Chương Một
Ngài có phải là Đấng Trời sai?
(Lc 7.18-23; Mt 11.2-6)
Theo ngày tháng trôi qua, niềm khao khát được giải phóng của dân Israel càng lớn mạnh. Họ mơ đến một ngày nào xuất hiện người con của Vua Đavít, có mệnh dẫn dắt dân Ngài sống trong công lý và tự do.
Chế độ đô hộ của đế quốc Roma đã khiến người dân kêu gào thấu trời, xin cho xuất hiện một Tân Môsê, sẽ giải phóng dân khỏi nanh vuốt của Con Phượng Hoàng La Mã,(*) mà quân kỳ vẫn đang phất phới trên Đồn Antônia.(**)
Dân chúng, lòng đầy hy vọng, sẵn sàng cầm ngành lá chào đón “Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Chính vào thời ấy, một tiếng hùng mạnh gióng lên phá vỡ u tịch miền hoang sơ, cằn cỗi xứ Yuđê: đó là lời rao giảng của Yoan Tẩy Giả kêu mời dân thống hối và trở về với Thiên Chúa; Yoan Tẩy Giả trở thành ngôi sao sáng trên sân khấu tôn giáo Israel thời bấy giờ.
Từ thủ đô Yêrusalem, kéo đến bờ sông Yođan nơi Yoan Tẩy Giả rao giảng nào lính tráng, nào ký lục, nào các viên chức cầm quyền tôn giáo, để nghe ông giảng và nhờ ông làm phép Thanh tẩy cho. Vai trò của ông mau chóng thu hút quần chúng và trở nên quan trọng, đến nỗi khiến nhiều lần người ta đặt câu hỏi băn khoăn này:
- Phải chăng, ông này là Đấng Thiên Sai?
Nhưng Yoan tuyên xưng sự thật làm nhiều người thất vọng:
“Phần tôi, tôi thanh tẩy bằng nước, đứng giữa các ông Đấng mà các ông không biết, Đấng đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép Ngài” (Yn 1.26-27).
Một biến cố nữa đến làm cho thêm vỡ mộng, đó là vua Hêrôđê bắt ông Yoan im tiếng, bằng cách nhốt ông vào ngục tối của lâu đài trong hoàng cung. Một lần nữa, những hy vọng của dân Israel lại tan thành mây khói. Lại phải chờ, chờ nữa cho tới khi Chúa đến.
- Yoan là tiếng kêu..., thế còn ai sẽ là Lời?
- Yoan là bạn của Tân Lang..., thế khi nào xuất hiện Tân Lang để người dân có thể mừng Tiệc Hôn Lễ với rượu mới của hoan lạc?
- Yoan là chứng nhân của sự sáng..., thế khi nào mới mọc lên ngày mới không còn hoàng hôn và đêm tối?
Rất chóng, từ miền Galilê - chính xác hơn từ một thôn nhỏ Nadarét - xuất hiện một người tên là Giêsu mà dân chúng đi theo và nghe giảng. Ngài làm mọi việc cách hoàn hảo, Ngài không giảng như các Ký lục(*) và Biệt phái vẫn làm. Ngài hiền lành và khiêm nhường trong lòng, và Ngài nói cho mọi người về một Vương quốc công bằng và bình an.
Người ta càng thêm kỳ vọng nơi Ngài. Có người cho Ngài là tiên tri Êlya hay Yêrêmia, hay một tiên tri nào đó. Kẻ khác nghĩ rằng Thiên Chúa đang thăm viếng dân Người. Yoan vốn là anh em họ với Đức Giêsu, biết chắc nhiều điều mà dân chúng không hay. Ông nhận ra rằng người anh em họ này - tức Đức Giêsu - chính là khuôn mặt đã được các lời tiên tri thiên sai loan báo từ trước.
Ngài là:
- Con Đavít: Chiếu theo lời tiên tri của Nathan: một người con của Đavít sẽ ngự trị đời đời trên ngai báu của Israel (2 Samuel 7.13-14). Yoan còn biết rằng tổ tiên của Đức Giêsu thuộc dòng họ hoàng vương của Đavít...
- Sinh bởi một người mẹ đồng trinh: Dấu chỉ mà tiên tri Ysaia đã nêu cho vua Akhaz thời xưa, đó là một trinh nữ sẽ hạ sinh Đấng có tên gọi “Emmanuel”, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta (x. Ys 7.14). Người Mẹ đồng trinh ấy chẳng ai khác ngoài cô Maria, thuộc họ hàng với ông.
- Sinh tại Bêlem: Tiên tri Mica đã nói thế (x. Mi 5.1-3). Đang khi mọi người tưởng lầm Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, do đó họ gọi Ngài là “Người Nadarét”, nhưng Yoan biết dư rằng Ngài sinh tại Bêlem (x. Lc 2.1-20). Như thế, lời tiên tri xưa đã ứng nghiệm.
- Ngài mệnh danh là “Con Người”, dội lại lời tiên tri của Đanien (x. Đn 7.13-14).
- Tên Ngài là “Giêsu”, phản ánh lý tưởng thời thiên sai do tiên tri Yêrêmia mô tả (x. Yr 23.6).(*)
- Được xức dầu bằng Thần Khí: Việc này Yoan là chứng nhân mắt thấy tai nghe hơn ai hết. Lúc xảy ra sự việc tại sông Yođan: Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống từ trời trên Đức Giêsu, và đã đổ tràn nơi Ngài quyền năng, như tiên tri Ysaia đã thoáng thấy từ xưa (x. Ys 11.1-2).
Thế là nơi Đức Giêsu thực hiện mọi lời tiên tri báo trước. Tuy vậy, vẫn còn thiếu một cái gì mà Yoan không thể thấy được, vì ông đang bị giam trong tù: đó là những dấu lạ mà tiên tri Ysaia đã loan báo (Ys 35.5-6), đã mô tả như những dấu biểu hiện của thời thiên sai:
“Bấy giờ mắt kẻ mù sẽ mở, tai người điếc sẽ thông. Bấy giờ què quặt sẽ nhảy nhót tợ hươu nai, lưỡi người câm cũng sẽ reo hò”.
Để thấy rõ hơn, ông Yoan sai hai môn đồ đi để nhận xét tại chỗ. Yoan Tẩy Giả muốn có một lời đáp dứt khoát cho câu hỏi căn bản của lịch sử, nhưng nhất là ông muốn môn đồ mình chứng kiến sự thật. Có thể diễn tả ý muốn của Yoan Tiền Hô trong câu quan trọng sau đây: “Đừng tin vì tôi đã nói cho các người! Hãy đi mà tự mình nhận định!”
Câu hỏi đặt ra cho Đức Giêsu có hai phần:
1. “Ngài có phải là Đấng sẽ đến…?” Nếu phải, cho thấy đi. Đừng cho chúng tôi đi tàu bay giấy! Và đừng chỉ bằng lời nói suông!
Vì trước Ngài nhiều người đã đến, và nói họ là những người toàn dân mong đợi. Thế rồi nhà cầm quyền đã bắt giết họ. Thế là hết. Có vài người khác chẳng làm nên trò trống gì về cuộc giải phóng mà họ rêu rao. Vậy phần Ngài, dấu nào Ngài đưa ra để minh chứng Ngài là Đấng Thiên Sai?
2. “...Hay chúng tôi phải đợi người khác?”. Chúng tôi sẽ cứ là người lữ hành đi mãi mà không bao giờ tới Đất Hứa? Cứ phải cầu khẩn mãi để trời sai xuống Đấng Cứu tinh trần gian?
Hai câu hỏi trên tóm lược ý tưởng và tâm tình của dân Israel: Chúng tôi đã vượt bao chặng đường của lịch sử rồi. Người ta đã làm chúng tôi mệt mỏi bằng bao chủ nghĩa cứu tinh giả hiệu. Chẳng lẽ chúng tôi cứ đợi mãi vô vọng? Chẳng lẽ sẽ cứ còn có những người tự phong cho mình tước “được Chúa xức dầu”, để đến thiết lập vương quốc công bằng, vui mừng và bình an? Chẳng lẽ chúng tôi cứ còn phải cầm đèn dầu, chờ đến khi mặt trời công chính mang sức chữa lành trên cánh tia sáng mọc lên?...
Chúng tôi chán lắm rồi! Biết bao người đã tiếm đoạt cái tước vinh hiển ấy, và chúng tôi đâm ngờ vực tất cả những ai tự cho mình là Đấng Thiên Sai. Chúng tôi không còn ngây ngô như thế nữa, bao lâu chúng tôi chưa thấy tận mắt thực hiện những lời sấm của các sứ ngôn, và phô bày những dấu chỉ cho thấy sự xác thực.
Hãy cho chúng tôi thấy những nét biểu lộ chân tướng của Đấng Thiên Sai, để chúng tôi không còn chút hoài nghi nào, và như thế chúng tôi có thể tin cậy vào Ngài vô điều kiện. Nếu quả đúng Ngài là Đấng Thiên Sai, chúng tôi sẽ theo Ngài và hiến trọn cuộc đời cho Ngài.
Đức Giêsu nghe họ nói, Ngài không đáp lại bằng lời, nhưng bằng hoạt động: chữa lành nhiều người khỏi bịnh hoạn, xua trừ quỷ ám, tẩy sạch người phung cùi, cho kẻ bại liệt chỗi dậy và kẻ chết sống lại. Rồi Ngài bảo họ: “Các ông hãy đi truyền lại cho Yoan mọi điều để mắt thấy tai nghe...”
Quả thật, đã thể hiện thời thiên sai đúng như tiên tri Ysaia mô tả:
“Thần Khí Thiên Chúa ở trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi,
Người đã sai tôi đem tin mừng cho người nghèo khó, băng bó những tấm lòng tan vỡ để tuyên bố lưu đồ được ân xá và mở tù cho người bị cấm cố để ban bố năm ân xá của Thiên Chúa…” (Ys 61.1-2)
Đoạn sấm ngôn này đã được Đức Giêsu chọn, để công bố chương trình hoạt động cứu nhân độ thế của Ngài tại Hội Đường làng Nadarét (x. Lc. 4.18-19). Như thế, Ngài như muốn bảo: “Nếu Ta có thể thực hiện đoạn tiên tri ấy của Kinh Thánh báo trước, thì Ta hẳn phải là Đấng Thiên Sai...”
Điều đó không chỉ dành cho thời xa xưa ấy của lịch sử dân Israel, nhưng là dành cho hết mọi người, mọi thời. Nếu ngày nay, Chúa Giêsu cũng vẫn đáp ứng cái khuôn mẫu ấy, điều đó có nghĩa là Ngài là Đấng Thiên Sai các tiên tri loan báo - Đấng mà mọi dân nước chờ mong và là Cứu Tinh của thế giới.
Còn phần tôi, vì tôi là môn đồ Ngài, tôi xin làm chứng rằng Chúa Giêsu thật là Đấng Thiên Sai. Bởi lẽ nơi Ngài thực hiện ngày nay những dấu chỉ cho thấy Ngài thật đúng như thế. Khắp nơi trên thế giới, Chúa Giêsu tiếp tục bày tỏ Ngài vẫn là Đấng ấy hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời. Đầy quyền năng của Thánh Thần, Ngài làm hiện tỏ trước mắt mọi người những dấu chỉ, khiến người ta nhận ra Ngài là Đấng Trời Sai.(*)
Đức Giêsu đã là Đấng Thiên Sai cho dân Israel cách đây 2000 năm, nhưng đối với chúng ta, những kẻ tin vào Ngài, chúng ta chính là dân Israel của Thiên Chúa. Chính vì thế mà ngày nay, Ngài vẫn tiếp tục mang đến những bằng chứng của tước vị Thiên Sai của Ngài.
Những dấu chỉ ấy dành cho hết mọi người, mọi thời. Ngày nay, Đức Giêsu hiến cho ta những bằng chứng rằng: Ngài không chỉ “đã là” Đấng Thiên Sai, song còn “đang là” Đấng ấy, bởi vì những lời tiên tri xưa báo về Ngài vẫn tiếp tục thực hiện trong thời ta.
Tôi không thể ngưng nói về những gì tôi đã thấy và đã nghe. Tôi cảm thấy bị thúc đẩy chu toàn cái bài sai mà Đức Giêsu đã trao cho 2 môn đồ của Yoan Tẩy Giả:
“Các ông hãy đi tin lại Yoan mọi điều đã mắt thấy tai nghe. Mù được sáng, què được đi, phung hủi được sạch, và điếc được nghe, kẻ chết sống lại, nghèo khó được nghe báo tin mừng” (Lc 7.22).
1. Mù được sáng.
Việc chữa lành mang tính chất thiên sai tuyệt hảo, phải kể là việc mở mắt người mù. Đức Giêsu là sự sáng thế gian (Yn 8.12), và Ngài ban sự sáng ấy cho người mù: đó là dấu sự sáng của Ngài, đưa ta ra khỏi tối tăm của sai lầm và dối trá. Khi Ngài chữa một người mù bẩm sinh (Yn 9). Ngài nhắc nhớ ta rằng: Ngài đã chuyển ta “từ tối tăm vào ánh sáng huyền diệu của Ngài” (1P 2.9).
Mỗi khi một người mù được thấy ánh sáng lại, việc đó cho hiểu: Chúa Giêsu là ánh sáng đến “sáng soi những kẻ ngồi trong tối tăm bóng chết, hầu hướng chân ta đi trên đường bình an” (Lc 1.79). Chứng từ ấy cho thấy Chúa Giêsu là ánh sáng cho người thời nay.
Chúng tôi sắp kết thúc ngày truyền giảng Tin Mừng ở Mbandaka, xứ Zaire.(*) Trong Thánh Lễ bế mạc có 15.000 người dự, một bé gái 8 tuổi, mù từ khi lọt lòng mẹ, bỗng kêu lớn tiếng: “Con thấy được! Con thấy được rồi!”. Người ta xúm quanh em. Lúc ấy em cất tiếng hỏi: “Ai là má của con?”, thế là có hai cánh tay giang ra, đôi mắt đẫm lệ và một nụ cười hiền mẫu đáp lời. Trong vòng tay mẹ, em gái nhỏ thốt lên lớn tiếng: “Ôi, má của con, má đẹp quá!...”
Đó là phép lạ chữa lành người mù bẩm sinh đầu tiên mà tôi được chứng kiến. Song điều quan trọng nhất là chúng tôi nhận thức rằng: Đức Giêsu là sự sáng thế gian, có thể soi sáng đời sống của tất cả những ai thấy cần cứu độ. Khi một người mù bẩm sinh được sáng mắt, chúng ta đứng trước một dấu chỉ hiển nhiên, về việc Chúa Giêsu có thể làm con người ra khỏi tối tăm, mù mịt nhất, và Ngài có thể biến đổi cả yếu tố bẩm sinh, mà tội là yếu tố ác ôn và nặng nề nhất.
Chứng tá sau đây, từ Panama gửi đến, cho thấy dấu chỉ được sáng mắt có thể xảy ra nhiều lần thế nào, nhưng ý nghĩa của nó vẫn mãi mãi y nguyên: Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và vĩnh viễn muôn đời vẫn là một.
Một thứ bảy nọ, trong Thánh Lễ chữa bệnh, Cha Tardif thông báo rằng: Chúa chữa cho một bà bị đau mắt nặng.(**) Không ngần ngừ tôi tự nhủ: “Bà ấy chính là tôi”.
Chúa nhật, Cha thông báo sẽ cầu nguyện cho bệnh nhân, và ông bảo ai đau đâu thì đặt tay mình trên chỗ đó, nếu người ấy muốn xin Chúa chữa lành. Tôi cũng đặt tay trên mắt, và tôi nghe nói Chúa đã chữa lành nhiều phụ nữ bị bệnh cườm mắt. Tôi thốt lên: “Lạy Chúa, nếu đó là con, thì tạ ơn Chúa!”
Khi về tới Đavít, một thành phố lân cận, tôi xin nghe một băng ca nhạc, và chúng tôi mở sách ca nhạc ra. Tôi hết sức kinh ngạc khi thấy mình có thể đọc được rõ chữ. Tôi kêu lên: “Chúa đã chữa tôi lành, tôi đọc chữ rõ ràng”. Ràn rụa nước mắt sung sướng, tôi nhìn thấy những cành liễu, nhìn thấy một cây trĩu quả, một bụi chuối, thảm cỏ xanh… Tôi cất tiếng: “Cảm tạ Chúa đã cho con được chiêm ngắm những tạo vật đẹp đẽ Chúa đã dựng nên trong thiên nhiên”. Tôi cũng thấy cả con đường được ánh đèn pha xe hơi rọi sáng.
Tôi dự định đi Panama, xin bác sĩ Ruben Orilla đặt cho tôi đôi kính mắt để tôi nhìn rõ hơn, điều ấy chắc sẽ giúp tôi nhiều, để có thể chăm nom cho con gái tôi sắp sinh cháu bé đầu lòng.
Tôi cảm tạ Chúa vì tình thương và lòng thương xót của Ngài. Ngài tiếp tục thực hiện biết bao kỳ công giữa dân Ngài. Tôi đưa chứng tá của tôi để mọi người biết Chúa Giêsu đang sống, và Ngài thực hiện cũng những kỳ công như cách đây 2000 năm.
ở Guadalajara, cô Maria M. Perez, phóng viên của nguyệt san “El Occidental”, thuật lại những sự kiện sau đây xảy ra ngày 26/3/87:
Chiều thứ ba 24/3, trong thành phố Espiritu Santo, Cha Tardif thông báo nhiều cuộc chữa lành những bệnh da liễu, cột sống, bả vai, mắt, tai, ung thư, tim, thấp khớp, suyễn, thận và nhiều bệnh khác. Nhưng chắc chắn, cuộc chữa lành đã đánh động những ai có mặt hơn cả là trường hợp của một bé trai 11 tuổi, Alejandro Anguiano Contreras, đã đến dự với hai mắt hầu như mù hẳn.
Dù tuổi còn nhỏ, em đã chịu 4 lần mổ tại bệnh viện, và các bác sĩ đã báo cho mẹ em - bà Maria Contreras - rằng: “Con bà không thể chữa được và tốt nhất là bà nên tìm cho em một trường mù”. Chiều hôm đó, trong buổi cầu nguyện, em đã mở mắt ra và thấy lại được. Cả hai mẹ con đều khóc sướt mướt vì cảm động, khi cậu bé lại nhìn thấy màu sắc, hoa và các người đang đứng chung quanh.
Chứng tá sau đây của bệnh nhân đã được khỏi trước đám đông 40.000 người đến dự Đại Hội Canh Tân ở Rimini bên Ý, năm 1988. Chứng tá này rất cảm động, vì chính cậu bé trai chưa đầy 12 tuổi kể lại:
“Tôi tên là Luca Pilo và tôi ở Canegratê (Milanô), tôi lên 12 tuổi, đang học phổ thông cấp 2. Từ hai năm nay, tôi tham dự nhóm Canh Tân trong Thánh Linh. Năm nay, tôi đến dự cuộc đại hội toàn quốc với dì tôi là Luciana và vài thành viên của nhóm. Điều xảy ra đã vượt quá lòng tôi mong đợi.
Tôi sinh ra đã bị hư thần kinh thị giác, và vì thế không phân biệt được màu sắc. Tôi đã mổ ở một dưỡng đường ở Varese năm 1984. Vì tôi không thể đi một mình, nên luôn phải có người đi kèm tôi để đến trường, đến nhà thờ hoặc đến nơi nọ nơi kia.
Cách đây vài hôm, tôi nói với các bạn: “Tôi sẽ đi dự đại hội ở Rimini, và ở đó, hoặc Chúa sẽ chữa tôi, hoặc Ngài sẽ đưa tôi về thiên đàng. Hôm qua (23/4) tôi đã cầu nguyện cách đặc biệt xin Chúa chữa tôi”.
Trong khi Cha E. Tardif cầu nguyện cho bệnh nhân, tôi cảm thấy như có ai cầm lấy tay, và tôi thấy từ mắt tôi rơi xuống như những cái vẩy, làm tôi nhớ đến trường hợp của Thánh Phaolô cũng xảy ra như vậy khi ông trở lại cùng Chúa. Tôi nói cho dì tôi đang đứng bên cạnh biết. Dì tôi cầm tay tôi, và vì bà thấy tay tôi lạnh ngắt, dì tôi tưởng tôi bị ngã bệnh. Tôi đáp: “Cháu thấy khỏe mạnh, cháu muốn bỏ kính đen ra, vì cháu thấy được rồi”.
Tôi kiếm một chiếc khăn tay trắng để biểu lộ đã được lành bệnh. Chính lúc đó, máy phát thanh loan báo một trẻ em được Chúa chữa khỏi mù. Tôi vô cùng cảm động vì cảm thấy tình Chúa Giêsu thương tôi khi chữa tôi lành mắt. Tôi đứng dậy và bước ra khỏi các bậc cấp. Cặp kính của tôi từ hôm qua nằm yên trong sách tay của dì tôi để trong tủ của khách sạn! Cám ơn Chúa Giêsu!”
Tiên tri Ysaia đã quả quyết về thời thiên sai: “Khi ấy, mù sẽ được sáng”. Nếu Chúa Giêsu ngày nay mở mắt người mù, điều đó có nghĩa là chúng ta hiện nay đang ở vào “khi ấy” mà vị ngôn sứ muốn nói đến.
Đúng vậy, chúng ta đang sống ở thời thiên sai!
2. Què được đi.
Mặc dầu còn thắc mắc nhiều trong các dấu chỉ, nhưng dấu chỉ người bất toại đứng dậy đi là cách thể hiện đặc biệt, để minh chứng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai Cứu Thế.
Chính Ngài tuyên bố điều đó khi Ngài nói cùng người bất toại:
“Để các ông biết con người có quyền tha tội dưới đất... Ta bảo ngươi: hãy chỗi dậy vác lấy mền chõng mà về nhà!” (Mc 2.10-11).
Ngày nay, Chúa Giêsu làm rất nhiều dấu chỉ. Chứng tá sau đây thật tuyệt vời. Cô Giovanna kể cho chúng ta tất cả các quá trình khỏi bệnh của cô kết thúc vào ngày 6/7/86, ở Laureana Cilento, nước Ý. Đáng để ý nhất là vai trò rao truyền Tin Mừng của một cộng đoàn đã dẫn đưa cô đến chân Chúa Giêsu.
“Tôi tên là Giovanna Monnzo, 19 tuổi, và tôi muốn thuật lại những điều kỳ diệu mà Chúa Giêsu đã thực hiện trong đời tôi. Ngài đã cho tôi tái sinh lại, sau 14 năm sống dật dờ trong một cuộc đời vô vị. Từ lọt lòng mẹ, tôi đã mắc một bệnh lạ trong xương mà ít bác sĩ biết đến, và rất hiếm có bác sĩ biết chữa trị. Đây là một bệnh di truyền, nó làm cho xương yếu đi, và xương mục dần dần do một sự mất calci liên tục (Ostéoporose, tức loãng xương). Tôi chỉ mới sanh ra được 40 ngày, thế mà vì thấy tôi khóc hoài, ba má tôi mới khám phá ra là tôi bị gẫy xương đùi bên phải. Họ đưa tới bệnh viện, nhưng các bác sĩ không biết cái gì đã xảy ra, lại làm cho bệnh thêm tệ hơn.
Sau 4 cuộc giải phẫu và 4 năm nằm nhà thương, người ta nói với cha mẹ tôi rằng khi tôi tới tuổi dậy thì, thì một là chết, hai là tôi sẽ bị bại liệt. Nhưng cha mẹ tôi mặc dù nghèo, nhất định không chịu bó tay, họ đưa tôi tới viện chỉnh hình Rizzdi ở Bologne (Ý). ở̉ đó, người ta bắt đầu một loạt giải phẫu cho tôi: tổng cộng tôi chịu 18 lần mổ, lần cuối cùng cách đây 5 năm. Khi tôi lên 14 tuổi, trái tim tôi tràn đầy cay đắng. Những bộ mặt duy nhất mà tôi thấy hoài đó là cha mẹ và những bác sĩ của nước Ý. Tôi chán nản và tuyệt vọng. Tôi muốn tự hủy mình và hủy diệt cả những người khác luôn. Tại sao tôi lại bị kết án suốt đời trên chiếc xe lăn này?
Tôi càng điên tiết hơn, khi thấy các bạn trẻ cùng tuổi ở các nhà lân cận chơi đùa ngoài sân, còn tôi thì chôn chặt trên giường hay đôi khi trên chiếc ghế bành vì một việc gẫy xương mới lại xảy ra. Hoàn cảnh ấy khiến tôi chọn một giải pháp độc nhất vừa tầm tay tôi: tự sát! Tôi không còn có thể chịu đựng nổi cuộc sống trống rỗng và khốn nạn này. Tôi muốn người ta chỉ cho tôi thấy Thiên Chúa, nhưng tôi lại không thể hiểu nổi có một Thiên Chúa tốt lành và toàn năng, phép tắc, mà lại để tôi phải đau đớn dường này. Đối với tôi, Thiên Chúa chỉ là trò người ta bày vẽ ra. Và nếu người ta nói với tôi về Thiên Chúa thì tôi trả lời là: nếu ông Thiên Chúa ấy có thật, thì ông là một Thiên Chúa độc ác.
Suốt kỳ hè 1985, tôi đã thử bằng nhiều cách để chấm dứt cái mà người ta dám nói là cuộc sống. Một sáng tháng 7, tôi tìm được một cách chắc chắn không ai có thể cứu vãn được để thi hành dự định: leo qua ban công và gieo mình xuống..., thế là không bao giờ người ta còn có thể cứu tôi được nữa.
Vậy, tôi từ từ bò tới ban công, và khi chỉ còn cần một chút cố gắng nữa là tôi có thể lao mình xuống khoảng không, thì Chúa đến can thiệp một cách bất ngờ. Chính khoảnh khắc đó, bà tôi gọi tôi vì có những người đến muốn làm quen với tôi. Tôi nổi sùng vì thấy rằng muốn chết, tôi cũng chẳng được tự do mà chết...
Mùa hè năm ấy, cha Miguel Vassallo mở một “Nhà cầu nguyện Thánh Micae”, và đã mời nhiều bạn trẻ đến dự một tuần tĩnh tâm cầu nguyện và rao truyền Tin Mừng. Rồi họ chia nhau thành từng nhóm, đi khắp khu phố, mang lời Chúa Giêsu cho người ta. Hai người trong số đó - chị Rossellina và Sabina - đến nhà tôi vào đúng lúc tôi định tự vẫn!
Tôi ngồi trên xe lăn vào phòng cơm. Như mọi lần, tôi bày tỏ tất cả sự giận dữ và buồn bực. Hai chị ấy không phản ứng cũng chẳng áp đặt cho tôi điều gì, nhưng họ thông cảm với tôi. Thay vì cho tôi thấy tôi là một bệnh nhân, thì họ hiến cho tôi một nụ cười và nói với tôi một giọng dịu dàng và âu yếm, mà tôi chưa từng gặp bao giờ trước đây. Tình thương ấy làm thái độ gây hấn của tôi dịu xuống, tôi không thể đấu tranh với những người chị em đến không để tấn công tôi!
Sau đó, họ nói rằng họ muốn giới thiệu cho tôi một người bạn. Tôi chờ người bạn ấy bước vào..., song họ bảo rằng: người bạn ấy tên là Giêsu và họ bắt đầu nói với tôi về Ngài. Tôi hỏi họ tại sao cái ông Giêsu ấy lại bắt tôi phải đau đớn thế này. Khi họ nói rằng Ngài thương yêu tôi, tôi đáp lại rằng: nếu bằng cách đau đớn thế này mà Ngài muốn tỏ tình thương với tôi, thì tôi không thèm tình thương của Ngài. Họ cố gắng trả lời các vấn nạn của tôi với một vẻ nhân từ, rộng lượng và dịu dàng. Và họ nói đến bi kịch huyền bí của sự đau khổ trong thế gian, dưới ánh sáng của thập tự giá vừa là bằng chứng của đau khổ, vừa là dấu chỉ toàn thắng trên đau khổ ấy.
Tôi cảm thấy một luồng khí nóng ran trong thân thể mà không hiểu do đâu. Nó như một sự vuốt ve của tình yêu mà tôi chưa bao giờ có được.
Một mặt, tôi mong họ về đi để tôi có thể trở lại cái ban công và nhảy xuống; mặt khác, tôi mong họ ban cho tôi làn dầu thơm làm dịu nỗi bi ai của đời tôi. Tôi chấp nhận tình bạn của họ, nhưng với một điều kiện: đừng nói đến cái ông Giêsu bắt tôi phải chung vai vác thập giá với ông nữa. Họ đồng ý và ra về với lời hứa sẽ trở lại thăm tôi một ngày khác. Trong thời gian ấy, tôi thỉnh thoảng tự hỏi mình: “ủa! Cái gì đã xảy ra vậy?”
Họ trở lại ngay chiều hôm đó cùng với 20 người nữa, ai ai cũng có một nụ cười và sự dịu dàng ấy. Họ dọn một buổi lễ lớn mừng tôi, và cống hiến tất cả thời giờ của họ cho tôi mà không đòi chút gì đền đáp. Hôm ấy, lần đầu tiên từ 18 năm, tôi mỉm cưởi. Sau khi nói chuyện, chị Rosa Maria đề nghị chúng tôi tất cả cùng cầu nguyện. Tôi bực mình lắm, vì họ đã lỗi giao hẹn, nhưng tôi cũng đành phải nhận vì để cảm ơn tất cả những điều họ đã làm cho tôi, chứ không phải tôi đồng ý với họ.
Trong lúc cầu nguyện, chị Rosa Maria xin Chúa Giêsu nói cho biết Ngài có muốn chữa cho tôi không. Và chị mở Kinh Thánh ra và lấy đoạn kể chuyện ông bất toại không thể xuống ao một mình khi thiên sứ khuấy động nước, lúc ấy Chúa Giêsu đến và chữa ông lành (x. Yn 5.1-18). Đọc đoạn ấy xong, tất cả đều khóc và đến ôm hôn tôi, đoan chắc với tôi rằng Chúa Giêsu sẽ chữa lành tôi. Tôi tuyệt nhiên chẳng hiểu gì, tôi nghĩ rằng đây là một trò hề mà họ đã bàn nhau trước, hoặc có lẽ họ muốn đùa bỡn tôi. Tôi cự lại, không muốn hi vọng vào việc chữa lành, vì sợ bị đánh lừa. Nhưng tôi cũng tự hỏi: cho dù vậy, tại sao họ làm tất cả những điều ấy, đang khi tôi có gì để đáp lễ lại cho họ đâu?
Vào tháng chín, tôi sắp phải chịu một ca mổ phức tạp, giống ca mổ lần trước suýt nữa làm tôi vong mạng. Nhưng xét thấy mình chẳng còn gì để mất, nên tôi nhất định nhận chịu mổ: đây là chuyện trồng lại 10 phân xương ở đùi mà những năm trước họ đã cắt đi của tôi. Và họ định làm cho nó lớn lên nhờ nuôi dưỡng bằng chất “Calcitar”, nhưng dược liệu này mạnh đến nỗi tôi phải thôi không dùng vì tránh nạn cấp suy (collapsus).
Khi tôi đến bác sĩ khám lại, chúng tôi thấy bằng chứng Chúa Giêsu đã bắt đầu hoạt động trong đời tôi. Khúc xương đã lớn lên và vết thương hoàn toàn đóng sẹo.
Tôi trở về nhà, nhưng luôn luôn câu hỏi này ám ảnh tôi: Phải chăng Chúa Giêsu đang săn sóc tôi?
Mùa hè năm sau, chị Rosellina đến với chị Rosa Maria, cùng với hai bạn trai: Pino và Simon, hai thiên thần mới cùng với những bạn khác giúp tôi biết Chúa Giêsu.
Pino tỏ ra là người anh lớn tốt lành như tôi chưa từng gặp: anh lưu tâm hết sức đến chuyện của tôi, anh hiểu tôi cần những việc làm hơn lời nói, và cho biết làm thế nào để yêu mến mà đừng tùy thuộc vào anh cũng như vào bất cứ người trần nào khác, nhưng chỉ vào một mình Thiên Chúa.
Anh lập một nhóm cầu nguyện, trong đó tôi có dịp được nếm tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa. Chính ở đó, tôi đã học cách nghe tiếng Chúa Giêsu trong thinh lặng, và biết nói chuyện với Thiên Chúa như với một người bạn tri kỷ. Lúc ấy, việc khỏi bệnh của tôi, tôi chẳng còn lưu tâm nữa. Thế là phép lạ đã xảy ra cho tôi: Chúa Giêsu đã ban lại cho tôi hương vị của đời sống: tôi yêu và được yêu.
Một hôm, Cha Miguel Vassallo rất phấn khởi báo tin cho chúng tôi rằng Cha Emiliano Tardif sắp đến. Cha đã đi đây đi đó khắp thế giới cầu nguyện chữa lành cho bệnh nhân, và Cha sắp vượt dãy núi Cilento để đến nói cho chúng tôi về những việc lạ lùng của Thiên Chúa.
Chúng tôi rất vui sướng, vừa cầu nguyện vừa chuẩn bị cuộc tĩnh tâm. Đang khi mỗi bạn đoan chắc với tôi rằng sắp đến “đại nhật của Chúa cho đời tôi”, thì riêng phần tôi, ngồi trên xe lăn, tôi dâng các đau đớn cho cuộc tĩnh tâm được thành công. Không chút ngần ngừ, chị Alexandra nói chắc với tôi rằng: chiếc xe lăn này không bao lâu sẽ chẳng có tôi ngồi trên đó...
Cuối cùng ngày mong đợi đã đến. Tất cả đều tưng bừng, vui vẻ và hi vọng. Từ khắp cả nước Ý, ngay cả từ những nước khác của Âu Châu, dân chúng ùn ùn kéo đến. Ngày thứ 7, từ lễ đài, người ta công bố rằng Chúa Giêsu chữa cả tâm hồn lẫn thể xác.
Hôm sau, nhiều người lên làm chứng đã được chữa lành, giữa những tiếng ca ngợi Thiên Chúa của dân chúng. Một bạn trẻ trong nhóm chúng tôi, thấy đã xảy ra nhiều việc lành bệnh như thế, liền kêu nài với Chúa: “Hỡi Chúa Giêsu! Chúa đã chữa lành người ta từ Thụy Sĩ đến, Chúa đã chữa bà kia ở Milanô khỏi điếc, Chúa đã ban phát bao phúc lành cho tứ phương, nhưng ở đây, nơi chúng con đã chuẩn bị cho Chúa một đại lễ, Chúa lại không chữa ai lành ư? Chúa không thể tiếp tục như thế... Người ta ở đây sẽ nói sao?”
Chúa nhật, lời giảng nói về Chúa Giêsu có mọi quyền bính trên trời, dưới đất. Trong lúc cầu nguyện cho bệnh nhân, tôi nghe thấy Cha loan báo Chúa đang chữa lành một người bại liệt, và người ấy đang cảm thấy một sức nóng như lửa đốt nơi chân, vì Thánh Linh Thiên Chúa đang tác động nơi người ấy.
Quả thật, tôi cảm thấy một sức nóng như lửa từ từ lan khắp đôi chân tôi, nhưng tôi nghĩ rằng đây là do cảm động và niềm vui được đến dự buổi đại hội. Cha nói thêm: “Lúc này đây, Chúa thực hiện một việc chữa lành rất lớn...” Tim tôi đập thình thịch... Sau một lúc - mà tôi tưởng là một thế kỷ -, Cha thêm: “Chúa Giêsu chữa một người bất toại”. Chị Alexandra ngồi cạnh tôi, kêu lên: “Chính là em đó, Giovanna!”
Tôi thấy ánh mắt của những người thương yêu quay về phía tôi. Chị Alexandra khóc, nhưng tôi không thể bước một bước liều trong lòng tin. Lúc ấy, Cha Tardif nói chính xác: “Con đang cảm thấy một sức nóng ran trong thân thể”. Đúng vậy, tôi đang cảm thấy như thế. Nhưng tôi vẫn còn phân vân: do khí trời nóng hay biết đâu do cảm động? “Nhân danh Chúa Giêsu, con hãy chỗi dậy!”, Cha truyền lệnh. Lúc ấy, tôi không còn nghĩ đến mình, nhưng đến Chúa Giêsu, đối với Ngài chẳng có gì Ngài không thể làm được. Tự mình, tôi đứng dậy và lần đầu tiên trong đời, tôi tiến đến gần bàn thờ. Các bạn tôi khóc lóc, có người lại cười, mọi người ôm hôn tôi, kẻ khác hôn vào tóc, vào má. Thật cứ như một nhà thương điên...!
Tôi cảm thấy mình rất nhẹ nhàng, hầu như thân tôi không nặng ký nào cả. Không nhờ ai nâng đỡ, tôi bước lên các bậc cấp của Lễ đài, đến bên bàn thờ và ở đó tôi tôn vinh Chúa Giêsu về việc Ngài đã làm cho tôi. Chị Alexandra khóc, các bạn khác hầu như không tin nổi. Có một anh bạn sững người không nói được đến 5 tiếng đồng hồ, vì thấy tôi bước đi…
Chiếc xe lăn của tôi nay trống không...
Tôi không cần nạng. Từ đấy tôi sống bình thường. Tôi làm trong văn phòng của Cha Miguel. Mỗi ngày, tôi đều lên xuống bậc thang. Thiên Chúa đã xử tốt lành với tôi. Tính gây hấn của tôi không còn nữa. Chỉ còn một điều làm tôi bực bội: Lòng cứng tin của những kẻ không biết đến cái trống rỗng ghê sợ của quãng đời đã qua của tôi. Tôi đem sức khỏe của tôi phục vụ tha nhân, và tôi khám phá rằng đời tôi có ích và nhiều người cần đến nó.
Chứng tá rất đẹp vừa rồi bao gồm điều cho ta học đòi: Giovanna đã được loan báo Tin Mừng một cách yêu thương do một cọng đoàn dấn thân phục vụ cô. Cả trước khi chữa lành, cô đã được giải thoát khỏi những cay đắng trong lòng. Và điểm cuối cùng, cô đã đem sức khỏe phục vụ kẻ khác.
Khi Chúa chữa lành thể xác, hoạt động của Ngài lan ra trọn vẹn cả con người.
Myriam Lejeune, ở Lyon, nước Pháp, sẽ cho thấy việc chữa lành thể xác đi kèm với sự phục hồi trọn vẹn cả con người làm sao. Chúa Giêsu không đến để chữa bệnh bất toại, mà chữa người bất toại, nghĩa là toàn vẹn con người:
Trước khi làm chứng, tôi muốn cảm tạ Chúa Giêsu vì đã bày tỏ cho chúng ta gương mặt thật của Thiên Chúa - gương mặt trọn vẹn yêu thương. Tôi muốn chúc tụng Người, vì đã ghé mắt nhìn đến mỗi người chúng ta, bây giờ và hằng giây phút. Riêng tôi, đã cảm thấy cái nhìn ấy trong chiến dịch rao truyền Tin Mừng ở Genève 1981.
Tôi là con thứ 3 trong 10 anh em. Vì cha mẹ thương con, nên tôi đã được giáo dục trong đức tin Kitô giáo. Chúng tôi đọc kinh hằng ngày và đều đặn đi lễ nhà thờ.
Tôi sống sung sướng trong thời kỳ là sinh viên y khoa. Bất ngờ, trong một phiên trực đêm ở khu vực giải phẫu, khi nâng một bệnh nhân lên, tôi đã bị bể một miếng xương nằm giữa hai đốt xương sống (đĩa gian đốt sống), gây thành bệnh thoát vị đĩa cột sống trầm trọng, với hội chứng cột xương sống cấp tính, cần phải giải phẫu gấp. Kết quả cuộc chẩn bệnh ấy do bác sĩ trưởng phòng giải phẫu thần kinh nói ra, nhưng tôi không hiểu vì lý do gì ông lại hoãn cuộc giải phẫu đến 48 tiếng, điều đó gây cho tôi một tật nguyền không thể thay đổi được.
Bất cứ một cử động nhỏ nào cũng đều làm tôi đau đớn. Trên cái thẹo của bệnh thoát vị đĩa cột sống, bây giờ phát ra một viêm đốt sống làm tê liệt: điều này được bác sĩ khám và rọi quang tuyến xác nhận.
Đối với tôi, trước mắt là sự bại liệt tuần tự và tiến hóa. Những đau đớn thật khó tả đến nỗi tận đáy sâu con người tôi rên lên, đòi phải trợ giúp. Trạng thái tâm hồn tôi trải qua những giai đoạn khủng khiếp: Tôi nổi loạn chống lại Chúa, vì tôi cho Ngài là thủ phạm của sự bại liệt của tôi; chống lại gia đình, chống lại chính bản thân và nhất là chống lại y khoa. Tôi chẳng thèm hi vọng gì. Tôi ghét thân thể tôi, nó chẳng ích gì cho tôi ngoài việc nó làm tôi đau đớn liên miên. Hành trình cứu thoát tôi bắt đầu ở Strasbourg, trong một cộng đoàn Canh Tân gọi là “Giếng Yacob”, và nhờ các bạn tôi mà tôi mới bằng lòng tha thứ cho y khoa. Khi vượt qua được bước ấy, tôi đã làm hòa với y khoa và học đến hết khóa. Lúc ấy, tôi sống trong một giai đoạn mà tôi cảm thấy được Chúa nghe lời tôi thật sự, khi tôi đến quì trước chân Chúa. Sau đó, ở Lyon, tôi gặp những anh em trong nhóm “Con đường mới”, họ dạy tôi làm sao để Chúa thương mình, nhất là tôi học được tha thứ là gì.
Các đau đớn của tôi đã làm tôi vẽ ra một gương mặt méo mó của Thiên Chúa quan tòa, dễ sợ và hay đánh phạt. Tôi xin Người tha thứ, và từ bỏ sự nổi loạn của tôi chống Người và gia đình tôi. Nhưng còn phải đi một đoạn đường dài nữa tôi mới có thể tha thứ cho chính mình (mới có thể chấp nhận mình trong tình trạng hiện tại). Tất cả những giai đoạn tha thứ và hòa giải này có tính quyết định cho đời tôi. Tôi nhận thấy sự tha thứ có sức làm sống dậy rất hiệu quả.
Trong khi đó, các đau đớn vẫn cứ hành hạ tôi mà còn đâm nặng hơn, nhưng tôi đã tập quen chịu khổ rồi.
Những đau đớn mạnh mẽ đến nỗi tôi phải đứng dậy đi đi lại lại suốt đêm: chỉ có cách đó mới làm dịu cơn đau hành hạ. Tôi đã đi thăm hỏi những chuyên gia giải phẫu thần kinh có tiếng ở Pháp, nhưng chẳng kết quả gì. Trong một buổi tĩnh tâm của nhóm “Con đường mới”, một nữ tu hỏi tôi: “Em đã xin Chúa chữa lành lưng chưa?”
Câu hỏi làm tôi ngạc nhiên. Tôi cứ nghĩ mình chỉ cần sống ơn chữa lành bên trong nội tâm thôi, nên tôi đáp cách chắc nịch: “Em không xin cho em, nhưng có xin cho người khác”. Chính câu hỏi ấy đã đưa tôi đến dự chiến dịch rao giảng Tin Mừng ở Genève với Cha E. Tardif. Ba má tôi cùng đi theo, còn tôi nằm dài trong xe, vì các đau đớn hành tôi dữ quá khiến tôi không thể ngồi nổi. Một lúc kia, tôi phát khóc kêu van xin Thiên Chúa thương xót. Đau đớn này là một ơn sủng, vì nó làm tôi thấy nghèo khó trước mặt Chúa, cần phải xin Ngài cứu giúp. Tôi quì xuống trước Chúa, hai bàn tay trắng mở đón, và Ngài đã tỏ ra cho tôi thấy khuôn mặt thật của tình yêu thương xót của Ngài.
Trong buổi cầu nguyện, Cha Tardif loan báo: “Một người đang đau cột sống rất nhiều và không thể cử động được, người ấy đang cảm thấy một luồng nóng từ xương sống dâng lên đến đầu”. Nghe nói thế, tôi bắt đầu cầu xin cho người anh em nào đó đang được ơn chữa lành ấy. Bất chợt, tôi sững sốt nghĩ: “ủa, Myriam, ngươi đang cảm thấy gì đây?”
Quả thực, một luồng nóng mạnh mẽ từ cột sống xuyên lên tận đầu. Thật tuyệt diệu! Tôi biết Chúa thật sự đang chạm vào tôi, và tôi ở yên hưởng cái ơn trong thân mình. Chúa còn đi xa hơn: cạnh tôi có một cô gái mà tôi không quen, cô nắm tay tôi và nói: “Chiều nay, Chúa đã chạm đến chị, em chắc vậy!”. Đó là lời xác nhận Chúa đang chữa lành tôi.
Chúng tôi trở về nhà, nhưng lần này tôi ngồi được trong xe. Tôi có một xác tín tuyệt đối trong lòng rằng: Chúa muốn ban lại sức khỏe cho tôi để tôi chu toàn nhiệm vụ.
Việc chữa lành xảy ra từ từ, trong vòng 6 đến 8 tháng. Dần dần, các đau đớn biến mất, bắt đầu tôi ngủ yên hai đêm không đau đớn, rồi một tuần và cuối cùng, đau đớn chỉ thỉnh thoảng mới đến, thành ra tôi ngủ nhiều đêm trọn giấc.
Đó là Chúa đã đáp lại lời tôi xin Ngài: “Lạy Chúa, nếu Chúa cần con làm một bác sĩ, và nếu Chúa muốn, xin hãy ban lại cho con một thân thể lành mạnh”.
Chúa đã chữa tôi lành!
Như vậy, khi đã chữa thân thể tôi, Chúa còn khiến tôi đi theo một con đường nội tâm nữa. Khi người ta bắt gặp cái nhìn của Chúa, khi người ta chấp nhận tình yêu Chúa trong đời, thì xảy ra việc chữa lành thân xác, linh hồn và trí khôn, để đến lượt ta, ta có thể là lời của Chúa, sự vui mừng và ánh sáng của Ngài.
Sau thời gian dài gớm ghét y khoa, nay tôi sung sướng được làm bác sĩ y khoa. Trước kia tôi muốn là một bác sĩ Kitô giáo, nhưng sau ơn chữa lành cả xác hồn, tôi là một Kitô hữu (làm) bác sĩ. Hai cái đó khác nhau lắm!
Trong chức nghiệp, tôi được ơn sờ đụng thấy lòng thương xót của Chúa, và thông truyền cái nhìn yêu thương cùng sự sống của Ngài mà tôi lãnh nhận hằng ngày. Tôi ưa trưng ra câu này: “Bác sĩ thì trợ giúp, Chúa Giêsu mới chữa lành và ban sự sống”.
Chúa Giêsu đã chữa tôi lành hoàn toàn, toàn vẹn, vì Ngài đã tha thứ cho tôi trong quãng thời gian tội lỗi và tối tăm tôi đã sống. Ngài ban cho tôi ánh sáng bên trong, tăng sức để tôi có thể phản chiếu ánh sáng và sự sống. Ngài đã hoàn lại cho tôi chân tính kẻ làm con cái Thiên Chúa, mà tôi đã để mờ nhòa, âm ỉ từ khi chịu phép Thanh Tẩy.
Muôn vàn chúc tụng Chúa vì dự phóng vô cùng tốt đẹp của Ngài trên đời sống mỗi người chúng ta!
Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đã chữa người bất toại để minh chứng Con Người có quyền tha tội; thì ngày nay, khi chữa những người bất toại, Ngài cũng bảo ta phải công bố cũng một chân lý ấy: Ngài là Đấng Thiên Sai phái đến trong thế gian.
Bất toại là phản ánh của cái chết mà ta đang bị giam giữ trong đó vì đã phạm tội. Đức Giêsu đã nhiều lần cho những người bất toại chỗi dậy đi, và đã làm cho những người có một chi thể bại liệt được lành lặn, chính là muốn nói: Ngài cứu loài người ra khỏi cái chết là sự bại liệt, vô dụng cho đời. Qua cách đó, Ngài biểu lộ quyền năng có thể tha tội của Ngài, vì tha tội là cho người ta chỗi dậy ra khỏi cái chết im lìm, bất động của linh hồn.
Việc chữa lành mang lại kết quả không những cho người bệnh, mà còn cho cả cộng đoàn của họ, như chứng tá sau đây xác nhận, do người anh của người được chữa lành kể lại:
José Ramon Rosario Sanchez sinh ở San Victor, thuộc xã Moca, ngày 2/1/1949. Ngay từ mới sinh, nó đã gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, luôn luôn cần đến bệnh viện để săn sóc, canh chừng. Trục trặc đầu tiên các bác sĩ khám phá ra là bệnh tiểu đường. Một thời gian dài, các y sĩ cho rằng nó thiếu chất tụy tinh (insuline), và bắt nó theo một chế độ kiêng khem nhặt, gây hậu quả tai hại là thiếu máu trong cơ thể mỏng manh của nó. Cái đó đã dẫn đến việc phải cho nó vào nằm bệnh viện Angelita ở thủ đô. Các nỗ lực của thuốc men tỏ ra chẳng hiệu quả. Việc thiếu máu mỗi ngày làm hao mòn thân thể đứa bé.
Với thời gian, người ta cần xét lại vấn đề nằm bệnh viện, nhưng bệnh tiểu đường lại biểu lộ những điều khác thường, làm các bác sĩ phải xem xét lại trường hợp của nó cách cẩn thận hơn. Đang khi đó, José đang phải chịu sự hành hạ của những cơn đau đớn ghê gớm.
Cuối cùng, người ta kết luận: José bị bệnh thiếu máu tái tạo: các hồng huyết cầu của nó có một cấu trúc bất bình thường: Các cơn hành xảy ra liên tiếp gây cho nó những đau đớn không tả được. Các bác sĩ chỉ có thể cho nó những thuốc giảm đau, vì họ đứng trước một căn bệnh cho đến nay không ai chữa nổi.
Năm 22 tuổi, José được đưa vào bệnh viện Salvador B. Gautier, ở Santo Domingô (Cộng Hòa Đôminicana). ở đó, trong suốt một năm và 3 tháng, nó cố gắng tập đi, vì bệnh của nó bắt nó liệt giường lâu quá.
Bác sĩ Gonzales Cano - chuyên gia của bệnh thiếu máu mãn tính (anémie plastique) - quả quyết José không bao giờ còn có thể đi đứng được nữa, bởi vì tủy xương sống của nó bị hư hoại nặng. Ông còn nói với cha mẹ chúng tôi rằng: việc bước đi sẽ gây ra sự chảy não. Và bác sĩ khuyên cha mẹ chúng tôi đem nó về nhà, để chuẩn bị cho nó sống cuộc đời tàn tật. José sống như thế 4 năm trên giường, không đi đứng được. Đối với gia đình chúng tôi, tất cả xem ra tuyệt vọng; chúng tôi lâm vào nỗi lo lắng, khắc khoải không tả xiết.
Nhưng chúng tôi vẫn có thói quen chạy đến cầu khẩn Đấng Tối Cao, để tìm giải pháp cho những vấn đề khó khăn. Tất cả chúng tôi đều cầu xin Người chữa lành nó, mặc dầu càng ngày việc đó xem ra càng xa vời.
Cứ như thế, 3 năm nữa trôi qua, nhưng ngày 17/6/1975 là ngày đáng ghi nhớ cho gia đình chúng tôi. Sáng hôm đó, không hẹn trước, một nhóm tín hữu là thành viên của phong trào đặc sủng, cùng với Cha E. Tardif, linh mục người Canada, đến nhà.
Khi vào nhà và nói chuyện với Jose rồi, linh mục cầu nguyện cho nó, kêu cầu Chúa ban ơn chữa lành nó. Vài phút sau, ông truyền cho em tôi đứng dậy khỏi ghế mà từ 4 năm nay nó ngồi. José giương mắt ngạc nhiên: Làm sao nó có thể bước đi, khi chính bác sĩ chuyên môn đã nói là nó không bao giờ còn có thể? Nó làm theo lời linh mục truyền, và đi vài bước. Mồ hôi toát ra đẫm thân mình nó. Mọi người đều kinh ngạc khi thấy José bước đi. Gia đình chúng tôi còn ngần ngại chưa dám tin, nhưng hàng xóm láng giềng biết được đã kéo đến đầy nhà. Mọi người sửng sốt, nhiều người khóc lên vì vui mừng, người khác vỗ tay, mở mắt to kinh ngạc.
Riêng phần tôi, thú thật là tôi như đờ đẫn khi thấy em tôi bước đi. Tôi thấy hình như trong mơ. Chỉ đến ngày thứ 3, tôi mới chấp nhận sự thật: Em tôi đã khỏi bệnh, và không còn chút đau đớn nào, mà nhiều năm nay đã khiến nó nằm liệt bất động.
José về lại cuộc sống bình thường như mọi người. Nó đi đây đi đó qua nhiều thành phố như một người khỏe mạnh. Em tôi đã dành thời giờ để đi nhiều nơi làm chứng về sự khỏi bệnh, và mọi người có thể nhận thấy qua chứng tá của nó, quyền năng của Thiên Chúa trên bệnh tật của một người mà y khoa đã hoàn toàn chịu bó tay... Dân chúng ở Moca, từ khi biết phép lạ xảy ra, đã tăng tiến nhiều thêm trong đức tin. Không ai còn hoài nghi nữa: Thiên Chúa thật có quyền lực trên thế giới này. Trường hợp của José luôn ghi khắc trong ký ức mọi người.
Ngày nay, 8 năm sau biến cố lạ lùng ấy, người ta vẫn coi tôi là “cậu anh của José, kẻ được phép lạ chữa lành” hơn là coi tôi là một luật sư - nghề nghiệp tôi làm từ nhiều năm nay.
Ký tên: Me Pedro Rosario Sanchez
Trong thời Đức Giêsu rao truyền Tin Mừng, có một người bất toại được các bạn khiêng trên cái chõng đến gặp Đức Giêsu: đó cũng là điều xảy ra cho Fernande Gobert ở Cordes, ngày cô được chữa lành. Hoàn cảnh đôi bên giống nhau, và cũng một Chúa Giêsu.
Tôi là giáo viên, cuộc đời tôi đều đặn trôi theo nhịp vừa lo học hành, vừa lo học sinh. Tôi nghe thấy tiếng Chúa gọi tôi sống trọn vẹn cho một mình Ngài, và phải vào một tu viện thánh Biển Đức. Nhưng tháng 7/1975 do bị thoát vị đĩa cột sống gây nên chứng đau dây thần kinh hông mẫn thống (sciatique hyperalgique), tôi phải vào bệnh viện và bị mổ.
Sau khi hồi sức, tôi vào Tu Viện; nhưng vì cứ đau liên miên và chịu nhiều lần giải phẫu, tôi lại phải ra khỏi dòng. Tôi làm một nghề đơn sơ thôi.
Mặc dầu đau đớn thường xuyên và do đó gây khó khăn cho tôi khi di chuyển, tôi vẫn cho mình còn may mắn vì còn cử động được. Tôi không ngờ rằng những điều tệ hơn và đồng thời những điều tuyệt vời hơn đang chờ đợi tôi.
Nhiều cuộc giải phẫu sau đó làm tôi liệt giường với những đau đớn dữ dội và thường xuyên. Tôi không còn có thể ngồi, và chỉ đi được mấy bước nhờ chống gậy. Cứ theo y khoa mà nói, thế là hết hi vọng: tôi bị dồn vào thế nằm liệt giường và chịu đau. Thế là quãng đời còn lại của tôi sẽ chỉ là nằm bẹp trên chiếc giường đầy đau đớn. Tôi chịu liên tiếp 6 lần mổ nữa mà chẳng thấy bớt đau đớn, trái lại thì có. Cuối cùng, người ta phải chích móc-phin mỗi ngày hai lần cho tôi, để tôi có thể chịu đựng nổi những đau đớn dữ dội. Giữa cơn hấp hối ấy, những anh em trong nhóm cầu nguyện đến bầu bạn với tôi, giúp tôi can đảm cùng với những lời cầu nguyện của họ.
Ngày 16/9/1982, một chị em trong nhóm cầu nguyện đề nghị với tôi một ý định táo bạo là nên đi đến Cordes, bởi vì, chị nói: “Cha Tardif sắp đến đó dâng Thánh Lễ”. Nhờ ơn Chúa, tôi không nghĩ đến các đau đớn và khổ sở mà việc đi ấy bắt tôi phải chịu. Tôi chấp nhận, thế là họ đưa xe cứu thương cho chúng tôi đi. Trong buổi cầu nguyện, Chúa cho tôi nghe chuyện chữa lành Vua Ezê Kya, nhưng không mấy lưu tâm.
Thánh Lễ bắt đầu. Cha Tardif giảng về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể: hiện diện ban hiệu lực và ban sự sống. Cha cũng kể một vài chứng tá của những người được lành bệnh, sau khi đã chịu lễ hay trong lúc kiệu Thánh Thể.
Đến lúc rước lễ, hai bạn khiêng băng ca tôi nằm từ cuối nhà thờ lên tới bàn thờ. Tôi nghĩ đến 4 người kể trong Phúc âm, khiêng người bất toại đến đặt trước mặt Chúa Giêsu nơi Ngài đang giảng.
Cha Tardif quì xuống để trao Mình Thánh Chúa cho tôi. Sau đó, Cha xin Chúa đang hiện diện trong hình bánh chữa cho tôi. Cuối cùng, Cha đặt cả bình thánh trên đầu tôi và nói: “Lạy Chúa, một hôm có người phụ nữ chạm gấu áo Chúa và bà đã được lành. Chúng con biết rằng Chúa đang hiện diện trong Hình bánh. Xin Chúa hãy chạm đến người con cái Chúa và chữa nó lành, như đã chữa người phụ nữ bị loạn huyết”.
Khi Cha cầu nguyện xong, Cha bảo tôi phải làm một hành vi tin, và đứng dậy đi. Quả thật, đối với tôi, đó là lời truyền “Hãy chỗi dậy mà đi!” trong Phúc âm mà Chúa Giêsu nói với tôi. Tôi nắm lấy tay Cha và chỗi dậy khỏi băng ca. Nhờ Cha nâng đỡ, tôi bắt đầu bước đi.
Rồi Cha buông tay tôi, và tôi đi một mình được năm bước. Tôi không thể làm hơn. Cha nói thêm: “Chúa đã chữa con lành. Mai con đi 10 bước, mặc dầu cảm thấy đau. Dần dần, con sẽ nghiệm thấy con được lành...”
Thế rồi thời gian trôi đi, tôi không nghe nói về cô Fernande Gobert. Hai năm sau, tôi nhận được một bưu ảnh của Lộ Đức, với những lời sau:
5, tháng 9, 1984.
Kính gửi Cha Tardif,
Ngày 16/9/1982 ở Cordes, trong cộng đoàn “Sư tử của Giuđa”, trước mặt Cha, Chúa đã cho con chỗi dậy khỏi băng ca, bởi quyền năng của Ngài hiện diện trong Phép Thánh Thể.
Hôm nay, con nói cho Cha biết điều mà con đã làm: Để cảm tạ Chúa, chúng con cùng một nhóm bạn bè, đã đi xe đạp từ nhà đến Lộ Đức: 287 cây số rưỡi! Chúa thật vĩ đại! Alleluia!
Ký tên: Fernande Gobert
Rồi từ đó, Fernande đã lập gia đình và trở lại ghế giáo viên toán. Cô không là nữ tu, song đã hiến cuộc đời để ca ngợi Thiên Chúa. Những ai nhìn cô không thể nhận ra người thiếu phụ trước đây yếu đuối bởi bao đau đớn, ngồi bất động trên chiếc xe lăn; song mọi người đều nhìn nhận rằng quyền năng của Thiên Chúa thật tuyệt vời biết bao!
Tiên tri Ysaia đã hé thấy quang cảnh thời thiên sai huyền diệu, khi đó “què quặt sẽ nhảy nhót tựa hươu nai”.
Chính điều ấy đã xảy đến ở đảo Maurice tháng 9/1985. Trong giờ cầu nguyện cho bệnh nhân, Chúa đã làm chỗi dậy và bước đi một người 60 tuổi - ông già chỉ có thể bước đi cách khó khăn nhờ chống một chiếc gậy. Sau khi được chữa lành, và đã lên nói lời chứng trước 10.000 người dự, rồi ông bắt đầu chạy. Thế rồi một người nữa cũng vứt chiếc gậy chống, một người nữa đi được...
Thật là một quang cảnh quá sức tưởng tượng, khi nhìn thấy bao nhiêu người què quặt đứng lên, đi đứng trên các lối đi: người thì giơ cao đôi nạng nay trở thành vô dụng, người khác không cần chống gậy nữa...
Thiên Chúa chúng ta thật hào phóng!
ở tiệc cước Cana, chỉ thiếu ít rượu, mà Ngài đã đổi 600 lít nước thành rượu hảo hạng, nhiều đến nỗi có thể thết đãi một đám tiệc cưới mới.
3. Điếc được nghe.
Khi Chúa mở tai người điếc, điều ấy có nghĩa là Chúa Giêsu làm sống lại sự giao thông giữa mọi người, trước kia nó đã bị hư hỏng bởi tội lỗi. Trong Chúa Giêsu, mọi chướng ngại cản trở sự hiệp thông đều bị dẹp tan.
Mở tai người điếc là dấu Chúa giải phóng con người khỏi sự cô độc, co rúm lại trong cá nhân mình, hay mất khả năng thông thương với người khác. Chúa Giêsu đến tái lập những liên lạc đã bị cắt đứt, cho chúng ta lặp lại một sự giao thông sâu xa. Ngài làm ta nhạy cảm để nghe lời Thiên Chúa, đồng thời để nghe tiếng kêu của anh em.
Tháng 5/1986, tôi giảng ở Zaire. Ngày thứ nhì, sau lời nguyện chữa bệnh, một thiếu nữ, bộ mặt hoảng hốt, thét lên giữa một đám đông 26.000 người họp nhau trong sân vận động ở Mbandaka. Đó là một em câm điếc từ mới sinh mà bất thình lình tai em mở ra, các lời ca, tiếng hát cùng ngợi khen của đám đông đã làm em giật mình, nên em vừa la hét vừa bịt tai…
Hôm sau, bình tĩnh và với nụ cười, em đã nói trước đám đông lời chứng về việc được lành, em nói mấy câu mà em đã học được sáng hôm nay: “Cám ơn, Thiên Chúa, Chúa Giêsu, Amen, Alleluia!”.
Tôi hỏi em lên mấy, nhưng em chưa biết cách trả lời. Cô chị đứng cạnh trả lời giúp: “14 tuổi”. Lúc ấy em lặp lại: “14 tuổi”.
Chứng tá của em gái thật hay, dân chúng tất cả đều cảm động, vì nhìn thấy trước mắt quyền năng chữa lành của Chúa Giêsu. Một lần nữa, chúng tôi thấy rằng: những lời tiên tri xưa đã được viết ra cho chúng ta. Điều ngôn sứ Ysaia đã báo tiên tri, nay thực hiện đúng theo nghĩa đen: “Khi ấy lưỡi người câm sẽ reo hò” (Ys 35.6).
Cũng trong đường hướng ấy, việc lành bệnh lạ lùng nhất là trường hợp của bà Cêlia Côvarrubias. Lạ lùng khó tin đến mức lần đầu tiên, khi tôi đem kể cho các bạn tôi, họ đều im thin thít, không ai đưa ra một lời bình luận nào. Mãi sau, có một người đến bên tôi và nghiêm trang nói: “Cha không nên kể câu chuyện này ra, bởi vì sẽ không ai tin Cha, hơn nữa, Cha sẽ cho người ta cảm tưởng Cha đang nói những chuyện phi lý và mọi người sẽ cười Cha...”
Nhưng, một năm sau khi lành bệnh, bà Cêlia, tay cầm hồ sơ bệnh lý, lên nói lời chứng sau đây trong một công trường ở thành phố Mêxicô, trước 15.000 người:
Cách đây 20 năm, tôi bị mủ bên tai trái (cholestéatome), bệnh đâm nặng và làm độc. Năm 1976, người ta đã phải đục và khoan để khoét đi bộ phận tai bên trong: như thế, tôi chẳng còn có thể nghe gì được bên tai trái. Rồi, do việc làm độc lan rộng, người ta lại đục khoan một lần nữa, lần này người ta nạo vét hết cả những chiếc xương bên trong. Từ đó, tôi chẳng còn dám nghĩ đến chuyện nghe gì nữa, vì tôi đã mất hết cơ quan để nghe, tôi chỉ còn một lo nghĩ là làm sao ngăn chận sự làm độc lây lan. Tháng giêng 1986, tôi bắt đầu tham dự một khóa học “sống trong Thánh Linh”, do phong trào Canh Tân tổ chức. Một người bạn nói với tôi rằng: Thiên Chúa cho phép xảy ra những đau buồn trong đời tôi, là để cho danh Ngài được cả sáng. Tôi đáp lại rằng: phần tôi, tôi thích làm sáng danh Ngài bằng các lời ngợi khen hơn. Song quả thật, lúc đó đời sống tôi rất gian nan, gặp khó khăn tứ bề.
Tháng hai năm ấy, tôi đi dự kỳ Đại Hội Canh Tân đặc sủng ở Querétano (Mêxicô), để xin Chúa chữa trị tâm hồn sầu khổ của tôi đang bị bao đau đớn và hiểu lầm tấn công.
Khi Cha Tardif cầu nguyện chữa bệnh, tôi cầu xin ơn cứu rỗi cho con cái tôi, anh em tôi, bạn bè tôi.
Hầu như tôi cũng chẳng mấy nhớ đến việc cầu nguyện cho tôi được khỏi điếc, vì tôi đã quen chịu đựng tật ấy rồi. Tôi biết rằng Thiên Chúa có thể làm những điều không có thể, nhưng tôi không cầu xin gì vì đã quen nghe bằng một tai rồi. Tôi chỉ nói với Chúa đơn giản thế này: “Chúa ôi! Con đến đây, Chúa biết con thiếu gì và thừa gì, con phú mình trong tay Chúa”. Có thế thôi, chẳng xin điều gì cụ thể.
Vừa lúc ấy, trên loa phóng thanh, Cha thông báo rằng có một phụ nữ chừng 38 tuổi được Chúa chữa lành tai trái. Chính khi ấy, tôi cảm thấy một sức nóng rất mạnh và nghe thấy một tiếng lớn. Tôi bịt tai phải, song tôi kinh ngạc, vì tôi nghe thấy cái tiếng lớn ấy bằng tai trái, như thể bên cạnh tôi có một loa phóng thanh to bằng cái tủ. Tôi quay sang người bên cạnh hỏi xem có phải người ta đã vặn loa to lên không, nhưng bà ấy đáp rằng không. Tôi tự hỏi: “Hay là Chúa đã chữa tôi chăng?”. Tôi không tin sự ấy, vì tôi có xin Chúa chữa đâu! Nhưng sự thật đã rõ rành rành là tôi nghe bằng tai trái của tôi, đang khi tất cả y khoa đều đã bó tay đầu hàng.
Sau đó, Cha Tardif về Canada, còn tôi về nhà tôi ở Irapuato, có Chúa cùng đi với tôi. Chúa đã bao bọc tôi bằng những người sống thân mật với Chúa, và họ đã dạy tôi rất nhiều điều. Ngài đã đưa tôi đi trên đường của Ngài, và nay tôi là con người khác, hoàn toàn đổi mới.
Suốt đêm, tôi chỉ khóc và cảm tạ cùng ngợi khen Thiên Chúa. Tôi nghe được hết mọi âm thanh. Tất cả hình như trong suốt.
Nhưng điều trọng nhất là niềm hoan lạc tràn ngập đời tôi, chắc chắn không phải chỉ vì chuyện được lành bệnh, mà còn vì được bình an với Thiên Chúa và với chính mình. Kể từ đó, đời tôi đổi hẳn. Thiên Chúa đã biến đổi tôi một cách tuyệt diệu. Trước đây, tôi cảm thấy cô đơn và suy sụp tinh thần, tuy tôi vẫn tin có Thiên Chúa, song tôi thấy Người xa lạ, không ăn nhằm gì đến các vấn đề của tôi. Đời tôi lúc đó đầy rẫy các buồn phiền. Có đôi lần, thoáng trong đầu ý nghĩ rằng tôi không thể tiếp tục sống như vậy. Tuy tôi biết rằng tôi là đền thờ Chúa Thánh Thần, song vì tôi không cảm nghiệm được điều đó, nên tôi không mấy tin.
Ai thật sự biết Thiên Chúa thì phải theo Người. Người ta không thể cưỡng lại. Tôi không thể giật lùi nữa. Khi một người có đầy đủ các cơ quan và Thiên Chúa đã chữa họ bởi lời cầu nguyện, thì chúng ta đang đứng trước một phép lạ. Nhưng nếu người ấy không còn cơ quan để nghe, mà bây giờ lại bắt đầu được nghe lại, thì đấy không chỉ là một phép lạ, mà còn là một lời mời gọi. Thiên Chúa đã lái đời sống họ theo một con đường mới. Tôi đã hiểu như vậy.
Khi Thiên Chúa kêu gọi, người ta không thể lấy lý nọ lý kia mà cưỡng lại rằng: “Con không thể, hoặc con không biết”. Trước kia, tôi sống bị đè nén dưới các vấn đề tài chính, tiền bạc, tôi nghĩ rằng ngày nào tôi ngưng tay không dệt, tôi sẽ không có gì ăn. Nay, có khi tôi ngưng dệt đến cả nửa tháng, bởi vì nhiều người đến nhà tôi để xin tôi cầu nguyện cho họ, thế mà tôi không còn lo lắng tiền bạc như trước kia nữa. Khi người ta nghe thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm trong đời tôi, có những tâm hồn chai đá cũng mềm ra mà trở lại với Chúa. Có những người khóc lóc, nhiều người khác được ơn Chúa đánh động và đổi đời sống.
Có cả những linh mục và tu sĩ đến thăm tôi, họ đang đau khổ vì thiếu lòng tin. Tôi nói với các vị ấy: Đó không phải lỗi các vị, vấn đề là ở chỗ các vị chưa kinh nghiệm được tình yêu của Chúa Giêsu, và chính vì thế, các vị chưa biết Chúa thật sự.
Trước kia, tôi tự hỏi: không biết cái gì thúc đẩy những người rao truyền Tin Mừng dám nói trước máy vi âm, và làm thế nào họ dám giảng trước đám đông. Bây giờ, khi đã kinh nghiệm được tình yêu Chúa và quyền năng của Ngài tôi hiểu rõ hoàn toàn rằng: Người ta không thể không nói điều họ đã sống.
Có lần, một linh mục đả kích tôi vì cho rằng tôi bày đặt, và chưa bao giờ có chuyện tôi hư tai trái... Song tôi đáp: “Thưa Cha, có gì là quá khó đối với Thiên Chúa đâu!”. Hai năm trôi qua, từ ngày Chúa chữa tôi lành, các bác sĩ đã khám đi khám lại tai trái của tôi và thấy tôi đã nghe được, thì họ không cắt nghĩa nổi tại sao tôi có thể nghe được.
Hiện nay, vấn đề của tôi không phải là nghe, mà là làm sao công bố cho tất cả thế giới nghe rằng: chúng ta có một Thiên Chúa là Cha mình, và vì Ngài đã ban cho ta chính Con Một của mình, thì còn điều gì nữa Người sẽ chẳng ban cho ta?…”
Trong việc chữa lành này, Thiên Chúa dạy ta rằng: những kế hoạch của Người thì rộng hơn những kế hoạch của ta. Không chỉ tai trái của bà Cêlia được Người mở ra, mà tất cả cuộc đời bà được thay đổi; và bây giờ, chứng tá của bà nói lên rằng: một cuộc sống mới và một sứ mệnh mở ra cho những ai tin vào quyền năng vô biên của Chúa Giêsu. Nếu bạn gọi điện thoại số “52” (462) 63319, rất có thể bạn sẽ nghe chính bà Cêlia trả lời bạn, và nghe bạn với ống nghe áp bên tai trái của bà.
Trong tháng 10/88, tôi giảng tại Côte d’Ivoire. Tôi phục vụ một cuộc chữa bệnh cho 4.000 người. Có một lời thông tri cho tôi rằng: hai người điếc đang được Chúa chữa lành giữa toàn dân. Tôi xin hai người điếc được khỏi hãy xuất đầu lộ diện và lên làm chứng. Một người đàn ông 30 tuổi đứng dậy, đầy xúc động và nói rằng: đã từ lâu ông không còn nghe thấy gì, song tai của ông vừa được thông và nay ông có thể nghe được. Rồi tôi hỏi: còn người kia đâu. Tôi nhắc đi nhắc lại, song không có ai đáp lời. Lúc ấy, tôi nói: “Chúng ta tiếp tục cầu nguyện!”.
Hôm sau, chúng tôi có một buổi họp với hàng giáo sĩ địa phận. Một linh mục giơ tay và nói: “Thưa Cha, hôm qua Cha đã làm một điều phản Tin Mừng: Khi Đức Giêsu chữa lành một bệnh nhân, Ngài cấm họ không được nói phép lạ ra; còn Cha, chiều hôm qua, Cha xin những người đã được lành lên tiếng công bố cho mọi người nghe”.
Tôi đáp lại: “Nhưng, thưa Cha, Cha không nhớ đấy là vấn đề ‘bí mật thiên sai’ ư? Hồi đầu sứ vụ công khai của Ngài, Chúa Giêsu không muốn biểu lộ tư cách thiên sai của Ngài cách đột ngột, vì sợ người ta hiểu lầm theo xu hướng chính trị, như thế có hại cho sứ vụ Ngài, do đó Ngài bảo: ‘Đừng nói với ai!’. Nhưng ngày Ngài sắp thăng thiên, Ngài truyền cho chúng ta phải loan báo Tin Mừng cho đến tận cùng trái đất. Chính như thế, ‘cái bí mật thiên sai’ ngày trước nay được bày tỏ. Không những chúng ta biết, mà còn phải loan báo tới tận cùng trái đất rằng Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai Cứu Độ. Sứ mệnh của Giáo Hội là làm việc đó. Nếu không, Giáo Hội có lý do gì để tồn tại?”
Vừa lúc ấy, một linh mục khác giơ tay, tôi đoán đây lại là một vấn nạn nữa, nhưng ông nói:
“Thưa Cha, chiều qua, khi Cha loan báo việc Chúa chữa lành hai người điếc, chỉ có một người lên làm chứng, người kia không ló mặt, người đó là tôi. Tôi nhận thấy cứ đợi đã, xem có thật không!... Và sáng nay, khi thức dậy, tôi nghe tiếng chim hót lần đầu tiên từ 3 năm nay. Buổi chiều, tôi đã có thể giải tội suốt một tiếng đồng hồ, hoàn toàn nghe rõ mà không cần có máy đặt trong tai”.
Lúc linh mục nói lời chứng xong, tất cả vỗ tay mừng. Khi đó, tôi quay lại hỏi linh mục lúc nãy: “Thế nào, thưa Cha, Cha có nghĩ rằng chúng ta công bố các việc lạ lùng là tôn vinh Thiên Chúa hơn không?”. Và thế là chấm dứt cuộc bàn cãi.
Mỗi lần xảy ra việc chữa lành, là một dịp chứng tỏ Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Mỗi lời chứng là một tiếng rao lớn Tin Mừng, công bố lên rằng Chúa Giêsu là Đấng cứu thế giới.
4. Phung hủi được sạch.
Chúa Giêsu hôm qua, hôm nay và cho đến đời đời vẫn là một. Điều Ngài đã làm cách đây 2000 năm, ngày nay Ngài lại làm, bởi Ngài vẫn có cùng một quyền phép ấy hôm nay cũng như hôm qua.
Sau khi tôi đã giảng cấm phòng cho linh mục ở Sagmelime, bên Cameroun, người ta mời tôi đến cầu nguyện trong một trại cùi của nhà nước, có hơn 300 người mắc bệnh ở. Chúng tôi đến với đám người đau khổ ấy. Thật cảm động khi đứng trước quang cảnh đau đớn như thế: con sâu phung hủi đục khoét da thịt con người; có những người đành chịu cưa cụt chân tay để có thể tiếp tục sống còn; những người khác bị bệnh làm mù mắt; rồi mùi hôi thối do thịt rữa nát xông lên... Sau khi nói cho họ về quyền năng chữa lành của Chúa, chúng tôi cầu nguyện, xin Ngài chữa lành những người này.
Ít lâu sau khi về nhà lại, tôi nhận được lá thư của một nữ tu y tá trong trại cùi ấy, báo cho tôi biết Chúa đã chữa lành 10 người phung. Mười người phung hủi nay đã có thể trở về làng họ sống cuộc sống bình thường, và làm chứng về quyền năng Chúa!
Tôi hỏi Chúa: “Tại sao lại 10 người được khỏi mà không phải 9 hay 11?”, tôi cảm thấy Chúa trả lời trong lòng tôi: “Để cho người ta biết rằng: Đấng hôm nay chữa lành cũng chính là Đấng đã chữa 10 người phung trong Tin Mừng”.
Tôi nghĩ rằng bệnh phung thời đại ta là ung thư:(*) những tiếng đồng nghĩa với vô phương chữa trị, chỉ còn chờ chết đến. Chính vì vậy, mà tôi sẽ kể cho các bạn thấy Chúa Giêsu chữa phung hủi ung thư như thế nào.
Đối diện với bệnh tật và sự dữ, chúng ta đứng trước một huyền bí. Có những người đã vấp vào và ngã, nhưng ai đào sâu mầu nhiệm dưới ánh sáng của thập giá trơ trụi, thì sẽ thấy giá trị của nó. Đó là điều đã xảy ra cho người phụ nữ này đang trên bờ cái chết.
Tôi tên là Hélène Gaspoz, tôi ở Evolène bên Thụy Sĩ, tôi 43 tuổi, kết bạn đã 21 năm và có 3 con.
Tôi đau ung thư lan rộng, nó bắt đầu ở xương. Năm 1975, người ta đã cắt lấy một mẩu xương, và sau 3 tuần, bác sĩ báo cho chúng tôi kết quả: khối u ác tính! Ung thư xương! “Tôi không muốn chết - tôi kêu lên - tôi còn 3 con gái phải dạy dỗ, một trong 3 đứa vừa bị bệnh nặng và chồng nó vừa bị tai nạn”. Bác sĩ tỏ vẻ nghĩ ngợi, và bảo: “Bao lâu cột sống chưa bị lây, chúng ta còn có thể làm được một cái gì đó”. Chuyện này làm tôi đau lòng hết chỗ nói.
Bất hạnh, căn bệnh thêm tồi tệ và mau chóng đã lây đến cột sống. Người ta cho rằng đây là thoát vị đĩa cột sống (hernie discale), nhưng nhờ một bác sĩ khác, tôi biết rằng không thể giải phẫu vì xương đã bị mục, và bệnh tôi không còn phương chữa chạy.
Suốt thời gian ấy, tinh thần tôi lúc trồi lên lúc trụt xuống, cho đến một hôm, một cơn đau lưng dữ dội xảy ra và hậu quả là đôi chân tôi bị tê liệt. Tôi phải nằm nhà thương 3 ngày để người ta khám xét kỹ lưỡng. Người ta cho tôi những thuốc an thần rất mạnh, và tôi phải nằm liệt giường 3 tháng không thể động cựa ngay cả cái đầu.
Chồng tôi thật tuyệt vời, anh không ngừng nâng đỡ tôi và giúp tôi cầu nguyện. Bệnh này càng làm chúng tôi kết hợp với nhau hơn, và làm chúng tôi biết để ý hơn đến nhu cầu của nhau. Khi một người lâm vào bóng của cái chết, lúc ấy, người ta nhận thấy tình yêu thật quan trọng và người ta không để bỏ lỡ dịp.
Việc lành bệnh của tôi bắt đầu vào thứ bảy 1/6, giữa cuộc họi nhóm với Cha Tardif ở Sion. Khi Thiên Chúa thông tri cho Cha về trường hợp của tôi, tôi không nhận ra ngay đó là nói về tôi. Tôi chưa cầu xin được chữa lành: tôi đến họp nhóm để cầu nguyện và giao phó chồng và 3 con tôi trong tay Chúa, bởi vì những đau đớn không thể chịu được trong mình tôi khiến tôi nghĩ tôi đã đến bờ sự chết.
Tôi cảm thấy một sức nóng như đốt lan tràn khắp thân thể; các con tôi nói rằng lúc ấy người tôi đỏ rần! Sau buổi hội nhóm, tôi để ý thấy không còn đau ở lưng, và tôi bước đi không còn loạng choạng nữa. Bạn hữu đến thăm tôi cùng với con họ và y sĩ nói với tôi: “Chị Hélène, người chị nóng bỏng”. Tôi đáp: “Chắc đó là sức nóng của Chúa…”
Về đến nhà, tôi bảo chồng tôi rằng: tôi có thể quay đầu, và ban đêm tôi đã có thể trở mình không khó khăn gì, cái mà đã từ mấy năm nay tôi không thể làm. Quả thật, cứ y như trong mơ. Nhiều lần, tôi thắp đèn lên để xem xét mình tôi, và tôi hiểu ra rằng Thánh Thần đã chữa tôi lành.
Buổi sáng, thức dậy, tôi là một người đàn bà mới: Tất cả mọi đau đớn biến tan, và miệng tôi không còn đầy máu như mọi khi. Tôi trở dậy, không cần ai đỡ, cảm thấy mình nhỏ bé và nhẹ nhàng như chiếc lông chim. Tôi chạy đi đánh thức tất cả gia đình, vừa đi vừa la lên: “Chúa đã chữa tôi lành!”, đồng thời vừa khóc vừa ca hát. Các bạn thử tưởng tượng nỗi vui mừng của tôi xem, vì đã 10 năm tôi nằm liệt trên giường bệnh rồi!
Suốt ba tuần sau, tôi sống trong niềm vui phi thường, nay tôi có thể quả quyết rằng: những năm dài thử thách ấy đã làm đức tin và tình yêu tăng trưởng trong gia đình chúng tôi. Ngày nay, chúng tôi sống một cách khác, không chỉ nhờ việc chữa lành mà còn nhờ ở bệnh tật đã định cướp đi đời tôi. Tôi muốn nói với tất cả những ai bị bệnh rằng: nếu gia đình, bạn bè hay bác sĩ có bỏ họ, Chúa vẫn luôn ở gần.
Cám ơn Chúa, Chúa ơi, Chúa thật tuyệt vời! Người ta không còn có thể nghi ngờ Chúa đã sống lại. Mỗi ngày, Chúa tỏ cho chúng con bằng chứng Chúa đang sống giữa chúng con. Alleluia!”
Chứng tá sau đây cho ta thấy: khi Chúa chữa lành một người, hoạt động cứu độ của Ngài đi sâu đến thế nào, và gây nên một phản ứng nơi người ấy làm sao, để cuối cùng, họ được chữa lành một căn bệnh trầm trọng nhất trong mọi thứ bệnh: tội lỗi.
“Ngày 5/7/1981, tôi giảng tĩnh tâm tại nhà thờ Giáo Hội Cải Chánh ở Mạc-xây. Người ta dẫn đến để cầu xin chữa bệnh cho một người đàn ông Bỉ còn trẻ, 34 tuổi, bị ung thư đã lan rộng nơi chân phải, nó phá ra thành hai vết lở loét. Hai bác sĩ ở Mạc-xây, sau 7 tháng chữa trị, đã đi đến quyết định cưa chân anh. Nhưng anh không muốn và làm hết sức để cưỡng lại. Khi anh F.G. (xin tạm giấu tên) biết có một buổi cầu nguyện cho bệnh nhân, anh không nghĩ đến cuộc đời tội lỗi của mình, nên quyết định đi dự. Trong lúc cầu nguyện cho bệnh nhân, anh cảm thấy một luồng khí nóng như lửa đốt nơi chân phải.
Sau Thánh Lễ, anh về nhà, cảm thấy mình khác trước. Một cái gì đó đã xảy ra chiều hôm ấy, mà anh chưa cắt nghĩa được là chuyện gì. Lần đầu tiên, từ 7 tháng nay, anh đi ngủ không cần uống thuốc ngủ và ngủ ngon giấc.
Sáng hôm sau, vừa sung sướng và vừa ngạc nhiên, anh nói với Cha dòng tên cùng cư trú với anh: “Lạ quá, sao tôi không thấy đau ở chân nữa! Nào xem cái gì đã xảy ra!” Cùng nhau họ tháo băng quấn chân ra và ngạc nhiên khám phá ra nó hoàn toàn lành lặn, một lớp da non phủ lên mặt mấy vết lở loét: Việc lành bệnh được hoàn toàn đến nỗi các tế bào đã được thay mới, và người ta không còn thấy có gì khác giữa chỗ da bị bệnh và da thường. Anh nhảy dựng lên vì sung sướng, và lập tức chạy đến dưỡng đường, giơ chân ra cho bác sĩ vẫn điều trị anh xem. Họ tò mò hỏi anh cái gì đã xảy ra. Việc chữa lành hoàn hảo và nhanh chóng đến nỗi họ không cắt nghĩa được nhờ đâu. Lúc ấy, anh mới nói: “Chúa đã chữa tôi lành hôm qua trong Thánh Lễ”. Nhưng họ là người vô thần, không biết Chúa là ai, càng không hiểu Thánh Lễ là gì. Họ đáp: “Phải tìm cách cắt nghĩa cho ra vụ này...”
Khi anh F.G. điện thoại để kể lại cho tôi tất cả câu chuyện, và nhắc lại lời các bác sĩ ấy nói đang tìm cách cắt nghĩa vụ này, tôi bảo anh: “Hãy nói với các ông ấy: lời cắt nghĩa ấy, chúng tôi có rồi: Đó là Chúa Giêsu đang sống và hiện diện trong Phép Thánh Thể. Và vì Ngài đang sống, Ngài có thể làm thế và vô vàn hơn thế, bởi cũng chính Ngài đã làm ông Ladarô sống lại và chữa lành vô số người què quặt và thọt chân, vô số người mù và điếc. Chúa Giêsu là sức khỏe của bệnh nhân!”
Không ngần ngại mà nói, việc chữa lành quan trọng nhất không phải là chữa ung thư, nhưng chữa ung thư của tâm hồn, gọi là tội lỗi. Quả thật, anh F.G. đã sống một cuộc đời tội lỗi.
Chúa đã ban cho anh sức mạnh để từ bỏ tất cả những cái đó, và bước sang một con đường mới.
Ít lâu sau, anh vào đại chủng viện. Bởi Chúa đã chữa anh đang cử hành Thánh Thể, cho nên anh muốn đến gần mầu nhiệm ấy hơn, và nhất là một ngày nào đích thân anh được cử hành.
Ít lâu sau, tôi trở lại nước Pháp. Tôi gặp lại anh đã được thụ phong linh mục, trong một tu viện có đời sống chiêm niệm và cử hành Thánh Lễ; trong đó, chúng ta loan truyền cái chết của Chúa và công bố sự sống lại của Ngài.
Chúa Giêsu đang sống và Ngài tác động trong bánh và rượu đã được hiến thánh. Nếu ta có đức tin hơn, và nếu ta để Ngài hoạt động với tất cả sức lực Ngài, ta sẽ không thiếu bằng chứng để khẳng định sự hiện diện thực sự của Ngài trong Thánh Thể. Chỉ cần để Ngài hoạt động, và chính Ngài sẽ đảm trách việc minh chứng việc Ngài hiện diện thực sự trong Hình bánh thánh hiến, bằng những dấu lạ và phép mầu. Lúc ấy, những cuộc cử hành Thánh Thể sẽ biến thành cử hành kỳ diệu.
Cuối cùng, Đôn Pedro Martinez, người miền Bắc Mêxicô, sẽ thuật lại cho ta, tuy hơi dài, song rất tốt đẹp, không những cuộc lành bệnh mà nhất là sự đổi đời của ông:
“Cha Emiliano thân mến,
Viết thư cho bạn bè, thường là một trong những thú tiêu khiển thú vị của tôi. Nhưng hôm nay tôi đâm bối rối, không biết bắt đầu thế nào cho chính lời làm chứng mà người ta xin tôi viết ra.
Trước đây, tôi đi đây đi đó nhiều, và cứ thấy sức lực vạm vỡ của tôi, thì không ai có thể bảo tôi phải hiến nhiều thời giờ hơn cho gia đình tôi.
Tôi nghĩ - cũng như nhiều người khác - rằng: các tội lỗi của tôi chỉ là chuyện không đáng kể, nếu cứ xét rằng tôi không giết người, không trộm cướp, và ăn ở “đàng hoàng” với đồng loại, thế là tôi đủ bổn phận với Thiên Chúa rồi, còn đòi gì hơn. Thực tế, tôi coi mình là một Kitô hữu tử tế. Tuy nhiên, chỉ có điều tôi đã không rước lễ từ 30 năm nay, tức là từ ngày tôi lấy vợ.
Cách đây 3 năm, do một tai nạn nghề nghiệp, tôi bắt đầu cảm thấy chân phải tôi và ngay cả cánh tay phải có gì trục trặc, đến nỗi nó hầu như không thể mang được cái túi xách. Dọc theo cột sống bắt đầu có những đau đớn dễ sợ hầu như không chịu nổi, dầu người ta cho tôi dùng những thuốc giảm đau rất mạnh. Sau đó, đã đến lúc người ta phải chích cho tôi liên tục những thuốc an thần, để tránh cho tôi khỏi mất ngủ liên miên.
Chúng tôi đã đi đến khám tại một số các trung tâm y khoa ở Mexicô và Hoa Kỳ. Người ta kẻ thì nói bệnh do thận, người khác lại bảo do mập phì. Nhưng tất cả đều nhất trí là tôi phải đi mổ tại Houston. Tôi được đưa vào nằm bệnh viện để mổ hai lần, vì tôi bị liệt không còn cảm giác ở đầu ngón chân, và vì những đau đớn dữ dội dằn vặt tôi.
Từ lúc đó, tôi phải cậy nhờ mọi chuyện vào sự trợ giúp của các người thân, cách riêng của vợ tôi, nàng đã dành cho tôi tất cả thời giờ của nàng.
Tôi yếu nhược đến mức, người ta không nhận chở tôi trên đường hàng không bình thường, cho nên chúng tôi phải cậy nhờ đến chuyến phi cơ cứu thương.
Bác sĩ giải phẫu thần kinh - người đã mổ cho tôi mấy lần trước - nghĩ rằng: lần này cuộc giải phẫu sẽ rất khó khăn, và ông coi là nguy hiểm cho tính mạng. Vì thế, đêm trước lúc mổ, ông lạnh lùng nói với tôi: “Đôn Pedro, ông tin Thiên Chúa hả? Vậy ông hãy phú mình cho Chúa, bởi vì sẽ phải cần đến tất cả sự phù trợ của Người”.
Cuộc giải phẫu chẳng thành công. Tôi còn đau hơn trước: đã không thể cử động được thì chớ, còn mất cảm giác từ ngực đến đầu ngón chân.
Từ lúc đó, tôi nhận thấy một sự xích lại gần nhau rất rõ giữa các thân nhân cũng như bạn bè, vì khi mổ lại lần nữa, cột sống của tôi, người ta khám phá ra ung thư đã xâm chiếm xương và nhiếp hộ tuyến: bệnh viện coi như không còn có thể làm gì cho tôi được nữa, các bác sĩ cho tôi một thời gian hi vọng sống độ ba tháng nữa.
Nhiều tuần lễ trôi qua, và tôi thấy tôi mất ký cách đáng sợ. Để giảm đau, người ta chích thuốc làm cho tôi mê man hầu như suốt ngày. Chính như thế mà tôi quyết định bảo vợ tôi: Khi xong buổi chiếu quang tuyến là tôi sẽ về nhà lại, vì tôi thấy bệnh nặng lắm rồi. Lần về lại thứ hai này, một số thân nhân và bạn bè không muốn đến thăm tôi, vì thay vì ủy lạo tôi, thì họ ra khỏi nhà với nỗi kinh ngạc. Vì thấy anh chàng lực lưỡng họ quen mấy tháng trước đây, bây giờ đã từ 105kg sụt xuống còn 55kg, với một cái án chờ chết. Vợ tôi kh