VÀI
NÉT VỀ
CANH TÂN
ĐẶC SỦNG
CÔNG GIÁO
TÀI
LIỆU *
LỜI CHỨNG
* CẢM
NGHIỆM

Về trang Mục Lục
THÁNH
THẦN
VÀ NHỮNG
CỘNG ĐOÀN
MỚI
Trích
Chương 8,
tác phẩm
THÁNH
THẦN, HƠI
THỞ SỐNG
ĐỘNG CỦA
GIÁO HỘI
Cố Hồng Y
L.J.
SUENENS
Đức tin
phải thấm
nhuần
tình
huynh đệ,
nghĩa là
phải được
thể hiện
trong
cộng
đoàn,
nếu
không,
đức tin
sẽ chẳng
tồn tại.
P. Liége
1. HÌNH
ẢNH BAN
ĐẦU CỦA
GIÁO HỘI
:TÌNH
HUYNH ĐỆ
KITÔ GIÁO
Trên hành
trình trở
về nguồn
của Kitô
giáo,
chúng ta
đã nêu
lên đặc
tính của
người
Kitô hữu
nguyên
thủy. Đó
là những
người
«biết
hoán cải,
nhận Đức
Giêsu làm
Chúa và
làm Đấng
Cứu Độ,
lắng nghe
Thánh
Thần».
Chúng ta
cũng phải
ý thức
thực
trạng của
các cộng
đoàn Kitô
giáo thời
sơ khai
ấy. Sau
hai mươi
thế kỷ,
các bối
cảnh văn
hóa xã
hội rõ
ràng đã
thay đổi
rất
nhiều.
Nhưng để
giữ sự
liên tục
không bị
gián đoạn
với quá
khứ, cần
phải tìm
lại những
yếu tố
cốt yếu.
Ngay cả
những
tương
phản cũng
có giá
trị giúp
ta tự vấn
lương
tâm. Ngày
nay, chữ
«Giáo
Hội» xét
về mặt
bên
ngoài,
hẳn sẽ
gợi lên
hình ảnh
một xã
hội có tổ
chức chặt
chẽ, bao
trùm mọi
lục địa,
được điều
hành bằng
những
luật lệ
phổ quát
do Đức
Giáo
Hoàng ban
hành. Đó
là hình
ảnh một
«định
chế» bên
cạnh
«những
định chế
khác»,
thường
được nói
đến trong
khuôn khổ
chính trị
hoặc xã
hội học.
Người ta
xếp chung
trên cùng
một bình
diện
những
quyền
bính dân
sự, quân
sự và tôn
giáo; rồi
đồng hóa
sự khủng
hoảng của
Giáo Hội
với sự
khủng
hoảng của
một chế
độ quân
chủ tuyệt
đối đang
bị các
thế lực
dân chủ
chống
đối. Đó
là nhìn
Giáo Hội
qua một
ống nhòm
bị điều
chỉnh
sai, dưới
góc độ
làm hình
ảnh bị
rời ra
xa, bị
biến
dạng,
thay vì
đưa lại
gần.
Mang thân
phận con
người
trong
thời gian
và không
gian, nên
Giáo Hội
cũng là
«định chế
và xã
hội»;
nhưng –
như chúng
tôi đã
nói - tự
nơi bản
chất thâm
sâu của
mình,
Giáo Hội
là một
cộng đoàn
huynh đệ
gồm những
người
nhìn nhận
Đức Giêsu
Na-da-rét,
đã chết
và phục
sinh, là
Đấng Cứu
Độ con
người và
thế giới.
Họ nhìn
nhận Ngài
là Chúa
và là Con
duy nhất
của Thiên
Chúa. Và
họ muốn
dựa vào
Ngài để
cùng thực
hiện
những nội
dung đức
tin của
họ, giữa
họ với
nhau và
với tất
cả mọi
người.
Giáo Hội
chỉ hiện
diện cụ
thể ở nơi
nào các
tín hữu
tụ họp
lại để
nghe lơi
Chúa, để
cầu
nguyện,
để cử
hành Tiệc
Thánh, để
dấn thân
sống đức
tin và
đức ái
bằng một
cuộc sống
cá nhân
và cộng
đoàn bất
khả phân
ly.
Cha L.
Bouyer đã
viết rất
chính
xác:
« Tự căn
cơ Giáo
Hội không
hiện hữu
như một
tổ chức
có qui mô
toàn cầu
chuyên lo
việc
phụng tự,
rao giảng
Tin Mừng
hoặc việc
bác ái
Kitô
giáo, mà
trước
tiên như
những
cộng đoàn
chủ yếu ở
địa
phương
gồm các
tín hữu
tụ tập
nhau lại
để cử
hành
Thánh
Thể».39
Sách Công
Vụ Tông
Đồ cho
chúng ta
thấy tình
huynh đệ
của các
Kitô hữu,
là môn đệ
Đức
Giêsu. Họ
liên kết
chặt chẽ
với nhau,
đôi khi
đến mức
chia sẻ
của cải
cho nhau.
Những
Kitô hữu
đầu tiên,
gồm ba
ngàn
người
hoán cải
và gia
nhập đức
tin, đã
đón nhận
lời Thánh
Phêrô và
các Tông
Đồ vào
sáng ngày
Thánh
Thần hiện
xuống. Họ
được sách
Công Vụ
Tông Đồ
mô tả là:
– một
cộng đoàn
do các
Tông Đồ
hướng
dẫn,
chuyên
chú nghe
các Tông
Đồ dạy
dỗ.
– một
cộng đoàn
huynh đệ
linh hoạt
nhờ những
buổi hội
họp và
tiếp xúc
thường
xuyên với
nhau.
– một
cộng đoàn
Thánh
Thể, cùng
cử hành
lễ tưởng
niệm Đức
Chúa «cho
đến khi
Ngài lại
đến».
– một
cộng đoàn
cầu
nguyện,
trước
tiên cùng
tụ họp ở
Đền Thờ,
và về sau
tại nhà
của nhau.
Trên đây
là những
nét chủ
yếu người
ta nhận
thấy nơi
Giáo Hội
thời sơ
khai; sự
hiệp
thông
huynh đệ
nồng ấm
này là
dấu chỉ
tuyệt vời
làm cho
người ta
tin tưởng
vào Giáo
Hội.
Người ta
phải buột
miệng
nói: «Kìa
xem họ
yêu
thương
nhau biết
bao!».
Những ai
nhìn họ
sống đều
bị đánh
động bởi
niềm vui,
tâm hồn
đơn sơ,
tình
huynh đệ
chan chứa
của họ.
Ta có thể
nói rằng
đời sống
của họ rõ
ràng là
chân
thật, họ
tin tưởng
thế nào
thì thực
hành thế
ấy. Họ cố
gắng sống
trọn vẹn
lời nhắn
nhủ hết
sức hợp
lý sau
đây: «Ai
không yêu
thương
người anh
em mà họ
trông
thấy thì
làm sao
có thể
yêu mến
Thiên
Chúa,
Đấng họ
không
thấy»
(1Ga
4,20).
Mối hiệp
thông
huynh đệ
của họ
không
phải là
kết quả
của sự
gần gũi
tự nhiên,
hoặc do
sự nhiệt
tình lãng
mạn. Mối
hiệp
thông ấy–
Koinonia
– trải
qua những
căng
thẳng nội
bộ mà họ
phải vượt
thắng,
bên trên
những gì
ngăn cách
hoặc đối
đầu giữa
nô lệ và
chủ nhân,
giữa đàn
ông và
đàn bà,
giữa Do
Thái và
Hy Lạp.
Mối hiệp
thông
huynh đệ
ở đây
không
phát sinh
từ việc
có chung
một ý
thức hệ
hoặc cùng
sống theo
một bộ
luật chi
tiết nào
đó mà bắt
nguồn từ
việc gặp
gỡ một
Đấng và
do việc
tuyên
xưng niềm
tin của
mình vào
Đấng ấy.
Mối hiệp
thông
trước
tiên là
hiệp
thông với
Đấng nầy,
từ đó
phát sinh
ra sự
hiệp nhất
giữa các
anh chị
em cùng
tuyên
dương
Ngài. Mối
hiệp
thông này
là một
«Martyria=
mầu nhiệm
tử đạo»
nghĩa là
chứng tá.
Chính từ
ngữ này –
«Martyria»
– nói lên
mức chứng
tá mà
Kitô hữu
có thể
phải
gặp.40
Mối hiệp
thông
huynh đệ
này còn
là
«Diaconia»,
nghĩa là
phục vụ
trong
tình liên
đới, ưu
tiên phục
vụ các
anh chị
em đang
gặp khó
khăn.
Chúng ta
nhớ lại
những
quyên góp
của thánh
Phaolô
giúp các
Kitô hữu
ở
Giêrusalem
và việc
chia sẻ
của cải
cho nhau.
Mối hiệp
thông
huynh đệ
nầy giải
thích
nhiều tác
vụ khác
nhau để
phục vụ
cộng đoàn
trong
chính
nhãn quan
“diaconia”trên
đây.
Các chức
năng mục
vụ được
định vị
ngay
trong
khuôn khổ
tình
huynh đệ
khởi thủy
này. Dĩ
nhiên,
các chức
năng ấy
không
thuần túy
phát sinh
từ cộng
đoàn. Vì
từ khởi
thủy, Đức
Giêsu đã
ban cho
Giáo Hội
Ngài một
tác vụ
tông đồ
nối liền
với Ngài
cách đặc
biệt.
Nhưng
việc phục
vụ Giáo
Hội đã
thấm sâu
vào tâm
hồn những
cộng đoàn
đang khai
sinh.
Trong
chương
hai hiến
chế Lumen
Gentium,
Công Đồng
Vatican
II đã
nhấn mạnh
khía cạnh
huynh đệ
là nền
tảng của
Giáo Hội
khi mô tả
Giáo Hội
là dân
Thiên
Chúa, dân
chịu phép
rửa, dân
coi nhau
là anh
chị em
mình. Như
thế, Công
Đồng
Vatican
II đã
tiếp nối
truyền
thống mà
dư âm
hiện vẫn
còn vang
trong
sách Công
Vụ Tông
Đồ. Đó là
quyết
định của
Công Đồng
Giê-ru-sa-lem,
quyết
định
chung của
«các Tông
Đồ, các
trưởng
lão và
các anh
em», được
truyền
đến các
Kitô hữu
ở
An-ti-ô-ki-a,
Si-ri-a,
Si-li-xi-a.
Quyết
định ấy
được coi
như của
toàn thể
cộng
đoàn:
«Thánh
Thần và
chúng tôi
đã quyết
định
không đặt
lên vai
anh em
một gánh
nặng nào
khác
ngoài
những
điều cần
thiết
này» (Cv
15,28).
Trong ba
thế kỷ
đầu, các
thế hệ
Kitô hữu
đầu tiên
đã sống
tình
huynh đệ
này hết
sức tự
nhiên.
Chữ «Giáo
Hội» có
nghĩa là
cuộc tụ
họp, và
cuộc tụ
họp này
mang danh
nghĩa
«cộng
đoàn
huynh đệ»
(Thư
thánh
Phêrô).
Các Giáo
Hội địa
phương
này gởi
thư cho
các Giáo
Hội địa
phương
khác. Các
giám mục
cũng gởi
các sứ
điệp tới
các Giáo
Hội khác
với Giáo
Hội của
mình.
Chẳng hạn
thư của
Thánh
Phaolô
gởi tín
hữu Roma
không
phải là
một
trường
hợp riêng
lẻ. Vào
đầu thế
kỷ thứ
hai,
thánh
I-nha-xi-ô
thành
An-ti-ô-ki-a
gởi bảy
lá thư
cho các
Giáo Hội
trong đó
có sáu
Giáo Hội
thuộc về
một vùng
khác.
Thời ấy,
người ta
cùng sống
đạo Kitô
với nhau,
các công
việc của
bất kỳ ai
cũng đều
là việc
của mọi
người.
Thay đổi
lịch sử
xảy ra
giữa thế
kỷ thứ
III và
thứ VI.
Càng ngày
người ta
càng nhấn
mạnh đến
khía cạnh
định chế
và pháp
lý của
Giáo Hội,
cũng như
phân biệt
giữa giáo
sĩ và
giáo dân,
để cuối
cùng
giống như
đã lập ra
hai giai
cấp trong
Giáo Hội.
Nói thế
không có
nghĩa là
giáo phẩm
và tác vụ
linh mục
không
phải là
những
thực thể
chuyên
biệt,
nhưng vai
trò riêng
của họ
được linh
hoạt
trong
khuôn khổ
cộng
đoàn. Vì
thế, bình
diện mục
vụ chi
phối rõ
rệt ý
nghĩa
thẩm
quyền tôn
giáo. Và
sự kiện
nầy giải
thích
hình ảnh
mục tử
được Giáo
Hội chọn
để nói
đến các
vị hướng
dẫn cộng
đoàn:
hình ảnh
này không
chỉ có
trong Tin
Mừng vốn
mô tả Đức
Giêsu là
vị mục tử
nhân
lành, mà
nó còn
đáp ứng
được thực
thể Giáo
Hội mà
người ta
đang
sống. Vai
trò mục
tử trước
tiên
không
phải là
cai quản
đàn chiên
mà là tụ
họp chiên
lại, liên
kết chúng
với nhau
thành một
cộng đoàn
thống
nhất.
2. KITÔ
GIÁO MANG
TÍNH CỘNG
ĐOÀN
Giáo Hội
sơ khai
đã phát
sinh như
một tập
thể gồm
những
cộng đoàn
bé nhỏ
của các
Kitô hữu,
tản mác
khắp nơi
trong đế
quốc La
Mã. Họ
sống giữa
mọi
người,
đóng vai
trò mà
Đức Giêsu
đã chỉ
định là
làm muối
đất, làm
men dậy
bột. Nhờ
sức mạnh
từ bên
trong –
tức quyền
lực của
Thánh
Thần hoạt
động
trong
Giáo Hội
– dần dà
người gặp
người và
Giáo Hội
được
thiết
lập. Khi
nhìn về
tương
lai,
chúng ta
như tái
khám phá
một Giáo
Hội sống
lưu đày,
tản mác.
Đây lại
là lý do
mới nữa
gợi ý cho
chúng ta
rút tỉa
bài học
của thời
nguyên
thủy Giáo
Hội. Tôi
tin rằng,
hơn bao
giờ hết,
tương lai
của Giáo
Hội tùy
thuộc vào
sức mạnh
và phẩm
cách của
đời sống
cộng đoàn
của mình.
Giáo Hội
tương lai
tùy thuộc
vào các
cộng đoàn
Kitô hữu,
là những
nơi thể
hiện Thân
Thể mầu
nhiệm của
Chúa
Kitô.
Kitô giáo
và chủ
nghĩa cá
nhân
không thể
đi đôi
với nhau.
Bản chất
của đời
sống Kitô
hữu là để
cho Chúa
Kitô trở
thành sự
sống
chung của
các Kitô
hữu. Là
để Thánh
Thần xây
dựng Giáo
Hội nơi
chúng ta
bằng
những ân
huệ đa
biệt,
đồng quy
và bổ
sung lẫn
nhau. Đặc
tính của
các đoàn
sủng
không
phải là
sự biểu
hiện của
Thánh
Thần vì
thiện ích
chung
sao? Đoàn
sủng được
bảo đảm
là chân
thật khi
các Kitô
hữu trong
cộng đoàn
biết rõ
nhau, phê
bình xây
dựng lẫn
nhau,
cùng nhau
suy xét.
Nhờ sinh
hoạt
chung như
thế mà
cuộc sống
cộng đoàn
thêm
phong
phú, và
những đối
nghịch đi
đến hòa
hợp.
Người ta
thường
nói phải
hợp nhiều
người lại
mới có
được
quyết
định khôn
ngoan.
Cũng có
thể nói :
phải hợp
nhiều
người lại
thì mới
là Kitô
hữu. Vả
lại Đức
Giêsu
từng dạy
rằng : «Ở
đâu có
hai hoặc
ba người
họp lại
vì danh
Thầy thì
Thầy ở
giữa họ»
(Mt
18,20).
Lời hứa
này bắt
nguồn từ
chính mầu
nhiệm Ba
Ngôi.
Sự thống
nhất siêu
việt ấy
của Ba
Ngôi đã
được Đức
Giêsu chỉ
cho chúng
ta như
gương mẫu
tối cao
để chúng
ta bắt
chước và
thể hiện
trong đời
sống của
mình.
Kitô hữu
là một
hữu thể
cộng
đoàn. Nếu
không ai
là một
hòn đảo
thì điều
ấy lại
càng đúng
đối với
tất cả
những ai
đã chịu
phép rửa
tội.
Chính Đức
Giáo
Hoàng
cũng
không thể
tự cô
lập.
Thượng
phụ
Athénagoras
từng nói:
«Đức Giáo
Hoàng
cũng cần
có anh
em».
Để Đức
Giêsu đặc
biệt hiện
diện,
chúng ta
cần phải
hợp thành
một cộng
đoàn, tối
thiểu là
hai hoặc
ba người.
Người ta
phải sống
Kitô giáo
chung với
nhau.
Không gần
gũi anh
chị em
mình, làm
sao ta có
thể chia
sẻ lương
thực
thiêng
liêng với
họ? Mỗi
người
phải làm
sao phát
triển các
đoàn sủng
mình nhận
được để
ích lợi
cho tất
cả mọi
người.
Trước khi
trở thành
Giáo Hội
hoàn cầu,
thì Giáo
Hội đã
từng là
Giáo Hội
Cô-rin-tô
hoặc Giáo
Hội
Ê-phê-sô.
Chúng ta
càng ý
thức về
sức sống
cộng đoàn
cụ thể,
thì Giáo
Hội càng
hiện diện
linh động
và càng
triển nở.
Đời sống
cộng đoàn
và nhu
cầu con
người
ngày nay
Kitô giáo
tự bản
chất là
cộng
đoàn.
Điều này
đúng
trong mọi
nơi mọi
lúc;
nhưng
người
Kitô hữu
hôm nay
lại cần
phải phục
hoạt
những
cộng đoàn
Kitô hữu,
không
phải chỉ
để sống
đức tin
của mình,
mà còn để
tồn tại
với tư
cách Kitô
hữu trong
một thế
giới ngày
càng xa
lạ với
Kitô
giáo.
Chèo
ngược
dòng nước
thì lúc
nào cũng
vất vả;
người ta
hầu như
bị miễn
cưỡng lôi
đi. Con
người là
con cái
của thời
đại mình
nhiều hơn
là con
cái của
cha mẹ
mình.
Chúng ta
bị đe doạ
trầm
trọng bởi
khuôn mẫu
tập thể;
xã hội
đang áp
đặt hình
ảnh và
các tiêu
chuẩn độc
đoán của
nó trên
chúng ta.
Nếu nhân
loại tiến
bộ trong
một số
lãnh vực
thì nó
lại thụt
lùi trong
biết bao
lãnh vực
khác:
phong hóa
đồi bại,
tội ác
gia tăng,
bạo lực,
mưu sát,
v..v..
Người
Kitô hữu
đang hít
thở không
khí của
một thế
giới như
thế.
Không thể
sống Kitô
giáo
trong hầm
kín, biệt
cư để
mong
tránh
khỏi các
loại
chướng
khí độc
hại ấy .
Cộng đoàn
Kitô hữu
cơ bản là
gì?
Do đó,
hơn bao
giờ hết,
chúng ta
cảm thấy
khẩn
thiết
phải làm
sống dậy
những
cộng đoàn
Kitô hữu
đích
thực. Thế
nhưng
danh hiệu
«cộng
đoàn cơ
bản»
thường
bao hàm
những
thực tế
hết sức
khác
nhau,
ngay cả
trong môi
trường
Kitô
giáo. Một
linh mục
người Bỉ,
cha Max
Delespesse,
giám đốc
Trung tâm
cộng đoàn
quốc tế ở
Bruxelles,
nhận xét
như sau:
Người ta
hay dùng
tên ấy để
nói đến
những
cộng đoàn
«cùng
hành động
với nhau»
hơn là
«cùng
sống với
nhau».
Các cộng
đoàn cùng
hành động
với nhau
đương
nhiên có
lý do
hiện hữu
của mình,
tuy
nhiên, ở
đây chúng
ta không
đề cập
đến những
cộng đoàn
này. Cộng
đoàn Kitô
hữu mà
chúng tôi
muốn nói
tới là
loại cộng
đoàn
«cùng
sống với
nhau» để
rồi cùng
hành động
với nhau.
Việc sống
cùng với
nhau ấy
có thể
thực hiện
ở nhiều
mức độ
khác
nhau. Ở
đây chúng
ta không
cần phân
tích các
mức độ
ấy. Nhưng
đối với
Kitô hữu,
cùng sống
với nhau
mà thôi
thì chưa
đủ để
thành một
cộng đoàn
Kitô hữu.
Chỉ là
cộng đoàn
Kitô hữu
nếu họ
thực sự
cùng sống
với nhau
vì Đức
Giêsu
Kitô,
Đấng mà
họ công
khai
tuyên
xưng,
Đấng mà
họ cố
gắng bước
theo vì
Ngài là
Chủ Tể sự
sống, là
Đấng Cứu
Độ, là
Chúa. Một
cộng đoàn
chỉ đích
thực là
Kitô giáo
nếu biết
đáp lại
lời gọi
của Đức
Giêsu
Kitô để
Thánh
Thần Ngài
dẫn dắt
đi giữa
lòng thế
giới.
Bonhoeffer
lưu ý đến
điều kiện
đầu tiên
này, ông
viết:
«Ngay từ
đầu cần
phải ý
thức rằng
tình
huynh đệ
Kitô giáo
trước hết
không
phải là
một lý
tưởng do
con người
suy nghĩ
ra, mà là
một thực
tế được
Thiên
Chúa ban
tặng.
Tiếp đó,
ý thức
rằng thực
tế nầy
thuộc
trật tự
thiêng
liêng chứ
không
thuộc
trật tự
tâm lý.
Không thể
đếm hết
những
cộng đoàn
Kitô hữu
bị băng
rã vì đã
sống theo
một hình
ảnh ảo
tưởng về
Giáo
Hội».41
Suy nghĩ
trên đây
rất chính
xác và
đúng lúc.
Có lần
tôi đọc
lướt qua
một tạp
chí nọ,
bỗng đọc
thấy một
định
nghĩa về
cộng đoàn
cơ bản
như sau:
«Các cộng
đoàn cơ
bản ít
nhắm tới
việc loan
báo Đức
Giêsu
Kitô cho
bằng tự
tra vấn
mình về
chính
Ngài, và
sống đức
tin như
một cuộc
tìm kiếm
liên lỉ.
Các cộng
đoàn này
muốn liên
kết hoạt
động
chính trị
với việc
sống đạo
Kitô giáo
của
mình».
Trong
đoạn
trên, cần
hiểu rõ
từng chữ
một. Theo
nghĩa
đích xác
và mạnh
mẽ của
bản chất
mình thì
một cộng
đoàn Kitô
giáo
không thể
nào không
rao
truyền
Đức Giêsu
Kitô:
«Khốn cho
tôi nếu
tôi không
rao giảng
Tin Mừng»
(1Cr
9,16).
Nói thế
không có
nghĩa là
phải thực
hiện ơn
gọi nầy
một cách
thiếu suy
xét, cẩu
thả. Có
rất nhiều
cách
«trình
bày về
Đức Giêsu
Kitô».
Dầu sao
đi nữa
thì người
Kitô hữu
phải luôn
luôn nghĩ
đến
chuyện
làm sao
mang sứ
điệp đến
với mọi
người bất
chấp trở
ngại và
chống đối
có thể
xảy ra.
Trong câu
định
nghĩa
trên có
câu: «Tự
tra vấn
mình về
Đức Giêsu
Kitô và
sống đức
tin như
một cuộc
tìm
kiếm».
Nhưng
chúng ta
cần đồng
ý với
nhau lối
hiểu câu
nầy: Hẳn
nhiên
người ta
có thể
thắc mắc
về Đức
Giêsu
Kitô và
tìm cách
nhận biết
Ngài rõ
hơn khởi
từ đức
tin
nguyên
thủy vào
Ngài và
trong
khuôn khổ
đức tin
ấy. Đó
chính là
sứ mạng
của thần
học. Hoặc
là theo
giả
thuyết
hoàn toàn
khác,
người ta
thắc mắc
từ nơi
ngưỡng
cửa đức
tin, rốt
ráo đặt
lại vấn
đề đức
tin của
mình.
Có thể có
những
nhóm
người dọ
dẫm còn
xa lạ với
đức tin
đang cùng
nhau tìm
hiểu ý
nghĩa của
Kitô
giáo.
Nhưng
những
nhóm
người như
thế chưa
phải
những
cộng đoàn
Kitô hữu
theo
nghĩa
chính
xác. Còn
nếu là
những
người đã
chịu phép
rửa, thì
cuộc tìm
kiếm của
họ lại
mang một
ý nghĩa
khác. Nếu
ta thắc
mắc nghi
ngờ thần
tính Đức
Giêsu
Kitô hay
về sự
phục sinh
của Ngài
– không
phải về
việc mầu
nhiệm ấy
xảy ra
thế nào,
mà về
chính
việc chấp
nhận mầu
nhiệm ấy
–, thì ta
không còn
là Kitô
hữu nữa.
Một cộng
đoàn tìm
kiếm như
thế không
phải là
một cộng
đoàn Kitô
giáo. Cần
phải tôn
trọng giá
trị của
từ ngữ.
Bất hạn
một cộng
đoàn Kitô
giáo nào,
ngay từ
nền tảng,
cũng phải
cùng nhau
nhìn nhận
Đức Giêsu
và sứ
điệp của
Ngài.
Khi hỏi:
«Người
Kitô hữu
là ai?»
người ta
thường
trả lời:
đó là một
người
tốt, công
bình, bác
ái, có
đạo đức
và có ý
thức xã
hội.
Nhưng rất
nhiều
người
không là
Kitô hữu
cũng có
những đức
tính ấy,
đôi khi
còn hơn
cả chúng
ta. Thế
thì sao?
Đặc tính
duy nhất
và cấu
thành
Kitô giáo
không
phải là
toàn bộ
các
nguyên
tắc hay
giá trị,
mà là Đức
Giêsu
Kitô.
Điều cốt
yếu của
Kitô giáo
chính là
ý nghĩa
của cuộc
đời, của
sự chết,
của sự
sống lại
của Đức
Giêsu
Kitô, và
của sự
hiện diện
sống động
của Ngài
nhờ Thánh
Thần.
Nếu Đức
Kitô chỉ
là một
danh hiệu
mơ hồ, kỳ
thực chỉ
là nhằm
mô phỏng
tình yêu
đối với
nhân loại
mà thôi,
và nếu
Tin Mừng
bị giản
lược
thành một
chủ nghĩa
nhân bản
xã hội
nào đó,
thì danh
hiệu
Giêsu hẳn
có thể
gán cho
tên của
bất kỳ vị
tiên tri
vĩ đại
nào đó
của nhân
loại. Cổ
võ canh
tân trong
Giáo Hội
để làm gì
nếu việc
canh tân
này không
giúp
người ta
tái khám
phá một
cách sâu
xa tương
quan cá
nhân của
người
Kitô hữu
với Đức
Giêsu
Kitô. Nếu
muốn sống
đời Kitô
hữu một
cách
trung
thực,
trước
tiên phải
tìm cho
ra ý
nghĩa
chính xác
của phép
rửa trong
Đức Giêsu
Kitô.
Đức Giêsu
Kitô là
viên đá
gốc, là
nền của
mọi cộng
đoàn Kitô
hữu. Để
một cộng
đoàn Kitô
hữu có
thể sống
và tồn
tại, cần
phải có
lẽ sống,
và lẽ
sống ấy
chính là
Đức Kitô.
Không thể
thay thế
lẽ sống
ấy bằng
bất cứ
thứ gì.
Ngài làm
cộng đoàn
sinh động
từ bên
trong nhờ
Thánh
Thần của
Ngài.
Không có
Ngài,
không thể
có gặp
gỡ, không
thể có
hiệp
thông
đích thực
giữa con
người với
nhau.
Không ai
diễn tả
chức năng
của Thánh
Thần là
mối dây
liên kết
con người
lại với
nhau một
cách
tuyệt vời
như
Dietrich
Bonhoeffer.
Thần học
gia Tin
Lành bị
Đức Quốc
Xã sát
hại này
vẫn là
một trong
những nhà
tư tưởng
được giới
trẻ yêu
thích.
Người ta
trích dẫn
những lá
thư ông
viết
trong tù
nhiều hơn
tất cả
những tác
phẩm khác
của ông.
Tôi nghĩ
rằng
trang
trích dẫn
sau đây
nói lên
tư tưởng
chính yếu
của tác
phẩm của
ông: «Bàn
về bản
chất đích
thực của
Giáo
Hội».
Trong
trang
này, ông
nhắc nhở
rằng từ
kể từ
biến cố
Hiện
Xuống,
chính
Thánh
Thần luôn
làm cho
mọi «cuộc
tụ họp
nhau» trở
thành
«Giáo
Hội»:
«Người ta
tụ họp
lại:
Thánh
Thần ngự
xuống
trên
họ...
Trước
tiên là
tụ họp
lại, tiếp
đến là
Thánh
Thần ngự
xuống. Tụ
họp mà
thôi thì
chưa phải
là Giáo
Hội:
chính
Thánh
Thần mới
làm cho
sự tụ họp
ấy thành
Giáo Hội.
Nhưng
Thánh
Thần chỉ
đến trên
những
người đã
tụ họp
lại với
nhau. Con
người
chẳng thể
làm gì để
cứu rỗi
mình,
nhưng họ
có thể
hướng về
Giáo Hội:
lời hứa
ban Thánh
Thần được
hứa cho
từng
người với
điều kiện
người ấy
phải là
thành
viên của
một cộng
đoàn tập
hợp lại.
Điều mới
mẻ xảy
đến cho
người ấy
chính là
Thánh
Thần đến.
Việc
Thánh
Thần ngự
đến và
việc
thành lập
Giáo Hội
là một
biến cố
nhìn thấy
được chứ
không
phải một
ý tưởng
mơ hồ.
Thánh
Thần tự
tạo cho
mình một
chỗ trong
thế gian
và Ngài
ngự đến
với những
dấu chỉ
hữu hình.
Cộng đoàn
lập tức
thành
hình, mọi
người đều
có thể
nhìn thấy
và chân
nhận.
Thành lập Giáo Hội không phải là một việc được thực hiện giấu giếm trong một xó xỉnh nào đó, mà là một biểu hiện rõ ràng đối với tất cả những ai được kêu gọi. Thánh Thần cho thế gian thấy cộng đoàn của Ngài: Cộng đoàn ấy lập tức trở nên “một thành xây trên núi không thể giấu được”. Thánh Thần tràn ngập Lời Chúa: Ngài không ấp úng nhưng nói thật rõ ràng; ai nấy đều hiểu. Chính đó là ý nghĩa của phép lạ nói nhiều thứ tiếng. Lời Chúa liên kết lại và đặt con người trước trách nhiệm của mình. Thánh Thần nói Lời duy nhất mà mọi người đều hiểu. Khi trở nên hữu hình, Giáo Hội liền chịu thế gian phê phán: sự hữu hình của Giáo Hội gây mâu thuẩn. Thế gian xem sự hiện diện của Thánh Thần có vẻ như say sưa và điên rồ. Sự nhạo cười ấy chính là dấu chỉ luôn luôn đổi mới cho biết Giáo Hội đang đi đúng đường. Dấu chỉ ấy còn rõ ràng hơn cả những lời vỗ tay tán tụng của thế gian. Khi nào Giáo Hội ẩn mình để khỏi ai nhìn thấy, thì bấy giờ là Giáo Hội đã hiểu sai thực tại Thánh Thần».
3. GIÁO
XỨ VÀ
CỘNG ĐOÀN
Là hơi
thở sống
động của
Giáo Hội,
Thánh
Thần làm
Giáo Hội
sinh động
nơi từng
bộ phận
nhỏ, chứ
không
phải chỉ
cho toàn
thể Giáo
Hội một
cách tổng
quát. Như
chúng ta
đã nói ở
phần
trên,
công cuộc
canh tân
tâm linh
chỉ thành
công nếu
bắt đầu
từ nơi
đời sống
cụ thể,
thường
nhật, của
những
Kitô hữu
có khả
năng sống
đạo Kitô
giáo của
mình
trong một
môi
trường
sống bình
thường.
Người
Kitô hữu
còn bị
chi phối
bởi môi
trường họ
sống
nhiều hơn
bởi các
cơ chế.
Ảnh hưởng
của môi
trường
sống còn
quan
trọng hơn
các cơ
chế. Phải
bắt đầu
từ những
cộng đoàn
Kitô hữu
đích thực
mới có
thể làm
cho Kitô
giáo sống
động trở
lại. Các
cộng đoàn
tạo nên
mô tế bào
cho cơ
thể là
Giáo Hội.
Điều này
dẫn chúng
ta đến
một vấn
đề tế
nhị, đó
là những
tương
quan giữa
các cộng
đoàn cơ
bản và
đơn vị
nền tảng
của cơ
chế là
giáo xứ.
Cộng đoàn
Kitô hữu
và cơ cấu
giáo xứ
Chúng ta
không
thuật lại
ở đây
lịch sử
hình
thành
giáo xứ
như ta
đang có
hiện nay.
Gần như ở
khắp nơi,
cơ cấu
giáo xứ
là nền
tảng đầu
tiên của
Giáo Hội.
Nói
chung,
trước đây
giáo xứ
đúng là
môi
trường
sống của
người
Kitô hữu,
và không
có vấn đề
gì phải
đặt ra:
giáo xứ
đã được
cảm nhận
là tổ ấm
thông
thường
của đời
sống Kitô
hữu.
Nhưng rồi
vấn đề đô
thị hóa,
đời sống
tân tiến,
sự di
chuyển,
trào lưu
tục hóa,
chủ nghĩa
đa nguyên
xã hội đã
làm đảo
lộn tình
trạng
quân bình
ấy. Các
giáo xứ ở
thành phố
và ở các
thị trấn
lớn không
còn nằm
trong
khuôn khổ
sinh hoạt
bình
thường
nữa. Chủ
chăn và
Kitô hữu
khó tạo
được
những
tương
giao thân
thiết làm
cho mọi
cộng đoàn
trở nên
sống
động. Để
tìm ra
nét tương
phản,
chúng ta
hãy đọc
lại đoạn
kết của
thư Thánh
Phaolô
gởi tín
hữu Roma.
Thật tha
thiết
nồng ấm!
«Tôi xin
gửi lời
thăm chị
Pơ-rít-ca
và anh
A-qui-la,
những
người
cộng tác
với tôi
để phục
vụ Đức
Kitô
Giêsu ;
hai anh
chị đã
liều mất
đầu để
cứu mạng
tôi.
Không chỉ
mình tôi,
mà còn
các Hội
Thánh
trong dân
ngoại
cũng phải
mang ơn
anh chị.
Tôi cũng
xin gửi
lời thăm
Hội Thánh
vẫn họp
tại nhà
anh chị
ấy.
«Xin gửi
lời thăm
anh
Ê-pê-nét,
bạn yêu
quý của
tôi, là
của đầu
mùa miền
A-xi-a
dâng lên
Đức Kitô.
Xin gửi
lời thăm
chị
Maria,
người đã
vất vả
nhiều vì
anh em.
Xin gửi
lời thăm
các anh
An-rô-ni-cô
và
Giu-ni-a,
bà con
với tôi,
và đã
từng ngồi
tù với
tôi ; các
anh là
những
người
xuất sắc
trong các
Tông Đồ,
lại còn
theo Đức
Kitô
trước
tôi. Xin
gửi lời
thăm anh
Am-li-át,
bạn yêu
quý của
tôi trong
Chúa. Xin
gửi lời
thăm anh
Ua-ban,
người
cộng tác
với chúng
tôi trong
Đức Kitô,
và anh
Ta-khy,
bạn yêu
quý của
tôi. Xin
gửi lời
thăm anh
A-pe-lê,
người đã
từng được
tôi luyện
trong Đức
Kitô. Xin
gửi lời
thăm mọi
người
trong nhà
anh
A-rít-tô-bu-lô.
Xin gửi
lời thăm
anh
Hê-rô-đi-on,
bà con
với tôi.
Xin gửi
lời thăm
bà con
anh
Na-ki-xô,
những
người
đang ở
trong
Chúa. Xin
gửi lời
thăm hai
chị
Try-phen
và
Try-phô-xa,
những
người
đang vất
vả vì
Chúa. Xin
gửi lời
thăm chị
Péc-xi-đê
yêu quý,
người đã
vất vả
nhiều vì
Chúa. Xin
gửi lời
thăm anh
Ru-phô,
người
được Chúa
chọn, và
thăm mẹ
của anh,
cũng là
mẹ của
tôi. Xin
gửi lời
thăm các
anh
A-xinh-rít,
Phơ-lê-gon,
Héc-mê,
Pát-rô-ba,
Héc-ma và
những anh
em ở với
các anh
ấy. Xin
gửi lời
thăm anh
Phi-lô-lô-gô
và chị
Giu-li-a,
anh Nê-rê
và cô em
anh ấy,
anh
Ô-lim-pa
và mọi
người
trong dân
thánh
đang ở
với các
anh chị
ấy. Anh
em hãy
hôn chào
nhau một
cách
thánh
thiện.
Tất cả
các Hội
Thánh Đức
Kitô gửi
lời chào
anh em»
(Rm
16,3-16).
Mặc dù
đời sống
hờ hững
vô tình
của các
thành phố
ngày nay,
các giáo
xứ đã cố
gắng rất
nhiều để
trở nên
sống động
và tăng
cường các
sinh hoạt
cộng
đồng. Kể
từ Công
Đồng
Vatican
II, phụng
vụ đã
được canh
tân để
hướng đến
mục tiêu
đó. Nếu
so sánh
các buổi
cử hành
Thánh Thể
trước kia
và hiện
nay, nói
chung,
người ta
phải nhìn
nhận rằng
đã có một
cuộc canh
tân quan
trọng.
Chúng ta
tìm lại
được cộng
đồng Kitô
hữu cùng
cầu
nguyện
với nhau,
cùng lắng
nghe lời
Chúa, ý
thức rằng
Thánh Thể
phải được
hoàn
thanh
trong
hiệp
thông và
phải tràn
ra bên
ngoài
thành
những cử
chỉ tỏ
bày tình
huynh đệ.
Tuy chưa
đạt tới
lý tưởng,
nhưng
bước đi
khả quan.
Dầu vậy,
nếu chúng
ta nhìn
kỹ cộng
đồng được
mời qui
tụ trong
các nhà
thờ ngày
chủ nhật,
chúng ta
phải thú
nhận rằng
cộng đoàn
này chưa
tạo được
ấn tượng
về mối
tình
huynh đệ
thân
thiết.
Ngày Chúa
Nhật, tại
điểm hẹn
ấy, ta
thường
thấy các
Kitô hữu
đủ loại
đủ kiểu,
từ những
người dấn
thân thực
sự cho
đến những
người giữ
đạo theo
truyền
thống. Ở
đây chả
ai nghĩ
đến giai
cấp xã
hội hay
sự ngăn
cách giữa
các giai
cấp; còn
lòng đạo
hạnh vẫn
luôn là
một bí
mật của
Thiên
Chúa.
Theo ước
lệ, chúng
ta gọi
những ai
có thực
hành đời
sống bí
tích một
cách tối
thiểu, là
«Kitô
hữu», mà
không tìm
hiểu xem
trong đó
có bao
nhiêu
người
thực hành
Kitô giáo
cho trọn
các chiều
kích cần
thiết.
Nhiều
Kitô hữu
sống đạo
hời hợt;
còn những
người
sống phù
hợp với
định
nghĩa đầy
đủ về
người
Kitô hữu
đích thực
thì hiếm
hơn. Tuy
nhiên,
ngoài
nhận xét
bàng quan
đó, vấn
đề quan
trọng là
phải ý
thức đến
các cấp
độ khác
nhau
trong
việc sống
đời Kitô
hữu, để
định
hướng nỗ
lực mục
vụ và
thích ứng
nỗ lực ấy
cho những
Kitô hữu
kiểu đại
trà cũng
như những
Kitô hữu
dấn thân
mạnh mẽ.
Đàng
khác,
chúng ta
phải làm
sao để
hai cách
thức mục
vụ ấy ăn
khớp và
đồng quy
với nhau.
Giữa
những
giáo xứ
và những
cộng đoàn
sống động
hiện hữu
bên ngoài
những
giáo xứ
ấy, có
thể xây
dựng
những
tương
quan đa
biệt tuỳ
hoàn cảnh
và nhân
sự. Phải
làm sao
để các
sáng
kiến, các
dự án và
sinh hoạt
hòa hợp
với nhau.
Điều quan
trọng là
những
cộng đoàn
này không
được nằm
ngoài tầm
giám sát
của giám
mục là
trung tâm
sống động
của cộng
đoàn Giáo
Hội.
Có giáo
xứ cho
rằng cứ
để các
cộng đoàn
ấy sinh
hoạt và
cho phép
mỗi cộng
đoàn phát
triển
theo con
đường
riêng của
mình,
nhưng rán
giữ được
sự hiệp
nhất tối
thiểu và
cần
thiết.
Một lối
hiệp nhất
đa nguyên
có thể
mang lại
kết quả
tốt. Có
giáo xứ
lại nhờ
một «cộng
đoàn sống
động» tạo
năng động
cho cho
cả giáo
xứ mình;
nhờ cách
nầy nhiều
giáo xứ
có được
sự «phụ
lực tâm
linh». Có
thể tiên
liệu chắc
chắn sẽ
có đụng
chạm và
khó chịu.
Tuy
nhiên,
khổ đau
do sự
hiểu lầm
nhau cũng
góp phần
vào việc
cứu chuộc
nhân
loại.
Về các
nhóm đoàn
sủng,
Kevin
Ranaghan
đã mô tả
sự hòa
nhập có
thể thực
hiện được
trong
khung
cảnh giáo
xứ như
sau:
«Chúng ta
phải nỗ
lực để
giúp các
nhóm cầu
nguyện và
những
cộng đoàn
của chúng
ta hòa
nhập vào
các giáo
xứ và các
giáo phận
của chúng
ta. Không
có một
kiểu mẫu
nào chung
cho sự
hòa nhập
này. Mỗi
nhóm cầu
nguyện
đoàn sủng
và mỗi
cộng đoàn
đều có
phong
cách
riêng của
mình và
cũng
phong phú
đa dạng
như các
giáo xứ
và các
giáo phận
vậy.
«Tại một
số nơi,
Phong
Trào Canh
Tân Đoàn
Sủng có
thể là
cuộc tiếp
cận mục
vụ nhằm
canh tân
mục vụ
cho giáo
xứ. Tại
một số
nơi khác,
nhóm cầu
nguyện
chỉ là
một hoạt
động được
giáo xứ
chuẩn
nhận. Tại
một số
thành
phố, các
nhóm đoàn
sủng đông
hơn, hoặc
các cộng
đoàn lớn
hơn, qui
tụ các
Kitô hữu
thuộc
nhiều
giáo xứ,
thì cần
thiết
phải quan
hệ với vị
giám mục
và các
cộng sự
viên của
ngài. Đôi
khi, cộng
đoàn có
thể xuất
hiện nơi
thành phố
như một
kiểu mới
qui tụ
các Kitô
hữu; ở
những nơi
khác,
cộng đoàn
ấy lại
mang hình
thức một
hiệp hội
mới trải
rộng khắp
giáo
phận».43
Để kết
thúc đoạn
văn nói
về các
giáo xứ
và các
cộng đoàn
cơ bản,
chúng ta
cần nhìn
về tương
lai đầy
hứa hẹn
mà đôi
bên có
thể bổ
sung cho
nhau.
Luis
Rétif đã
viết nên
những
hình ảnh
tuyệt vời
của chân
trời ấy:
«Những
đơn vị
nhẹ nhàng
hơn,
những tập
hợp phát
sinh từ
cuộc
sống, một
lối phụng
vụ tìm
lại được
hơi ấm
của lễ
hội quen
thuộc,
những tác
vụ được
phân phối
lại giữa
linh mục
và giáo
dân, tình
trạng
thức tỉnh
lương tâm
ngôn sứ,
linh mục
hòa nhập
lại vào
cuộc sống
tập thể
cộng
đoàn: đó
là một số
hứa hẹn
đã chứng
thực nơi
các nhóm
nhỏ. Miễn
là cho họ
thời gian
để hình
thành và
chấp nhận
cho họ
quyền
được sai
lầm. Điều
thiết yếu
là phải
tái tạo
một cơ
phận Kitô
giáo sống
động. Chỉ
những
cộng đoàn
vừa mức
sinh hoạt
con
người,
bám rễ
vào môi
trường cụ
thể địa
phương,
hiện diện
ở những
nơi có
những con
người
tương
thân
tương ái
đang sinh
sống,
đang
chiến đấu
và hy
vọng, chỉ
những
cộng đoàn
hoặc
những
nhóm Công
Giáo tiến
hành, cảm
nhạy
trước
những
thôi thúc
của Thánh
Thần để
dấn thân
cho chân
lý trong
mối hiệp
thông với
toàn thể
Giáo Hội:
chỉ những
cộng đoàn
như thế
mới có
thể làm
hồi sinh
toàn cơ
thể là
Giáo
Hội.44
4. VAI
TRÒ NGÔN
SỨ CỦA
CÁC CỘNG
ĐOÀN KITÔ
HỮU SỐNG
ĐỘNG
Công Đồng
Vatican
II nói
rằng Giáo
Hội «là
bí tích
sự hiệp
nhất nhân
loại».
Điều này
có nghĩa
là Giáo
Hội vừa
là dấu
chỉ vừa
là mối hy
vọng cho
thế giới
đang khao
khát hiệp
nhất,
bình an
và phát
triển
toàn
diện. Để
chu toàn
sứ mạng
này, Giáo
Hội phải
có khả
năng cống
hiến cho
thế giới
những
chứng
nghiệm
chỉ đạo;
những
chứng
nghiệm
nầy là
tiền cảnh
của một
cộng đồng
nhân loại
mà con
người mơ
ước và
tìm kiếm
không
ngơi.
Giáo Hội
phải có
khả năng,
qua tiền
cảnh ấy,
chỉ cho
thế giới
hé thấy
được
tương lai
của nhân
loại, một
khi thế
giới biết
đón nhận
Đức Giêsu
là Đấng
Cứu Độ,
là chìa
khóa giải
quyết
những vấn
đề của
mình. Tôi
cố ý sử
dụng hình
ảnh chìa
khóa để
minh
chứng
rằng căn
rễ ẩn
đằng sau
mọi khổ
đau của
thế gian
này chính
là lòng
căm ghét,
ganh tị,
ích kỷ cá
nhân hoặc
tập thể,
thiếu
tình
thương
dưới mọi
hình
thức. Tóm
lại, nói
theo ngôn
ngữ Kitô
giáo, đó
chính là
tội lỗi.
Thế nhưng
chỉ mình
Đức Giêsu
mới có
thể thay
đổi trái
tim con
người một
cách sâu
xa, nhờ
đó mà
thay đổi
được mọi
cơ chế.
Chỉ khi
biết đón
nhận Đức
Giêsu là
đường, là
sự thật
và là sự
sống, thì
người ta
mới có
thể triệt
để đi sâu
vào trọng
tâm vấn
đề. Chỉ
Giáo Hội
Ngài mới
có năng
lực canh
tân không
những bộ
mặt Giáo
Hội mà cả
bộ mặt
trái đất
này. Điều
này có vẻ
khó lọt
tai những
Kitô hữu
có đức
tin yếu
kém, đức
cậy lung
lay.
Nhưng đã
là Kitô
hữu thì
phải tin
hết mình
vào điều
ấy, không
hơn không
kém.
Khi chứng
nghiệm
được “
trời mới
đất mới”,
vượt lên
trên muôn
ngàn trở
ngại như
một dấu
chỉ tiên
phong,
thì Kitô
hữu có
thể cống
hiến niềm
hy vọng
ấy cho
thế giới
qua hình
ảnh của
nếp sống
các cộng
đoàn Kitô
giáo cơ
bản. Nhìn
vào lối
sống của
các Kitô
hữu nầy,
người ta
không
khỏi ngạc
nhiên tự
hỏi: đâu
là bí
quyết
giúp họ
yêu
thương
nhau,
sống
thanh
thản và
quên mình
như thế?
Bấy giờ
danh Đức
Giêsu sẽ
vụt nổi
bật lên,
vì chính
cuộc sống
của các
Kitô hữu
là ánh
sáng giúp
nhận ra
khuôn mặt
Ngài.
Chính đó
là dấu
chỉ Đức
Giêsu
dùng để
giúp thế
giới có
thể tin
vào Ngài;
và đó
cũng là
phương
cách minh
giáo hữu
hiệu
nhất.
Cuộc sống
Kitô hữu
là chứng
tá của sự
thật, là
giá trị
ngôn sứ
cho thế
giới. J.
J. von
Allmen
diễn tả
điều ấy
cách
tuyệt
vời:
«Mỗi
người
chịu phép
rửa là
một niềm
hy vọng
cho mọi
người.
Mỗi bữa
tiệc
Thánh Thể
là một
hứa hẹn
cho mọi
bữa ăn.
Và Giáo
Hội là
bến mong
chờ cho
mọi xã
hội con
người».
Chúng ta
có khuynh
hướng coi
nhẹ vai
trò trung
gian của
cộng
đoàn,
trung
gian giữa
người
Kitô hữu
và thế
giới. Nhờ
cuộc sống
cộng
đoàn,
chúng ta
có thể
sống đạo
«tại gia»
trước khi
đưa đạo
vào đời.
Cần phải
nghiên
cứu sâu
sát tương
quan giữa
các Kitô
hữu theo
Thánh
Kinh:
Tình yêu
giữa anh
chị em
với nhau
phải là
ưu tiên.
Thánh
Phaolô
nói:
«Chúng ta
hãy thực
hành điều
thiện cho
mọi
người,
nhất là
đối với
anh em
trong
cùng đại
gia đình
đức tin»
(Gl
6,10).
Hãy coi
chừng kẻo
giống như
hạng
người
«việc nhà
thì nhác
việc chú
bác thì
siêng».
Bác ái
phải bắt
đầu từ
trong gia
đình mình
rồi dần
dà lan
rộng ra
tới người
khác.
Không thể
bỏ qua
những
bước
trung
gian,
những
trạm
trung
chuyển.
Phần lớn,
công cuộc
canh tân
trong
Giáo Hội
được thực
hiện khởi
từ những
cộng đoàn
Kitô hữu
đã trở
thành tổ
ấm ánh
sáng và
sức nóng
đối với
môi
trường
chung
quanh.
Theo cái
nhìn nhân
loại, xem
ra như
nghịch lý
khi cho
rằng
tương lai
Giáo Hội
tùy thuộc
vào những
cộng đoàn
Kitô hữu
bé nhỏ,
vì những
cộng đoàn
ấy – dẫu
nhiệt
thành đến
đâu –
cũng chỉ
là một
giọt nước
trong đại
dương.
Đúng vậy.
Nhưng nếu
lưu ý đến
năng lực
thiêng
liêng
toát ra
từ bất cứ
nhóm
người nào
chấp nhận
để cho
Đức Kitô
làm sinh
động bằng
Thánh
Thần
Ngài, ta
sẽ thấy
tất cả
đều thay
đổi giá
trị, vì
chúng ta
đang đi
vào sức
mạnh và
quyền
năng của
chính
Thiên
Chúa.
«Bầy
chiên nhỏ
bé trong
Tin Mừng»
tượng
trưng cho
thiểu số
Kitô hữu
mà Đức
Cha
Helder
Camara ưa
gọi là
thiểu số
A-bra-ham.
Quả thật,
chính
những
nhóm
thiểu số
ấy biến
đổi thế
giới.
Hồng Y
Newman đã
nhấn mạnh
cách
tuyệt vời
về năng
lực của
những
nhóm nhỏ
bề ngoài
có vẻ yếu
đuối này:
«Không
phải
những gã
khổng lồ
làm được
những
chuyện to
tát
nhất...
Mô-sê có
một mình,
Ê-li-a
cũng một
mình,
Đa-vít,
Phaolô,
A-tha-na-di-ô,
Lê-ô...
đều một
mình. Ân
sủng luôn
hoạt động
thông qua
một số ít
người.
Cái nhìn
sắc bén,
xác tín
nồng nàn,
quyết tâm
không lay
chuyển
của nhóm
nhỏ, máu
của vị tử
đạo, lời
nguyện
cầu của
vị thánh,
hành vi
anh hùng,
cơn khủng
hoảng sớm
vượt qua,
năng lực
tập trung
vào một
lời nói
hay một
ánh nhìn,
đó là
những
dụng cụ
của trời
cao! Hỡi
đoàn
chiên nhỏ
bé, đừng
sợ, vì
Đấng ngự
giữa anh
chị em có
đầy quyền
năng,
Ngài sẽ
làm cho
anh chị
em những
điều kì
diệu».