VÀI
NÉT VỀ
CANH TÂN
ĐẶC SỦNG
CÔNG GIÁO
TÀI
LIỆU *
LỜI CHỨNG
* CẢM
NGHIỆM

Về trang Mục Lục
LỜI CHỨNG
CỦA CHA
JOSEPH
BENSON
Cha
Benson,
Phó Xứ
St.
Edward
tại New
Orleans,
Tổng Giáo
Phận New
Orleans,
Louisiana,
USA.
Tôi được
thụ phong
linh mục
tháng 6
năm 1984
tại một
thị trán
thuộc
Belfast,
Bắc Ái
Nhĩ Lan.
Tôi nghĩ
rằng mẹ
tôi và
tất cả
mọi người
trong
cộng đồng
đều vui
mừng về
biến cố
này.
Khi mới
16 tuổi
tôi đã
thưa với
bố mẹ tôi
là tôi
muốn đi
tu làm
linh mục.
Bố tôi là
người phu
khuân vác
bến tàu
nên ông
kỳ vọng
tôi phải
làm cái
gì cao
hơn là
linh mục.
Mẹ tôi
thì thích
tôi đi
tu, bố
tôi mỉm
cười và
ngồi nhìn
vào lò
lửa và
nói, “Úi
dà! Linh
Mục!”
Ba năm
sau tôi
xin vào
Dòng Chúa
Cứu Thế.
Học được
ba năm,
tôi bỏ
về. Khi
tôi trở
lại, bố
tôi là
người duy
nhất bắt
tay tôi
vì thương
hại. Còn
mẹ tôi
thì nổi
giận vì
thằng con
bỏ tu.
Cái phúc
lớn nhất
ở Ái Nhĩ
Lan là có
con đi tu
làm linh
mục, và
cái phúc
thứ nhì
là có con
tàn tật.
Tôi nghĩ
rằng họ
được cả
hai trong
một! Ở Ái
Nhĩ Lan
khi đứa
con thứ
hai tàn
tật (đặc
biệt là
bệnh thần
kinh) thì
được coi
là thật
sự có
phúc.
Theo
Gaelic
(người
thuộc sắc
dân
Gaelic),
điều đó
có nghĩa
là “Người
được Chúa
đặt tay
lên,” bởi
vì được
kêu gọi
một tình
yêu mới,
một sức
mạnh và
sự dấn
thân mới
cho gia
đình.
Điều đó
luôn làm
cho tôi
thích
thú.
Tôi đã
gặp Chúa
như thế
nào? Tôi
lớn lên
trong một
gia đình
cầu
nguyện
bằng
tràng
chuỗi Mân
Côi. Đó
là một
gia đình
kỳ lạ, có
ba người,
và tôi là
đứa con
duy nhất.
Đó là một
căn nhà
với nhiều
sự căng
thẳng, có
những
điều tôi
hiểu
được, có
điều
không. Bố
tôi rất
yêu mến
tôi và mẹ
tôi. Bố
tôi cũng
yêu ngựa
nữa - đặc
biệt là
con ngựa
dùng để
đánh
“đánh
cá,” và
ông luôn
đánh cá
con ngựa
về cuối
cùng,
nhưng
không chủ
tâm. Khi
bị thua
mất tiền
bạc, ông
chuyển
sang giai
đoạn hai
là uống
rượu. Vì
thế đời
sống của
tôi luôn
căng
thẳng,
tuần này
qua tuần
khác.
Sự căng
thẳng bắt
đầu từ
tối Thứ
Năm khi
bố tôi
say rượu
về nhà,
và kéo
dài tới
sáng Thứ
Bảy thì
những
tảng băng
mới bắt
đầu tan
chảy. Khi
mới 12
tuổi tôi
đã gặp
một
chuyện.
Hôm đó là
ngày Thứ
Bảy, bố
mẹ tôi
không thể
kéo dài
sự bất
hòa đến
buổi
chiều, vì
đó là lúc
phải đi
xưng tội.
Tôi biết
bố mẹ tôi
đã làm
hòa với
nhau tước
khi tôi
phải cuốc
bộ sáu
dặm để đi
xưng tội
nên tôi
rất vui
mừng. Đó
là lần
duy nhất
bố mẹ tôi
được nghỉ
ngơi
thoải
mái.
Tôi học
cách phải
sống thế
nào trong
sự căng
thẳng, và
cũng gặp
Chúa thế
nào trong
tình
trạng
căng
thẳng.
Tôi đã
nhận ra
được
quyền
năng của
Chúa
trong
những
hoàn cảnh
không
nhìn thấy
sự thay
đổi.
Thời gian
tôi được
chữa lành
với bố
tôi xảy
ra ít năm
sau (lúc
đó tôi 28
tuổi và
bố tôi
62), khi
ông qua
đời vì
bệnh ung
thư. Bố
tôi từ
chối
không
chịu đi
bệnh
viện.
Trong
thời gian
chăm sóc
ở nhà,
tôi bắt
đầu hiểu
biết và
yêu mến
bố tôi.
Bố tôi bị
nghẹt van
tim chết
trong tay
mẹ tôi –
ông đã
xin tha
thứ, và
nói rằng
ông luôn
yêu mến
bà, và
cảm tạ
Chúa đã
ban cho
ông có
đời sống
và có cơ
hội để
nói ra
cảm nghĩ
của mình.
Lúc bố
tôi chết,
tôi không
có ở nhà.
Sau những
năm tháng
cầu
nguyện,
săn sóc,
và hy
vọng cho
giờ phút
này. Hơn
100 người
bạn của
bố đã tới
tham dự
đám tang.
Họ là
những
người làm
việc cực
khổ tại
bến tầu,
và đã
nhiều năm
không đến
nhà thờ.
Họ đã
nhìn thấy
sự bình
an của
chúng tôi
và được
đánh động
về tang
lễ cử
hành cầu
cho bố
tôi trở
về với
Chúa.
Ít tháng
sau đó có
một ông
gọi điện
thoại rồi
đến nói
với tôi:
“Này cậu,
đã hơn 30
năm tôi
không đi
nhà thờ.
Bây giờ
tôi đang
trở lại
nhà thờ
và lãnh
nhận các
bí tích.”
Chúng tôi
đã nhận
ra quyền
năng của
Chúa.
Dường như
qua sự
qua sự
cầu
nguyện
cho sự
hòa giải
với một
người,
một gia
đình, mà
nhiều
người
được Chúa
đụng chạm
tới. Điều
đó làm
cho tôi ý
thức về
ván đề
gia đình.
Tôi có
một nhận
thức rất
mạnh mẽ
về gia
đình, đặc
biệt là
vấn đề
sống độc
thân. Tôi
thật sự
săn sóc
cho đời
sống gia
đình. Tôi
đã nhìn
thấy
những sự
thiếu
vắng
trong các
gia đình,
và tôi đã
chứng
kiến sức
mạnh của
sự cầu
nguyện và
đức tin.
Chúa đã
tỏ hiện
cho tôi
nhiều
điều.
Cảm
nghiệm
của tôi
về sự
hiện diện
của Chúa
giúp tôi
trở về
với đời
sống của
Thánh
Phaxicô
Assisi.
Tôi rất
cảm phục
và yêu
mến Thánh
Phaxicô.
Ngài dạy
tôi cầu
nguyện:
“Lạy
Chúa, mọi
sự của
con là
của
Chúa.”
Tôi còn
nhớ, ngay
từ tuổi
13, mỗi
đêm tôi
đã cầu
nguyện
như vậy
cho bố mẹ
tôi. Tôi
cầu
nguyện
cho những
đau khổ
và cô đơn
mà tôi
phải trải
qua. Một
đêm nọ
vào năm
1967,
trong lúc
đang cầu
nguyện,
tôi đã
được Chúa
đánh động
rất mạnh
mẽ. Tôi
đã thực
sự cảm
nghiệm
được sự
hiện diện
của Chúa,
và ngay
sau đó,
tôi muốn
được hiến
dâng đời
sống cho
Ngài. Tôi
cảm tạ
Chúa và
tiếp tục
nuôi
dưỡng ý
định ấy.
Bắt đầu
từ đó,
Chúa tỏ
lộ tình
yêu của
Ngài. Tôi
bắt đầu
thay đổi.
Có rất
nhiều
thách đố
tại quê
hương tôi
lúc đó.
Ái Nhĩ
Lan ở
trong
tình
trạng rất
căng
thẳng,
nhân
quyền bị
tước
đoạt.
Chúng tôi
không có
đời sống
xã hội
tươi đẹp
ở tuổi
trung
học, bởi
vì phải
tập trung
vào chính
trị và
những
thực
trạng xã
hội.
Để làm
người
Công
Giáo,
chúng tôi
phải sống
đời sống
gần như
anh hùng.
Chúng tôi
là gia
đình Công
Giáo duy
nhất
trong khu
vực đó,
và trở
thành
người
Công Giáo
có nghĩa
là phải
đương đầu
với việc
bị ném
đá. Tôi
đã bị
đánh nhừ
tử nhiều
lần suýt
chết.
Ý thức
của tôi
về sự
sống rất
sắc bén
trong môi
trường
đó. Tôi
có một
nhận thức
sâu xa về
tội, và
tội có
thể ảnh
hưởng ra
sao trên
cuộc sống
của tôi,
đồng thời
tôi cũng
nhận thức
được ân
sủng của
Chúa.
Một trong
những tài
năng của
bố tôi là
ông phối
hợp được
sự mềm
dẻo và
cứng rắn.
Trong
những lúc
gặp sự
yếu đuối
thì bố
tôi lại
mạnh mẽ.
Bố tôi đã
dạy tôi
rằng có
sức mạnh
trong sự
yếu đuối,
và đôi
khi yếu
đuối lại
là mặt
khác của
sức mạnh.
Là một
người Ái
Nhĩ Lan
tới sống
trong một
nền văn
hóa khác,
tôi
thường
nhìn vào
những gì
yếu kém
trong
trận
chiến.
Tôi vạch
chúng ra,
và trả
giá!
Tôi đã
tới tham
dự nhiều
buổi cầu
nguyện
chữa lành
nội tâm
trong
giáo xứ.
Tôi luôn
bị gắng
chặt với
sự cô đơn
và cay
đắng,
nghĩ mình
đáng lẽ
phải có
được bố
mẹ tốt
lành hơn
v.v… Dù
thế nào
thì Chúa
cũng đã
ban cho
tôi bố
mẹ, Và
kết quả
là, bố mẹ
là bố mẹ,
và tôi là
tôi. Cảm
tạ Chúa.
Tôi được
Dòng Chúa
Cứu Thế
chấp nhận
năm 18
tuổi. Họ
tưởng
rằng tôi
sẽ mãi
mãi bước
theo ơn
gọi.
Nhưng tôi
đã bỏ
Dòng trở
về nhà
cha mẹ
với một
lô danh
sách đủ
loại nhu
cầu. Bầu
khí gia
đình lặng
câm như
chết
chóc. Tôi
cảm thấy
có cái gì
sai lầm.
Bố tôi
không thể
đối diện
với tôi,
vì thế mẹ
tôi nói
với tôi,
“Mày
không
phải là
con ruột.
Mày là
đứa con
nuôi,
nhưng còn
là đứa
con
hoang!”
Này tôi
đây, tôi
đang cố
gắng bước
vào một
tổ chức
tu trì
dưới lề
luật cũ.
Khi tôi
trở lại
với vị
linh mục
Dòng Chúa
Cứu Thế
và báo
tin cho
ngài,
ngài nhìn
tôi và
nói: “Ở
đâu có ý
muốn, ở
đó có con
đường.”
Tôi quay
sang
Thánh
Alphôngsô
là Quan
Thầy thần
học luân
lý, và
cầu xin,
“Lạy
Thánh
Alphôngsô,
xin chỉ
cho con
con
đường.”
Tôi được
phép gia
nhập Dòng
Chúa Cứu
Thế một
cách rất
thận
trọng và
sống
trong một
chủng
viện 65
người.
Bốn mươi
là chủng
sinh, số
còn lại
là linh
mục và
các thầy.
Đó là
kinh
nghiệm
lần đầu
tôi sống
chung
trong một
nhóm đông
người.
Tôi là
đứa con
một, một
thằng
ngóc được
bố tôi
chiều
chuộng và
yêu
thương
hơn hết
mọi sự.
Bố tôi
thường
uống rượu
say và về
nhà mỗi
Thứ Năm.
Ông ném
mình ngồi
xuống ghế
và nghe
mẹ tôi
giảng
thuyết
khoảng
nửa giờ,
rồi với
một nụ
cười thật
lớn, ông
thọc tay
vào túi
lôi ra
cho tôi
đủ thứ:
hoặc mấy
lon Coke,
kẹo
Chocola,
hoặc báo
tranh
chuyện
vui,
v.v... Mẹ
tôi chỉ
còn biết
kêu lên:
“Tao chịu
thua!” Bố
tôi là
loại
người như
vậy.
Tôi vào
chủng
viện và
sống sự
va chạm
văn hóa
với 65
người
khác. Bạn
thử tưởng
tượng,
mỗi sáng
đánh răng
với hàng
chục
người
khác mà
trước đó
mình chưa
bao giờ
làm thế.
Tôi quen
nếp sống
gia đình,
trước kia
đi tắm tự
do thoải
mái, bây
giờ phải
xếp hàng
đứng đợi.
Phòng óc
chật
chội,
người nọ
đụng nách
người
kia. Một
cộng đoàn
sinh sống
theo kiểu
kỳ lạ làm
chúng tôi
nhận ra
thực chất
con người
của mình.
Khi còn
nhỏ tôi
thường
hay nổi
giận. Tôi
đã trải
qua những
năm giận
dữ trước
khi vào
chủng
viện. Tôi
biết cách
phóng một
cái búa
trúng
người ta
mà không
thể sai
trật. Bạn
coi đó,
tôi phải
cần bao
nhiêu ơn
Chúa để
làm cho
thay đổi?
Trong
thời gian
ở chủng
viện tôi
đã gặp và
làm thân
với một
anh chàng
tên là
Des.
Chúng tôi
trở thành
những
người cấp
tiến tại
chủng
viện
trong
những năm
1970.
Chúng tôi
là những
kẻ đã đem
kinh
hoàng cho
Dòng Chúa
Cứu Thế.
Tôi không
kể cho ai
biết tôi
là con
nuôi. Tôi
không thể
làm điều
đó. Thỉnh
thoảng
Des hỏi
tôi có
chuyện gì
kín ẩn.
Một lần
nọ anh
đến phòng
tôi, khóa
cửa lại,
giữ chìa
khóa và
bắt tôi
phải kể
nếu không
anh sẽ
không ra
về. Khi
kể cho
anh xong,
anh nhìn
tôi và
nói: “Vậy
sao? Dù
anh là ai
tôi vẫn
quý mến
và kính
trọng
anh.” Tôi
đã đập bể
vỏ trứng
và chui
ra, vì
tình bạn.
Khi còn
học chung
với các
chủng
sinh Dòng
Chúa Cứu
Thế, tôi
có đọc
qua tập
sách nhỏ
của Ralph
Martin
tựa đề
Unless
the Lord
Build the
House.
Tôi rất
mê cuốn
sách đó,
và đưa
cho Des
để anh
duyệt lại
cho tôi.
Tập sách
đó nói về
Canh Tân
Đặc Sủng
Thánh
Linh, với
những lời
chia sẻ
của Ralph
Martin
làm chứng
rằng Chúa
đã thay
đổi đời
sống của
anh như
thế nào.
Lời chứng
đó đã
khuấy
động lên
trong tôi
và tôi
nói, “Tôi
muốn được
như vậy.
Tôi muốn
được như
vậy.” Sau
khi đọc
xong cuốn
sách, Des
đem trả
lại cho
tôi và
nói, “Chớ
đụng tới
nó. Một
lũ điên!”
Tôi nói,
“Ok,
tốt.”
Mùa hè
năm đó
Des được
sai đi
Nữu Ước
và tôi
Luân Đôn.
Anh cảm
thấy vui
mừng đi
Nữu Ước,
còn tôi,
một người
Ái Nhĩ
Lan, cảm
thấy như
bị án
phạt phải
đi tới
thủ đô
nước Anh.
Tôi vướng
mắc vào
công việc
mục vụ
tại Luân
Đôn, còn
anh lại
vướng mắc
vào Canh
Tân Đặc
Sủng tại
Nữu Ước!
Trong
chuyến
trở về
nhà từ
Nữu Ước,
anh gọi
cho tôi
từ phi
trường và
nói, “Joe
ơi! Tôi
được ơn
thanh tẩy
trong
Chúa
Thánh
Linh.”
Tôi múa
tay qua
điện
thoại rồi
la lớn,
“Des bị
Chúa đập
bể rồi!”
Từ đầu
giây bên
kia Des
nói tiếp,
“Joe, cậu
đoán thử
xem? Tôi
được ơn
nói tiếng
lạ nữa!”
Tôi dám
chắc rằng
Des đã bị
đập bể
thật rồi.
Anh đã
bảo tôi
đừng dính
líu vào
Canh Tân
Đặc Sủng
Thánh
Linh, cả
một lũ
điên! Thế
mà giờ
đây anh
lại dính
líu vào
lũ điên
và để cho
lũ điên
bắt chộp!
Anh trở
lại chủng
viện và
trong
suốt một
tuần lễ
mọi người
để ý thấy
anh chỉ
im lặng.
Anh không
phải là
người cấp
tiến. Với
chiều cao
6 feet và
nặng 250
cân Anh,
anh không
chỉ có
thể vượt
qua một
người
bằng sức
mạnh thể
xác,
nhưng còn
bằng sự
hiểu biết
nữa. Thật
đáng chú
ý khi mọi
người
thấy anh
giờ đây
ngồi cầu
nguyện
trong
những lúc
không
phải là
giờ cầu
nguyện!
Anh đem
đến cho
tôi một
cuốn nhỏ
tựa đề
“Khóa Học
Hỏi Đời
Sống Mới
Trong
Chúa
Thánh
Linh” và
nói:
“Joe,
ráng đọc
cuốn này
và cho
tôi biết
ý kiến.”
Đây là
lần đầu
trật tự
bị đảo
ngược.
Tôi bắt
đầu đọc
cuốn sách
đó và ba
mươi phút
sau anh
trở lại
phòng tôi
và hỏi
tôi đã
đọc chưa.
“Anh nghĩ
gì về
cuốn sách
đó, Joe?”
“Rất
tốt,”tôi
trả lời.
Anh nói
tiếp: “Để
tôi cầu
nguyện
với anh.”
“Được.”
Và anh đã
cầu
nguyện
với tôi.
Khi đó là
tháng
Chín năm
1972. Anh
bắt đầu
cầu
nguyện:
“Xin ban
ơn cho
Joe.” Anh
ngừng lại
và hỏi
tôi: “Cậu
cảm thấy
thế nào?”
Rồi anh
lại tiếp
tục: “Lạy
Chúa xin
ban ơn,
lòng mến
và bình
an cho
Joe.” Rồi
anh lại
quay sang
hỏi tôi:
“Cậu cảm
thấy thế
nào?” Rồi
anh lại
tiếp tục
cầu
nguyện:
“Xin
Thánh
Thần Chúa
ngự xuống
trên
Joe.” Rồi
anh lại
hỏi: “Cậu
cảm thấy
thế nào?”
Cứ mỗi
lần anh
cầu
nguyện
xong một
câu lại
hỏi tôi:
Cậu cảm
thấy thế
nào?” Anh
rất băn
khoăn lo
lắng. Tôi
cầu
nguyện:
“Lạy
Chúa, xin
làm việc
với con.”
Tôi tiếp
tục nói
với anh,
tôi chẳng
cảm thấy
gì cả.
Tôi chẳng
cảm thấy
gì ngoài
sự bình
an rất
sâu đậm
trong tâm
hồn.
Phải mất
khoảng ba
tháng sau
tôi mới
nhận ra
rằng sự
bình an
đó đã cắt
ngang
những năm
dài lo âu
của tôi.
Sự bình
an đó nói
với tôi:
“Để Ta
thánh hóa
con cho
Ta.” Sự
bình an
đó nói:
“Tại sao
con lo
lắng về
những gì
con không
thể kiểm
soát
được?” Sự
bình an
đó nói
với tôi:
“Tại sao
con bất
an? Người
khác
chẳng
những
chấp nhận
con mà họ
còn khâm
phục con
nữa mà.”
Des và
tôi thành
lập một
nhóm cầu
nguyện
tại
Galway,
nhóm thứ
nhì tại
Ái-nhĩ-lan
bên ngoài
Dublin.
Vì đó là
căn nhà
của Dòng
Chúa Cứu
Thế nên
tất cả
các thày
và các nữ
tu đều
tới tham
dự các
buổi cầu
nguyện.
Nhà dòng
cho phép
như vậy
bởi vì đó
là việc
tốt. Canh
Tân Đặc
Sủng đã
tràn tới
Miền Tây
Ái-nhĩ-lan
và biến
hai ngừơi
bất an
nhất
thành hai
ngừơi
lãnh đạo.
Hầu hết
người ta
đi vào
Canh Tân
với khóa
học hỏi
kéo dài 7
tuần lễ,
nhưng tôi
đã không
tham dự
khóa nàom
chỉ đọc
cuốn sách
của Ralph
Martin.
Ba tháng
sau ngày
bắt đầu
nhóm cầu
nguyện,
chúng tôi
đi tham
dự buổi
hội thảo
dành cho
các cán
bộ điều
hợp toàn
quốc.
Chúng tôi
tự nhìn
vào bản
thân mình
và nói:
“Chúa
đang làm
gì nữa
đây?”
Có một
điều là
sự vui
nhộn. Tôi
không
muốn được
ơn tiếng
lạ. Tôi
nói: “Lạy
Chúa, xin
cứ để con
mãn
nguyện
với sự
bằng an
và thinh
lặng gặp
gỡ Chúa
trong nhà
nguyện là
đủ rồi.
Xin đừng
ban cho
con cái
ơn ngớ
ngẩn đó.”
Des đã
nhiều lần
cố gắng
cầu
nguyện
cho tôi
được ơn
tiếng lạ,
nhưng lần
nào tôi
cũng chặn
lại. Một
tối nọ
trong giờ
cầu
nguyện họ
bắt đầu
hát: “For
You Are
My God,”
tôi được
đánh
động. Tôi
đứng giơ
hai tay
lên và
bắt đầu
hát trong
tiếng lạ.
Tất cả
mọi ngừơi
đều ngưng
lại. Tôi
nói: “Ô,
không!
Không!
Không!”
Tôi đã đi
tham dự
khóa tĩnh
tâm bốn
ngày và
xin Chúa
lấy khỏi
tôi cái
ơn tiếng
lạ đó.
Ngài đã
làm tôi
thỏa
lòng.
Nhưng tôi
lại đi
tham dự
bốn ngày
nữa và
xin Chúa
ban lại
cho tôi
cái ơn kỳ
lạ đó.
Ngài nói
với tôi:
“Ta sẽ
làm cho
con theo
đường lối
của Ta.
Con cứ
việc mở
lòng ra.
Ta sẽ đưa
con đến
nơi nào
con
muốn.”
Tôi đã
thưa “Xin
vâng” với
Chúa.
Tôi đã
rời khỏi
chủng
viện một
thời
gian, và
tôi thật
sự đau
buồn vì
diều đó.
Trong
vòng ít
tháng,
Chúa mặc
khải cho
một vài
người
thấy
trước
hình ảnh
một chiếc
bình đất
được nặn
ra. Và
tôi cũng
được một
vài người
nói cho
biết
những lời
giống như
vậy. Một
cái gì đó
được phục
hồi. Tôi
trở thành
một người
dạy môn
tôn giáo
toán.
Lời hứa
của Chúa
thực hiện
trong đời
sống của
tôi luôn
được liên
kết với
thánh
Phanxicô
Assisi.
Đã hai
lần tôi
xin thánh
Phanxicô
cầu bầu
cho tôi,
tôi đều
được như
ý. Lần
đầu tôi
đến
Assisi
cầu xin
thánh
Phanxicô
giúp tôi
đi tu làm
linh mục.
Lần thứ
hai tôi
tới đó
cầu xin,
và ba năm
sau tôi
đã quyết
định trở
thành
linh mục.
Lời Chúa
đến với
tôi đôi
khi giống
như thế
này: “Hãy
bỏ thân
bằng
quyến
thuộc và
nhà cha
ngươi, và
hãy tới
miền đất
Ta sẽ ban
cho
ngươi."
Những lời
đó dường
như chẳng
bao giờ
có ý
nghĩa gì
đối với
tôi. Ngày
đầu tiên
tôi tới
nước Anh
năm 1982,
tôi được
một người
ra đón
tại phi
trường,
người ấy
nói: “Bạn
đã bỏ
thân bằng
quyến
thuộc và
nhà cha
bạn để
tới đây?”
Người ấy
chẳng
hiểu điều
mình nói
gì, tôi
trả lời:
“Tôi xin
bạn thứ
lỗi?” Anh
lại lập
lại câu
nói vừa
rồi một
lần nữa.
Tôi nói:
“Vâng,
lạy Chúa,
thật hiển
nhiên,
Chúa đã
đưa con
tới nơi
mà con
phải
tới.”
Đó là
những
phần quan
trọng mà
Chúa đã
làm để
Ngài hiện
tỏ. Còn
những
điều khác
là những
việc hằng
ngày thì
Chúa nói
với tôi:
“Khi nào
con mới
giải
quyết vấn
đề này?”
Hoặc “Con
hãy chịu
khó kiên
nhẫn,”
hoặc “Để
Ta đem
con đến
với những
người họ
sẽ làm
điều đó
cho con.”
Bởi vì
qua kinh
nghiệm
của đời
sống tập
thể. Tôi
hiểu rằng
cần phải
tìm những
người có
thể chia
sẻ và lớn
lên với
mình. Tôi
có một
người bạn
linh mục
cùng cầu
nguyện
với tôi
mỗi giờ
ăn trưa.
Chúng tôi
khám phá
ra rằng
chúng tôi
cần phải
tài bồi
cho nhau.
Chúa đã
đưa tôi
vào cuộc
đời và
giúp tôi
giải
quyết rất
nhiều
công
việc. Tôi
xin Ngài
giúp tôi
trong
cách cư
xử và
trong
cách nói
năng. Và
tôi đã
đạt được
nhiều
tiến bộ.
Điều can
đảm là
bạn có
thể để
cho người
khác cùng
chia sẻ
đời sống
với mình
trong các
đường lối
này. Hãy
đi vào,
tìm lấy
một nhóm,
và kiếm
những
người
cùng cầu
nguyện
với mình.
Đừng sợ
khi phải
mời người
khác cầu
nguyện
với bạn.
Tất cả
chúng ta
cần phải
nhớ tới
quyền
năng của
Chúa. Dôi
khi Des
gọi điện
thoại cho
tôi và
nói: “Joe
ơi, đây
là lời
của Chúa
cho anh.”
Và anh đề
cập ngay
đến việc
hối cải
mà tôi
cần phải
đối diện.
Cú gọi
điện
thoại đó
có lẽ
phải trả
tới 20 đô
la, nhưng
Thiên
Chúa dư
thừa,
Ngài được
nói ra
cho tôi
một cách
riêng tư.
Tuy cách
xa hơn
3000 dặm,
nhưng
tình anh
em thật
gần gũi,
quan
trọng và
cần thiết
biết bao?
Chúng ta
không thể
sống cô
đơn một
mình. Là
một linh
mục, linh
mục của
một địa
phận, tôi
không thể
tự sống
cô đơn
một mình.
Chủng
viện đã
huấn
luyện cho
tôi để tự
sống một
mình,
nhưng đã
thất bại,
cảm tạ
Chúa. Nó
thất bại
không nói
cho tôi
về đời
sống tập
thể.
Chúng ta
cần một
đời sống
cầu
nguyện
riêng tư
không lệ
thuộc vào
các người
anh em,
nhưng tôi
tưởng
tượng có
bao nhiêu
người anh
em và chị
em nghĩ
rằng sống
một mình
và làm
những
công việc
riêng của
mình là
đời sống
của người
Kitô hữu!
Chúa
Giêsu đã
không như
vậy! Ngài
là một
trong Ba
Ngôi:
Chúa Cha,
Chúa Con,
và Chúa
Thánh
Thần.
Ngài cần
Chúa Cha
và Chúa
Thánh
Thần.
Chúng ta
cần người
khác.
Chúng ta
cần có
Chúa ở
trong
chúng ta,
sống
trong
chúng ta.
Tôi cần
các anh
chị em để
chuyện
trò và
cùng cầu
nguyện.
Tôi cần
cả đến
một bà cụ
ngồi lần
chuỗi
không
ngừng tay
cả trong
Thánh Lễ.
Bà đến
với tôi
và hỏi:
“Cha đang
làm gì
đó? Con
đã lần
hai tràng
chuỗi cầu
nguyện
cho cha
mỗi tối.”
Chúa đã
đem tất
cả mọi
người đến
với nhau
và nhận
rõ sự cần
thiết của
đời sống
cộng
đoàn.
Là một
đứa trẻ
không hy
vọng,
Chúa đã
nhận tôi,
chúc phúc
cho tôi
với một
gia đình,
và còn
chúc phúc
cho tôi
với sự
hiện diện
của Ngài
và dân
của Ngài.
Trong
những
phúc lành
đó, Danh
Ngài được
vinh hiển
qua những
gì Ngài
thực hiện
qua tôi.
Chúa cũng
đang tiếp
nhận bạn
dù bạn là
gì và
đang ở
bất cứ
đâu. Ngài
chúc phúc
cho bạn
với gia
đình của
Ngài.
Ngài đang
làm gì
với bạn?
Ngài đang
làm gì
với chúng
ta, khi
chúng ta
qui tụ
lại với
nhau như
là dân
của Ngài