Chương Hai
Chữa Lành Bên Trong
Điều mà tôi cho là tốt đẹp nhất trong Cuộc Canh Tân Đặc Sủng chính là cái gọi là “chữa lành nội tâm”. Giống như thể xác ta bị nhiều thứ bệnh khác nhau tấn công, cũng vậy, chúng ta có thể bị mắc phải ở bên trong những chấn thương (traumatismes) mặc cảm, oán cừu và bất ổn đủ loại. Còn hơn thế, rất nhiều trường hợp bệnh ngoài xác lại chỉ là những triệu chứng bên ngoài của những mất quân bình tâm lý (bên trong), và khi những cái sau được chữa lành, những cái trước cũng tan biến theo.
Khi chúng ta bị tổn thương trong tình cảm, chúng ta có thể thấy mình yếu đi. Khi ta nhớ đến kẻ nào đã phản bội ta, ta cũng đâm quạu quọ với tất cả mọi người. Đôi khi thấy mình bị lừa đảo tình yêu, từ đó, lòng chúng ta sẽ khép kín trước mọi biểu lộ tình thương của người khác.(*)
Nhưng Đức Yêsu đã đến băng bó những quả tim tan vỡ và hiến cho chúng ta một quả tim mới. Thật tuyệt vời khi khám phá thấy Tin Mừng thuật lại vô số những việc chữa lành loại ấy. Đức Yêsu đã chữa lành các môn đồ Ngài khỏi dính bén của cải và lòng ham hố (Mt 19.16-26), khỏi ham chức quyền, danh vọng (Mt 19.27-30), sợ chết (Mc 4.35-41; Lc 12.4-8), xao xuyến sợ hãi (Yn 14.1-6), óc câu nệ lề luật (Mt 12.1-8), sợ thất bại (Mc 4.30-32), ghen ghét, giận hờn, oán cừu (Lc 6.27-31), kiêu ngạo (Lc 18.9-14) và sai lầm (Yn 7.31-33).
Ngài đã chữa ông bách quản khỏi mặc cảm tự ti (Mt 8.8-13), thiếu phụ Samari khỏi kỳ thị chủng tộc (Yn 4); Ngài đã giải phóng Zakêu khỏi tội lấy của bất công (Lc 19.1-10); người thiếu phụ ngoại tình khỏi mặc cảm tội lỗi (Yn 8.1-11); cô gái điếm khỏi thói tà dâm (Lc 7.36-50). Và quan trọng nhất cùng là gốc rễ của mọi sự dữ: Ngài đã chữa lành người bất toại khỏi tội lỗi (Mc 1-12).
Biết bao lần, chúng ta tiến lên, nhưng không thể được! Ý chí ta bại xuội và nhân cách ta không có sức cự lại các nghịch cảnh.
Nhiều khi khác, ta tin rằng chính những kẻ khác phải sửa đổi, và ta đòi hỏi họ sự ấy, nhưng chẳng kết quả gì. Trái lại, tình huống lại hình như thêm rắc rối, bi đát... Thực ra, tất cả chúng ta đều đã bị tổn thương, và chính vì thế, chúng ta không có sức vượt quá những giới hạn của mình.
Bản thân tôi đã được ơn chữa lành bên trong ấy:
Hầu như suốt cuộc đời, tôi luôn bị bấn loạn lên khi thấy máu. Những lúc tôi phải đi xức dầu cho bệnh nhân hấp hối có máu chảy, đó là một hi sinh lớn, bởi bắt đầu thấy máu là tôi bắt đầu toát mồ hôi lạnh, và dù tôi có cố gắng thế nào cũng không tự chủ nổi mình.
Một hôm, tôi xem một phim chiến tranh, trong đó có những cảnh đẫm máu. Thế là tôi bắt đầu đổ mồ hôi lạnh, tôi cúi mắt nhìn xuống..., tôi không thể chịu đựng được nữa..., tôi nghĩ là tôi sắp ngất xỉu. Tôi cảm thấy khó chịu đến nỗi tôi phải bỏ ra ngoài nửa chừng. Một hôm, Đức Cha Alfonso Uribê Jaramillo đến giảng tĩnh tâm. Trong Thánh Lễ, Ngài cầu nguyện xin Chúa chữa lành những vết thương trong ký ức, cứ theo từng giai đoạn một của đời sống.
Đang khi Ngài cầu xin chữa vết thương của thời thơ ấu, tôi sực nhớ đến lúc 5 tuổi, có một lần tôi giận người anh lên 6 tuổi của tôi lắm. Sẵn con dao nhỏ nơi tay, tôi ném trúng cánh tay anh và máu chảy ra nhiều. Tôi kinh hãi khi nhìn thấy cánh tay anh đỏ lòm những máu. Rồi từ đó, mặc dầu tôi đã quên câu chuyện, nhưng luôn tôi bấn loạn lên khi nhìn thấy máu. Trong lúc của Cha Uribe Jaramillo cầu nguyện, tâm trí tôi lại diễn lại cái cảnh trên lúc tôi 5 tuổi, và tôi xin Chúa chữa tôi khỏi cái ký ức ấy.
Từ đó, tôi đã đi vào nhiều bệnh viện để thăm các nạn nhân bị thương nặng, song tôi không còn bị cái bệnh sợ thấy máu nữa. Nhờ ơn chữa lành bên trong, tôi đã được khỏi. Chúa đã chữa tôi khỏi vết thương của ký ức, và nhờ sự chữa lành những kỷ niệm ấy, bây giờ tôi hiểu hơn tầm quan trọng của việc chữa lành bên trong. Nếu tôi cảm thấy bấn loạn khi nhìn thấy máu, thì đối với những người khác, một tổn thương tình cảm cũng làm họ lâm bệnh. Chẳng hạn trước quyền bính: bởi vì một hôm nào đó hồi xưa, cha, mẹ,̣ hoặc thầy giáo đã xử tàn ác với họ... Nhiều trẻ em ngỗ nghịch là do những tổn thương tình cảm ấy. Cái nổi loạn của chúng ở đó chỉ cốt như để bảo vệ chúng chống lại quyền bính.
Tuy nhiên, không cần chúng ta biết rõ nguồn ngọn của vấn đề trục trặc ấy cho bằng biết giải pháp cho vấn đề: chính một lời cầu chữa lành bên trong sẽ giải thoát chúng ta khỏi.
Một bé trai nọ có những nét mặt thanh tú mịn màng, đến nỗi mọi người đều coi em giống một đứa con gái. Điều đó gây chấn thương rất mạnh nơi em, khiến em một đàng cố gắng tỏ ra đàn ông hơn các bạn, đàng khác, cùng một lúc, em bắt đầu xa lánh các bạn hay chọc ghẹo hoặc chế riễu em.
Lớn lên, cậu thanh niên không muốn ngó ngàng gì đến phụ nữ, vì họ phản chiếu lại hình ảnh của cái mà cậu không muốn là. Đến tuổi trưởng thành, vấn đề càng thêm trầm trọng, và cậu đâm mắc chứng đồng tình luyến ái. Một hôm, cậu cầu xin Chúa chữa lành nội tâm, và Chúa đã giải thoát cậu khỏi vấn đề ấy, đổ tràn trái tim cậu tình yêu mà cậu không có. Nhờ sự chữa lành bên trong và nhờ sức Chúa, cậu đã bỏ tật đồng tính luyến ái được. Và giờ đây, cậu sống một cuộc đời hoàn toàn bình thường như mọi người.
Chứng từ sau đây cho thấy tại sao một vết thương tình cảm có thể có những hậu quả trên mặt thể xác. Một khi bên trong được lành thì những triệu chứng bên ngoài cũng tiêu tan. Chị Madeleine Đanièle minh chứng điều đó trong lá thư sau đây:
“Lạy Chúa, năm dấu đinh của Chúa đã chữa lành các vết thương của con.
Chúa Yêsu đã đến tìm tôi đang lúc tôi sống nguội lạnh, hơn thế, sống tội lỗi:
Tôi đang trong tình trạng sức khỏe thảm hại: đau lưng, phong thấp ở đầu gối gây ra nặng nề như đeo đá vào chân, không thể quì trong giờ nguyện ngắm, đau đầu cách hai ba ngày một lần và một bệnh thoát vị hoành (hernie hiatale). Tôi chẳng còn thích thú nguyện ngắm hay đọc sách thiêng liêng. Việc xưng tội, tôi cũng dãn thưa dần, và ngay cả Thánh Lễ, nhiều khi tôi cũng bỏ chẳng dự. Tôi chỉ còn một lời cầu nguyện duy nhất: “Dầu gì chăng nữa, Chúa vẫn biết là con mến Chúa”.
Chính trong tình huống ấy, Chúa Yêsu đã tỏ nhan Thánh Ngài ra cho tôi:
Ngày 5/7/1981, một chị bạn gọi tôi bảo sẽ đến rủ tôi đi dự buổi cầu nguyện cho bệnh nhân. Tôi đứng dưới cuối nhà thờ. Một linh mục có giọng nói của người Canada, rất truyền cảm, trình bày một bài suy niệm đầy đức tin về năm dấu thương của Đức Yêsu mà đến nay tôi vẫn còn nhớ.
Sau đó, Cha bắt đầu tạ ơn Chúa vì đã chữa lành nhiều người. Ông nói: “Đây có một phụ nữ bị một vết thương lớn trong lòng, và sau nhiều năm, vẫn chưa đóng sẹo. Chúa Yêsu chữa vết thương ấy và chị sẽ tìm lại được niềm vui, mà không ai có thể cướp mất”.
Đúng lúc ấy, tôi cảm thấy trong tôi một niềm hạnh phúc sâu xa. Cùng một lúc, trong trí nhớ tôi, hiện lại rõ ràng những hoàn cảnh đã chấn thương tôi. Cuối cùng, linh mục ban phép lành từ bàn thờ. Tôi không nghĩ ngợi gì, quỳ xuống, và thật đáng ngạc nhiên, tôi tự mình đứng lên được. Lúc ấy, tôi nghĩ bụng có lẽ chị nữ tu được lành vết thương tình cảm ấy chính là tôi. Nhưng tôi hơi khựng lại, vì ở trong nhà thờ dự lễ có tới 20 chị nữ tu khác.
Thưa Cha Tardif,
Khi Cha lên xe đi, con tiến lại gần và nói: “Thưa Cha, nếu không chị nào tự nhận đã được khỏi, thì người nữ tu đó chính là con!”. Cha đã nhìn con trong im lặng và đáp: “Tôi cũng nghĩ vậy!”. Chính từ lúc ấy khởi sự việc chữa lành.
Một hôm, tôi tự nhủ: “Nếu Chúa đã chữa lành đầu gối tôi, chắc Ngài cũng chữa lành cả chân nữa...” Tôi liền gỡ những miếng đế chỉnh hình mà tôi đã đặt từ 4 năm nay, và bước đi không đau đớn gì.
Nhưng điều lạ lùng nhất là đây: Thường khi ai chạm đến vết sẹo của thương tích cũ, thì tôi cứ nghiền ngẫm mãi cái xúc phạm ấy. Song tôi nhớ lại dụ ngôn hai con nợ: Tôi mắc nợ Chúa một ơn chữa bệnh lớn thế rồi, sao không đủ can đảm tha thứ một việc gây tổn thương bé nhỏ đó sao? Tôi liền tha thứ và cảm thấy bình an hoàn toàn.
Lòng sốt sắng khi nguyện ngắm trở lại với tôi. Bệnh nhức đầu biến mất, và tôi là con người mới phục vụ Chúa.
Khi thấy tất cả những gì Thiên Chúa đã làm trong đời tôi, tôi nghiệm ra rằng: quả thật, mọi sự đều qui về làm ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa, và tôi nói tự đáy lòng: “Chúa ôi, con phải cám ơn cái người đã làm con bị tổn thương. Xin Chúa hãy đổ tràn tình yêu Chúa cho người ấy”.
Ký tên: Nữ tu Madeleine Danièle”.
Việc chữa lành nội tâm phát sinh hai hiệu quả:
- Giải thoát ta khỏi nguyên cớ làm tổn thương ta.
- Tăng sức ta để kiên bền trong đàng lành.
Những chấn thương ở thời thơ ấu có tiếng dội trên cách cư xử hiện thời của ta. Một người nghiền rượu không thể ngừng uống, nếu cội gốc của vấn đề của họ không được chữa lành. Họ sẽ cứ tiếp tục uống; bằng không, thay thế vào đó sẽ có triệu chứng khác cùng một nguồn gốc sẽ xuất hiện. Chúa đi vào sâu mãi tận cùng trong đời niên thiếu, để xây dựng lại những gì hiện tại đang gây tổn thương cho ta.
Trong một hội nghị tại Caracas, chúng tôi cầu nguyện xin Chúa chữa lành nội tâm. Một nữ tu người Canada, thừa sai tại Honduras đến gần bàn thờ. Chị không thể cầu nguyện vì chị luôn ôm nỗi buồn liên miên. Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện cho chị. Ngay đó, một thành viên trong nhóm thấy một hình ảnh trong trí: hình ảnh một bé gái một mình đang khóc trong cánh rừng ngập tuyết. Chúng tôi hỏi chị nữ tu xem điều đó có nhắc cho chị chuyện gì không. Thế là chị bật khóc và kể: “Hồi tôi còn nhỏ, tôi sống ở Canada. Một chiều kia, đang lúc tuyết sa, tôi đi vào rừng một mình. Tuyết rơi phủ kín các dấu chân, nên tôi đã mất đường về, không biết đi đàng nào nên tôi đi lạc và thấy bị bỏ rơi. Tôi khóc suốt 2 tiếng đồng hồ, cho đến khi gia đình tìm ra tôi. Chính từ đó, tôi bắt đầu cảm thấy luôn sợ hãi”.
Chúng tôi đã cầu Chúa như sau: “Chúa ôi, Chúa biết người chị em chúng con đã đau khổ thế nào. Hãy làm cho chị cảm thấy đang trong bàn tay Chúa, và mắt Chúa không hề rời xa chị bao giờ, vì Chúa đã coi sóc từng bước đi của chị. Đối với Chúa, không có quá khứ hay tương lai, mọi sự đều hiện tại trước mặt Chúa. Chúng con đặt trước mặt Chúa biến cố đã xảy ra cho chị trong rừng, và xin Chúa chữa lành vết thương tình cảm bởi đó gây ra”. Nhiều năm sau, tôi gặp lại chị, khi đi giảng ở Tegucigalpa, và chị cho tôi biết rằng: đời chị đã đổi thay từ lúc được ơn chữa lành bên trong ấy.
Đàng khác, một người lành mạnh thì có sức chống mọi cạm bẫy, họ đương đầu với mọi vấn đề không hề sợ hãi, không e ngại các lời phê bình và không rụt rè trước những “dư luận người ta sẽ nói sao!”. Ai đã được Chúa chữa lành, sẽ có được một pháo đài bên trong, có khả năng chống trả các cuộc tấn công. Người ấy có thể cùng hát với thánh vịnh gia rằng: “Cho đi đạo binh dàn trận đánh tôi, lòng tôi không sợ. Cho đi thiên hạ dấy lên giao chiến với tôi, lúc đó tôi vẫn một niềm cậy trông” (Tv 27.3).
Chứng từ sau đây cho ta thấy rõ ràng làm sao một người đã được chữa lành, có thể bền đỗ trong cuộc sống mới:
Tôi sống ở gia đình bố mẹ trong một bầu khí tuân giữ các lề luật và các tập tục Kitô giáo. Tôi đã theo học một trường trung học danh tiếng do các nữ tu điều khiển, và tôi luôn luôn làm đầy đủ bổn phận đạo Chúa. Tôi có thể tự hào đã được học hỏi đầy đủ về sự đạo, nhưng chưa hẳn như thế là tôi đã được huấn luyện trong đời sống đạo; vì tôi chưa hiểu đích thực về vị Thiên Chúa sống động, và chưa hề bao giờ được cảm nghiệm về sự sống mới mà Chúa Yêsu đem lại cho thế giới.
Năm 15 tuổi, tôi đi xưng tội, và vị linh mục gây cho tôi một chấn thương nặng nề. Vì thế từ đó, tôi không bao giờ đến tòa cáo giải. Tại sao tôi lại phải cáo tội mình với một kẻ còn xấu hơn tôi? Đến cả ngày chịu phép hôn phối, tôi cũng bỏ qua không đến tòa hòa giải.
Như mọi cô gái đã đính hôn khác, tôi đi đến hôn nhân với những ảo tưởng, mường tượng sẽ hiến tất cả cho chồng và cũng sẽ nhận lại được tất cả. Tôi sinh được mấy đứa con, nhưng dần dà các ảo tưởng của tôi tan biến... Chúng tôi sống ích kỷ, và tôi thiếu điều độc nhất mà tôi hằng ao ước: tình yêu. Nhiều giấc mơ đã đổi thành ác mộng, và niềm hoan lạc thiên thai mà tôi chờ đợi ở hôn nhân đã biến thành hỏa ngục. Hỏa ngục ghê sợ nhất, không phải là những lời kêu gào, hay đánh đập, ngay cả sự căm ghét, song là vắng bóng tình yêu.
Sau 7 năm chung sống, tôi khát khao tình yêu mà chồng tôi không hiến cho tôi. Và cứ như thế mỗi lần đẩy tôi càng xa Chúa. Bởi vậy, tôi không đi tìm Chúa, nhưng đã tìm cách đoạt được tình yêu nơi một người đàn ông có cảm tình muốn giúp đỡ tôi. Tôi tưởng như thế sẽ lấp được nỗi trống trải của đời tôi cứ mỗi ngày thêm sâu rộng. Vì thế, tôi đã bất trung với chồng tôi.
Điều mà tôi nghĩ là giải đáp, thì chỉ càng khiến cho vấn đề vợ chồng tôi thêm trầm trọng. Vì mỗi lần như thế, tôi càng xa chồng tôi hơn. Cách cư xử ấy, tôi cũng thấy là tồi tệ, nhưng tôi không làm thế nào khác được. Tôi lại tái phạm tội ngoại tình và thế là đại họa!
Mặt tình cảm, tôi bị tổn thương tâm hồn: tôi tự ghét mình, khinh bỉ mình, đến nỗi tôi không còn săn sóc đến thân thể mình nữa. Con người tôi, tôi không thèm để ý đến nữa. Mặt khác, những gây hấn trong đời sống vợ chồng tăng thêm, và tôi đã đi đến chỗ chán sống. Tôi muốn chết, bởi vì đời sống trống rỗng, không tình yêu, chẳng còn ý nghĩa gì.
Lỗi tại ai? Cố nhiên tôi tự bào chữa, và đổ lỗi cho chồng tôi, cả tội ngoại tình, tôi cũng cho là nguyên nhân bởi anh ta: “Nếu anh ấy yêu tôi, tôi đâu có làm chuyện đó”. Có đôi khi tôi còn khoái chí về sự bất trung ấy, nhưng rút cục tôi thấy tôi khốn khổ hơn. Hai năm ròng rã, tôi sống trong lo sợ, vừa tự cáo, vừa đổ tội cho mình. Tôi sợ người khác biết tội tôi và chồng tôi khám phá được. Nhưng họ không biết thì ích gì, bởi vì chính tôi đã biết. Cái đó như gọng kềm xiết chặt tôi trong nỗi khắc khoải ghê sợ. Càng ngày, tôi càng thấy mình mất dần tính người, mất đi nữ tính.
Họa hiếm tôi mới đi dự Thánh Lễ, tôi cứ lên rước lễ đại đi, mặc kệ lời thánh Phaolô căn dặn: “Ai ăn uống Mình Máu Chúa cách bất xứng là lãnh vào mình án chết” (1C 11.29).
Thôi thì, đằng nào tôi cũng bị án xử rồi, cay đắng và tồi tệ hơn trước.
Chính trong trạng huống bi thảm ấy, tôi đi dự một khóa tĩnh tâm do Cuộc Canh Tân Đặc Sủng tổ chức. Và trong kỳ đó, tôi đã được Thanh tẩy trong Thánh Thần.
Trước đó, tôi nghĩ Chúa Thánh Thần không là để cho kẻ tội lỗi,(*) nhưng bây giờ tôi hiểu rằng: Chúa Thánh Thần cho phép ta đến gần Ngài với lòng thống hối, để xin Thiên Chúa ban ơn tha tội cho. Chỉ có tôi mới tự kết án mình vì đã phạm tội. Còn Thánh Thần ban cho tôi lòng hối cải và niềm tin tưởng rằng: Thiên Chúa sẵn lòng tha tội cho tôi.
Trong cuộc tĩnh tâm ấy, Chúa ban cho tôi ơn cầu nguyện trong tiếng lạ. Điều này làm tôi cảm động hơn cả: Tại sao, tôi, một kẻ tội lỗi như thế, mà Thiên Chúa lại yêu thương tôi đến nỗi ban cho tôi cái dấu ấy của lòng âu yếm Ngài? Tôi không thể hiểu nổi một tình yêu lớn dường ấy! Mà đó mới chỉ bắt đầu. Có một linh tính gì bảo tôi rằng: tôi còn thiếu một cái gì tốt hơn.
Chúa nhật sau, tôi đi dự Thánh Lễ, nhưng mặc dầu gắng sức mấy, tôi không thể làm sao lên rước lễ được. Hóa ra Thiên Chúa ngăn cản tôi đừng làm thêm một lần phạm thánh nữa. Lúc ấy tôi dốc lòng - một dốc lòng khó khăn - sẽ trở lại xưng tội, khó khăn vì nó gợi đến vết thương hồi niên thiếu. Nhưng bởi một việc xưng tội mà tôi đã mất đức tin, thì để trở lại đức tin, tôi phải đi qua cũng một cửa ấy.
Ngày 27/7 - tôi không ngờ hôm ấy là lễ Bà Thánh Maria Mađalêna - tôi đến lại tòa cáo giải sau 15 năm. Tôi rụt rè tiến đến trước vị linh mục, như người phụ nữ tội lỗi xưa, rón rén đến bên chân Đức Yêsu để lau chân Ngài. Thú thật, lúc ấy nhắc lại những điều làm tôi âu sầu bấy lâu là một việc làm khủng khiếp. Giống như sống lại cũng một cách mạnh mẽ như thế, tất cả nỗi đau thương và trống rỗng của tôi. Tuy nhiên, khi bắt tôi phải làm điều ấy, Chúa đã cất gánh nặng mà tôi không còn có thể vác nổi. Lúc đó, tôi cảm nghiệm được tất cả mức độ lớn lao của tình yêu và ơn tha thứ của Chúa Yêsu. Linh mục không phải là Cha E. Tardif, nhưng là chính Đức Yêsu Kitô đang mở rộng vòng tay đón chờ tôi cách âu yếm. Ngài không xua đuổi tôi, không kết án tôi.
Đối với tôi - cũng như thể tình yêu Chúa Yêsu tỏ ra cho đàn bà tội lỗi trong Tin Mừng - Chúa đã tha thứ cho tôi! Không những tôi được tha tội, mà Chúa lại còn chữa tôi lành vết thương gây cho tôi bởi lần xưng tội đầu tiên, đồng thời chữa tôi khỏi nỗi thiếu thốn tình yêu và khỏi việc ngoại tình. Chính việc xưng tội ấy đổ đầy lòng tôi tình yêu mà tôi vẫn mong cầu biết bao. Tôi cảm thấy mình là người được vững vàng lại, được tái tạo. Chính ở đây nảy nở lại tình yêu đối với chồng tôi. Tôi quì xuống và hôn chân vị linh mục, nước mắt ràn rụa chảy lên chân ông. Tôi được tràn ngập trong một sự bình an toàn vẹn không thể tả xiết. Chiều hôm đó, tôi trải qua kinh nghiệm một cuộc tái sinh, nhưng lần này với hy vọng, hoan lạc và sức mạnh.
Một giờ sau, tôi rước lễ. Không phải tôi rước Chúa, đúng hơn Chúa Yêsu đón tôi, nhận tôi, yêu tôi và lấp đầy nỗi trống vắng của đời tôi.
Nhờ lần xưng tội hồng phúc ấy, tôi đã nhận được một sức lực mới bồi bổ sự yếu đuối của tôi. Tôi ý thức hơn bao giờ hết nỗi mỏng giòn của tôi. Nhưng bây giờ, trái tim tôi không còn trống rỗng, tôi không còn phải đi ăn mày nữa vì tôi đã tìm thấy Viên Ngọc quí.
Trước đây, tôi muốn chết, bởi vì tôi không tìm thấy ý nghĩa của đời sống; bây giờ tôi muốn chết, để được vui sướng nhìn thấy nhãn tiền Đức Chúa đã có lòng nhân hậu với tôi dường ấy. Được chữa lành khỏi vết thương xưa, tôi nay là một người phụ nữ đổi mới, đổi mới toàn diện như Maria Mađalêna.
Nhiều năm sau, tôi gặp lại bà ấy. Tôi hỏi xem kỳ này bà ấy thế nào, bà đáp:
“Rất tuyệt, nhờ ơn Chúa. Cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng đối với con, sống xa Chúa thì khó hơn là sống dưới quyền năng Chúa tể của Ngài. Tuy vậy, dẫu cho con lại thấy bị cô đơn hay bị bỏ rơi, con sẽ không bao giờ còn đi tìm kiếm mối tình giả trá để nó phá hoại đời con nữa”.
Quả thực, sự chữa lành nội tâm là một việc giải phẫu để cắt đi cái ung nhọt, đồng thời là liều thuốc bổ tăng sức cho đời sống ta. Bản văn thuật truyện hai môn đệ làng Emmau (Lc 24.13-35) minh họa đầy đủ việc chữa lành nội tâm ấy:
“Và này, cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm họ đang đi tới một làng kia, cách Yêrusalem 60 dặm, tên là Emmau, và họ chuyện vãn với nhau về mọi điều mới xảy ra.
“Xảy ra là đang lúc họ chuyện vãn và bàn tính với nhau, thì chính Đức Yêsu tiến lại gần bên mà đi với họ: nhưng mắt họ bị ngăn ngừa sao, làm họ không nhận ra được Ngài. Ngài mới nói cùng họ: “Chuyện gì làm đề cho các ông vừa đi vừa trao đổi vậy?”. Họ dừng lại, bộ mặt ảo não. Một người tên là Klêôpha đáp lại: “Duy chỉ có ông ở tại Yêrusalem mà lại chẳng hay biết các việc xảy ra ở đó mấy ngày hôm nay ư?”. Và Ngài hỏi họ: “Việc gì vậy?”. Họ đáp: “Việc ông Yêsu Nadarét đã xuất hiện như một vị tiên tri quyền năng trong việc làm và lời nói, trước mặt Thiên Chúa và toàn dân; làm sao các thượng đế và hàng đầu mục của chúng tôi lại nộp Ngài cho Ngài bị án tử hình, và người ta đã đóng đinh thập tự giá Ngài. Phần chúng tôi, chúng tôi đã hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ giải thoát Israel. Nhưng với ngần ấy cơ sự, nay đã là ngày thứ ba rồi, kể từ khi các việc ấy diễn ra! Đã hẳn đã có vài người phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi hoảng hồn. Tảng sáng, họ đã đến mồ và không gặp thấy xác Ngài, họ về phân phô là họ đã thấy thiên thần hiện ra nói rằng: Ngài đang sống. Có vài người trong chúng tôi đã đi tới mồ, và cũng gặp thấy mọi sự y như các phụ nữ đã nói, còn Ngài thì họ không được thấy!”
“Bấy giờ, Ngài mới nói cùng họ: “Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi điều các tiên tri đã nói! Thế thì Đức Kitô lại không phải chịu khổ nạn như thế, rồi mới vào vinh quang của Ngài sao?”. Và khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh.
“Khi họ tới gần làng họ phải đến, nhưng Ngài làm như thể còn phải đi xa hơn. Họ cố nài ép Ngài rằng: “Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày đã xế!”, nên Ngài vào nhà để ở lại với họ. Và xảy ra là khi vào bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra Ngài trao cho họ, thì mắt họ mở ra, và họ nhận biết Ngài..., nhưng Ngài đã bỏ họ mà biến đi. Và họ nói cùng nhau: “Lòng chúng ta lại đã chẳng cháy bừng bừng lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta và giải nghĩa Kinh Thánh cho ta đó sao?”
“Ngay giờ đó, họ chỗi dậy, trở về Yêrusalem, và họ gặp thấy tề tựu cùng nhau có nhóm 11 cùng các bạn. Các người này nói rằng: “Thực thế, Chúa đã sống lại và đã hiện ra cho Simon!”. Còn họ, họ thuật lại các việc xảy ra dọc đàng, và làm sao họ đã nhận biết Ngài lúc bẻ bánh”.
Các môn đồ bị tổn thương nặng trong tâm hồn vì Đức Yêsu đã bị kết án tử hình, và như thế tất cả các hy vọng cũng như ảo tưởng của họ đều tan thành mây khói. Thập giá đối với họ là chuyện không thể hiểu nổi, và họ cảm thấy mất đi tất cả những ước vọng phục hưng xứ sở.
Vì cái chấn thương ấy, mắt họ không thể thấy rõ thực tại. Họ nói: “Chúng tôi đã hy vọng rằng - như thể họ không còn hy vọng gì nữa - chính Ngài là Đấng sẽ giải thoát Israel...”. Đức Yêsu bắt đầu nhắc lại cho họ Kinh Thánh và các tiên tri rằng mọi điều ấy phải xảy ra. Như thế, phần đầu của cuộc chữa lành họ là do Lời Chúa.
Lời Thiên Chúa tẩy luyện và chữa lành: Đức Yêsu nói với các môn đồ: “Các ngươi đã sạch bởi lời Ta đã nói với các ngươi” (Yn 15.3). “Quả thật, không phải cây cỏ hay thuốc rịt đã chữa lành họ, nhưng lạy Chúa, chính Lời của Người là thuốc chữa lành mọi sự” (sách Kng. 16.12).
Chúa nuôi dưỡng chúng ta bằng lời chữa lành của Ngài. Lời Thiên Chúa từ bóng tối đã làm bật lên ánh sáng soi dẫn ta, và ban sự sống cho ta.
Các môn đồ đã đi 11 cây số mà lãnh ơn chữa lành. Cuộc chữa lành kéo dài suốt quãng đường ấy, như thể muốn cho họ hiểu rằng: suốt dọc hành trình đời sống, chúng ta cần Lời Chúa chữa lành, Lời Chúa như ngọn đèn soi.
“Đức Yêsu làm như thể phải đi xa hơn, họ mới nói với Ngài: Hãy ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều!”. Đức Yêsu vào nhà và ngồi vào bàn ăn với họ. Ngài cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng rồi bẻ ra mà trao cho họ. Lúc ấy, mắt họ mở ra...”
Thánh Thể, Lời và bánh, mở mắt họ ra để họ có thể hiểu được mầu nhiệm sự đau khổ. Cái chữa lành ta, không phải là làm mất sự đau khổ đi, song là làm ta hiểu nó. Khi ta đối diện với Đấng chịu chết trên thập giá, nhưng đã thắng sự chết, khi ấy, ta tìm lại được hi vọng và các vết thương sẽ lành. Người ta thông phần vào sự sống lại, và như thế người ta tìm lại được sự sống mới.
Chúa Yêsu-Thánh Thể là bí tích chữa lành, hay đúng hơn, sự hiện diện cứu độ của Ngài chữa lành cả phần xác, nhưng cách đặc biệt phần tâm hồn.
Khi các môn đồ nhận biết Chúa Yêsu, thái độ của họ đổi khác. Khi trước, họ trở về làng cũ, vừa thất vọng, vừa buồn sầu. Sau khi được chữa lành sâu xa, cái cay đắng ấy tan biến và mắt họ mở ra.
Chúng tôi đã từng chứng kiến nhiều lần - nhiều lần lắm - cũng một hiện tượng như thế: các vết thương tình cảm gây ra những xáo trộn thể lý. Những cái thường xảy ra nhất là: mất ngủ, ung sang, bệnh thần kinh, tê liệt, những trục trặc trong bộ tiêu hóa, và có khi đâm mù nữa. Tuy vậy, một khi gốc rễ của vấn đề đã được thanh toán, triệu chứng thể lý liền biến tan.
Các môn đồ, từ nay đã được lành, có một não trạng mới, cặp mắt mới, họ nhìn thế giới một cách khác hẳn. Họ không còn tuyệt vọng hay bị áp chế, nhưng tràn ngập vui mừng, vì họ đã nhìn thấy Chúa Yêsu sống lại. Họ chỗi dậy mau mắn trở về Giêrusalem, để loan tin mừng cho nhóm 11 đang họp nhau trong phòng Tiệc Ly.
Ai đã được chữa lành bên trong, thì chỗi dậy khỏi sự rũ rượi, sầu thảm. Không thể khác được! Họ trở thành chứng nhân và loan báo sự phục sinh của Chúa Yêsu.
Có biết bao người bị chấn thương trong ký ức bởi những biến cố dĩ vãng. Họ cầu được chữa lành, bởi vì cái vết thương sâu đậm ấy phát sinh sự sợ hãi hoặc u buồn. Tôi đã gặp những người mang trong tim một nỗi niềm cay đắng sâu sắc, làm họ thành người rất khó chịu, và chính họ cũng từ khước những cử chỉ tình thân. Những người ấy, chúng ta đừng xua đuổi họ! Họ cần chúng ta cầu nguyện, để họ chặt đứt gốc rễ của các khó khăn của họ. Họ không muốn đau khổ, mà cũng chẳng muốn làm ai đau khổ; họ bị tổn thương, vì thế, họ tung tóe đau thương trên tất cả những ai vây quanh họ.
Chúa Yêsu chữa lành các thương tích của con tim khi chúng ta cầu xin Ngài, như ta đọc được điều đó trong sách của ngôn sứ Malaki: “Trên các ngươi, những kẻ kính sợ danh Ta, sẽ lóe rạng mặt trời đức nghĩa trong tia sáng mang theo chữa lành” (Mal 3.20).
Chúa Yêsu là mặt trời công chính, và có thể chữa lành những vết thương do bao bất công của cuộc đời gây nên. Cũng như người ta tắm nắng để chữa những thương tích ở trên da, cũng một cách như thế, nếu chúng ta phơi mình trong Chúa Yêsu, Ngài chữa ta khỏi những thương tích tình cảm của cuộc sống.
Cứ theo tiến trình của việc chữa lành, trái tim được giải thoát khỏi tính căm thù, hờn oán hay cay đắng, rồi chỗ đó được tình yêu chiếm cứ, tình yêu từ trái tim Chúa Yêsu chảy ra cuồn cuộn. Chúng ta nỗ lực để tự giải thoát khỏi những oán hờn ấy, nhưng đơn độc một mình, ta không thành công: ta cần đến một quyền lực cao hơn chữa lành ta. Quyền lực ấy, Chúa Yêsu có, Ngài là Đấng làm mới những con tim bệnh hoạn.
Chứng từ sau đây chứng tỏ việc chữa lành nội tâm không phải cái gì ma thuật, phù phép, nhưng nó đòi hỏi người bệnh phải cộng tác phần mình vào. Nói một cách nào đó, thì phải trả giá cho việc ăn năn trở lại, cho dù đó là một ơn tha thứ, hay một cái gì ngăn trở đời sống phát triển đến độ sung mãn.
Một đôi vợ chồng kia gặp những rắc rối nặng nề. Vợ bỏ nhà ra đi sống với một người đàn ông khác. Nhưng sau đó ít lâu, chị vợ hối hận vì đã lầm lỡ và muốn trở về. Anh chồng không muốn đón nhận lại, nhưng vì Cha Sở thôi thúc, anh mở cửa nhà cho chị về..., nhưng không mở cửa lòng...
Anh không thể nào tha thứ và nối lại niềm tin tưởng nơi vợ anh. Mối tương giao đã bị đứt đoạn, và trái tim anh bị tổn thương đến mức anh đâm bất lực. Anh đi khám các bác sĩ chuyên môn, họ điều trị anh bằng nội tiết tố (hormones) và những pha chạy điện, nhưng chẳng có kết quả tích cực nào.
Trong một buổi cầu nguyện chữa lành bệnh nội tâm, người ta bảo cho anh biết: nguồn gốc của sự bất lực của anh là do anh không thể tha thứ cho vợ mình. Anh thú nhận là điều ấy anh không thể. Thế là, việc đầu tiên mà chúng tôi làm là cầu xin Chúa cho anh ta có can đảm để tha thứ. Cuối cùng, bằng một quyết định của ý chí, anh đã tha thứ. Đó là một nỗ lực quá sức, nên anh ngã xuống bất tỉnh trong mấy phút. Sau đó, anh chỗi dậy và trở về nhà với một nét mặt đổi khác.
Hôm sau, anh đến bày tỏ: “Chúng tôi như sống trong một tuần trăng mật mới, có khi còn đẹp hơn tuần trăng mật đầu tiên...”
Người đàn ông ấy không cần thuốc, không cần điều trị để được khỏi bất lực, cái cần cho anh ta là chữa căn gốc của vấn đề: tha thứ cho vợ. Một khi cầu nguyện cho anh được lành cái bên trong ấy, và anh đã làm được việc tha thứ, thì vấn đề trục trặc kia biến mất.
Chúa muốn ban cho chúng ta một trái tim hiền lành và khiêm nhường như trái tim Ngài; nhưng để được như thế, chúng ta cần Ngài chữa lành chúng ta, như Ngài đã chữa lành các môn đệ làng Emmau trước đó khỏi những buồn sầu, thất vọng.
Thời Đức Yêsu, khi phát hiện người nào bị phung hủi, người ta đưa họ rời xa khỏi cộng đồng, vì họ trở nên nguy hiểm làm lây bệnh cho người khác. Nhưng Đức Yêsu là sung mãn sự sống, Ngài sờ đụng người phung hủi mà không bị lây, trái lại còn giải thoát họ khỏi bệnh.
Chí lý thay lời sứ ngôn đã nói:
“Chính các bệnh tật của chúng tôi Ngài đã mang, chính các đau khổ của chúng tôi Ngài đã vác..., và nhờ những vết hằn Ngài chịu, chúng tôi có phương được chữa lành” (Ys 53.4-5).
Đó là điều Đức Yêsu ban cho: sự sống, sức khỏe, vui mừng, bình an và hạnh phúc; bởi vì đối với Ngài, chẳng có gì là không thể được. Nếu bạn bị tổn thương, đừng nói: “Trường hợp thật là tuyệt vọng”. Không có trường hợp nào tuyệt vọng cả, mà chỉ có những người đàn ông và đàn bà tuyệt vọng, vì họ không biết Chúa Yêsu. Nhưng từ ngày bạn kinh nghiệm được sự gặp gỡ đích thân với Ngài, và bạn khám phá được tình yêu chữa lành của Ngài, tất cả sẽ thay đổi.
“Thầy đã chẳng nói với con, nếu con tin, con sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Đức Yêsu nói với bà Matta như thế) (Yn 11.40). Và bạn sẽ thấy vinh quang ấy chiếu sáng trong chính đời sống bạn, vì Thiên Chúa sẽ ban cho bạn một trái tim mới, cặp mắt mới, tâm não mới. Bạn có thể là một người đàn ông - hay một người đàn bà - đang đắng cay, đầy oán hờn, chỉ trích hết mọi sự, nói xấu mọi việc, và không có gì là vừa ý cả; nhưng trong mức độ Đức Yêsu biến đổi trái tim bạn, Ngài đổi bạn thành một người đàn ông hay đàn bà có đầy những tâm tình của chính trái tim Ngài. Khi ấy, bạn có thể là chứng nhân của Nước Thiên Chúa và của quyền năng Người.
Nhiều người kết án kẻ khác rằng: “Thằng ấy thật là đồ xấu xa”. Nhưng thực ra không có người xấu xa, mà chỉ có những người đàn ông, đàn bà đang vật lộn với những vấn đề khó khăn đang nghiền nát họ. Chúa Yêsu đã đến bẻ gẫy xiềng xích và ban cho họ tự do.(*) Cái ta cho là xấu, chỉ là cái cần được Chúa Yêsu chữa lành.
Khi tên trộm cướp cùng bị đóng đinh thập giá van nài: “Xin Ngài nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài”; Đức Yêsu không đáp: “Hừ! Ngươi đã rất xấu xa, đã cướp của giết người. Để tao coi lại đã!”, hoặc Ngài cũng không đáp: “Đợi ngày mai tao bàn chuyện này với Cha tao đã, để xem Người nghĩ sao về trường hợp của mày”... Nhưng vì “Thiên Chúa đã ban mọi quyền bính trên trời, dưới đất và trong địa ngục cho Đức Yêsu”, nên Ngài nói chắc chắn với tên trộm cướp: “Chính hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta” (x. Lc 23.40-43).
Chính như thế mà Thánh Thần trổ sinh trong đời sống ta những hoa trái của tình yêu Ngài. Có những người thay đổi hoàn toàn các tâm tình họ đã có trước kia, đến nỗi những người khác đem bỡ ngỡ hỏi nhau: “Cái gì đã xảy ra cho hắn vậy? Trước kia hắn rầu rĩ, luôn chỉ trích, lúc nào cũng cay chua; còn bây giờ hắn vui tươi, nhẹ nhàng, hắn không còn lê bước nữa mà phải nói là hắn chạy, hắn bay, hắn quả quyết là Chúa Thánh Thần đã ban cho hắn những cảm tình có trong trái tim Chúa Yêsu!”
Ta không thể xét đoán kẻ khác. Họ đã bị tổn thương, và vì thế họ gây đau thương cho kẻ khác. Thay vì kết án họ, ta phải cầu nguyện cho được lành bệnh con tim. Chúng ta sẽ có những giây phút ngạc nhiên, thích thú. Bạn sẽ thấy Chúa sẽ dùng bạn thế nào để chữa lành trái tim bị thương của con bạn, vợ bạn hay chồng bạn. Đây là hai mẫu chuyện về chữa lành bên trong:
- Thiếu phụ Samari: được lành mối kình địch chủng tộc, đã kéo dài từ thời tổ tiên truyền kiếp hàng thế kỷ giữa người Samari và người Do Thái. Sau khi được chữa lành, chị nhìn nhận Đức Yêsu là Đấng Thiên Sai, và đi kháo láo với mọi người trong thành Samari: “Tôi đã gặp của Yêsu”, rồi chị dẫn họ tới Đức Yêsu và Ngài vào trong thành họ lưu lại vài ngày (x. Yn 4).
- Phêrô: được lành vết thương do các lời chối Thầy gây ra (Lc 22.54-62). Người ta thấy được việc chữa lành Phêrô trong Tin Mừng. Phêrô đã chối Đức Yêsu ba lần ngày thứ năm Tuần Thánh. Đang khi Thầy bị thẩm vấn bởi ông Đại Tư Tế, thì ngoài sân, các đầy tớ và lính gác đốt đám lửa và ngồi xung quanh sưởi ấm. Một nữ tỳ hỏi Simon: “Chẳng phải anh cũng là một trong các môn đồ của ông ấy?”. Phêrô đáp: “Không, không phải tôi”. Sau một chặp, người khác thấy ông thì nói: “Cả anh nữa, anh cũng thuộc bọn đó!”, nhưng Phêrô nói lại: “Không phải đâu!”. Cách chừng một giờ sau, một người khác quả quyết: “Tôi có thấy anh ở trong vườn cùng ông ấy!”, Phêrô chối thêm một lần nữa, và ngay lúc ấy thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn Phêrô, Phêrô sực nhớ lại lời Chúa Yêsu: “Hôm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần”. Và ra ngoài, ông khóc lóc thảm thiết.
Phêrô đã gặp cái nhìn của Chúa Yêsu - cái nhìn dịu dàng, cái nhìn thông cảm và tha thứ, không chút oán giận hay trách móc. Chính với cái nhìn yêu thương ấy mà việc chữa lành nội tâm Phêrô bắt đầu.
Sau khi sống lại, lúc Chúa Yêsu hiện ra cho các môn đồ trên bờ hồ Tibêriát, Ngài tự tay đốt lửa để nướng cá dọn bữa ăn. Rồi Ngài gọi riêng Phêrô ra một nơi mà hỏi ông ba lần: “Simon, con có mến Thầy không?”, Phêrô đáp lại mỗi lần hỏi bằng câu: “Lạy Chúa, Ngài biết con yêu mến Ngài”.
Vết thương do ba lần chối Thầy, được chữa lành bởi ba lần bày tỏ tình yêu.
Cũng như đống lửa nào cũng nhắc Phêrô không ngừng nhớ tới những lời chối Thầy, thì đống lửa do Chúa Yêsu đốt lên trên bờ hồ cũng nhắc ông không ngơi nghĩ đến tình yêu của ông đối với Chúa Yêsu.