VÀI
NÉT VỀ
CANH TÂN
ĐẶC SỦNG
CÔNG GIÁO
TÀI
LIỆU *
LỜI CHỨNG
* CẢM
NGHIỆM

Về trang Mục Lục
PHỎNG VẤN
LINH MỤC
EMILIANÔ
TARDIF
Trích
trong tác
phẩm ĐỨC
GIÊSU LÀ
ĐẤNG
THIÊN SAI
Lm Phêrô
Hoàng
Minh Tuấn
CSsR
chuyển
ngữ
Thu thập
những lời
phỏng
vấn tại
nhiều
nơi trên
thế
giới,
chúng tôi
đã chọn
trong số
đó những
câu hỏi
liên quan
đến
những
vấn đề
chúng tôi
thấy có
vẻ là lý
thú
nhất.
Chúng tôi
thuật
lại ở
đây kèm
theo
những câu
trả lời
của Cha
Tardif.
1. Ơn
chữa lành
hệ tại
đích xác
cái gì?
Ơn chữa
bệnh,
cũng như
mọi đặc
sủng
khác, là
một sự
biểu
thị của
Chúa
Thánh
Thần.
Thánh
Phaolô
quả
quyết:
“Việc
Thần
Khí
biểu
thị ra
như vậy
được ban
xuống
cho mỗi
người để
mưu ích
lợi
chung”.
Ngay đó,
thánh
nhân kể
ra 9
điều:
“Người
thì
được
Thần
Khí ban
cho lời
khôn
ngoan...,
người
thì lời
trí tri,
lòng tin,
đặc ân
chữa
bệnh
tật...,
kỳ công
phép lạ,
ơn tiên
tri,
biện
phân các
thần
khí, ơn
nói các
thứ ngôn
ngữ, ơn
diễn
giải các
ngôn ngữ”
(1C
12.7-11).
- Thưa
Cha,
nhưng
người ta
nói rằng
những
đặc sủng
phi
thường
ấy chỉ
dành cho
thời đầu
của Hội
Thánh...,
còn ngày
nay,
chúng
không còn
nữa...
Nhưng ai
nói thế?
Nếu
vậy,
“lòng
tin” mà
Thánh
Phaolô
nêu ra
trong bản
danh sách
ấy cũng
chỉ dành
cho thời
đầu của
Hội
Thánh
thôi ư?
Công
đồng
Vaticăng
II nói
về những
đặc sủng
phi
thường
ấy như
thành
phần của
đời sống
Giáo Hội
ngày nay
(xem
Hiến
Chế “Ánh
sáng muôn
dân”, số
4 và 12).
Đàng
khác,
trong
quyển
“Đàm đạo
về đức
tin” của
Ngài, Đức
Hồng Y
Ratzinger
khẳng
định:
“Trong
lòng thế
giới đã
bị một
thứ chủ
nghĩa
hồ nghi,
duy lý
làm khô
cằn, đã
nảy sinh
một kinh
nghiệm
mới về
Chúa
Thánh
Thần; nó
đã bành
trướng
thành
một
phong
trào canh
tân có
tầm cỡ
quốc
tế.
Những gì
Tân Ước
nói về
các đặc
sủng,
vốn
xuất
hiện như
những
dấu
hiệu
thấy
được của
Thần
Khí,
không
chỉ
thuộc
về lịch
sử cổ
thời, đã
lui vào
quá khứ:
lịch sử
ấy lại
trở thành
chuyện
thời sự
nóng hổi
ngày hôm
nay”.
2. Tại
sao Giáo
hội Công
giáo chưa
chấp
nhận các
đặc sủng
như một
yếu tố
thông
dụng,
bình
thường
trong đời
sống tôn
giáo,
đang khi
nhiều
Giáo Hội
Tin Lành
lại
chấp
nhận?
Tôi xin
gợi ra
đây vài
khía
cạnh
khác
nhau:
• Tôi
thấy
hình như
bởi vì
Giáo Hội
chúng tôi
dạy giáo
lý
nhiều mà
rao
truyền
Tin Mừng
ít. Các
dấu lạ
thường đi
kèm theo
việc rao
truyền
Chúa Yêsu
đang
sống,
nhưng
không xảy
ra được
bằng
thế khi
người ta
chỉ dạy
các chân
lý hay
đạo lý
của đức
tin.
Ngày nào
lại
sống
dậy
việc
loan báo
minh
bạch
Chúa Yêsu
là Cứu
Chúa và
Chúa Tể,
chúng ta
sẽ thấy
các điềm
thiêng
trên trời
và các
dấu lạ
dưới
đất.
Đối với
tôi, vấn
đề không
phải là
thiếu
vắng
đặc
sủng.
Đặc sủng
chỉ là
hiệu quả
của việc
loan báo
kia.
Gốc rễ
của vấn
đề là ở
chỗ
chúng ta
đã ngưng
loan báo
cái chết
cứu
chuộc và
sự sống
lại vinh
hiển của
Chúa
chúng ta,
Đức Yêsu
Kitô.
• Mặt
khác,
chúng tôi
đã sa vào
chước
cám dỗ
của tinh
thần duy
tự nhiên
(pélagiaanisme),(*)
chỉ dùng
những
phương
thế nhân
loại và
chỉ dựa
vào những
phương
thế tự
nhiên,
để thực
hiện
công
việc của
Thiên
Chúa.
Khi người
ta phân
tích
thực
tại,
người ta
quên cậy
vào
quyền
năng của
Đấng đã
làm cho
Đức Yêsu
sống
lại từ
kẻ chết.
Công
việc của
Hội
Thánh là
một sứ
vụ bất
khả kham,
vượt
trên tất
cả sức
lực loài
người.
Làm sao
thực
hiện nó
mà không
cậy vào
quyền
năng của
Thánh
Thần?
Không có
khoa học
nào, kỹ
thuật
nào có
thể thay
thế cho
hoạt
động của
Thần
Khí. Ta
đừng
quên:
“Nếu
Chúa
không xây
nhà, thì
thợ nề
vất vả
cũng là
luống
công” (Tv
127.1).
• Cách xử
sự của
Giáo Hội
Công giáo
nêu trên
cũng có
thể là
một phản
ứng,
trước
những cái
thái quá
mà đôi
khi người
ta đã
gặp. Tôi
cũng
vậy, tôi
chống
lại
những sự
méo mó
như thế,
song đừng
để vì
có lẫn
cỏ lùng
mà ta
được
phép nhổ
cả lúa.
• Người
ta thấy
sống
dậy một
cái mà
người ta
đã chôn
vùi, và
bây giờ,
khi cái
ấy xuất
hiện
lại,
người ta
không
biết
phải làm
gì với
nó và
không
biết sử
dụng nó
thế nào.
Nhưng
chẳng
bao lâu,
cái ấy
sẽ thành
chuyện
bình
thường
thôi. Tôi
hi vọng
rằng:
chày
kíp, sẽ
là
chuyện
bất
bình
thường,
nếu một
ngày kia
người ta
không
thấy
phép lạ
chữa
lành, và
người ta
sẽ ngạc
ngiên vì
sao lúc
ấy
quyền
năng
Thiên
Chúa
không
thể thi
thố ra
được!
• Sau
hết, tôi
có thể
nói đã có
nhiều
Đức Giám
Mục cởi
mở chấp
nhận
những
biểu
thị của
các đặc
sủng ấy.
Tôi chỉ
xin
trích ra
3 trường
hợp:
1) Đức
Cha
Rafael
Bello,
Tổng
Giám Mục
Acapulcô,
đã viết
một thư
luân lưu
mục vụ
về vấn
đề
“Cuộc
rao
truyền
Tin Mừng
mới của
năm
2000”,
nhân dịp
lễ kỷ
niệm 15
năm thành
lập
phong
trào Canh
Tân trong
tổng
giáo
phận của
ngài. Cái
nét khác
biệt
với các
thư mục
vụ khác
là ở chỗ
người ta
đánh giá
nó, đang
khi Đức
Tổng
Giám
Mục,
trong thư
Ngài,
thì lại
muốn
thông
chia cái
kết quả
mà bản
thân Ngài
đã nhận
được từ
cuộc
canh tân
ấy.
Đoạn 54
nói thế
này:
Có rất
nhiều
những vị
giảng
truyền
Tin Mừng
hoạt
động
dưới sức
tác động
của Chúa
Thánh
Thần.
Tôi sung
sướng
kể ra
trong số
đó có Cha
Tardif,
đã được
khắp
thế
giới
công
nhận như
vậy. Vì
Cha rất
thường
đến rao
giảng Tin
Mừng ở
Mêxicô,
và cũng
chính là
người
bạn đã
giảng kỳ
tĩnh tâm
đặc sủng
cho linh
mục tại
Acapulcô
năm 1984.
Chủ đề
của các
bài
giảng,
của các
thư riêng
hay luân
lưu, cũng
như của
các cuộc
chuyện
trò của
Cha là:
thật dễ
dàng và
hiệu
quả, nếu
rao
truyền
Tin Mừng
có sự
trợ giúp
của
quyền
năng Chúa
Thánh
Thần!
Bao nhiêu
nước đã
được
nghe Cha
“nói về
những
việc lạ
lùng của
Chúa và
ai nấy
đều kinh
ngạc”
(x. Cv
2,11-12).
Cha có
đặc sủng
chữa
bệnh phi
thường,
điều đó
đã lôi
cuốn
hàng ngàn
vạn
người
đến
nghe, và
Cha đã
lợi
dụng cơ
hội ấy
mà rao
truyền
Tin Mừng
không
biết mỏi
mệt. Cha
nghĩ như
Phaolô:
“Khốn
cho tôi,
nếu tôi
không rao
giảng Tin
Mừng!”
(1C
9.16).
Tôi hết
sức
khuyến
khích
hãy lấy
cuốn
sách “Đức
Yêsu đang
sống” mà
học tập
trong các
nhóm. Cha
Emilianô
thuyết
phục ta
rằng:
cuộc
Canh Tân
là một
sức lực
rao
truyền
Tin Mừng,
bởi vì
nó khéo
léo làm
các thành
viên
biết mở
lòng đón
nhận
quyền
lực của
Thần
Khí, đón
nhận các
ân điển
và các
đặc sủng
của Ngài.
Đức Hồng
Y Renard
thú nhận
với Cha
Tarrdif
rằng:
Cuộc
Canh Tân
đã giúp
các linh
mục và
giám mục
nhìn
nhận rõ
rằng:
sự cứng
tin và óc
duy lý
đã gây
chướng
ngại cho
việc
tông đồ
gặt
được
kết quả
phong
phú. Đức
Hồng Y
nói thêm:
“Chúng ta
đặt
đường
rầy cho
Chúa
Thánh
Thần để
Ngài phải
đi theo,
song Ngài
bay vọt
ra cao
xa. Chúa
Thánh
Thần
không
theo
những
chương
trình
mục vụ
của ta.”
Hiển
nhiên là
ta cần
một
chương
trình
mục vụ,
nhưng
bất cứ
chương
trình
nào cũng
đều phải
mềm dẻo
để Thánh
Thần có
thể sử
dụng nó,
và ngay
cả biến
đổi nó.
Giáo Hội
là một
cuộc
Hiện
xuống
thường
xuyên,
chứ không
phải là
một
việc suy
lý
triền
miên”.
2) Đức
Hồng Y
Ratzinger,
trong
sách đã
dẫn trên
kia,
tuyên
bố:
“Có một
cái làm
dấu
hiệu hi
vọng
trong
tất cả
Giáo Hội
toàn cầu
- và ngay
chính
giữa
khủng
hoảng của
Giáo Hội
trong
thế
giới Tây
phương -
đó là sự
ra đời
những
phong
trào mới
mà trước
đó chẳng
có ai đã
vạch ra
kế
hoạch,
và cũng
chẳng có
ai đã mời
gọi
chúng
tới;
nhưng đơn
giản
chúng đã
trổ sinh
từ sức
sống bên
trong của
chính
lòng tin.
Nơi
chúng,
thấy
phác họa
- dù
rằng
không ồn
ào - cái
làm ta
liên
tưởng
tới
buổi
rạng
đông của
cuộc
Hiện
Xuống
trong
Giáo
Hội. Tôi
liên
tưởng
chẳng
hạn đến
phong
trào Đặc
sủng,
đến tổ
chức
Tái-Dự-Tòng
(néocatéchu-ménat),
đến
Cur-sillo,
Focolaré,
Thông
Hiệp và
giải
phóng,
v.v…” (x.
Tuần san
Công giáo
và Dân
tộc, số
849, ngày
22-3-92,
trang 8,
bài của
Linh Mục
Mai Văn
Hùng, có
nhắc
đến lời
này của
Đức Hồng
Y - Lời
dịch
giả).
3) Để
kết
thúc,
những Vị
Giáo Chủ
gần đây
nhất đã
nói những
điều
rất tốt
đẹp về
cuộc
Canh Tân.
Câu tốt
đẹp
nhất là
của Đức
Giáo Chủ
Phaolô
VI, khi
Ngài nói
về Cuộc
Canh Tân
như là
“một cơ
may cho
Giáo Hội
và cho
thế
giới”
(19/5/1975).
3. Cha
nói đến
những
thái quá
trong các
đặc
sủng,
vậy đó
là những
chuyện
gì?
Vấn đề
chính là
khi chúng
ta tách
chúng ta
khỏi văn
mạch của
chúng:
- Trong
trình
thuật
của
Máccô, đi
trước
câu bảo
đặt tay
cho bệnh
nhân để
họ được
lành, là
câu dạy
hãy đi
công bố
Lời: “Hãy
đi khắp
thiên hạ
rao giảng
Tin Mừng
cho mọi
loài thụ
tạo!”
(16,15-18);
nghĩa là
những
dấu lạ
đi kèm
theo
việc
loan báo
Tin Mừng.
Các dấu
lạ không
đứng lẻ
loi,
nhưng đi
chung
với
việc
loan báo
ơn cứu
độ trong
Đức Yêsu
Kitô.
- Về
phần
Matthêô,
ông kết
luận lời
Đức Yêsu
sai đi sứ
vụ bằng
câu:
“...thanh
tẩy cho
họ nhân
danh Cha
và Con và
Thánh
Thần”
(28.18-19);
nghĩa là
sau khi
chữa lành
phải có
đời sống
bí tích
đi theo.
Như vậy
là có
một thế
liên hoàn
của 3
chuyện:
Lời -
chữa lành
- Bí
tích.
Nếu
không như
thế, nó
sẽ giảm
mất
hiệu
lực.
Hồi đầu
tác vụ
của tôi,
một linh
mục đến
thăm tôi
ở Canada
để mời
tôi dự
Hội
Nghị mà
ông tổ
chức.
Tôi ngây
thơ nhận
lời.
Nhưng
trong
suốt
hội
nghị,
ông điều
khiển
lời
nguyện,
ca hát,
ông giảng
dạy. Ông
cử hành
Thánh
Lễ,
giảng
Kinh
Thánh và
cũng kiêm
luôn cả
việc rao
thông
cáo...
Chỉ đến
cuối
ngày, ông
mới mời
tôi cầu
nguyện
cho bệnh
nhân.
Chính ở
đấy tôi
học
biết:
đừng cầu
nguyện
cho bệnh
nhân, khi
tôi chưa
thể công
bố cuộc
vinh
thăng của
Chúa Yêsu
trên
thập
giá, và
cuộc
khải hoàn
của Ngài
sống
lại.
4. Làm
sao Cha
đã nhận
định
được Cha
có đặc
sủng chữa
lành?
Sau khi
tôi đã
cầu
nguyện
cho các
bệnh
nhân
trong
nhiều
nhóm cầu
nguyện.
Ngày
18/11/1973,
một
bệnh
nhân mắc
chứng đau
khớp
xương và
rỉ khớp
đến xin
tôi cầu
nguyện
cho. Sau
khi đã
cầu
nguyện,
người ấy
bắt đầu
đi được,
bỏ lại
cái gậy
ông
chống.
Ông hoàn
toàn
được
khỏi.
Sau đó,
tôi nhận
thấy
Chúa Yêsu
chữa lành
bệnh
nhân càng
ngày càng
nhiều
hơn làm
sao. Như
thế đã
khởi sự
cho tôi
cuộc đời
đầy
những
ngạc
nhiên:
tôi không
hề bao
giờ nghĩ
trước
được
rằng
Chúa sẽ
dẫn tôi
đi đến
đâu.
Phần
khác, tôi
tin rằng
công vụ
của tôi
là rao
truyền
Tin Mừng.
Nhưng khi
người ta
loan báo
Chúa
Yêsu, khi
người ta
công bố
lời rao
giảng
đầu tiên
(Kerygme),(*)
thì tức
khắc các
dấu lạ
xuất
hiện.
5. Một
đặc
sủng, có
phải nhờ
học tập
mà được
không? Có
kỹ
thuật
gì riêng
để thực
hành?
Tôi không
nói là
nhờ học
tập mà
có được
đặc
sủng,
nhưng mà
làm nó
triển
nở. Càng
đem nó
phục vụ
bệnh
nhân, nó
càng phát
triển.
Nhưng bản
chất nó
vốn là
một ơn
huệ dưng
không,
song nếu
người ta
không đem
sử dụng,
nó sẽ
không
triển
nở. Còn
nếu
người ta
đem nó
phục vụ
các bệnh
nhân, nó
sẽ mạnh
mẽ thêm
và sẽ
biểu lộ
ra nhiều
hơn. Tôi
thấy
được
ngày nay
nhiều
việc
chữa lành
hơn là
cách đây
5 năm, dù
cũng
trong
những
hoàn cảnh
tương
tự. Sử
dụng
đặc sủng
còn làm
cho chúng
ta tăng
tiến
trong đức
tin, càng
được
thấy
nhiều
việc
chữa lành
bao
nhiêu, ta
càng
chắc
những
người
khác cũng
sẽ được
chữa lành
bấy
nhiêu.
6. Cái
gì cản
trở các
đặc sủng
hơn cả?
Tôi cho
rằng đó
là cái
tính sợ
mất
mặt,
mất thể
diện.
Các đặc
sủng là
một
thập
giá, và
nhiều
người
không
sẵn lòng
vác lấy.
Khi thực
hành đặc
sủng, ta
bị người
khác coi
mình là
khùng, kẻ
nọ người
kia cười
nhạo ta,
nhiều
người
đánh giá
xấu, dèm
pha hoặc
làm khốn
ta. Nếu
ta không
sẵn sàng
chết cho
mình,
cho đến
cả từ bỏ
các đặc
quyền,
đặc lợi
và danh
tiếng
của
mình, ta
không
thể lãnh
lấy các
đặc sủng
ấy. Tôi
nhớ rõ
ràng đến
một Cha
sở xứ
đạo bên
cạnh,
ông chế
diễu các
đặc
sủng, và
trong các
bài giảng
Chúa
nhật,
ông còn
khẳng
định
rằng: có
một vài
người nói
tiếng
lạ, đó
là bởi
họ
thiếu
sinh
tố...
Tôi sẽ
kể cho
bạn một
giai
thoại mà
tôi đã
thuật ở
kỳ tĩnh
tâm toàn
thế
giới cho
các linh
mục, do
phong
trào Canh
Tân Đặc
Sủng tổ
chức
tháng
10/1984 ở
Rôma: ở
đó có
chừng
6.500
linh
mục, hơn
80 giám
mục và
nhiều
Hồng Y.
Tôi nói
với
thính
giả: “Sẽ
có rất
nhiều
linh mục
được
lãnh
nhận
đặc sủng
cao quí,
nếu các
vị ấy
đã không
quá sợ
mất danh
tiếng,
và không
quá bận
tâm về
chức
tước,
địa vị
của
mình.
Tính nể
nang và
sợ dư
luận đã
khép kín
lòng ta
trước
tác động
của Thần
Khí.
Phải
chết cho
chính
mình,
để cho
Thần
Khí mới
đi ngang
qua ta
được”.
Rồi tôi
kể cho
họ:
“Một
hôm,
trong
buổi
tĩnh
tâm,
chúng tôi
đầy hoan
lạc
trong
Thánh
Thần.
Tất cả
được
diễn ra
trong
niềm vui
lớn,
nhưng
đồng
thời
trong
bình an
do Chúa
ban. Để
kết thúc
buổi
tĩnh
tâm,
chương
trình có
hoạch
định
một
Thánh
Lễ, do
Đức Giám
mục địa
phận ấy
chủ sự.
Ngài Giám
mục ấy
không
thích
những bài
ca phấn
khởi, và
không
thích
các đặc
sủng.
Ngài đã
mạnh mẽ
nói
chống
lại các
việc
ấy, hậu
quả là
giáo dân
đâm ra
sợ Ngài.
Khi Ngài
đến, đàn
ghi-ta
thôi
gẩy,
những bài
ca ngợi
khen im
tiếng,
những
cánh tay
đang giơ
lên tức
khắc hạ
xuống.
Thế rồi
tất cả
mang bầu
khí
nghiêm
nghị và
nghi
thức.
Đúng lúc
Ngài bắt
đầu cử
hành
Thánh
Lễ, thì
thiết
bị âm
thanh
trục
trặc.
Mọi
người lo
lắng
cuống
cuồng.
Ông Thủ
tự soát
lại các
cầu
chì,
một
người
khác bật
và tắt
micro xem
thử, đang
lúc một
người
khác
kiểm tra
lại bộ
khuếch
âm.
Nhà thờ
đầy
nghẹt
người,
nóng lòng
sốt
ruột,
chờ đợi
trong
bầu khí
căng
thẳng,
Đức Giám
Mục nói
lớn
tiếng:
- Hình
như máy
phóng
thanh bị
một
trục
trặc
nhỏ…
- “Và ở
cùng Cha”
- giáo
dân đáp
lại.
Vì nghe
lầm,
mọi
người
tưởng Đức
Giám Mục
cử hành
Thánh
Lễ.
Nhiều
người
chúng ta
cũng bị
bận tâm
với các
máy phóng
thanh, mà
không để
dành chỗ
thênh
thang cho
Thần
Khí tự
do hoạt
động.
Người ta
muốn
nhốt
Ngài vào
trong
những
khuôn đã
đúc sẵn,
và không
để cho
Ngài tự
do như
gió muốn
thổi đâu
tùy ý.
Những ai
quá bận
tâm với
các máy
phóng
thanh,
chính là
vì họ
quá lo
lắng sợ
dư luận
sẽ nói
gì.
Nếu
chúng ta
bớt lo
lắng sợ
mất danh
tiếng,
chúng ta
sẽ mở đón
Chúa
Thánh
Thần
nhiều
hơn. Sợ
quê, sợ
bị cười
sẽ cản
trở ta mở
đón các
đặc sủng
của Thần
Khí. Đã
hẳn các
đặc sủng
hay làm
ta bị
hạ
nhục.
Chúng
dẫn ta
tới
thập
giá.
Chính
vì thế
mà nhiều
người sợ
chúng,
còn những
người
khác từ
khước
chúng.
Thế là
hết
những giờ
giấc
nghỉ
ngơi,
giấc ngủ
cũng bị
rút
ngắn.
Đàng
khác,
danh
tiếng
không
tăng lên,
trái lại
còn bị
dồn dập
chê cười,
chỉ
trích,
châm
biếm cay
độc...
Nhưng
tựu
trung
tất cả
đều có
thể
vượt
qua, khi
nào người
ta không
quá bận
tâm với
các máy
phóng
thanh.
7. Một
đặc sủng
như thế
có nguy
hiểm
không?
- Trước
tiên, đó
là một
ơn huệ,
tức là
một quà
tặng
nhưng
không của
Thiên
Chúa.
Việc
chữa lành
là công
việc của
riêng
mình
Thiên
Chúa, thi
hành qua
khí cụ
nhân
loại.
- Mặt
khác, nó
là để
phục vụ
lợi ích
chung,
chứ không
lợi ích
của người
có đặc
sủng ấy.
Thật vô
cùng nguy
hiểm khi
muốn
chiếm
đoạt
vinh
quang của
Thiên
Chúa cho
một
mình
mình.
Còn thấy
cả lời
kết án
kẻ có
đặc sủng
chữa
bệnh:
“Trong
ngày ấy,
nhiều kẻ
sẽ nói
với ta:
‘Lạy
Chúa,
lạy
Chúa, há
chúng tôi
đã không
nhân danh
Người mà
nói tiên
tri, nhân
danh
Người mà
trừ quỉ,
nhân danh
Người mà
làm
nhiều
phép lạ
đó sao?’.
Và bấy
giờ Ta sẽ
tuyên bố
với
chúng
rằng: Ta
không hề
biết các
ngươi,
hãy xéo
đi xa Ta,
hết thảy
phường
tác
quái!”
(Mt
7.22-23).
Nếu ta
đem nó
phục vụ
cộng
đoàn, nó
là ân
huệ quí
báu. Nếu
ta nhìn
nhận
mình
chỉ là
một
dụng
cụ, ta
sẽ được
tài bồi.
Nhưng,
lợi ích
lớn
nhất mà
tôi thấy
được là
nó làm
tăng
tiến đức
tin của
cộng
đoàn, nó
thức
tỉnh
những kẻ
ngủ mê và
nó hồi
phục
sinh khí
cho tác
vụ rao
giảng Tin
Mừng, cho
thấy
Chúa Yêsu
đang
sống
giữa
chúng ta.
8. Thưa
Cha, nếu
Thánh
Phaolô
nói rằng
điều
cốt
thiết là
đức mến,
tại sao
Cha lại
gán cho
các đặc
sủng tầm
quan
trọng
đến
thế?
Không
phải tôi
đã gán
tầm quan
trọng
ấy, mà
là chính
Đức Yêsu
(x. Mt 4,
23t:
“Ngài rảo
khắp xứ
Galilê,
giảng
dạy
trong các
hội
đường của
họ, rao
truyền
Tin Mừng
về Nước
và chữa
lành mọi
tật
nguyền,
bịnh
hoạn
trong
dân...”).
Thánh
Phaolô
nói
rằng:
“Các dấu
lạ” là
đặc
trưng của
vị tông
đồ chân
chính.
(x. 2C
12.12).
Đúng hơn,
phải cho
tôi được
quyền
hỏi: Tại
sao có
một số
người
lại giảm
thiểu
cái mà -
đối với
Đức Yêsu
- có một
ý nghĩa
lớn như
thế?
Buồn
thay,
chúng ta
đối
chọi cái
chỉ là
phụ
thuộc.
Không có
chuyện
tình yêu
trừu
tượng!
Thực
hành một
đặc sủng
- bất cứ
nó loại
nào - là
một sự
phục vụ
ích lợi
cộng
đồng, và
vì thế,
đó là
tình yêu
(x.
Yacôbê
2.14-26;
1C
13.4-7).
10. Có
phải chỉ
mình
Cha, giữa
cộng
đoàn rao
truyền
Tin Mừng
ấy, có
đặc sủng
chữa
bệnh?
Nhiều
người
trong
chúng tôi
có đặc
sủng chữa
bệnh
thể xác,
người
khác thì
chữa
bệnh
nội tâm.
Trong số
87 người,
có
11
người
được
đặc sủng
nói lời
trí tri,
nhiều
người
được ơn
nói tiên
tri hoặc
ơn giải
thoát.
Tôi sẽ
kể cho
bạn một
chuyện
xảy ra
cho một
giáo lý
viên của
nhà chúng
tôi:
“Một
hôm, một
người
chống
nạng đi
đến,
hầu như
không còn
đi nổi
nữa, ông
tìm gặp
Cha
Tardif
để xin
cầu
nguyện
cho được
lành.
Giáo lý
viên đón
tiếp ông
ta, cho
ông ấy
biết là
Cha
Tardif
vắng
nhà.
Người
bệnh
rất
buồn và
thất
vọng,
nhưng
thầy
giáo nói
với ông
ta:
- Bạn
xem, tôi
chẳng có
vàng, có
bạc,
nhưng có
gì tôi
cho bạn
cái nấy.
Hãy đến
nhà
nguyện,
ở đó có
trưng bày
Mình
Thánh
Chúa.
Chính
Ngài sẽ
chữa cho
bạn.
Người
bệnh
đến đó.
Sau 15
phút cầu
nguyện,
ông đi
ra, hai
chân cứng
cáp,
không
cần
chống
nạng.
11.
Nhiều
người coi
Cha E.
Tardif là
ông
thánh,
Cha nghĩ
sao?
Tôi tức
cười chứ
nghĩ
sao. Đôi
khi có
một
mình và
sắp đi
ngủ, tôi
tự nói:
“Nếu
người ta
biết tôi
là thế
nào,
chắc họ
sẽ để
cho tôi
yên”. Tôi
vẫn luôn
chỉ là
một cha
sở ở nhà
quê,
trong
một đảo
nhỏ mất
hút giữa
biển
Caraibes.
Tôi không
thể
nghĩ tôi
là cái
gì hơn
con lừa
của ngày
Chúa
nhật Lễ
Lá đã
mang Chúa
Yêsu trên
lưng. Tôi
biết
rằng:
khi người
ta tới
tấp phủ
lên trên
tôi những
lời biết
ơn, và
khi người
ta trải
áo lót
đường
trước
mặt tôi,
chính là
người ta
chúc
tụng
Chúa Yêsu
mà tôi
đang mang
trên
lưng.
Khi tôi
đã mang
Ngài đến
cho họ,
họ lại
dắt tôi
trở về
chuồng.
Lúc trở
về,
chẳng
còn áo
choàng,
chẳng
còn hoa
lá,
chẳng
còn lời
cám ơn.
Tôi vào
lại
trong
thâm cung
lòng tôi
và tôi
nói: “Ôi
Chúa!
Chúa
thật là
vĩ
đại!”
Việc con
lừa trở
về nhà
như thế
là điều
giữ cho
chúng tôi
khiêm
nhường.
Sự cô
tịch và
đối
diện
với Chúa
Yêsu
không cho
phép
chúng tôi
ngộ
nhận.
Khi tôi
quỳ gối
và tuyên
xưng các
kỳ công
của Thiên
Chúa qua
các lời
Thánh
vịnh,
tôi nghĩ
rằng:
nếu
người ta
biết
Thiên
Chúa hơn,
chắc
người ta
sẽ bớt
chú ý
đến tôi.
Cộng
đoàn tôi
biết rõ
tôi không
là ông
thánh,
nhưng tôi
ước ao
nên
thánh. Đó
là ơn
gọi của
bất cứ
ai đã
chịu
Phép
Thanh
Tẩy.
Nhưng có
điều
chúng ta
hay tưởng
tượng
ông thánh
như một
người, mà
người ta
có thể
đặt
tượng
ảnh lên
bàn thơ,̀
hay làm
được các
phép lạ.
Đối với
tôi, nên
thánh là
cái gì
còn hơn
thế: tức
là nên
như Chúa
Yêsu, xem
thế ai
chẳng
muốn nên
thánh?
Hơn nữa,
từ ngày
chịu
Phép Rửa
tội, bởi
vì tôi
đã được
dìm vào
trong sự
chết và
sống
lại của
Chúa Yêsu
Kitô, nên
tôi mang
trong
mình
mầm
giống
thánh
thiện,
bởi việc
Thiên
Chúa đã
ban dưng
không cho
tôi Thánh
Thần, dù
tôi
chẳng có
công lênh
gì.
Ơn chữa
bệnh
không
phải là
dấu sự
thánh
thiện,
đó là
một ơn
ban nhưng
không.
Nếu tôi
đem nó
phục vụ
các bệnh
nhân với
một lòng
kiên
nhẫn và
yêu
thương,
thì
việc đó
có thể
giúp tôi
nên
thánh,
bởi vì
thánh hóa
đơn giản
là thực
hành yêu
thương;
tuy vậy,
việc ấy
cũng
nặng nề
lắm!
Một hôm,
có người
nói với
tôi:
“Emiliano,
Cha không
sợ người
ta phong
thánh
sống cho
Cha, vì
đã làm
bao phép
lạ
sao?”.
Tôi đáp:
“Thà
người ta
coi tôi
là một
ông
thánh,
tôi
thích
hơn người
ta coi
tôi là
một
tướng
cướp”.
12. Cha
có nghĩ
là khi
giảng cho
đám đông,
có xảy ra
những
biểu lộ
do chứng
loạn
thần
kinh tập
thể
không?
Có những
biểu lộ
cuồng
nhiệt mà
tôi không
gọi là
chứng
loạn
thần
kinh,
nhưng là
một sự
phấn
khích
bình
thường
trước
sự hiện
diện thi
ân cứu
độ của
Thiên
Chúa.
Tỉ dụ,
các Thánh
vịnh có
đầy
những lời
phấn
khởi cỡ
đó.
Nhưng
phần các
Ký lục
và Biệt
phái lại
coi là
thái quá
những lời
hoan hô
“Hosana”
dành cho
Con Vua
Đavít.
Tôi tự
hỏi: Tại
sao ở sân
vận
động,
dân chúng
có thể
la hò và
phấn
khởi
trước
cuộc
thắng
trận của
đội banh
mà họ
cổ
động, mà
lại
không
thể
biểu lộ
lòng xúc
động của
họ
trước
Đấng duy
nhất đã
toàn
thắng
sự
chết?
Tại sao
người ta
có thể
khóc vì
xúc động
trước
tài năng
diễn
xuất của
một
nghệ
sĩ, mà
lại
không
thể khóc
vì hân
hoan
trước
vị Chúa
trên các
Chúa?
Đành
rằng tôi
chắc có
một vài
người đã
đi quá
mức trong
khi biểu
lộ xúc
cảm, tôi
còn nghĩ
rằng có
những
người
khác còn
chưa tự
do biểu
lộ tình
cảm của
mình.
- Nhưng
đôi khi
đã có
những
khích
động quá
đáng và
cảm xúc
sướt
mướt...
Tôi
thích
gặp
những
người
phấn
khích
như thế,
còn hơn
là gặp
những kẻ
chết.
Người ta
có thể
sửa đổi
và giáo
hóa một
kẻ khích
động,
nhưng kẻ
đã chết
thì còn
làm gì
được?
13. Tại
sao có
một số
người
được
khỏi, còn
số khác
không?
Có những
người xét
theo bên
ngoài có
vẻ có
một đức
tin rất
mạnh, và
có thể
nói là
xứng đáng
được
khỏi lại
không
khỏi.
Trái
lại, có
những
trường
hợp
những
người
không ai
dám ngờ
rằng
khỏi thì
lại
được
khỏi.
ở đây có
hai
chuyện
phải phân
biệt.
Chuyện
thứ nhất
là tại
sao người
ta được
khỏi, và
chuyện
thứ hai,
tại sao
người ta
không
được
khỏi.
- Vấn
đề thứ
nhất:
tôi xin
kể cho
bạn một
việc đã
xảy ra
cho chúng
tôi cách
đây khá
lâu:
“Trong
một
cuộc
hội
thảo,
chúng tôi
bàn cãi
xem lý
do căn
bản nào
khiến
Chúa chữa
lành
chúng ta.
Người
thì đưa
ra một
lập
luận
Kinh
Thánh,
người
khác căn
cứ vào
lời hứa
của Chúa,
và v.v…
ở đó, có
một bạn
trẻ vẻ
bên ngoài
hơi lẩn
thẩn,
muốn góp
ý kiến
mà không
ai để
cho anh
làm.
Cuối
hết, khi
chúng tôi
đã cạn
hết các
lý lẽ
thâm sâu
của chúng
tôi trên
chủ đề,
người
bạn trẻ
ấy mới
nói với
một cung
giọng ôn
tồn:
“Tôi
nghĩ
rằng
Thiên
Chúa chữa
lành ta
vì ta
bị
bệnh”.
Sau khi
suy nghĩ
đủ mọi
khía
cạnh
trong
đầu về
vấn đề
ấy,
cuối
cùng, tôi
cũng đi
đến cùng
một kết
luận:
Thiên
Chúa là
một
người Cha
tốt
lành,
Người cảm
thương
sự đau
đớn của
con cái
Người”.
- Còn về
điều thứ
nhì: lý
do tại
sao có
những
người
khác
không
được
khỏi, tôi
không
biết
tại sao
hết.
Nhưng khi
nào tôi
về trời,
đó là
điều thứ
nhất mà
tôi hỏi
Thiên
Chúa.
Một
điều
chắc là
ngay cả
những
người
ngoại
đạo
không có
đức tin
cũng đã
được
khỏi...
Tôi đã
từng
thấy ở
Phi châu
và Ấn
Độ.
“Đó là
trong
một
chiến
dịch rao
truyền
Tin Mừng
ở
Mbandaka
thuộc xứ
Zaire.
Một
buổi
chiều,
có chừng
20.000
người tụ
họp
trong sân
vận
động,
để dự
Thánh Lễ
cầu cho
bệnh
nhân.
Một em
nhỏ
ngoại
đạo đi
ngang qua
đó, rồi
hoàn toàn
vì tò
mò, em
bước vào
xem người
ta đang
làm cái
gì. Đúng
vào lúc
rước
lễ.
Sau đó là
lúc cầu
nguyện
chữa
lành. Em
nhỏ 12
tuổi ấy
bị bệnh
tim đập
nhanh
(tachycardie)
từ khi ra
khỏi lòng
mẹ. Hầu
như tức
khắc, nó
cảm thấy
một sức
nóng như
lửa xâm
chiếm cả
thân
thể, như
thể một
luồng
điện.
Chính là
Thần
Khí
Thiên
Chúa
hằng
sống, đã
phục
sinh thân
thể Đức
Yêsu
trong
mồ, nay
đến tràn
đầy
trong nó
và chữa
lành nó.
Sau Thánh
Lễ, nó
hoàn toàn
khỏi
bệnh
tim. Y
sĩ khám
nghiệm
và xác
nhận
việc xảy
ra không
phải do
trí
tưởng
tượng mà
được,
song
đích
thực
một sự
chữa lành
bệnh
tim. Ngày
bế mạc,
đức trẻ
12 tuổi
ấy lên
nói lời
chứng
một cách
dạn dĩ
làm ai
cũng
ngạc
nhiên, và
kết
luận
bằng
một lời
tạ ơn
Chúa như
sau:
“Cháu
không là
người
Kitô hữu,
nay cháu
muốn trở
thành
Kitô
hữu”.
Bạn
thấy đó,
chúng ta
đụng
tới một
mầu
nhiệm
của tình
thương
Thiên
Chúa.
Nếu quả
Chúa chỉ
chữa một
số
người,
thì Ngài
hiến cho
tất cả
mọi
người sự
chữa lành
chung
cuộc: đó
là sự
sống đời
đời. ở đó
không còn
bệnh
tật,
tang tóc,
khóc lóc
(x. Kh
21.4).
Chữa lành
là một
ơn huệ
nhưng
không mà
ta lãnh
được.
Nhưng nào
ta là ai
mà dám
hỏi Thiên
Chúa:
tại sao
Ngài lại
chữa
người này
mà không
chữa
người
nọ?
Người ta
được
chữa lành
không vì
người ta
xứng
đáng, đó
là một
ơn huệ
Thiên
Chúa ban
cho ai
tùy ý.
Bà
Josefina
Guzman ở
Zapotilic
(Mêxicô)
cho ta
thấy
Chúa chữa
ta “vì
ta bị
bệnh”,
chứ không
phải ta
có công
nghiệp
việc
lành phúc
đức mà
đáng
được
đâu. Đó
là hành
vi của
tình yêu
dưng
không của
Chúa:
“Từ vài
năm nay,
tôi bị
một
chứng
bệnh làm
tôi cứ
yếu
nhược lừ
đừ suốt
ngày. Tôi
như hụt
hơi nên
không
thể làm
việc
nội trợ
trong
nhà.
Chồng
tôi rất
bực bội
và la tôi
là yểu
điệu.
Tôi thất
vọng và
buồn
rầu.
Tôi đi
bác sĩ
khám, ông
chẩn
bệnh
xong thì
bảo tôi
bị áp
huyết
thấp.
Ông
khuyên
tôi nên
uống
mỗi sáng
một ly
nhỏ rượu
Cô-nhắc,
nhưng vì
không có
tiền mua
Cô-nhắc,
tôi uống
la-de
vậy. Quả
nhiên,
tôi thấy
mình
khỏe hơn.
Hôm sau,
tôi uống
nhiều
hơn và
tôi thấy
khỏe hơn
nữa. Ít
lâu sau,
tôi uống
một ly
lúc sáng
mới dậy
và ly
khác đầu
buổi
chiều.
Tôi uống
thêm ly
thứ ba
để đi
ngủ.
Không
ngờ, tôi
đã đâm
nghiền
rượu.
Tôi không
muốn là
kẻ
nghiền
rượu,
song một
trật,
tôi không
thể thôi
uống.
Một đàng
tôi cảm
thấy
mình
yếu
nhược,
đàng
khác, cái
bệnh
nghiền
rượu
lại đưa
tôi tới
gần mồ
chôn. Tôi
nhận
thấy rõ
ràng
trong
thân xác
tôi, tội
lỗi
hoành
hành trên
thân thể
mình như
thế nào.
Tôi vừa
bị bệnh
thể xác,
vừa bị
bệnh tâm
hồn.
Tôi đến
gặp hội
“những
người
nghiện
rượu
nặc
danh”.(*)
ở đó, họ
bảo tôi
rằng:
cái làm
hại
nhất là
ly rượu
đầu
tiên. Như
vậy, tôi
ở trong
thế
kẹt:
nếu tôi
không
uống,
tôi không
thể làm
việc; mà
nếu tôi
không làm
việc,
chồng
tôi sẽ
đánh tôi.
Tôi chỉ
còn trông
chờ một
phép lạ
mới là
cái duy
nhất đem
tôi ra
khỏi hố
sâu này.
Nhưng
phép lạ,
đó là
chuyện
của thời
xưa và
dành cho
người
tốt, chứ
đâu có
cho người
nghiện
rượu như
tôi. Đang
như thế,
tôi khởi
sự tham
dự các
buổi
họp của
một nhóm
cầu
nguyện
của phong
trào Canh
Tân, nơi
mà tôi
nghe nói
là Chúa
còn làm
phép lạ.
ở đó, tôi
nghe đọc
Lời Chúa
dạy
rằng:
tội lỗi
là gốc
rễ của
mọi sự
dữ và
bệnh
tật. Lúc
ấy, tôi
mới nhủ
mình
rằng:
tôi cần
phải đi
xưng tội
một lần
hết sức
tử tế,
và tôi đã
đến lãnh
Bí Tích
hòa giải,
nhân dịp
năm Thánh
toàn xá
1983.
Dần
dần, sức
khỏe tôi
càng xấu
đi. Tôi
đến nhờ
Bác sĩ
Ismael
Espejo
khám, ông
rọi
kính
chẩn
bệnh cho
tôi ngày
24/5/1984.
Kết quả
của trắc
nghiệm
là: ung
thư tử
cung đã
đến giai
đoạn
cuối
cùng, nên
y khoa
đành bó
tay để
mặc tôi
chờ
chết.
Nếu y
khoa đã
không
thể làm
gì được
cho tôi
nữa, thì
đối với
tôi, Chúa
là nhất.
Một hôm,
người ta
bảo cho
chúng tôi
biết Cha
Tardif
đến
Guadalajara,
và Cha sẽ
cử hành
một
Thánh Lễ
cầu
nguyện
cho bệnh
nhân
trong
Giảng
Đường của
thành
phố.
Trong lúc
cầu
nguyện
cho bệnh
nhân, tôi
cảm thấy
một bàn
tay nhẹ
nhàng
đặt trên
vai trái
tôi.
Tháng 11
cùng năm
ấy, có
một
cuộc
hội
nghị nữa
ở sân
vận
động
Jalisco.
Chúng tôi
họp nhau
có đến
60.000
người ở
đó, để
ngợi
khen Chúa
vì các
sự lạ
lùng
Người đã
làm.
Sau rước
lễ, Cha
Emilianô
bắt đầu
cầu
nguyện
xin Chúa
chữa
lành, và
bảo rằng
Chúa Yêsu
sẽ chữa
nhiều
bệnh
nhân,
nhưng
không
phải tất
cả. Tôi
mới nhủ
thầm:
“Mày, mày
thuộc
số những
kẻ không
được
chữa
lành, vì
mày
nghiện
rượu và
không
đáng
được ơn
ấy”.
Sau đó,
tôi giao
phó mình
tôi trong
tay Đức
Trinh Nữ
Maria,
để Người
giới
thiệu
tôi cho
Con cực
thánh
Người.
Cha
Emilianô
nói, nhờ
bởi một
lời Thiên
Chúa
thông
tri,
rằng: 5
người
được
chữa lành
ung thư,
trong số
đó một
phụ nữ
bị ung
thư ở
bụng.
Tôi tin
chắc vào
Chúa, tôi
bèn đứng
lên khỏi
ghế và
la lớn
tiếng:
“Chính
tôi
đây!”.
Dân chúng
quay lại
nhìn
tôi,
người
thì tỏ
vẻ hoài
nghi,
người
thì lộ
ra vui
mừng.
Phần
tôi, tôi
chắc
chắn là
Chúa vừa
chữa tôi
lành.
Ngày
4/2/1985,
người ta
khám
bệnh
lại cho
tôi. Kết
quả thật
tuyệt
vời! Hết
ung thư,
không còn
một dấu
vết nào!
Bác sĩ
không
biết
cắt
nghĩa
làm sao
chuyện
đã xảy
ra, vì
chính
ông đã
khám phá
một ung
thư cấp
5, lan
rộng
khắp cả
vùng
xương
chậu.
Nhưng tôi
thật đã
được
khỏi
bệnh
hoàn
toàn. Tôi
lặp lại
cho ông
lời Cha
Tardif:
“Đức Yêsu
là Chúa,
Ngài có
thể làm
những
điều
không có
thể”.(*)
Tôi vẫn
còn phải
đợi lần
khám
cuối
cùng ngày
10/ 7/86
để xác
nhận
chung
kết.
Tôi không
cần
rượu
nữa. Hết
chuyện
uống các
ly la-de.
Bây giờ,
tôi tìm
lại
được sức
của thời
thanh
xuân.
Thành lũy
của tôi,
chính là
Chúa!
Ngài là
khiên
mộc cho
tôi! Chúa
đã chữa
lành hồn
tôi, chữa
lành xác
tôi! Tôi
sẵn sàng
đưa hồ
sơ xét
nghiệm y
khoa của
tôi cho
ai muốn
xem. Tôi
bây giờ
không
cần nó
nữa. Đúng
hơn, tôi
thích
dọn
mình để
ra trước
tòa phán
xét chung
thẩm,
khi Chúa
Yêsu sẽ
hỏi tôi
đã làm
gì cho
những
người
nghèo
khổ hơn
tôi.
14. Cha
cảm thấy
gì trong
lòng khi
một
người mù
được
thấy,
hay người
bất
toại
chỗi
dậy khỏi
băng ca?
Việc ấy
làm tôi
tràn đầy
hân hoan,
như thể
chính
tôi đã
được
Chúa chữa
lành.
Tôi sẽ
kể cho
anh chỉ
hai
trường
hợp chữa
lành,
chứng tỏ
tình yêu
xót
thương
của Thiên
Chúa,
rồi anh
sẽ nói
cho tôi
xem chúng
có làm
anh tràn
đầy vui
sướng
không:
Tôi giảng
một
cuộc
tĩnh tâm
trong
tỉnh
Québec.
Chiều
đầu
tiên,
đang
buổi
cầu
nguyện
chữa
lành, tôi
nhận
được lời
thông tri
của Chúa
báo rằng
Ngài đang
chữa lành
một
người
điếc tai
trái.
Tôi mới
hỏi cử
tọa:
người ấy
là ai, và
một viên
cảnh sát
đứng lên,
cảm động
nói:
“Chính
tôi. Tôi
không
nghe gì
bên tai
trái, và
bây giờ
tôi nghe
rõ hoàn
toàn”.
Chiều
thứ nhì,
cũng một
lời cầu
nguyện
chữa lành
nữa. Lời
thông tri
cho tôi
biết có
một
người đã
gặp tai
nạn và
bị đau
cột
sống dữ
dội, bây
giờ được
chữa
lành.
Tôi hỏi
thính
giả xem
ai là
người
đang cảm
thấy
một sức
nóng như
đốt
trong
lưng:
“Bạn ấy
hãy đứng
dậy và
bạn sẽ
nhận
thấy
rằng đau
đớn đã
biến
tan”.
Thế là
cũng viên
cảnh sát
hôm qua
đứng lên.
Nước
mắt tràn
mi, ông
nói:
“Chính
tôi, tôi
không còn
cảm thấy
chút đau
đớn
nào!”
Chiều
thứ ba,
một lời
thông tri
báo: “ở
đây có
một
người đau
dưới
móng các
ngón
chân.
Bạn sẽ
thấy
chân nóng
lên, rất
nóng, và
Chúa chữa
lành chân
bạn”.
Tôi hỏi
người ấy
là ai,
cũng viên
cảnh sát
đứng lên
lần thứ
ba và
nói:
“Cũng
lại
chính
tôi”. Đó
là lần
thứ ba
ông được
chữa
lành. Ông
bị bệnh
thống
phong
(goutte),
nhưng tôi
không
biết tên
bệnh ấy
lại gọi
là thế.
Sau
chuyện
ấy, dân
chúng
không
muốn
viên cảnh
sát đến
dự ngày
thứ tư,
sợ rằng
ông bao
thầu
hết các
việc
chữa lành
của tuần
lễ. Tôi
bảo họ:
“Đừng!
Vì về
việc
chữa lành
thì
không
giống
như
chuyện ở
đời.
Quyền
năng của
Chúa đủ
cho mỗi
người.
Như ở
Cana,
Chúa đã
biến
nước
thành bao
nhiêu
lít
rượu,
nhiều
đến nỗi
người ta
có thể
mở một
tiệc
cưới
nữa. ở
đây,
Thiên
Chúa đã
tỏ lòng
thương
xót đặc
biệt cho
một
người anh
em chúng
ta, để
chúng ta
thêm lòng
trông
cậy vào
tình
thương
của
Người.
Thiên
Chúa
chúng ta
có sẵn
mọi phúc
lành cho
tất cả
các con
cái
Người”.
Mười lăm
ngày sau,
chúng tôi
giảng
một
tuần
tĩnh tâm
ở
Montréal;
ở đó,
viên cảnh
sát lên
làm chứng
về ba
lần
được
chữa
lành:
hết
điếc,
hết đau
cột
sống và
hết
thống
phong.
Ông ấy
vốn vẫn
sống xa
Chúa, nay
sống
một đời
hoàn toàn
biến
đổi đến
nỗi bây
giờ - tôi
mới gặp
lại ông
trong kỳ
giảng ở
thành
phố ông
ở - ông,
tên là
Lasarre,
trở thành
một
trong
những
người
lãnh đạo
phong
trào Canh
Tân trong
địa
phận, và
cả hai
vợ
chồng
ông đều
tham gia
rất
tích
cực.
Ba lần
chữa lành
đã đánh
động
lòng cả
gia đình
để biến
đổi tâm
hồn của
họ. Đây
là chứng
tá tốt
đẹp
nhất.
Thiên
Chúa
không hề
bủn xỉn.
Nhiều
khi,
người ta
đau một
loạt đủ
thứ
bệnh,
nhưng
chỉ dám
xin Chúa
chữa lành
một
bệnh,
làm như
thể chữa
bệnh là
điều khó
nhọc
lắm đối
với
Chúa.
Phải có
lòng
trông
cậy hoàn
toàn và
dám xin
tất cả.
Thiên
Chúa luôn
luôn ban
cho ta
vượt quá
lòng ta
trông
đợi (x.
Ep 4.20).
Một
chứng từ
khác rất
ngộ
nghĩnh,
cho thấy
Thiên
Chúa rất
hóm
hỉnh.(*)
Câu
chuyện
xảy ra ở
Santiago
de Estero
bên
Ác-hen-tina
năm 1984,
trong
một sân
vận
động
đầy
nghịt
30.000
người
đến dự
một
cuộc rao
giảng Tin
Mừng 5
ngày.
Sau bài
giảng,
chúng tôi
cử hành
Thánh
lễ. Một
bà mẹ
dẫn theo
đứa con 5
tuổi,
bị bại
liệt đã
2 năm.
Lúc rước
lễ, vì
biết con
mình
không
thể nhúc
nhích,
nên bà đã
để con
ngồi ở
ghế và
đi lên
rước
lễ. Vì
đông quá,
nên bà
phải mất
một thời
gian khá
lâu mới
trở về
chỗ
được.
Đến
cuối
lễ, bà
lên máy
phóng
thanh
khóc lóc,
xin ai đã
bắt cóc
con mình
bị liệt
ngồi
trên ghế
đem đi,
xin trả
lại cho
bà. Có
người nào
đó nhận
ra thằng
bé “tưởng
đã mất”
đang
ngồi
chơi với
mấy đứa
nhỏ khác
ở phía
sau, và
báo cho
bà. Chúa
đã chữa
lành nó
trong lúc
cầu
nguyện
chữa
lành, và
nó đã
tụt khỏi
ghế rồi
chạy đi
chơi với
bạn.
15. Và
cha cảm
thấy
thế nào
khi dân
chúng
không ai
được
lành?
Cái đó
làm tôi
đầy
thương
cảm,
nhưng tôi
không
thấy
rằng họ
đã mất
mát một
cái gì
cả. Tôi
xin nhấn
mạnh:
Chúa Yêsu
không bao
giờ nói
rằng
tất cả
mọi
bệnh
nhân đều
sẽ được
khỏi,
nhưng nói
rằng
Ngài sẽ
cho chúng
ta những
dấu chỉ
để rao
truyền
Tin Mừng
(cho
người ta
dễ tin
hơn). Các
việc
chữa lành
là những
dấu lạ
đi kèm
theo
việc
loan báo
Tin Mừng,
nên không
cần
thiết
tất cả
mọi
người
đều
được
khỏi thì
người ta
mới tin
vào Lời
Thiên
Chúa.
Có ký
giả kia
một hôm
nói với
tôi: “Tôi
nghĩ là
nên đình
chỉ các
cuộc
hội họp
như thế
này, bởi
vì có
nhiều
người
đến với
hi vọng
được
chữa
lành, lúc
ra về
vẫn mang
bệnh.
Bị thất
vọng là
điều còn
tồi tệ
hơn là
không bao
giờ hi
vọng”.
Tôi đáp:
“Thế
thì cũng
phải đóng
cửa các
bệnh
viện,
bởi vì
rất
nhiều
người vào
đó rồi
ra giữa 6
tấm ván
đến
nghĩa
địa”.
Chúng tôi
không
nhìn
vấn đề
như thế.
Tôi tin
rằng:
tất cả
mọi
bệnh
nhân đến
với các
cuộc
hội
họp,
nếu họ
không
được
lành
phần
xác, vẫn
lãnh
được
những ơn
khác. Sự
phục
hồi hay
chấn
hưng đức
tin, đối
với
nhiều
người, là
một sự
chữa lành
còn quan
trọng
hơn. Cho
dù bệnh
nhân
không
được
lành, họ
cũng lãnh
được
một chúc
lành của
Chúa.
Phóng sự
sau đây,
đề tựa
là “Sống
lại”, đã
được
viết
rất linh
động do
cây bút
của José
M.
Troche,
ký giả
nhật báo
“El
Diario”
của tỉnh
Assomption
ở
Paraguay,
ngày
22/4/1988:
“Anh
ngồi đó,
ủ rũ như
một đóa
hoa vào
độ thu
tàn.
Buồn!
Đợi
chết!
Năm tháng
cứ trôi
qua, mà
cái chết
anh chờ
đợi như
một sự
giải
phóng các
đau khổ,
sao mãi
không
đến. Anh
cảm thấy
bị giam
hãm, song
đâu có
lưới nào
bủa giăng
để cản
trở anh
vượt
ngục!
Thế mà
anh đâu
có thể
làm
được, dù
anh có
muốn đi
nữa.
Không có
nhà tù
nào buồn
cho bằng
nhà tù
của
chiếc xe
lăn, ngày
ngày
chuyên
chở một
hình hài
bất
lực, bi
đát...
Anh không
chịu
đựng
nổi nữa!
Bốn mươi
tuổi
đời, thế
mà bị
cột
chặt vào
chiếc
ghế và
lệ
thuộc
vào gia
đình.
Họ dẫn
anh tới
nơi mà
anh không
muốn:
họ đưa
anh ra
phố đang
lúc anh
muốn ở
nhà, họ
bắt anh
đi ngủ
đang lúc
anh muốn
dạo
chơi.
Chẳng ai
dành giờ
cho anh.
Thử nghĩ
xem:
suốt 20
năm, anh
đã làm
việc như
một tên
khổ sai,
nhặt
nhạnh
từng xu,
cho đến
khi mở
được
một cửa
hàng buôn
bán, nhờ
đó họ có
thể
sống
không còn
phải lo
lắng
gì. Vậy
mà bây
giờ anh
không
thể
điều
hành cửa
hàng ấy.
Mỗi ngày
- kể từ
buổi
chiều
Chúa
nhật đó
cách đây
5 năm -
anh thức
giấc
cũng với
một nỗi
khắc
khoải như
lần ấy:
Anh loay
hoay
trong
đầu xem
có thể
làm gì
để chỗi
dậy,
nhưng đôi
chân anh
không
tuân theo
lệnh anh
nữa. Anh
bíu lấy
những cái
móc mà
người ta
gắn ở
đầu
giường,
lúc ấy
anh mới
chỗi
dậy
được.
Anh nhìn
xuống
chân: đôi
chân to
mạnh,
đầy bắp
thịt
rắn
chắc của
một lực
sĩ,
nhưng giờ
thì
chúng
nằm
liệt như
hai khúc
gỗ. Tai
nạn xe
hơi thật
dễ sợ,
nhưng may
mắn anh
đã sống
sót.
Người kia
- một
thiếu
niên 17
tuổi -
đã chết.
“Tại sao
tôi không
chết
thay cho
nó?”, anh
than vãn,
đau khổ
vì thấy
mình
chẳng
khác nào
một kẻ
dở sống
dở chết.
Anh chán
ngấy
cảnh này
rồi!
Lần
cuối
cùng tôi
gặp anh,
thấy anh
còn rã
rượi hơn
bao giờ.
Anh muốn
chết,
nhưng
không có
can đảm
tự hủy
mình.
Nhưng...
có một
cái gì
đó đã xảy
ra, cách
đây không
lâu. Như
mọi Chúa
nhật,
đứa con
trai đầu
lòng đẩy
xe lăn
của anh
tới nhà
thờ dự
lễ. Tôi
gặp anh
hết sức
tình cờ.
Tôi chờ
nghe bài
Kinh cầu
than vãn
đều đều
của anh,
nhưng đây
là một
con người
khác! Anh
tươi cười
như bao
nhiêu năm
chưa từng
mỉm
cười. Anh
mặc áo
sơ mi
trắng,
và đã bỏ
chiếc áo
vét xám
buồn bã.
Người anh
tỏa ra
mùi nước
hoa của
Pháp -
dấu
hiệu rõ
ràng anh
đã sống
lại, trở
về cuộc
sống đời
thường.
“Tại sao
bạn
ngẩn
mặt ra
thế kia,
hử ông
bạn của
tôi?”,
anh nói
ngay với
tôi thế.
Không
biết,
mặt tôi
lúc ấy
ngẩn ra
như thế
nào khi
nhìn
anh.
Chắc
chắn
không
phải cái
mặt
thương
cảm mọi
khi, hay
cái gì
đó giống
vậy.
Đúng ra
là cái
mặt đờ
ra, ngạc
nhiên...
và cặp
mắt tôi
chằm
chằm
nhìn
anh,
chắc
thế, như
muốn hỏi
cái gì
đã xảy
ra?
Anh vẫn
cười.
Một phép
lạ, tôi
nghĩ
bụng.
“Phải,
một phép
lạ, anh
bạn thân
mến của
tôi ơi!”
- anh nói
như thể
đã đọc
thấy câu
hỏi trong
trí tôi,
và anh
kể cho
tôi tất
cả câu
chuyện.
Thực
tình,
anh nghĩ
mình đã
chết,
vì tâm
hồn anh
đã chết.
Không hi
vọng,
không
chấp
nhận
tình
trạng
tàn tật
của
mình,
quên hẳn
rằng
thân xác
còn có
những cơ
quan khác
quan
trọng
hơn hai
chân.
Anh nói:
“Phép lạ
xảy ra
vào một
tối kia.
Con cái
đã dẫn
tôi đến
sân vận
động,
thương
hại cho
tôi,
chúng
nghĩ
rằng tôi
muốn
đến xem
đá banh
như
trước
kia.
Nhưng anh
biết là
không
phải. Bên
ngoài anh
thấy tôi
vẫn
hình như
chẳng
khác
trước.
Nhưng
tất cả
đã biến
đổi, từ
cái đêm
ấy”.
Từ đêm
ấy, anh
cảm thấy
anh là
một
người có
ích,
mạnh mẽ,
dù anh
vẫn
không đi
được
bước
nào, và
đầy sức
sống. Từ
đêm ấy,
anh đã
sống
lại. Đêm
ấy, anh
hiểu anh
không cô
đơn và
bệnh
liệt
bại đôi
chân
không là
gì so
với
bệnh ung
thư của
hồn anh.
Đêm ấy,
anh lành
bệnh,
bệnh tâm
hồn,
bệnh bi
quan, và
anh
chẳng
thấy
cần khỏi
đôi chân
nữa”.
17. Cái
lời thông
tri nhờ
đó Cha
biết
Thiên
Chúa đang
làm gì,
cái đó
vận
dụng ra
sao?
Tôi không
thấy hay
cảm thấy
gì cả.
Nhưng tôi
chắc
chắn
trong
lòng
rằng
một
người nào
đó đang
được
lành
bệnh
gì. Sự
chắc
chắn ấy
được xác
nhận,
khi tôi
khẳng
quyết
rằng
người
bệnh
thực sự
đã được
chữa
lành.
Đấy là
một sự
thúc
giục bên
trong,
một thúc
đẩy của
Thần
Khí. Nó
cũng
giống
như đối
với
Thánh
Phêrô
được
thúc đẩy
nhảy
xuống
biển để
đi trên
sóng
nước.
Một hôm,
Chúa có
nói cho
một nữ
tu thuộc
dòng
chiêm
niệm kia
rằng:
“Mỗi
lần con
nói một
điều
trí tri,
con phải
làm một
hành vi
tin như
khi nhìn
nhận Ta
đang
hiện
diện
trong
Bánh
Thánh
Thể”.
Cái đó
cũng
giống
như khi
người ta
đi vào
một con
đường mù
sương:
bắt
đầu,
người
chỉ
thấy cái
gì
trước
mặt,
nhưng
càng đi,
người ta
càng
thấy xa
hơn.
Chẳng
hạn, tôi
chắc
chắn có
một
người
đang
được
chữa lành
tai. Càng
lúc tôi
càng nói,
thì tôi
thấy ra
đó là
một phụ
nữ, đang
cảm thấy
một sức
nóng và
tôi còn
nhận
thấy cả
tuổi
họ...
Nếu tôi
không
chắc
rằng cái
đó từ
Chúa mà
đến, tôi
sẽ không
bao giờ
dám nói
tuổi của
một phụ
nữ...
Đây là
một
chứng từ
rất hay
mà nữ tu
Regina
Catteeuw
thuật
lại,
trong thư
đề ngày
10/10/1988:
“Kính
gửi Cha
Tardif,
Thật là
một nỗi
vui mừng
và biết
ơn lớn
lao khi
được
viết cho
Cha để
báo một
tin vui:
Lucas đã
chào đời.
Đó là đứa
con đầu
lòng của
anh con
và chị
dâu Maria
Rosa,
kết bạn
từ ngày
22/8/1975.
Hôm
14/11, ở
Gand, Cha
có nói
một lời
thông tri
áp cuối
như sau:
“ở đây,
có một
cặp vợ
chồng
kết hôn
đã 12 năm
mà không
có con.
Sang năm,
họ sẽ
ẵm bồng
một em
bé trong
tay”.
Ngày
22/8,
đúng ngày
kỷ niệm
13 năm
hôn phối
của họ,
một bé
trai tóc
đen chào
đời, cân
nặng
3,650kg.
Khi anh
con ẵm
đứa bé
trong
tay, anh
đã thốt
lên với
giọng âu
yếm:
“Con đã
được ấp
ủ lâu năm
trong
lòng mong
đợi và
ước mơ
của chúng
ta. Mỗi
năm, mùa
xuân rồi
mùa đông
về,
nhưng
con, con
không
đến với
ba má.
Nhưng
nếu con
chưa đến
sớm hơn,
đó là bí
mật giữa
Thiên
Chúa và
con”.
Lòng tin
của cả
gia đình
đã tăng
trưởng.
Chị dâu
Maria
Rosa, anh
Luca con
và thằng
bé Lucas
chào Cha
thắm
thiết.
Ký tên:
Nữ tu
Regina
Catteeuw”.
Việc
thực
hành các
đặc sủng
là một
con đường
tăng
trưởng
trong
lòng tin:
Mỗi lần
tôi nói
một lời
thông
tri, là
tôi gieo
mình
xuống
nước,
bụng
đinh ninh
rằng
Chúa sẽ
không để
tôi hụt
chân. Nó
cũng là
con đường
của lòng
mến vì
nó phục
vụ cộng
đồng.
Mọi đặc
sủng đều
để phục
vụ ích
chung, và
vì lý
do ấy,
chúng là
những
biểu lộ
của một
đặc sủng
lớn
nhất:
lòng
mến.
Lời trí
tri là
một hành
vi tin,
cả về
phía
người nói
lẫn
phía
người
bệnh
đang
nghe. Và
Thiên
Chúa,
Đấng ban
đức tin,
sẽ đáp
ứng lòng
tin ấy.
18. Cha
làm các
phép lạ
ư?
Một hôm,
một ký
giả người
Côlombi
đặt cho
tôi một
câu hỏi
tương
tự. Tôi
đáp:
“Không,
hoàn toàn
không
phải
thế! Đơn
giản là
thế này:
tôi cầu
nguyện
và Chúa
Yêsu chữa
lành”.
Hôm sau,
ông ấy
đăng một
bài trên
nhật báo
với tít
đề: “Ông
Cha
Tardif
cầu
nguyện
và Đức
Yêsu chữa
lành”.
Khi tôi
đọc báo,
tôi thốt
lên:
“Cuối
cùng, đã
có một
ký giả
hiểu
đúng
chuyện!”
Ơn chữa
lành là
để cho
người
khác,
không cho
mình. Có
đôi khi
tôi ngã
bệnh,
nếu ơn
chữa
bệnh ấy
là để
cho tôi,
tôi sẽ
đặt hai
tay lên
đầu tôi
rồi cầu
nguyện
và tôi sẽ
khỏi.
Nhưng
công
chuyện
lại
không
phải như
vậy.
Trong
một
cuộc
tĩnh tâm
cuối
tuần cho
2.000
người Tây
Ban Nha ở
Tucson
miền
Arizona,
Chúa chữa
nhiều
bệnh
nhân, kể
cả những
người
bệnh
rất
nặng,
phần
nhiều là
bệnh
sưng
khớp và
liệt
bại. Hai
giờ
chiều
ngày Chúa
nhật,
tôi lên
cơn sốt
nặng.
Tôi bị
cảm lạnh
và rất
khó nhọc
mới
giảng
được bài
cuối
cùng. Sau
cuộc
tĩnh
tâm, tôi
phải nằm
đau mất
một ngày
rưỡi.
Tôi tự
nhủ:
“Nếu ơn
chữa lành
là dành
cho tôi,
thì tôi
sẽ tự
đặt tay
cho mình
và chữa
mình
ngay một
cái là có
thể đứng
dậy khỏi
giường
bệnh”.
Nhưng
Chúa đã
cho tôi
thấy
một lần
nữa là
không
phải tôi
chữa
nhưng
chính
Ngài.
19. Xin
Cha
thuật
lại một
việc
chữa lành
đã làm
Cha chú
ý bởi
một nét
gì đặc
biệt.
Tôi sẽ
kể cho
bạn nghe
nhiều
việc
chữa lành
cho thấy
tính hài
hước của
Thiên
Chúa.
Năm 1984,
tôi giảng
một kỳ
tĩnh tâm
trong
thành
phố
Monterrey.
Trong
buổi
Thánh
Lễ, rất
khó trao
Mình
Thánh
Chúa, vì
tất cả
mọi lối
đi đều
tắc
nghẽn
những
người là
người.
Với sự
trợ lực
của vài
nhân viên
trật
tự, tôi
đi về
phía
cuối.
Khi tôi
đi qua
giữa đám
đông, có
nhiều
người
muốn sờ
đụng
đến tôi,
người
khác đánh
bạo xin
tôi cầu
nguyện
cho họ.
Tôi
nghĩ:
“Nếu
đích
thân Chúa
Yêsu có
thể chữa
lành họ,
tôi không
hiểu
tại sao
họ lại
tìm
kiếm ông
Cha
Tardif
làm
gì?”.
Giữa đoàn
lũ đông
đảo ấy,
tôi thấy
một phụ
nữ đang
khóc lóc.
Bà bế
một đứa
con trai
nhỏ. Đứa
bé nhìn
tôi một
cách
trìu
mến. Tôi
chợt
nhớ đến
người
bất
toại ở
đảo
Bethesda
(Yn 5.)
không
thể lê
mình
xuống ao
nước
phép lạ,
vì không
có ai
giúp ông.
Tôi tiến
đến gần
em bé và
hôn nó.
Nó mỉm
cười. Tôi
tiếp
tục
việc
trao
Mình
Thánh
Chúa.
Bình
thường,
tôi không
hôn ai
đang lúc
trao
Mình
Thánh
Chúa,
nhưng vào
lúc ấy,
tôi lại
cảm thấy
muốn làm
điều đó
và tôi đã
làm...
Hôm sau,
bà mẹ
lên máy
phóng
thanh
trước
đám đông
mà nói:
“Hôm qua,
lúc cho
chịu
lễ, Cha
Emilianô
đi qua
chỗ
chúng tôi
đứng.
Bất
thần,
Cha quay
lại và
hôn đứa
con trai
nhỏ tôi
một cái.
Nó lên
hai tuổi
và hoàn
toàn
điếc
đặc. Tôi
muốn
dâng lời
cảm tạ,
vì từ
hôm qua,
con tôi
đã nghe
được.
Thiên
Chúa đã
chữa lành
nó. Vinh
danh cho
Người!”
Từ khi
ấy,
chuyện
đó gây
thêm rắc
rối cho
đời tôi.
Ai ai
cũng
muốn tôi
hôn họ.
Nhưng tôi
nói:
“Không
được,
hôn chỉ
dành cho
các em
nhỏ. Còn
các bà
thì chỉ
có chồng
mới hôn
được
thôi!”
Tuy vậy,
điều
dạy dỗ
đã mang
lại kết
quả: tôi
không
chữa lành
ai cả.
Nụ hôn
tuy là
một dấu
yêu
thương,
cũng
không
thể chữa
dù chỉ
là bệnh
nhức
đầu. Câu
chuyện
xảy ra là
thế này:
tôi mang
Mình
Thánh
Chúa
trong
tay, và
chính
Chúa Yêsu
đã chữa
lành đứa
nhỏ
điếc.
Tôi chỉ
là con
lừa mang
Chúa Yêsu
trên
lưng, và
vì vậy
Ngài
tiếp
tục chữa
các bệnh
nhân.
Thật
tồi tệ
nếu
người ta
dán mắt
nhìn vào
con lừa,
mà không
vào Đấng
nó mang
trên
lưng.
Ngày nào
chúng ta
nhận
thức
được
mình
chỉ là
kẻ mang
Đức Yêsu
Kitô,
ngày ấy,
tác vụ
của chúng
ta sẽ
biến
đổi:
chúng ta
sẽ không
nói
nhiều
quá về
Chúa
Yêsu, tôi
sẽ để
Ngài hành
động
bằng
tất cả
quyền
năng của
Ngài.
Cách thức
Đức Yêsu
chữa lành
thì rất
“kỳ lạ”,
đến nỗi
chúng tôi
không
thể bỏ
qua không
thuật
điều đã
xảy ra ở
Montê
Maria,
nơi tụ
họp đến
hơn
50.000
người để
cử hành
Thánh Lễ
mỗi Chúa
nhật.
Trong
dịp ấy,
Cha
Gilberto
Gomez
cầu
nguyện
cho các
bệnh
nhân.
Có lần
kia, cũng
trong
buổi
hành lễ
ấy, cán
cờ tòa
thánh
Vaticăng
rơi
xuống
nhằm
trúng
một
người
vốn đã
sẵn bị
bệnh
còng
lưng, và
đánh
người ấy
ngã
xuống.
Thật
tội
nghiệp!
Ai cũng
buồn vì
thấy cái
cán cờ
vừa to
vừa nặng
như thế
lại rơi
trúng
ngay
người
đang bị
bệnh.
Trước
sự kinh
ngạc của
mọi
người,
người
bệnh ấy
tự đứng
thẳng
dậy. Cán
cờ đã
chữa
thẳng
lưng ông.
Đến hôm
nay, ông
ấy vẫn
đi đứng
thẳng
người như
vậy.
Đường
lối
Thiên
Chúa quả
thực
khôn dò,
gây
nhiều
bất ngờ.
Lúc thì
Thiên
Chúa chữa
ta bằng
nụ hôn,
lúc khác
bằng “cú
cán cờ”.
Một
việc
chữa
bệnh
khác
“rất kỳ
cục”,
bắt đầu
làm tôi
bối
rối,
nhưng sau
làm tôi
phá lên
cười.
Việc ấy
xảy ra ở
Pérou,
năm 1985.
Trong lúc
cầu
nguyện
cho bệnh
nhân, lời
trí tri
hầu hết
tôi nhận
được và
thông báo
ra là
thế này:
“Giờ đây,
Chúa chữa
một
người
bất
toại”.
Rồi tôi
nói thêm
bằng
một
giọng
mạnh mẽ:
“Nhân
danh Chúa
Yêsu, con
hãy đứng
dậy!”.
Không ai
trong số
những
bệnh
nhân
ngồi xe
lăn dám
liều
một
bước
trong đức
tin...
Rồi tôi
nói rõ
hơn:
“Chúa
chữa một
người
bất
toại
trong lúc
này. Cái
dấu để
người đó
nhận
biết đó
là mình,
và để
cho người
ấy biết
là chính
Chúa chữa
lành
mình, đó
là bạn
nhận
thấy
một sức
nóng nơi
đôi chân
và run
rẩy cả
mình.
Anh em
nào cảm
thấy sức
nóng ấy,
hãy đứng
lên, nhân
danh
Chúa”...
Vẫn
không ai
nhúc
nhích!
Một sự
im lặng
căng
thẳng
bao trùm
tất cả
hội
trường.
Một lần
nữa, tôi
nhấn
lại,
bằng lời
nói chậm
và rõ
ràng:
“Người
bất
toại nào
được
Chúa
chữa, hãy
đứng
dậy!”.
Chẳng ai
đứng dậy
cả:
Trước
con mắt
hoài nghi
của những
kẻ ngờ
vực, xem
ra lần
này
chẳng có
gì xảy
ra cả.
Lúc ấy,
tôi nói:
“Thôi
được,
sau này
bạn ấy
sẽ lên
làm
chứng”,
và tôi
tiếp
tục
thông báo
những lời
trí tri
khác.
Nhưng câu
nói vừa
rồi của
tôi,
trước
mắt lắm
kẻ, xem
như một
câu chữa
thẹn. Dù
các lời
trí tri
sau đều
được các
chứng tá
lên xác
nhận là
xảy ra
đúng,
nhưng lời
đầu tiên
kia vẫn
còn như
chặn
họng
tôi.
Để chấm
dứt buổi
cầu
nguyện,
tôi loan
báo:
“Chúa
đang mở
tai cho
một
người
điếc”.
Vào lúc
ấy, một
người
điếc
đang
ngồi xe
lăn, đứng
thẳng
dậy và
kêu to:
“Cha ơi,
tôi nghe
được!
Tôi nghe
được
rồi!
Trước
đây, tôi
không
nghe
được gì
cả!” Lúc
ấy, tôi
công bố:
“À thì
ra, anh
bạn là
người
bất
toại mà
Chúa đã
chữa lành
lúc nãy.
Nhưng vì
bạn lại
cũng bị
điếc
nữa, nên
bạn đã
không
nghe
thấy lời
bảo đã
được
Chúa chữa
lành
bệnh
bất
toại:
nhân danh
Chúa, hãy
đứng dậy
mà
đi!...”
Và người
ấy bắt
đầu
bước đi
giữa
tiếng
vỗ tay,
vui cười
và hân
hoan của
đoàn
dân...
Sau cùng,
tôi nói
với họ:
“Mỗi
ngày,
người ta
lại học
được
thêm một
chuyện
gì nữa.
Từ nay
trở đi,
tôi sẽ
xin Chúa
khởi đầu
chữa cho
người
điếc
trước,
để tránh
cho chúng
ta những
hoàn cảnh
bối rối
mà Ngài
đặt
chúng ta
vào...”
20. Xin
hỏi Cha,
kết quả
vào đã
gây nơi
Cha khi
đã gần
gũi
quyền
năng
Thiên
Chúa như
vậy?
Chẳng
phải dễ
mà làm
quen với
việc
Chúa tự
tỏ mình
ra hằng
ngày như
vậy?
Cũng xảy
ra một
nguy
hiểm y
hệt cho
ai cử
hành
Thánh Lễ
hằng
ngày.
Cũng như
chúng ta
có nguy
cơ lãnh
đạm,
lạnh
nhạt lúc
cử hành
Thánh
Thể như
thế nào,
thì
chúng ta
cũng có
thể lờn
quen với
tác vụ
này như
thế.
Lòng tin
cứ phải
đổi mới
mỗi
ngày.
May thay,
các chứng
tá có đó
để gây
hưng
phấn cho
chúng
tôi. Nếu
chúng tôi
không
được
thấy xác
nhận
những
việc
Chúa làm,
tôi chắc
rằng
chúng tôi
đã bỏ
cuộc từ
lâu rồi.
Đôi khi
có thể
chán nản,
nhưng
những
chứng tá
đến tăng
sức cho
chúng tôi
để tiến
bước.
Chính
nhờ thấy
niềm vui
của những
người
được
khỏi
bệnh, mà
tôi tìm
lại
được can
đảm mà
cầu
nguyện
cho bệnh
nhân.
21. Phải
chăng các
việc
chữa lành
làm người
ta quên
mất giá
trị của
sự đau
khổ?
Tôi trả
lời cho
bạn
bằng
một
việc xảy
ra đời
thường:
Một hôm,
phi cơ
của tôi
có sự
chậm
trễ và
tôi đến
chậm
trong
việc
giảng
tĩnh
tâm. Đức
Giám Mục
tiếp đón
tôi với
vẻ sốt
ruột,
vì Ngài
sắp phải
đi có
việc, và
đã phải
chờ đợi
tôi để
ra một
vài chỉ
thị cho
tôi.
Thoạt
tôi vừa
có mặt,
Ngài hầu
như không
kịp chào
tôi, và
Ngài nói
cách
nghiêm
nghị:
“Thưa
Cha, sự
đau khổ
và bệnh
tật cũng
có phần
trong
chương
trình
Thiên
Chúa,
chúng ta
không
được
đánh mất
giá trị
của đau
khổ do
bệnh
tật gây
nên. Tôi
xin Cha
vui lòng
đừng tổ
chức
việc
chữa lành
trong
buổi
Thánh
Lễ”.
Rồi,
nhìn
đồng
hồ, Ngài
nói thêm:
“Xin lỗi
Cha vì
tôi không
ở lại
dự bài
giảng của
Cha, ông
nha sĩ
đang đợi
tôi từ
nửa giờ
rồi...”
Tôi chỉ
đơn giản
đáp lời
rằng:
“Thưa Đức
Cha, thế
thì
bệnh đau
răng của
Đức Cha
lại
chẳng
phải là
một đau
khổ có
giá trị
trước
Thiên
Chúa ư?
Vậy tại
sao Đức
Cha nhờ
ông ấy
chữa mà
không nhờ
Chúa
Yêsu?”
Cuối
cùng, cho
tôi hỏi
một câu:
Thế
giới có
thiếu
đau khổ
không?
Trong
thế
giới quá
nhiều
đau khổ
này,
chúng ta
có cần
phải thêm
thập giá
hay
quyền
lực của
thập
giá, để
đem lại
cho chúng
ta tất
cả hoa
trái của
công
việc Cứu
chuộc
không?
Chúng ta
không
được
quên lời
tiên tri
nói về
Chúa
Yêsu:
“Chính
các bệnh
tật của
chúng
tôi, Ngài
đã mang;
các đau
khổ của
chúng ta,
Ngài đã
vác... Và
nhờ những
vết hằn
Ngài
chịu, mà
chúng tôi
có phương
được
lành” (Ys
53.4-5).
Trong
một đại
hội ở
Lộ Đức,
xảy ra
rất
nhiều
việc
chữa lành
khiến
một linh
mục đến
bên tôi
thì
thầm:
“Tôi xem
thấy
hình như
có quá
nhiều
phép lạ
chữa
lành”.
Tôi khoát
tay, trỏ
cho ông
ấy cả
một hàng
dài những
người lên
nói lời
chứng vì
đã khỏi
bệnh và
hỏi: “Ai
trong số
những
người
này, Cha
muốn
loại
ra?”
22. Có
phải Cha
đã chứng
kiến
những
việc lạ
lùng đủ
mọi
loại?
Tôi nghĩ
rằng
chúng tôi
chưa
thấy gì
cả. Chúa
dành cho
chúng tôi
những sự
ngạc
nhiên
mỗi ngày
mỗi lạ
lùng hơn.
Cuộc
Hiện
Xuống
mới chỉ
bắt
đầu.
Chúng ta
sẽ còn
được
thấy
những
việc vĩ
đại hơn.
Một thời
kỳ vinh
hiển đã
đến, như
chưa từng
thấy từ
xưa đến
nay. Thế
giới
cần đến
Chúa Yêsu
hơn bao
giờ hết,
và Ngài
sẽ tỏ
mình ra
với tất
cả quyền
năng của
Thánh
Thần
Ngài.
Trong
Vương
Cung
Thánh
Đường
Thánh
Phêrô ở
Roma ngày
19/5/1975,
ông Ralph
Martin
(một
người
lãnh đạo
nổi
tiếng
của phong
trào Canh
Tân Đặc
Sủng -
lời dịch
giả) có
nói ra
một lời
tiên tri:
“Đã đến
một thời
kỳ rao
giảng Tin
Mừng như
chưa từng
thấy
trong
Giáo Hội
chúng
ta”.
Tiên tri
Yoel đã
loan báo
những
điềm
thiêng
trên trời
và dấu
lạ dưới
đất (Yô
3.1-5; Cv
2.16-21),
và chúng
tôi được
thấy:
- Tháng
3/1987,
hồi 5
giờ
chiều,
tôi đang
giảng ở
Coatzacoalcos,
bỗng
mặt trời
bị che
mờ bởi
một đám
mây đang
di
chuyển.
Bởi thế,
nó có ấn
tượng là
mặt trời
múa.
Chúng tôi
lúc ấy
cả thảy
là 15.000
người
được
thấy.
Thiên
Chúa
thật
lớn lao!
- Lễ
Chúa
Kitô-Vua
năm 1984
ở Montê
Maria bên
Mêxicô,
nhiều
đám mây
họp
thành
hình
thập giá
vĩ đại
trên nền
trời. Và
ngay sau
đó tiếp
đến hai
hình
thập giá
khác ở
hai bên.
- Tại
Zaire,
tôi giảng
bằng
tiếng
Pháp,
một
người đàn
bà chỉ
biết
tiếng
bản địa
Lingala
lại
hiểu
hết bài
giảng
ấy.
Thiên
Chúa
muốn cho
chúng ta
những
dấu lạ
chứng tỏ
Ngài đang
sống và
có quyền
phép cứu
thế
giới.
Chúng ta
sẽ còn
thấy
những
điều
lớn lao
hơn nữa.
23. Và
nếu một
ngày kia
không còn
xảy ra
các việc
chữa lành
nữa thì
sẽ ra
sao?
Nếu
không còn
một
việc
chữa lành
nào nữa,
thì tôi
sẽ rất
băn
khoăn, và
tôi tự
hỏi cái
gì trục
trặc
trong
tôi, bởi
vì Chúa
không
thể
ngưng
thực
hiện các
lời hứa
của Ngài
(x. trong
các Tin
Mừng). Mà
Ngài đã
hứa
rằng:
dấu lạ
và kỳ
công sẽ
kèm theo
lời rao
giảng (x.
Mc
16.15-20).
24. Có
phải Cha
cũng đã
chịu
bắt bớ
và từ
rẫy?
Phải, tôi
đã bị
chỉ
trích,
nhiều
khi cách
cay chua,
ngay cả
bởi các
linh
mục.
Những khi
khác, tôi
bị chế
riễu...,
nhưng
những cái
đó là
thành
phần của
tác vụ
của tôi.
Còn có
những
Giám Mục
không cho
phép làm
tác vụ
chữa
lành. Các
Ngài cho
rằng đó
là
chuyện
cuồng
tín.
Nhưng,
cái đó
lại nằm
ở trung
tâm Tin
Mừng, như
là dấu
chỉ kèm
theo
việc rao
giảng Tin
Mừng.
Những
chỉ
trích
không làm
cá nhân
tôi đau
đớn. Cái
làm tôi
đau, là
nhìn
thấy con
tim người
ta khép
kín
trước
tình yêu
hay
thương
xót của
Chúa
Yêsu,
muốn tỏ
mình qua
những
dấu lạ
và kỳ
công.
26. Khi
người ta
được
chữa
lành,
điều gì
sẽ xảy ra
cho họ
sau đó?
Người
được
chữa lành
cần
được
tiếp
tục theo
dõi trong
tiến
trình
rao giảng
Tin Mừng
cho họ.
Thật ta
sai lầm
biết
bao, khi
không còn
săn sóc
đến họ
sau lúc
họ được
chữa
lành!
Chính
việc
chữa lành
không ban
cho họ
đức tin,
nhưng nó
chuẩn
bị cho
họ một
cách
tuyệt
diệu để
đón nhận
Lời Chúa,
cái này
làm nảy
sinh đức
tin. Nếu
chúng ta
không
lợi
dụng
thời gian
tối hảo
đó để
trình
bày Chúa
Yêsu cho
người
được
chữa
lành,
chúng ta
đã mất
cơ hội
tuyệt
hảo nhất
để rao
giảng Tin
Mừng cho
họ.
Có nhiều
người đã
sống
kinh
nghiệm
một
việc
lành
bệnh
tốt
đẹp,
nhưng sau
đó không
ai đi kèm
họ cả.
Họ đã
lãnh hạt
giống
với một
niềm vui
và hạnh
phúc lớn
lao.
Nhưng
nếu hạt
giống
ấy không
được
tưới và
bón, nó
sẽ hư
hỏng vì
thiếu
săn sóc.
Việc
chữa lành
không
thay thế
việc rao
giảng Tin
Mừng,
nhưng đi
kèm theo
nó.
Tháng
10/1988,
tôi đã đi
giảng ở 5
nước
thuộc
Châu Phi
với Cha
Jo
Heglin,
M.S.C.
Một
trong
mấy
nước đó
là
Burkina
Faso. Có
hơn 400
người
lãnh đạo
cuộc
Canh Tân
họp tại
đó trong
suốt
một
tuần
lễ...
Nhưng
mỗi
chiều
của cuộc
Tĩnh
Tâm,
chúng tôi
tất cả
đi đến
trước
nhà thờ
chánh tòa
để dự
Thánh Lễ
lúc 18
giờ, cũng
có nhiều
người
Hồi giáo
đến dự.
Những
người này
tin có
Thiên
Chúa
(Allah),
nhưng coi
Đức Yêsu
Kitô chỉ
như một
tiên tri
mà thôi.
Một
việc
chữa lành
đánh
động tôi
nhiều đó
là trường
hợp một
phụ nữ
Hồi
giáo, 45
tuổi,
bị liệt
nửa mình
bên phải.
Một bà
bạn đã
mời bà
đến dự
Thánh Lễ
cầu cho
bệnh
nhân:
“Chiều
nay,
nhiều
người
bệnh sẽ
được
lành. Mời
bà đi
với
chúng
tôi!”. Bà
ấy đến
dự Thánh
Lễ của
bệnh
nhân và
trong giờ
cầu
nguyện,
Chúa đã
chữa bà
lành.
Hôm lễ
bế mạc,
bà lên
làm chứng
trước
hàng bao
ngàn
người:
“Các bạn
hãy mở
lòng cho
Chúa
Yêsu,
Ngài đang
sống.
Tôi xin
làm
chứng:
Tôi bị
bệnh
liệt nửa
mình bên
phải. Tôi
đã nằm
nhiều
bệnh
viện mà
người ta
không
chữa
nổi,
nhưng có
bà bạn
rủ tôi
đến dự
lễ cầu
cho bệnh
nhân
chiều
thứ ba
vừa rồi.
Tôi theo
Hồi
giáo,
dầu vậy
tôi đã
đến, và
Chúa Yêsu
đã cứu
chữa tôi.
Tôi tên
là
Zenabo,
nhưng từ
hôm nay,
tôi muốn
trở thành
Kitô hữu
và đặt
tên là
Catarina”.
Chúa
Thánh
Thần,
trong vài
phút, đã
thuyết
phục bà
tin
rằng:
Chúa Yêsu
là Đấng
Thiên Sai
cứu
thế,(*)
và không
có Danh
nào khác
được ban
xuống
cho loài
người để
nhờ đó mà
ta được
cứu
thoát.
Những gì
xảy đến
sau việc
lành
bệnh
luôn luôn
rất
tuyệt
diệu.
Cách
chung,
sự chữa
lành là
như một
vụ nổ,
nó phát
sinh một
phản ứng
dây
chuyền
để biến
đổi
không
những
người
được
lành, mà
còn cả
những
người ở
chung
quanh
họ. Đây
là bằng
chứng
được ghi
nhận
trong
chứng tá
sau đây:
“Guadalajara,
Jal.
11/10/1984.
Tôi tên
là Maria
Guadalupe
Lopez de
Preciado.
Chồng
tôi,
Armando
Preciado,
là phóng
viên
nhật báo
“El
Occidental”.
Chúng tôi
lấy nhau
đã 13
năm, có
hai mặt
con, một
trai và
một gái.
Qua chứng
từ này,
chúng tôi
muốn
ngợi
khen,
chúc
tụng và
tôn vinh
Chúa, vì
Ngài đã
làm những
việc lạ
lùng
trong đời
chúng
tôi, mặc
dù chúng
tôi đã
hầu như
quên
Ngài.
Ngày
3/7/1984,
chúng tôi
phải đưa
đứa con
gái
Claudia
đi điều
trị tại
dưỡng
đường 14
của Cục
An Ninh
xã hội,
để giải
phẫu cái
mà người
ta nghĩ
là bệnh
sa ruột
(hernie).
Hôm sau,
chúng tôi
đến nhà
thương
sớm để
thăm con
xem bệnh
tình ra
sao.
Chúng tôi
ngạc
nhiên vì
thấy
bảng trên
đầu
giường
nó, có
ghi lời
bác sĩ
bảo phải
rọi
quang
tuyến
để khám
nghiệm;
cái đó
hơi lạ,
nhất là
bệnh
nhân lại
vừa mới
bị mổ.
Bác sĩ,
rất bi
quan, nói
với
chúng tôi
rằng:
ông thấy
hình như
cháu
Claudia
có ung
thư. Họ
đã làm
cho cháu
một
cuộc xét
nghiệm
sinh
thiết
(biopsie),
và chờ
tuần sau
sẽ có
kết quả.
Nếu kết
quả cuộc
xét
nghiệm
là xác
thực,
phải tái
giải
phẫu
ngay lập
tức.
Ngày 11,
buổi
trưa,
chúng tôi
chờ đợi
kết quả
trong
niềm lo
lắng,
xót xa.
Bác sĩ
Barragan
xác nhận
với
chúng tôi
là cháu
quả bị
một ung
thư,
nhưng
không
thể mổ
được.
Kết quả
cuộc xét
nghiệm
cho thấy
một u
nguyên
bào thần
kinh
bụng
(neurro-blastome
abdominal)
giai
đoạn III
(không
thể mổ
được):
đó là hai
ung sang
lấn
chiếm
hết vùng
bụng.
Chỉ có
phép lạ
mới cứu
con chúng
tôi
được.
Chúng tôi
cùng nhau
đến nhóm
cầu
nguyện
để xin
Chúa
chữa. Sau
đó, cháu
được
chuyển
sang khu
chuyên
về khối
u
(oncologie)
của một
bệnh
viện
khác,
dưới
quyền
bác sĩ
Juan
Arroyo,
ông này
cũng xác
nhận
tình
trạng
trầm
trọng
của cơn
bệnh.
Chúng tôi
tiếp
tục cầu
nguyện,
Chúa cho
chúng tôi
được
phúc dự
Thánh Lễ
do Cha
Tardif
dâng ở
Giảng
Đường
ngày
28/6, lúc
17 giờ.
Mặc dù
bao khó
khăn,
chúng tôi
cũng đã
có thể
lọt vào
được.
Thật là
một đại
lễ! ở
đó, Chúa
chữa
nhiều
anh chị
em được
khỏi
bệnh
phần xác
hay phần
hồn. Cha
rao lên
những ai
được
khỏi
bệnh, và
chúng tôi
thất
vọng,
vì
chẳng
thấy đá
động gì
đến
trường
hợp của
con chúng
tôi cả.
Cuối
lễ, tôi
nói với
Cha: “Cha
ôi, con
gái con
bị bệnh
ung thư
hầu như
hết
thuốc
chữa.
Nếu nó
chết,
con cũng
muốn
chết
theo. Nó
là con
gái độc
nhất của
con”.
Với một
giọng ôn
tồn và
ấm lòng,
Cha nói
với tôi:
“Bà đừng
khóc nữa.
Nhân danh
Chúa, con
bà sẽ
được
khỏi”.
Nói xong
Cha đặt
tay trên
đầu cháu
Claudia
và cầu
nguyện 5
giây. Từ
đó đến
nay đã là
3 tháng.
Các cuộc
điều
trị
bằng hóa
học trị
liệu
đều đã
xong, mà
không
thấy nơi
cháu có
phản ứng
gì là
còn bị
bệnh.
Chúng tôi
xin đưa
cho các
bạn xem
hồ sơ
bệnh lý
của cháu.
Trong đó
có một
tờ đề
ngày
12/11,
viết rõ
ràng:
“Các ung
độc đã
biến
tan.
Bệnh
nhân có
thể về
nhà”.
Sau phép
lạ kỳ
diệu ấy
của Chúa,
đời sống
chúng tôi
biến
đổi. Sự
hiệp
nhất
trong gia
đình
càng thêm
chặt
chẽ.
Nhiều
bạn hữu
chúng tôi
gia nhập
các nhóm
cầu
nguyện.
Phần
chúng
tôi,
chúng tôi
tham dự
phần
học hỏi
về
“cuộc
sống
trong
Thần
Khí”.
Chính
để ngợi
khen và
vinh
hiển cho
Chúa mà
chúng tôi
nói lời
chứng
này. Nó
là bằng
chứng tỏ
tường của
sự hiện
diện
Chúa Kitô
- Đấng
đang
sống,
Đấng yêu
thương
chúng ta,
và nhìn
đến
chúng ta
với đôi
mắt đầy
cảm thông
và thương
xót”.
27. Cha
có sử
dụng
một
phương
pháp nào
hay một
đường
lối nào
không?
Phương
pháp nào
ư? Không!
Tôi luôn
luôn rao
giảng về
Đức Yêsu
trước
tiên, và
khuyến
khích
lòng tin.
Rồi tôi
cầu
nguyện
xin Chúa
chữa họ
khỏi tội
lỗi bởi
việc ăn
năn trở
lại. Và
cuối
cùng, tôi
cầu
nguyện
xin chữa
bệnh
phần
xác.
Không
một kỳ
tĩnh tâm
nào mà
tôi không
chứng
kiến
những
việc
chữa lành
thấy
được sờ
sờ. Nhưng
điều đó
không có
nghĩa là
tất cả
bệnh
nhân đều
phải
lành. Các
phép lạ
là những
dấu chỉ
của
quyền
năng
Thiên
Chúa,
chúng cho
thấy
Chúa Yêsu
đang
sống, và
chúng
giúp vào
việc
tăng
cường đức
tin chúng
ta. Vì
Thiên
Chúa
không
chỉ
muốn ta
được
khỏi
bệnh,
nhưng
toàn
diện
được
chữa
lành:
hồn và
xác, và
ngay cả
mối quan
hệ của
ta với
tha
nhân.(*)
28. Cha
sẽ có lời
khuyên
gì cho
những
người
cũng làm
tác vụ
chữa lành
này?
Tôi có
lời nhắn
nhủ này:
Đừng cầu
nguyện
chữa lành
mà không
rao giảng
Tin Mừng!
Ta không
nên bắt
đầu cầu
nguyện
chữa lành
phần xác
ngay, mà
không lo
lắng
đến đời
sống
thiêng
liêng của
bệnh
nhân.
Nếu
người ta
cảm thấy
đã sống
xa Thiên
Chúa
lắm,
chúng ta
phải giúp
họ ăn
năn hối
cải.
Trường
hợp kể
trong Tin
Mừng về
người
bất
toại
được Đức
Yêsu tha
tội
trước
đã, rồi
mới
được
chữa lành
thể xác
(x. Macco
2.1-12)
là mẫu
điển
hình để
thực
hành tác
vụ này.
Nếu ta
chỉ cầu
cho khỏi
bệnh
phần xác
mà thôi,
và không
lo lắng
gì để
người
tật
bệnh
được ăn
năn hoán
cải, thì
chúng ta
đã làm
công
việc của
viên thú
y: ông
này chỉ
lo chữa
thể xác
mà thôi!
Phải lo
lắng cho
họ được
ơn tha
tội và
được
chũa lành
bên
trong.
Nếu tác
vụ chữa
lành này
chỉ giản
lược vào
chuyện
chữa thể
xác,
không
màng lo
đến sự
sống đức
tin, thì
chẳng bỏ
công
được
đặc sủng
này làm
chi!
29. Người
ta đồn
rằng Cha
quen
biết
những
nhân vật
quan
trọng
trong
mọi địa
hạt:
Vua,
Tổng
Thống và
ngay cả
các Hồng
Y cũng
xin Cha
cầu
nguyện
cho, và
mời Cha
dâng
Thánh Lễ
riêng cho
họ. Vậy
nhân vật
quan
trọng
nhất nào
mà Cha đã
quen
biết?
Đối với
tôi, nhân
vật quan
trọng
nhất là
Chúa
Yêsu. Còn
chúng ta,
ai cũng
đều quan
trọng
cả, vì
chúng ta
là con
cái Thiên
Chúa.
Chẳng có
danh
tước nào
quan
trọng
trên đời
này cho
bằng
tước vị
con cái
Thiên
Chúa.
Mỗi
người
đều giá
trị như
thế cả,
bởi vì
Chúa Yêsu
đã hi
sinh
mạng
sống vì
họ (x.
Rm
8.11-12;
1Phêrô
1.18-19).
Chúng ta
đã được
chuộc
bằng giá
máu châu
báu của
Chúa Yêsu
Kitô.
Bất cứ
ai tôi
gặp đều
quan
trọng,
nhưng
người
quan
trọng
nhất là
Đức Yêsu,
Chúa trên
hết các
Chúa.
- Đã đành
là thế,
những
người mà
chúng tôi
muốn nói
đây là
người
đang
sống
hiện
nay…
Đức Yêsu
đang
sống! Từ
khi Ngài
sống
lại ngày
thứ ba
khỏi mồ,
Ngài đang
sống và
không bao
giờ chết
nữa.
Không
chỉ từng
ấy: Ngài
có sự
sống ban
cho tất
cả những
ai tin
vào danh
Ngài.
Bạn cũng
có thể
gặp Ngài
như bất
cứ ai
khác.
Ngài ở
đó, và
Ngài gõ
cửa lòng
bạn.
Nếu bạn
nghe
tiếng
Ngài và
mở cửa
cho Ngài,
Ngài sẽ
vào và
mời bạn
dự bàn
tiệc của
Vương
quốc...
30. Sứ
điệp của
Cha là
gì?
Tôi chỉ
rao giảng
Chúa Yêsu
là Đấng
duy nhất
được
trời sai,
và chúng
ta không
phải chờ
đợi
người nào
khác.
Cốt yếu
trong lời
giảng của
tôi là
bày tỏ ra
Đức Yêsu
đang
sống
ngày hôm
nay,
trong
Giáo Hội
của Ngài.
Tôi tin
rằng
càng ngày
tôi càng
không
cần nói
nhiều
nữa, vì
tôi nhận
định
được
rằng:
cái cốt
yếu là
làm chứng
nhân về
những
điều
chúng ta
mắt
thấy tai
nghe.
Mỗi
ngày, tôi
lại thêm
nhận
thức
rằng:
điều
quan
trọng
không
phải là
nói về
Chúa Yêsu
cho bằng
để Ngài
hoạt
động,
với tất
cả quyền
năng của
Thánh
Thần
Ngài.
31. Cuối
cùng, xét
rằng
đặc sủng
chữa
bệnh
càng ngày
càng trở
nên quan
trọng,
và cũng
vậy, số
người
đến dự
Thánh Lễ
- ở đó
người ta
cầu cho
bệnh
nhân -;
thế thì
Thiên
Chúa
muốn nói
gì cho
chúng tôi
qua các
dấu chỉ
ấy?
Qua các
dấu chỉ
ấy, Chúa
muốn bày
tỏ cho
chúng ta
thấy
việc
toàn
thắng
của Ngài.
Chúa Yêsu
đã đến
giải
thoát dân
Ngài khỏi
tội
lỗi.
Nhưng
chưa
hết, còn
có những
hậu quả
ác hại
của nó là
bệnh
tật và
sự
chết.
Nên Chúa
Yêsu cho
những
dấu chỉ
về sự
toàn
thắng
trọn
vẹn của
Ngài trên
tội
lỗi,
bằng
cách chữa
lành các
bệnh
nhân và
làm kẻ
chết
sống
lại.
Đức Yêsu
đã sống
lại vinh
hiển ra
khỏi mồ:
đó chính
là các
dấu chỉ
chung
quyết
của cuộc
toàn
thắng
của Ngài.
Vì sự
chết đã
vào trần
gian do
bởi tội
lỗi, như
thánh
Phaolô đã
khẳng
định (Rm
5.12; x.
Kn 3; Kng
2.24).(*)
Tôi
nghiệm
thấy
mỗi lần
chữa lành
là một
dấu chỉ
rõ ràng
về cuộc
toàn
thắng
của Chúa
Yêsu.
Nhưng đó
cũng là
một sự
bày tỏ
tình
thương
của Thiên
Chúa.
Phải nhớ
lại lời
Đức Yêsu
đã nói
với
người
bất
toại:
“Tội của
con đã
được
tha”. Sau
đó, Ngài
nói thêm:
“Để cho
các ông
biết Con
Người có
quyền
tha tội
dưới
đất, -
Ngài quay
sang nói
với
người
bất
toại -
Ta
truyền
cho con
hãy chỗi
dậy, vác
chõng mà
đi về
nhà!” (Mc
2.9-11).
Đối với
tôi, đó
là câu
nói minh
bạch
nhất để
cắt
nghĩa
lý do
việc
chữa
lành:
chứng tỏ
sự toàn
thắng
của Chúa
Yêsu trên
tội
lỗi:
Ngài có
quyền
tha tội,
và do đó,
có quyền
triệt
tiêu các
hậu quả
ác hại
của nó
luôn.
Tất cả
những
dấu lạ
ấy lặp
lại một
điều
này: Chúa
Yêsu là
Đấng
Thiên
Sai, cứu
thế
giới
này, và
chúng ta
không
phải đợi
ai khác
nữa.
Đấng
Thiên Sai
ấy đang
sống
ngày nay,
và Ngài
ban sự
sống cho
những ai
tin vào
danh
Ngài.
Kết
luận
Tôi muốn
kết thúc
chương
“Phỏng
vấn tác
giả”này
bằng câu
chuyện
xảy đến
với tôi
một hôm
kia, nhân
một vụ
phỏng
vấn.
Một ký
giả của
Tuần báo
Pháp
V.S.D.
(Thứ sáu,
thứ bảy,
Chúa
nhật)
xin gặp
tôi để
viết
một bài
báo, (báo
này xuất
bản tới
400.000
tờ). Ông
ta viết:
“Để trả
lời cho
biết bao
câu hỏi
của vô
số người
không
thể gặp
ông Cha”,
ông đã
hóa thành
“nhà thám
tử để
lục lọi
khắp
trời,
đất và
biển cả
suốt hai
tháng
trời,
trước
khi tìm
được
chỗ ở
của Cha
Tardif,
và điện
thoại
xin ông
Cha một
buổi nói
chuyện ở
Santo
Đomingô”.
Rồi ông
ta kể
cuộc
hành
trình ở
Bể
Caraibes
và cuộc
du hành
băng qua
Sabaneta:
“Một cái
nhà thờ
quét vôi
trắng và
một dúm
những nhà
nhỏ bé
màu hồng
và màu
lam, bên
sườn dãy
núi
xanh...
Và chính
bởi vì
chốn ấy
là nơi
bị phụ
bạc
nhất
trên
đất, ông
Cha
Tardif
mới thăm
nom nó,
để nó
không bị
mất
nước
thiên
đàng”.
Tiếp
theo, ông
ta cho in
hình Cha
Tardif,
miệng
mỉm
cười,
ngồi
trên lưng
lừa đi
trên một
con đường
của đảo
Caraibes;
rồi
dưới
hình,
ông viết
lòng chữ
này:
“Trên
lưng lừa,
Cha
Tardif
rao giảng
Tin Mừng
cho dân
quê”.
Không lâu
sau khi
bài phóng
sự ấy
ra mắt
độc giả,
tôi sang
Paris, và
rất
nhiều
người nói
với tôi
rằng:
họ vô
cùng
ngạc
nhiên
tại sao
tôi lại
để cho
một tờ
báo như
thế
phỏng
vấn. Tờ
báo ấy
không
phải báo
Công
giáo, hơn
thế,
lại
thường
đăng
những
chuyện
chơi bời
trắc
nết. Họ
lấy làm
gương
xấu, khi
thấy
đăng
hình tôi
giữa
những tên
phàm phu
tục tử
và các
bài báo
chẳng
mấy đạo
đức.
Tôi không
đáp lại
các lời
chỉ
trích
của họ,
nhưng tôi
nghĩ:
nếu Đức
Yêsu
ngồi ăn
cùng bọn
thu thuế
và để
cho những
gái điếm
đi theo
Ngài,
thì có
gì phải
sợ cái
hoàn cảnh
cắc ké
của tôi
đó.
Một năm
sau, tôi
giảng ở
Strasbourg,
và tôi
phải đến
Dijon sau
đó. Anh
Roger,
thành
viên của
cộng
đoàn
“Giếng
Yacob”,
mời tôi
lên xe
anh chở
đi. Dọc
đường,
tôi hỏi
anh làm
sao anh
đã gặp
Chúa, và
anh bắt
đầu kể
cho tôi
câu
chuyện
đời anh,
tại sao
anh đã
sống lâu
năm xa
đức tin,
xa mọi
tiếp xúc
với Giáo
Hội. Anh
nói
tiếp:
“Nhưng
xảy ra là
có một
hôm cuối
tuần,
tôi mua
tờ tuần
báo
V.S.D.,
tôi đọc
thấy
một bài
viết về
một linh
mục,
ngẫu
nhiên
cũng
trùng tên
là Tardif
với Cha!
Tôi thấy
bài viết
ngồ
ngộ, vì
ông Cha
ấy nói
đến một
Thiên
Chúa
tuyệt
vời mà
tôi không
biết.
Cái đó
lôi kéo
chú ý
của tôi,
đến nỗi
tôi hỏi
xem tôi
có thể
tìm
được
một nhóm
Canh Tân
ở đâu
không.
Rồi tôi
theo một
tuần
hội học
về
‘Sống
trong
Thần
Khí’,
trong đó
tôi đã
được
gặp Chúa
Yêsu,
Ngài đã
biến
đổi đời
tôi. ở
đó, tôi
đã gặp
vị Thiên
Chúa đã
yêu
thương
tôi, và
muốn tỏ
cho tôi
thấy
Người
sẵn sàng
tha thứ
mọi tội
lỗi tôi.
Tôi ăn
năn hối
cải và mở
lòng đón
Chúa đến
cứu vớt
tất cả
những gì
đã mất.
Tôi đi
xưng tội
và từ đó
tôi là
một
người
khác”.
Tôi nói
với anh:
- Ông Cha
Tardif
của tờ
tuần báo
V.S.D.
ấy là
tôi!
- Sao?
Cha là
người ở
Santo
Đomingô
à?
- Bằng
tâm hồn,
phải! Còn
tôi sinh
tại
Canada.
Thế rồi
chúng tôi
cảm tạ
Thiên
Chúa,
Người đã
sử dụng
tất cả
mọi
phương
tiện,
ngay đến
cả thứ
tuần báo
loại đó,
để đến
gần con
cái
Người,
cho họ
kinh
nghiệm
được
tình yêu
chân
thật, và
không
uống
dọc
đường
những
giếng
nước
rạn vỡ,
song
uống
nước
nguồn
sống
chân
thật.
Nếu tôi
để người
ta đăng
bài phóng
sự kia
về tôi
trong
“Công báo
của Bộ
Truyền
bá đức
tin”,
thì
Roger
chắc
không bao
giờ gặp
được
Chúa, đơn
giản vì
đó không
phải là
loại báo
mà anh
mua để
giải
trí.(*)
Ôi Chúa
thật
lớn lao!
Đường
lối của
Ngài
không
phải
đường
lối của
ta, và
các tiêu
chuẩn
của Ngài
không
phải như
của ta
(x. câu
phỏng
vấn số
19).