng năm 132 trước CN tại Ai-cập. Cuốn sách gồm một bộ
sưu tập những lời khôn ngoan về rất nhiều đề tài (1-42); chiêm ngắm
vinh quang của Thiên Chúa trong thiên nhiên (2-43) và trong lịch sử
Ít-ra-en (44-50); bài ca tán tạ (51,1-12); ca tụng việc tìm kiếm sự
khôn ngoan (51, 13-30).
11. Các sách Ngôn Sứ
Ngôn sứ là người được Thiên Chúa sai
đến để thay mặt Chúa làm "miệng của Chúa", nói với dân (x. Gr 15,19).
Sứ mạng của các vị này là vạch cho dân thấy lỗi lầm của họ, kêu gọi họ
quay về trung thành với giao ước, khuyên bảo, răn đe, loan báo hình
phạt và ơn cứu độ. Có trường hợp chính các vị ấy viết lại, hoặc đọc
cho môn đệ viết (x. Gr 36,1-4) những lời đã rao giảng, nhưng phần
nhiều là do các môn đệ ghi chép, sưu tập những lời các vị ấy đã rao
giảng. Do đó các sách thường có một lịch sử biên soạn phức tạp. Sau
sách Luật (Ngũ Thư) thì sách Ngôn Sứ là phần quan trọng nhất, bởi vì
các ngôn sứ thường vạch cho Dân Chúa thấy trong thực tế họ đã vi phạm
giao ước như thế nào và chỉ đường vạch lối cho họ biết sống thế nào
cho đúng là Dân của Thiên Chúa. Các ngôn sứ loan báo sự trừng phạt tội
lỗi và lời hứa ban ơn cứu độ. Các lời hứa này thường đưa vào một viễn
tượng lớn hơn, xa hơn của kế hoạch cứu độ phổ quát trong Ðức Giê-su
Ki-tô. Do đó sách Ngôn Sứ được Chúa Giê-su và các Tông Ðồ sử dụng
nhiều nhất để giải thích mầu nhiệm Chúa Giê-su Ki-tô, Giao Ước mới và
Dân mới của Thiên Chúa. Sách Ngôn Sứ luôn có tính hiện đại, vì các
ngôn sứ phân tích và dạy dỗ về mối tương quan với Thiên Chúa và với
nhau trong cuộc sống hàng ngày.
Trong Sách Thánh của chúng ta có mười
sáu sách Ngôn Sứ, gồm bốn ngôn sứ "lớn" và mười hai ngôn sứ "nhỏ". Nói
"lớn", "nhỏ" ở đây là theo độ lớn, nhỏ của cuốn sách.
a. I-sai-a
Là cuốn lớn thứ nhất. Sách này gồm ba
phần thuộc ba thời kỳ khác nhau:
1) 1-39 gọi là I-sai-a đệ nhất, vị
ngôn sứ rao giảng ở xứ Giu-đa vào thế kỷ VIII trước CN. Một vài
chương của thời kỳ sau được chen vào đây (24-27 và 34-35).
2) 40-55 gọi là sách An Ủi, tức
I-sai-a đệ nhị. Công trình của một ngôn sứ thời lưu đày, loan báo
niềm hy vọng cứu độ và sứ mạng mới của Dân Chúa.
3) 56-66 gọi là I-sai-a đệ tam, có lẽ
là một bộ sưu tập lời rao giảng của nhiều vị ngôn sứ trong thời kỳ
từ lúc xây xong đền thờ mới (515 trước CN) cho đến 445 trước CN. Khi
Nơ-khe-mi-a hoàn tất việc trùng tu tường thành, dân chúng chán nản
vì thấy đền thờ mới quá khiêm tốn, đời sống kinh tế chẳng khá gì,
đời sống đạo đức cũng chẳng hơn xưa: vẫn đầy áp bức bóc lột, thối
nát. Các ngôn sứ củng cố niềm tin của cộng đồng Do-thái hồi hương.
b. Giê-rê-mi-a
Chép lời rao giảng và tiểu sử của
Giê-rê-mi-a, vị ngôn sứ hoạt động một thế kỷ sau I-sai-a đệ nhất, vào
thời kỳ xứ Giu-đa sắp bị diệt vong. Ông đã phải chứng kiến cảnh
Giê-ru-sa-lem thất thủ, vua, quan, tư tế và dân bị lưu đày sang
Ba-by-lon. Cuộc đời và lời rao giảng của ông mang trọn nỗi bi đát của
thời đại.
c. Ai ca
Sách Thánh bằng tiếng Híp-ri xếp Ai ca
vào bộ "năm cuốn" để đọc vào các dịp lễ lớn: sách Ai ca dành cho ngày
kỷ niệm đền thờ bị phá hủy (ngày chín tháng Áp). Hl và Lt đặt sau sách
Giê-rê-mi-a với tựa đề gán quyền tác giả cho ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
Nhưng phân tích văn chương và tư tưởng cho thấy nó không thể là tác
phẩm của vị ngôn sứ này. Tác phẩm gồm ba bài theo thể "điếu tang" (ch.
1,2 và 4), một bài than khóc cá nhân (ch.3) và một bài than khóc tập
thể (ch.5: Lt đề là "Lời cầu xin của Giê-rê-mi-a"). Ðây là những lời
than khóc cho cảnh hoang tàn và bi đát của thành Giê-ru-sa-lem và dân
cư sau biến cố thảm khốc năm 587 trước CN. Chính lòng trông cậy kiên
vững vào Thiên Chúa trong nỗi đau tuyệt vọng của con người làm nên giá
trị bất hủ của những bản ai ca này. Hội Thánh đọc sách này trong Tuần
Thánh để nhớ biến cố bi đát trên Núi Sọ.
d. Ba-rúc
Sách này không có trong Hr, chỉ có
trong Hl (đặt sau sách Giê-rê-mi-a) và trong Pt Lt (đặt sau Ai ca).
Sách được mạo xưng là của Ba-rúc, người thư ký của ngôn sứ
Giê-rê-mi-a. Thực ra đây là công trình biên soạn hay sưu tập của một
tác giả ở thế kỷ II trước CN (có người cho là thế kỷ I trước CN) với
một nội dung phức hợp. Pt Lt gắn "thư của Giê-rê-mi-a vào cuối sách
Ba-rúc, còn Hl tách riêng, đặt sau sách Ai ca. Sách nhỏ này cho chúng
ta biết về đời sống tôn giáo của người Do-thái ở các cộng đồng hải
ngoại và ảnh hưởng mạnh mẽ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đối với dân Do-thái
sau biến cố năm 587 trước CN.
đ. Ê-dê-ki-en
Chép lời rao giảng và cuộc sống của
Ê-dê-ki-en, vị ngôn sứ của thời lưu đày. Ông thuộc hàng tư tế bị phát
lưu ngay đợt đầu (597 trước CN). Từ Ba-by-lon, ông theo dõi và giải
thích những gì đang xảy ra tại Giê-ru-sa-lem. Sau khi Giê-ru-sa-lem
thất thủ, một đám dân lưu đày mới được dẫn về Ba-by-lon. Hoạt động rao
giảng của ông nhằm giúp những người lưu đày hiểu biết về hiện tại của
mình và giữ vững niềm hy vọng ở tương lai.
e. Ða-ni-en
Thực chất là một cuốn sách thuộc thể
loại "khải huyền", mạo xưng là của một nhân vật thời lưu đày. Sách
được viết vào thời kỳ An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại (167-164),
trước khi cuộc nổi dậy của anh em Ma-ca-bê thành công. Mục đích nhằm
an ủi, khích lệ Dân Chúa giữ vững niềm tin trong cơn thử thách.
g. Hô-sê
Chép lời rao giảng của một ngôn sứ đồng
thời với A-mốt tại phía bắc. Bản văn tiếng Híp-ri của sách này là một
trong những bản văn được lưu truyền tồi nhất trong Cựu Ước. Cuộc đời
và lời rao giảng của Hô-sê vừa bi đát vừa trữ tình. Ông sống nỗi bi
đát của tình vợ chồng bị phản bội để làm chứng về tình yêu của Thiên
Chúa bị phản bội. Trào lưu đệ nhị luật và các ngôn sứ Giê-rê-mi-a,
Ê-dê-ki-en, I-sai-a đệ nhị chịu ảnh hưởng của ông rất nhiều trong cách
nói về tình yêu Thiên Chúa và Giao Ước Mới với "luật khắc trong tim".
h. Giô-en
Là sách được biên soạn vào khoảng năm
400 trước CN. Hai chương đầu mô tả tai họa và công bố lời hứa giải
thoát. Hai chương sau theo thể loại khải huyền, loan báo cuộc phán xét
và kỷ nguyên mới. Lời hứa tuôn đổ Thần Khí được sách Công vụ trích dẫn
và ứng dụng vào biến cố ngày lễ Ngũ Tuần (2,16-21).
i. A-mốt
Vị ngôn sứ này rao giảng ở vương quốc
phía bắc vào thời Gia-róp-am II (783-743). Là một nông dân thuần tuý
nên lời lẽ của ông thường đơn sơ nhưng rất mạnh mẽ.
k. Ô-va-đi-a
Là sách ngắn nhất của Cựu Ước nhưng lại
có nhiều vấn đề phức tạp. Các nhà nghiên cứu chưa xác định nổi thời
đại: các ý kiến đi từ thế kỷ IX trước CN tới thời kỳ đế quốc Hy-lạp.
Sách phản ánh một chủ nghĩa dân tộc cực đoan, đề cao sự công thẳng
khủng khiếp và quyền năng của Thiên Chúa là Ðấng bênh vực công lý.
l. Giô-na
Là một dụ ngôn dài khoác lên vai một
nhân vật được nói đến ở 2V 14,25. Sách được viết vào thế kỷ V. Câu
chuyện đầy châm biếm nhằm phản bác quan điểm dân tộc cực đoan, cục bộ
và rao giảng một quan niệm phổ quát về ơn cứu độ.
m. Mi-kha
Sách này chép lời rao giảng của ngôn sứ
Mi-kha người vùng Mô-rê-sét (gần Khép-rôn). Ðừng lộn tên vị ngôn sứ
này với ông Mi-kha con ông Gim-la thời vua A-kháp (x. 1V 22). Ông rao
giảng ở vương quốc phía nam, từ khi vương quốc phía bắc bị diệt (721)
đấn cuộc xâm lăng của Xan-khê-ríp (701). Ông cũng là nông dân thuần
tuý nên lời văn mộc mạc và mạnh mẽ giống A-mốt.
n. Na-khum
Ngôn sứ này hoạt động ở Giu-đa vào thời
kỳ đế quốc Át-sua đang đến hồi suy tàn và thủ đô Ni-ni-vê sắp thất thủ
(612). Ông kết tội vua xứ Át-sua là kẻ xâm lược áp bức và loan báo ơn
cứu độ cho Giu-đa.
o. Kha-ba-cúc
Rao giảng cùng thời với Giê-rê-mi-a,
trong khi xứ Giu-đa bị dân Can-đê đe dọa. Ông chất vấn Chúa vì Chúa để
cho một dân hung ác đe dọa Dân Chúa cùng chư dân, và được Chúa trả
lời: "Người công chính sẽ được sống nhờ lòng trung tín". Rồi ông
nguyền rủa kẻ áp bức người khác và cuối cùng ca tụng quyền năng Thiên
Chúa.
p. Xô-phô-ni-a
Ngôn sứ này hoạt động ở phía nam thời
ấu vương Giô-si-a (640-630), trước cuộc phục hưng tôn giáo mà vua này
sẽ phát động. Tân Ước trích dẫn sách này một lần (Mt 13,41). Cách ông
mô tả "Ngày của Ðức Chúa" ảnh hưởng tới ngôn sứ Giô-en và bài ca "Dies
irae" thời trung cổ.
q. Khác-gai
Rao giảng sau thời lưu đày. Ông cổ võ
việc xây lại đền thờ.
r. Da-ca-ri-a
Sách này gồm hai phần thuộc hai thời kỳ
khác nhau:
1) 1-8 thuộc thời kỳ tái thiết và
phục hưng, cổ võ việc khôi phục đạo đức;
2) 9-14 thuộc thời kỳ cuối thế kỷ IV
trước CN, lúc đế quốc Hy-lạp mới bành trướng. Có người còn chia phần
này làm hai: 9-11 và 12-14. Tầm quan trọng của phần 9-14 là do giáo
huấn về Ðấng Mê-si-a, được Chúa Giê-su và các sách Tân Ước trích dẫn
nhiều.
s. Ma-la-khi
Rao giảng sau khi đền thờ được xây lại
năm 515, kêu gọi hàng tư tế và dân thanh tẩy mọi tội lỗi để thờ phượng
Chúa cho phải đạo.
