Chương Năm
Cách Rao Giảng Mới Về Tin Mừng
Ngày nay, Đức Thánh Cha Yoan Phaolô II nói đi nói lại không mệt mỏi, về cách rao truyền mới về Tin Mừng. Từ cuộc thăm viếng ở Haiti của Ngài năm 1983 - ở đây, lần đầu tiên Ngài dùng từ ngữ ấy -, Ngài không ngừng gợi đến đề tài này. Hầu như không có dịp nào mà Ngài không nói về nó.(*)
Đức Giáo Chủ nêu lên 3 khía cạnh, nhờ đó cách rao giảng Tin Mừng phải đổi mới:
- Mới trong sự nhiệt tâm
- Mới trong phương pháp
- Mới trong cách diễn tả.
Phải lưu ý ngay điều này: Tin Mừng không đổi mới nội dung của nó. Hiển nhiên sự mới mẻ không thể ở điểm đó. Không có Tin Mừng nào khác ngoài Tin Mừng đã được chính Đức Yêsu loan báo và được các Tông Đồ lặp lại: Chúa Yêsu là Đấng Cứu Độ độc nhất, không có một Đấng Trung gian nào khác giữa Thiên Chúa và loài người.
Tin Mừng, chính là con người Đức Yêsu Kitô. Tin Mừng nằm gọn trong câu này: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế, đến nỗi đã ban Con Một của Người... Không để xử án thế gian, nhưng để nhờ Ngài mà thế gian được cứu” (Yn 3.16-17).
Tin Mừng không là một vật gì, nhưng là một nhân vật: Đức Yêsu, Đấng đã thí mạng sống mình vì ta, ngày thứ ba đã sống lại từ trong kẻ chết và đang sống, không còn bao giờ chết nữa.
Như vậy, chính bản thân Ngài là sứ điệp của tình yêu lớn lao của Thiên Chúa đối với chúng ta: mặc dù chúng ta tội lỗi, Người đã phú nộp Con của Người cho chịu chết, để cho ai tin vào Ngài, thì được có sự sống đời đời. Tin Mừng là thế này: Sự̣ chết đã bị đánh bại bởi sự phục sinh của Chúa Yêsu, Tin Mừng ấy thật là niềm hi vọng cho ta, dù ở địa vị nào hay hoàn cảnh nào.
Giả dụ như Đức Yêsu không nói diễn từ nào, hoặc các vị Thánh chép sử không thuật lại một lời giáo huấn nào của Ngài, thì sứ điệp cốt tủy cũng không bị giảm giá: vì Ngài chính là Lời, và cung cách sống của Ngài là sứ điệp lớn lao nhất và căn bản nhất rồi. Tin Mừng luôn mãi vẫn là một và mãi mãi sẽ cứ như thế. Giả tỷ có một thiên thần nào từ trời xuống loan báo một Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng ta đang có, Tin Mừng ấy sẽ là giả và đáng nguyền rủa - Thánh Phaolô nói đanh thép như thế (Galát 1.7-9).
Vậy chúng ta không cần một Tin Mừng mới, nhưng là một cách rao giảng mới về Tin Mừng.
Bây giờ, chúng ta cùng nhau xem cái mới trong việc rao truyền Tin Mừng nghĩa là thế nào?
1. Mới trong sự nhiệt tâm.
Không ai có thể cảm thấy nhiệt tâm để rao truyền Tin Mừng, nếu trước đó người ấy đã không gặp gỡ đích thân với Chúa Yêsu sống lại. Lý do thật đơn giản: nhiệt tâm tức là cháy nóng như lửa, mà chúng ta chỉ có thể cháy nóng như thế, nếu chúng ta được hun đốt bởi lửa của Thần Khí Chúa Kitô phục sinh. Lòng các môn đệ làng Em-mau đã cháy nóng bừng bừng, khi dọc đàng Chúa Yêsu giảng giải Kinh Thánh cho họ: chính bởi đó mà ngay giờ ấy họ cấp tốc trở về Yêrusalem, để làm chứng về điều đã xảy ra với họ dọc đàng (Lc 24.32-35).
Nhiệt tâm với Tin Mừng là yếu tố căn bản trong việc rao giảng Tin Mừng:
- Mong sao lửa nhiệt thành đối với Nhà Chúa nung đốt tâm can ta (Tv 69.10; Yn 2.17).
- Mong sao - như Phêrô và Yoan - chúng ta không thể không nói những gì ta đã nghe và đã thấy (Cv 4.20).
- Mong sao - như tiên tri Yêrêmia - mồi lửa đã thiêu đốt xương cốt ta, sẽ thúc đẩy ta rao truyền Tin Mừng lúc thuận cũng như lúc nghịch (Yr 20.9).
Để hun nóng lại lửa nhiệt tâm, ta phải trở về mối “tình mến thuở ban đầu” (Kh 2.4), chính cái tình mến đã hấp dẫn ta, đã thúc đẩy ta trao hiến mình vô điều kiện cho Chúa Yêsu. Chỉ lúc ấy, chúng ta mới sẵn sàng chu toàn sứ vụ tiên tri của ta, cho dù nó có vẻ cay đắng hay khó khăn.
Nếu tim ta cháy bừng tình mến Chúa Yêsu Kitô, miệng ta nhất thiết sẽ công bố sứ điệp cứu rỗi của Ngài, và đời ta sẽ là một phản ánh của đời Ngài.
Người rao giảng phải có Đức Yêsu trong tim, hơn là có những học thuyết hoặc đạo lý về của Yêsu. Chính vì lý do ấy, Đức Giáo Chủ Phaolô VI nói rằng: thế giới thời nay cần có những chứng nhân hơn là thầy dạy.
Phải có những vị rao giảng mới, cháy bừng lửa của Thần Khí, những chứng nhân không chỉ lặp lại những gì họ đã học hay đã đọc, nhưng là những người không thể ngưng thuật lại những gì đã tai nghe mắt thấy. Phải để cho người ta thấy được rằng họ đầy tràn Thần Khí (Cv 2.33).
Hai chủng sinh đi dự kỳ tĩnh tâm khai tâm vào cuộc Canh Tân Đặc Sủng. Trở về, họ sung sướng đến nỗi họ đến thẳng phòng Giám Đốc chủng viện, để thuật lại những gì họ đã sống qua. Vị này nhìn họ với vẻ hoài nghi, nhưng vẫn chăm chú và kính trọng nghe họ kể.
Ngay sau đó, một trong hai - hơi dại dột - nói với vị ấy: “Đức Cha có muốn chúng con cầu nguyện ngay cho Đức Cha, để được lãnh Chúa Thánh Thần không?”. Ngài hơi ngượng ngùng trả lời: “Chúa Thánh Thần ư? Ta đã lãnh hồi chịu phép Rửa tội. Người ta đã lại ban Thánh Thần lần nữa ngày chịu phép Thêm Sức, và rồi ngày Ta chịu chức linh mục nữa...”
Sau vài giây thinh lặng căng thẳng, chủng sinh kia nói: “Vậy thì, thưa Đức Cha, chúng con có thể cầu nguyện để cho cái đó hiện tỏ ra cho thấy được không?”
Nhiệt tâm đối với Tin Mừng thúc đẩy chúng ta cháy bừng lửa trong việc tông đồ của ta, đến mức, mặc dù công vụ có mở thêm rộng, thì vẫn có lý do mạnh hơn đưa ta tiến: đó là tình mến!
Cuối năm 1984, sau khi đã giảng một tháng liên tục ở Québec, tôi sang Pháp. Từ đó đến Hòa Lan, ở đó tôi đã có thể rao giảng Tin Mừng tại Zindhoven và Rotterdam.
Không kể công việc hết sức căng, lại chồng thêm việc thông dịch tại chỗ cũng nặng nề nữa. Tôi mệt mỏi và thấm lạnh đến độ tôi đâm mơ về cái nhà nhỏ ấm cúng của tôi ở La Romana, đến khí hậu ấm áp, dễ chịu ở miền bể Caraibes, và cái xứ đạo êm ả ở bờ bể - cộng đoàn thân thương của tôi, v.v...
Nhưng trong giờ nguyện ngắm buổi sáng riêng mình tôi, Chúa cho tôi đọc một đoạn tự truyện của Chị Thánh Têrêxa nhỏ nói rằng: “Nếu ngày nào đó, không còn tình yêu nữa, thì các tông đồ sẽ chẳng ai đi rao giảng Tin Mừng...”
Tôi hiểu lời dạy và nhủ mình: “Hỡi Emilianô, ngươi đừng còn phàn nàn vì bao việc phải làm nữa nhé!...”
Sau một chiến dịch truyền giảng Tin Mừng ở Paraguay, chúng tôi bế mạc ngày tĩnh tâm cuối cùng bằng một Thánh Lễ cầu cho bệnh nhân, trong sân thể thao của Đại chủng viện. Người ta ước tính có đến hơn 20.000 người dự.
Toàn bộ Thánh Lễ được truyền hình trực tiếp, và không biết bao nhiêu người có thể thấy những việc chữa lành Chúa đã thực hiện, cũng như có thể nghe những lời làm chứng sống động của những người vừa được lành bệnh, chẳng hạn như của Bác sĩ Galeano Duarte, thuộc miền Caacupé: “Trong buổi Thánh Lễ thứ năm vừa rồi, tôi đã giơ cho dân chúng thấy đôi nạng mà từ đây tôi không cần dùng nữa, vì nay tôi có thể đi đứng không cần chúng... Trước đây, khi người ta đến bên tôi để cầu nguyện cho tôi được lành, tôi vẫn nói với họ là phải chờ đợi, Thiên Chúa có định giờ của Người cho mỗi chúng ta. Nhưng ngày thứ năm, đó là giờ của tôi, và Chúa đã chữa tôi lành. Và kìa tôi thấy mình đi lại được trong các đường phố của tỉnh ‘Assomption’. Tôi cảm thấy hai chân tôi mỗi lúc một cứng cáp hơn lên. Tôi vô cùng sung sướng vì có thể lại đi đứng được.
“Theo chẩn bệnh của bác sĩ, tôi đáng lẽ phải sống phần còn lại cuộc đời với đôi nạng, và không thể bước đi mà không có chúng. Thế mà nay, tôi được khỏi. Vinh danh cho Thiên Chúa vì sự ấy!”
Hôm sau, tôi trở về Santo Đomingô, qua ngả Miami, với một người bạn đồng hành truyền giảng. Lên phi cơ, người ta nhận diện được chúng tôi và mời chúng tôi lên ngồi ghế du lịch hạng nhất, đang khi vé chúng tôi mua là hạng thường. Chúng tôi nhận lời ngay với lòng biết ơn chân thành, trước cử chỉ nhã nhặn ấy. Sau khi phi cơ cất cánh thì anh phi công phụ đến gặp tôi, hỏi tôi có cho phép anh nói và có nhận cầu nguyện cho anh không. Tôi nhận lời và cầu cho anh, tuy làm có hơi nhanh hơn lệ thường, bởi vì anh phải về với nhiệm vụ, còn tôi cũng muốn nghỉ ngơi một chút...
Nhưng vừa xong, thì viên phụ trách khoang du lịch ấy nói với tôi: “Thưa Cha, hôm qua tôi có nghe trên truyền hình những chứng tá về các việc chữa lành. Cha có thể cầu nguyện cho tôi được không?”. Tôi nghĩ thầm: “Mình dám phải làm một cuộc giảng tĩnh tâm ở đây lắm!”. Rồi chúng tôi nói và cầu nguyện với nhau. Xong rồi, anh đứng dậy và nói: “Thưa Cha, còn các cô tiếp viên đang ước ao hết sức được nói chuyện với Cha”. Tôi đáp: “Vậy thì mời các cô tới đây!”. Anh ta nói: “Qui định không cho phép các cô ấy tới đây ngồi nói chuyện ở hạng nhất...” Tôi hỏi: “Thôi được, thế tôi có thể nói chuyện với các cô ấy ở đâu?”. Anh trả lời: “Nếu Cha đồng ý, Cha có thể xuống dưới phòng bếp của phi cơ...”
Tôi đứng dậy, rời chiếc ghế êm ái ở hạng nhất, để đi xuống phòng bếp của phi cơ. Người ta khép màn lại và đưa cho tôi một chiếc ghế đẩu cao cẳng, đến nỗi hai chân tôi thõng xuống đu đưa. Nó lại bằng sắt cứng và hẹp đến nỗi phải ráng lắm tôi mới ngồi vững trên đó. Cô thứ nhất nói với tôi: “Chiều qua, con có dự Thánh Lễ của Cha và con rất ước ao được nói chuyện với Cha...” Cô thứ hai thuật cho tôi cô đã theo dõi Thánh Lễ trên máy truyền hình, và cô mong được một lời hướng dẫn đàng thiêng liêng. Rồi cứ lần lượt như thế, thay phiên nhau và nhờ nhau làm công tác, các cô đến với tôi để tôi cầu nguyện cho mỗi người. Tôi không tài nào quen nổi cái ghế đẩu cao, trên đó tôi ngồi hơn một giờ, đang khi cười thầm trong bụng là đã mắc bẫy, khi nhận chiếc ghế bành êm ái của hạng nhất.
Cuối cùng, khi được trở về lại ghế ngồi cũ, tôi nói với người bạn đồng hành: “Ta hãy tạ ơn Chúa, vì may là người phi công trưởng chưa tới xin nói chuyện với ta”.
Khi Chúa Yêsu là niềm đam mê của ta, ta có thể luôn luôn rao giảng Tin Mừng bất cứ ở hoàn cảnh nào. Nhiều khi, tôi không còn giờ mà nghỉ ngơi nữa. Nhưng nếu Chúa Yêsu là sự nghỉ ngơi của ta, thì lúc đó ta lại thấy mọi sự khác hẳn.
2. Mới trong phương pháp.
Lời rao giảng đầu tiên là dạy giáo lý.(*)
Phương pháp là một con đường sư phạm để loan báo Tin Mừng. Tin Mừng có một hệ thống tổ chức thành những giai đoạn xác định, rõ rệt. Trong lịch trình toàn vẹn rao truyền Tin Mừng, chúng ta có thể và phải phân biệt rõ ràng hai “thì” tiếp tục nhau, và dù chúng có tùy thuộc nhau, chúng vẫn khác biệt nhau:
- Việc rao giảng đầu tiên, tức là loan báo về con người Đức Yêsu.
- Việc dạy giáo lý tức là truyền lại kho đức tin.
Nếu chúng ta lấy sáu bài diễn từ rao giảng đầu tiên, trong sách Công Vụ các Tông Đồ làm điểm xuất phát (Cv 2.14-39; 3.12-26; 4.9-12 và 20; 5.29-32; 10.34-43; 13.16-41), chúng ta sẽ nhận thấy nội dung của lời rao giảng đầu tiên rất khác với nội dung của giáo lý:
Việc rao giảng đầu tiên, nền tảng của đức tin ta, tập trung vào việc công bố về Đức Yêsu, với ba biến cố quan trọng nhất: sự chết, sự phục sinh và tôn vinh của Ngài,(*) với ba tước hiệu lớn nhất của Ngài: Đấng Thiên Sai, Cứu Thế và Đức Chúa. Vậy đây không phải là một đạo lý mà người ta phải hiểu bằng trí khôn, nhưng là một con người mà người ta phải đón nhận cách tự do bằng lòng tin.
Khi rao giảng đầu tiên, người ta không nói đến một sự vật gì, song đến một ai. Nền tảng không bao giờ có thể thay đổi của Kitô giáo, chính là Đức Yêsu Kitô. Không có nền tảng ấy, bất cứ sự gì người ta xây lên trên (dù là giáo lý, luân lý, hay thần học), sẽ là xây trên cát. Một trong những định nghĩa đầu tiên của Kitô giáo không phải là một triết thuyết, một đạo lý hay một giáo huấn, nhưng là “Sự Sống” (x. Cv 5.20).
Việc rao giảng đầu tiên dẫn ta đến gặp gỡ đích thân với Đức Kitô phục sinh, và đến kinh nghiệm ơn cứu độ của Ngài, nó làm ta trở thành những tạo vật mới bởi tin và hoán cải (Xem Thông điệp: “Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc”, số 44).
Cái lầm lạc lớn của ta về mặt phương pháp mục vụ rao giảng Tin Mừng, là nhấn trên giáo huấn và giáo lý cho những người chưa được tái sinh lại.
Nhân dịp một cuộc đi giảng tại Ai cập, chúng tôi đã được tham quan những Kim Tự Tháp đồ sộ. Người ta bảo chúng tôi rằng: để cho người quá cố hành trình sang thế giới bên kia, người ta đã dọn cho họ những đĩa thức ăn sơn hào hải vị. Nhưng đáng tiếc, những thức ăn quí hiếm ấy bị hư thối, chỉ vì những người đã chết đâu có thể dùng được.
Đó cũng chính là cái đang xảy ra khi chúng ta ban lương thực quí giá của đạo lý, luân lý, hoặc chính giáo cho những kẻ còn đang chết, bởi vì họ chưa được kinh nghiệm sự sống dồi dào mà Chúa Kitô đã đến đem cho thế gian.
Chính vì vậy, khi Đức Yêsu đến nhà ông Yairô, có cô bé 12 tuổi con gái ông vừa chết, thì việc đầu tiên Ngài làm là phục sinh cô bé, và chỉ sau đó, Ngài mới bảo người ta dọn cho cô bé ăn. Có những người nghĩ rằng nhờ ăn mà các kẻ chết sống lại. Đâu có phải vậy!
Thường thường, cơ cấu đạo lý của chúng ta rất hoàn chỉnh, nhưng nó giả thiết phải có một cái gì trước đã, mà cái đó lại chưa có.
Một linh mục kia rất tích cực và năng động, thích tổ chức chu đáo các lễ nghi phụng vụ, và ông đã để vào đó rất nhiều lo lắng. Nhưng vì cái gì ông cũng muốn tự mình làm lấy cả, cho nên luôn luôn ông quên sót một cái gì đó.
Một hôm, ông tổ chức một cuộc Kiệu Mình Thánh Chúa. Ông đã chú ý đến hết mọi chi tiết: nào ca đoàn, các chú bồi lễ, các bài ca ngợi, nến đèn, hương, thứ tự xếp hàng, v.v...
Lễ nghi khởi sự đúng giờ đã định. Đàn phong cầm trổi nhạc, giáo dân ca hát, và mọi người xếp hàng theo đúng thứ tự, đang khi làn hương trầm nghi ngút bay, tô điểm thêm một vẻ long trọng và cầm trí sốt sắng. Linh mục chủ sự bận áo choàng lớn đi dưới phương du, do 4 chú bồi lễ ăn mặc chỉnh tề cầm cán bốn góc, hai tay linh mục nâng cách cung kính mặt nhật hào quang cho giáo dân thờ lạy, hát mừng. Cuộc kiệu sắp kết thúc, bỗng có một chú bồi lễ lại gần linh mục để nói với ông điều gì, nhưng ông xua đi vì sợ gây mất trật tự, chia trí, đó là điều ông không muốn. Nhưng chú bé cứ một mực nài nỉ, cho nên ông hỏi nó chuyện gì xảy ra. “Thưa Cha - chú bé nói - Cha đã quên đặt Mình Thánh Chúa vào trong mặt nhật hào quang rồi...”
Lúc ấy, vị linh mục mới hạ mặt nhật xuống coi xem sao, thì hỡi ôi, ông nhận ra quả thật ông đã quên. Không cầm mình được, ông kêu to lên: “Luôn luôn, ta quên một chi tiết nhỏ!”
Nhiều khi, chúng ta tổ chức chu đáo đủ chuyện. Các kế hoạch mục vụ của ta thật đồ sộ, các chương trình thật hoàn chỉnh. Mọi sự đều hoàn hảo... Nhưng chỉ quên “cái chi tiết nhỏ...” ấy.
Năm 1985, chúng tôi đề cập đến đề tài ấy với một nhóm thừa sai Nhật bản. Một người trong nhóm phát biểu: “Cái đó là điểm cốt cán để rao giảng Tin Mừng trong đất nước này. Nếu chúng ta không trình bày trước hết lời rao giảng đầu tiên, chúng ta sẽ nai lưng làm việc để gặt hái kết quả chẳng đáng bao lăm”. Khi ấy Đức Giám Mục lão thành của giáo phận Fukuoda nhìn nhận: “Chúng ta đã xây dựng rất cẩn thận các cơ cấu mục vụ, nhưng nhiều khi chúng ta đã quên trình bày Chúa Yêsu cho người ta”.
Giáo lý phải được đặt đúng vị trí của nó, nếu muốn nó đem lại hoa quả dồi dào: tức là sau khi đã công bố lời rao giảng đầu tiên. Muốn cho một sự sống lớn lên, thì nó phải sinh ra trước đã. Người ta sinh ra trong đời sống mới, bởi đáp lời kêu mời của sứ điệp cứu độ bằng lòng tin và sự hoán cải (Xem Thông Điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc”, số 46-47).
Giáo lý không bao gồm, lại càng không thay thế lời rao giảng đầu tiên. Nó đòi phải rao giảng đầu tiên trước đã! Dạy giáo lý mà trước đó không truyền đi lời rao giảng đầu tiên, thì đó là quên mất “cái chi tiết nhỏ” như vị linh mục trên kia.
Làm cho người ta hiểu biết giáo lý chưa đủ, phải để Chúa Thánh Thần nắn tạo hình ảnh Chúa Kitô trong ta.
Tiếc thay, trong công việc đào tạo Kitô hữu, nhiều khi người ta “quên mất cái chi tiết nhỏ”, vốn là tảng đá góc của đời sống Kitô giáo. Trong Giáo Hội Công giáo, chúng ta có một kho tàng phong phú đức tin, giáo huấn của các Tông Đồ, huấn quyền của Giáo Hội, đời sống bí tích, và v.v... Nhưng tất cả những cái đó đặt trên một nền tảng: bản thân Chúa Yêsu - Đấng đã chết và sống lại. Đó chính là tảng đá góc, trên đó xây dựng tất cả công trình.
Nếu chúng ta không xây trên tảng đá không thể lay chuyển ấy, thì một cơn bão nhỏ hay một cơn lốc nhẹ cũng sẽ trốc đổ cả lâu đài, và đổ vỡ sẽ rất lớn.
3. Mới trong cách diễn tả.
Để hiểu điều nói trên, chúng ta phải đưa mắt nhìn vào Chúa Yêsu - vị rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất - để nhận định xem Ngài đã rao truyền Tin Mừng cứu độ như thế nào.
Chúa Yêsu trình bày Tin Mừng một cách rất đơn sơ. Thánh Mattthêô toát yếu cách tuyệt diệu hoạt động của Chúa Yêsu Kitô trong một bản văn rất hay:
“Đức Yêsu rao khắp xứ Galilê, giảng dạy trong các Hội Đường của họ, rao truyền Tin Mừng về Nước và chữa lành mọi tật nguyền, bệnh hoạn trong dân” (Mt 4,23 và 9.35).
Việc rao truyền Tin Mừng của Đức Yêsu gồm hai khía cạnh căn bản: rao giảng Lời (Tin Mừng về Nước) và chữa lành các bệnh tật.
· Rao giảng Lời.
Ngày nay, có những người nghĩ rằng: chứng tá đời sống là đủ, chẳng cần rao truyền Lời làm chi. Nhưng thử hỏi: có chứng tá đời sống nào chân thật cho bằng chứng tá của Đức Yêsu, ấy thế mà Ngài vẫn rao truyền Lời bằng mọi phương cách, khi Ngài rảo khắp thành thị và làng mạc.
Tông huấn Evangelii Nuntiandi (Tin Mừng cần phải rao truyền) ở số 22, khẳng định rằng: Cho dù chứng tá đời sống là cách thức đầu tiên để rao truyền Tin Mừng, nó vẫn không đủ, và nó phải kèm với (việc rao truyền) Lời sự sống.(*) (x. Rm 10.14).
Sẽ không có rao truyền Tin Mừng thực thụ nếu người ta không loan truyền Danh Chúa, đạo lý, đời sống, các lời hứa, Vương Quốc và mầu nhiệm Chúa Yêsu, Con Thiên Chúa, sứ điệp là chính bản thân Đức Yêsu vậy.
· Chữa lành các bệnh tật.
Đức Yêsu đã thực hiện những dấu lạ và kỳ công, những cái này lôi cuốn đoàn lũ dân chúng đến với Ngài, và cho đám dân này, Ngài rao truyền lời cứu rỗi.
Có những người chủ trương rằng: điều quan trọng nhất là loan truyền Lời Chúa, còn những dấu lạ và kỳ công không cần thiết. Nhưng chúng ta thấy gì? Rất nhiều nhà thờ, nơi cầu nguyện, vắng như chùa Bà Đanh, tại sao? Tại vì chỉ đến nghe lời Chúa không thôi thì chưa đủ, dân chúng còn muốn nghiệm thấy hiệu lực của Lời Chúa. Phải có những biểu lộ thấy được, ở đó phô bày sự toàn thắng của Chúa Yêsu Kitô trên tội lỗi, bệnh tật và sự chết.
Khi ta loan truyền Lời Chúa với những dấu lạ kèm theo, tức khắc dân chúng đông đảo sẽ tụ họp đến, không chỉ để nghe mà thôi, mà còn để thấy Lời Chúa Yêsu được thực hiện. Lúc ấy, họ sẽ dễ mở lòng đáp lại sứ điệp cứu rỗi, bằng một hành vi liên kết với bản thân Đức Yêsu Kitô như Cứu Chúa và Chúa Tể của mình.
Khi chúng tôi rao giảng theo cách ấy, chúng tôi thấy xảy ra những điều như được thuật lại trong nhật báo “El Diaro” của tỉnh Assomption ở Paraguay, ngày 22/4/1985, trong bài nhan đề: “Lòng tin đã triệu tập hơn 40.000 tín đồ”:
Dù không có một lời quảng cáo nào cho cuộc viếng thăm của ông linh mục người Canada ấy trên đất nước chúng ta, thế mà, như bị thúc đẩy bằng một sức mạnh triệu tập lạ lùng, hơn 40.000 người đã tụ họp trong sân vận động của Câu lạc bộ Cerro Porteno.
Chiến dịch loan báo Tin Mừng của phong trào Canh Tân Đặc Sủng qua lời giảng của Cha Tardif, đã gây ra một quang cảnh vĩ đại của lòng tin nơi Chúa Yêsu Kitô. Chỗ đó quá nhỏ bé, đã không thể chứa hết đoàn lũ dân chúng muốn tham dự lễ nghi, nhiều người đã phải đứng ngoài hàng rào của sân vận động. Hàng bao ngàn người khác đã theo dõi buổi lễ trên máy truyền hình.
Người ta có thể nói không ngoa rằng: kênh 13 đã phá kỷ lục của cái người ta gọi là số lượng khán thính giả, theo như bài bình luận của đài chiều hôm đó cho biết.
Hiện thời, Giáo Hội Công giáo đang thu hút mạnh mẽ các tín đồ, bởi vì không cần ai quảng cáo, mà toàn đất nước đều đã được nghe sứ điệp và hưởng lời cầu nguyện của linh mục ấy.
Cũng phải nhấn thêm điều này: là vị trí mà phong trào Canh Tân Đặc Sủng Công giáo đang chiếm được, trong thời sự hiện tại trong nước và trên thế giới.
Một cách âm thầm, nó không ngừng lan rộng ảnh hưởng thật đáng kinh ngạc. Phong trào này - giữa lòng Giáo Hội - có phận sự làm sống lại quyền năng của đức tin trong thế giới Kitô giáo.
Các dấu lạ đi kèm theo lời rao giảng đầu tiên; trái lại. chúng tôi hầu như chưa hề thấy dấu lạ kèm theo những luận án thần học, cho dù chúng cũng bênh vực cùng những lý lẽ như sau. Ngày nay, khi chúng tôi trở lại với việc rao giảng tiên khởi, chúng tôi thấy những dấu lạ ấy triệu tập không biết cơ man nào là người, đến nỗi gây thành những vấn đề cần phải được giải quyết cho xong.
Khi lời Chúa được kèm theo bởi những dấu lạ, vấn đề không còn phải là làm sao cho người ta đến,(*) nhưng đúng hơn là làm gì với những người đã đến.
Chẳng kỳ cục sao, tờ điện báo này gửi cho tôi ngày 4/5/1986, từ thành phố Elizabeth trong bang New Jersey, Hoa Kỳ, nói rằng:
“Cám ơn vì đã không đến giảng cuộc Đại hội từ ngày 13 đến 18/5/1986. Chúng tôi không thể tìm được nơi nào rộng đủ, để chứa tất cả khối người muốn nghe Lời Chúa - Xin nhận tấm chân tình của chúng tôi”.
Ký tên: Cha Roberto Trabold”
Các việc chữa lành và phép lạ không phải là hai mẫu ruột thừa trong việc rao giảng Tin Mừng đâu, bởi vì qua chúng, hiệu lực của Lời Chúa đã được công bố mới tỏ ra kiến hiệu.
Thời trước đây, người ta nghĩ rằng: các phép lạ có công dụng minh chứng sự xác thực của đạo lý. Nhưng kỳ thực, chúng có một chức năng còn quan trọng hơn thế nhiều: chúng cho thấy rằng vị Thiên Chúa mà chúng ta loan báo đang hành động thực sự.
Chính là ơn cứu độ đang hiện hành!
Thành ra, các dấu phép lạ và những việc chữa lành hiến cho ta cơ may tuyệt vời để bày tỏ hoạt động của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ nói về một Thiên Chúa mà chẳng ai thấy Người làm gì cả.
Trong một cuộc hội nghị đại kết, một Giám Mục ở Pakistan nói với chúng tôi giọng rất xác tín:
“Từ đó đến nay đã là 25 năm tôi làm việc ở Pakistan. Tôi có thể nói tôi là người đã làm cho nhiều người Hồi giáo trở lại nhất: khoảng chừng 1.000 người trong suốt thời công vụ.
Đến cuối sự nghiệp, tôi nhận định rằng: nếu chúng ta không rao giảng cho người Hồi giáo một Tin Mừng kèm theo có dấu lạ và kỳ công, để chứng tỏ đạo ta không phải là một ý thức hệ, nhưng là một thực tại, chúng ta sẽ mất thời giờ thi hành sứ vụ ở giữa họ, vì họ có một nền văn hóa phản Kitô giáo chứ không phản Kitô.
Lại có một đại biểu Ái Nhĩ Lan nói thêm: Thời xưa, người ta nhìn lên trời cầu cứu khi gặp các khó khăn, các vấn đề... Gặp dịch tể, người ta tổ chức một kỳ cầu nguyện. Nếu không mưa, người ta làm lễ cầu đảo xin Thiên Chúa ban mưa xuống.
Ngày nay, tiêm chủng chích ngừa đã làm quên mất Thiên Chúa. Nhưng cái tồi tệ nhất là người ta xa cách Thiên Chúa, trong những lãnh vực siêu phàm hơn. Nhiều khi, người ta muốn xây dựng Nước Thiên Chúa bằng những kỹ thuật và tổ chức. Nếu quả thực những người Hồi giáo cần các dấu lạ như thế, tôi dám quả quyết rằng: đối với thế giới tây phương và đã phát triển, các dấu lạ ấy còn cần thiết hơn.
Loài người sống nhờ vào sức lực riêng của mình và họ phải nếm kinh nghiệm này: là có một quyền năng của Trên Cao, quyền lực của Thánh Thần”
Phần tôi, tin rằng cách diễn tả mới để rao giảng Tin Mừng phải thế này: Lời được kèm theo bằng những dấu chỉ quyền năng.
Thánh Phaolô không rao giảng cách nào khác (1Th 1-5),(*) ngược lại, phép lạ cũng lại chứng nhận tính xác thực của sứ vụ tông đồ của ông (x. 2C 12.12).(*) Làm như thể không có các dấu lạ ấy, thì không thể là vị tông đồ thực thụ!
Tôi nghĩ rằng: Chúa Yêsu không thay đổi đường lối mục vụ, và chính vì vậy mà ngày nay, Ngài tiếp tục tỏ mình ra với quyền năng trước con người hiện đại. Chúa Yêsu không thay đổi phương pháp mục vụ, bởi vì phương pháp Ngài dùng là rất hiệu nghiệm.
Ngài không cần các thứ hội nghị Mục Vụ hay những tuần lễ “cập nhật hóa” hoặc “tu nghiệp”, bởi vì phương pháp của Ngài vẫn kiến hiệu và hợp thời, và chẳng có gì người ta có thể nghĩ ra tốt hơn để thay thế cho nó. Ngài tiếp tục chữa bệnh, Ngài triệu tập dân chúng, loan báo lời Chúa cho họ, và ai mở lòng đón nhận đức tin thì ăn năn trở lại.
Ngày 23/12/1987, Cha Paul Pegeaud từ Issia bên Côte d’ Ivoire viết cho tôi lá thư này:
“Cuộc rao truyền Tin Mừng của Cha đã để lại dấu vết sâu đậm nơi xứ đạo. Tôi lấy làm tiếc đã không mời thêm các người ngoại giáo, vì mỗi một người ngoại giáo được chữa lành đã trở nên một người dự tòng. Có những việc chữa lành đập vào mắt, như trường hợp em nhỏ gù lưng 4 tuổi. Ba nó, một y sĩ, đang bế nó trên tay. Khi bắt đầu giờ cầu nguyện cho bệnh nhân, em nhỏ ấy đâm toát mồ hôi ròng ròng. Nó lăn xuống đất và giẫy giụa như thể nằm trong nồi nước sôi. Nó cảm thấy cái gì kéo đầu và tay, rồi thì nó tự mình đứng dậy.
Lúc ấy, nó nói với cha nó: “Ba ơi, ba là bác sĩ giỏi thật!”
Cha nó cảm động đáp lại: “Nhưng không phải cha đã chữa lành cho con. Chính Chúa Yêsu Nadarét!”. Khi nó về nhà, cha nó lấy một ly rượu định uống vì ông ghiền, nhưng không hiểu tại sao miệng ông lại nhổ ra, và thế là ông cũng được giải thoát khỏi bệnh nghiện rượu.
Chúng tôi còn có những trường hợp giải hòa giữa các người trong gia đình và tha thứ rất cảm động.
Chúng tôi đã thường giảng Chúa Yêsu đã sống lại và ban sự sống, nhưng bây giờ chúng tôi mới có vô số chứng nhân chứng thực điều ấy.
Chúng tôi đã đọc và đã giảng rất thường xuyên về các việc chữa lành nói trong Tin Mừng. Nhưng bây giờ, dân chúng mới được thấy tận mắt, Tin Mừng đã tìm lại được một giá trị mới đối với Kitô hữu, và không ngừng gây ngạc nhiên cho lương dân”.
Có những người chỉ trích những thái quá trong tác vụ chữa lành. Tôi cũng chỉ trích như thế, vì quả thực chúng có xảy ra đôi khi. Nhưng các người nêu ra những cái thái quá, cũng cần vạch rõ cả những kẻ thiếu sót thái quá, tức là những kẻ không bao giờ để ý đến khía cạnh ấy của Tin Mừng. Theo ý tôi, thái độ thiếu sót thái quá này nguy hiểm hơn, vì nó dẫn ta đến sự quên hẳn quyền năng Thiên Chúa đang thi thố ơn cứu độ cho con người thời đại này.
Đôi khi, vì thiển cận, người ta nghĩ việc chữa lành là tất cả, và người ta không khám phá ra giá trị của nó. Người ta không đo được tầm mức của dấu lạ ấy: việc chữa lành gây một phản ứng dây chuyền, trong các lãnh vực khác của đời sống con người và của những ai sống cạnh người đó, như trường hợp sau đây cho thấy:
ở Santiago de Los Caballeros, thuộc Cộng Hòa Dominicana, mùa thu 1987 đã xảy ra một việc chữa lành rất quan trọng. Oscar Lana gặp phải một tai nạn xe hơi, do đó anh lâm vào hôn mê trong vòng hai tháng. Người ta chở anh tới một bệnh viện có tiếng ở Pittsburg bên Hoa Kỳ, và anh đã ở đó nhiều tuần lễ.
ở đây, khi người ta nhận thấy không còn có thể làm được gì cho anh - trước đó, người ta đã cắt đi một phần não bộ -, người bèn trả anh về nhà. Nếu anh có thể ra khỏi cơn hôn mê, anh sẽ chỉ còn sống như cây cỏ, không cảm giác, không có gì là đặc tính con người.
Trong một buổi lễ cầu cho bệnh nhân ở nhà thờ chính tòa của thành Valverde, ba anh mời chúng tôi về nhà cầu nguyện cho con ông. Chúng tôi - Cha sở nhà thờ chính tòa và tôi - đến. Và trong vòng 5 đến 8 phút, chúng tôi đã cầu xin Chúa chữa lành anh. Thật thảm hại khi thấy một người hoàn toàn im lìm, bất động, không có một phản ứng nào, không một cử động nào.
Hôm sau, vào buổi sáng, Oscar gọi cha mẹ. Họ vô cùng cảm động khi nghe tiếng anh nói. Trong tuần ấy, anh coi chương trình thể thao trên truyền hình, và nhớ lại tên của mọi cầu thủ có tiếng mà anh biết. Trí nhớ của anh đã trở lại, và dần dà tất cả mọi quan năng khác của trí khôn.
Ít lâu sau, anh chỗi dậy ra khỏi giường; sau cùng, nhờ một cuộc điều trị rất chu đáo và nhờ tập luyện, anh đã đi lại được.
Hiện nay, Oscar Lama lại làm việc chức nghiệp bình thường.
Việc chữa lành đã là một tiếng mời gọi đến đức tin cho cả gia đình, kể cả một trong những người bạn thân của anh hay thường xuyên lui tới thăm viếng anh, người bạn này đã đến xưng tội với tôi. Khi Oscar đến nhà thờ lại được, thì người bạn cũng được rước lễ vỡ lòng bên cạnh anh. Tất cả gia đình đã được đánh động trong tâm hồn nhờ việc chữa lành ấy.
Cũng một chuyện tương tự đã xảy ra ở tiệc cưới Cana, theo như Thánh Yoan kể: “Đức Yêsu đã tỏ vinh quang Ngài ra và các môn đồ đã tin vào Ngài” (Yn 2.11). Dấu lạ làm sống dậy đức tin nơi những người xung quanh Ngài. Sự chữa lành đã trở thành khí cụ rao truyền Tin Mừng vậy.
4. Những cách rao truyền mới.
Chúng ta phải tìm kiếm những phương cách mới để rao giảng Tin Mừng. Cái chúng ta đã làm từ trước tới nay không đủ. Phải rao giảng tại các sân vận động, sử dụng những phương tiện người Công giáo còn ít dùng đến, như truyền thanh, truyền hình và báo chí. Óc tưởng tượng phải khiến ta tìm kiếm những cách thức diễn tả Tin Mừng mới mẻ qua âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa.
Chúng ta không còn có thể đợi người ta đến nhà thờ nữa. Chính chúng ta phải ra khỏi đó. Chúa Yêsu đã truyền: “Hãy đi rao giảng!...” Ngài không bảo “Hãy ngồi đợi người ta đến với chúng con!”... Những sân vận động, những công trường, những trung tâm thương mại và bất cứ cuộc hội họp xã hội nào..., đều có thể là những trung tâm rao giảng Tin Mừng.
Cộng đoàn chúng tôi - “nô bộc Chúa Kitô đang sống” - rao giảng bằng truyền hình. Dù đó là một tác vụ rất tốn kém và chúng tôi không có đủ phương tiện cần thiết, chúng tôi liều bước đi trong lòng tin... Cũng như Môsê không đợi có đủ vàng bạc để mua lương thực cho cuộc hành trình xuyên sa mạc, nhưng ông đã liều bước đi trong lòng tin; thì chúng tôi cũng đã liều bước đi như vậy. Vàng bạc, chúng tôi không có, cái chúng tôi có chúng tôi cho: đó là Đức Yêsu, với cái lợi thế này: Ngài là Đấng duy nhất người ta cần. Chúng tôi có thể trông cậy vào vị nghệ sĩ tuyệt diệu nhất trần gian, con người đã biến sự sống và cái chết của mình thành một kiệt tác nghệ thuật. Thế là đủ cho chúng tôi! Nếu chúng tôi đặt vào đó cái chút ít mà chúng tôi có, các bạn có nghĩ rằng Chúa sẽ bỏ mặc chúng tôi không?
Chúng tôi bắt đầu một chương trình trên đài địa phương. Đến nay thì chương trình được phát hình đi trên toàn quốc mỗi ngày. Và từ đó, chúng tôi còn nhận được những chứng từ đủ thứ, đủ loại:
Một bà kia đang làm việc trong bếp ở nhà mình, vừa làm bà vừa theo dõi chương trình rao giảng Tin Mừng trên máy truyền hình. Đến chỗ cầu nguyện cho bệnh nhân, bà cũng quỳ xuống cầu xin cho có một đứa con mà bà đã mong ước từ 10 năm nay, kể từ khi lấy chồng. Ngay lúc ấy, bà cảm thấy một xúc động mãnh liệt và một sức nóng xâm chiếm toàn thân. Chúa chữa lành nơi bà cái trục trặc đã làm bà son sẻ bấy lâu.
Thế là ít lâu sau, hai vợ chồng chờ đợi một đứa bé sắp ra đời. Và nó đã sinh ra trong những điều kiện tốt đẹp, rồi được rửa tội với tên thánh là Em-ma-nu-en.
Khi chúng tôi biết trường hợp ấy, chúng tôi mời cả hai vợ chồng lên đài truyền hình. Đang khi bà nói lời chứng, thì máy thu hình mặt đứa bé đang nằm gọn trong cánh tay của ba nó. Quả thật, đấy là một chứng tá hết sức tốt đẹp!
Phải dùng hết mọi phương thế để rao truyền Tin Mừng. Tôi có nghe nói đến một người ở Santiago de los Caballeros đã được Chúa chữa lành, đang khi nghe trong băng cát-xét những lời cầu nguyện cho bệnh nhân. Qua phương tiện này, chúng ta có thể truyền đạt tới những người không biết đọc, hoặc ngay cả những người không ưa thích.
Cả đến điện thoại cũng là phương tiện truyền giảng. Chúng tôi có tổ chức ở Nhà Truyền Tin một tổ phục vụ điện thoại suốt ngày, để nghe những tiếng gọi của những người đang gặp quẫn bách, nhiều khi hòng tuyệt vọng, và ngay cả đến bờ của tự sát. Qua điện thoại, chúng tôi rao truyền Tin Mừng và cầu nguyện cho họ. Chúng tôi gặt hái được những kết quả thật tuyệt vời.(*)
Đây là một lá thư mà tôi đã nhận được:
“Cha đáng kính,
Con không biết tạ ơn Thiên Chúa thế nào, về việc Chúa đã chữa lành đứa con gái của con, Maria Guadalupe.
Năm 1978, Cha có đến Guadalajara để giảng tĩnh tâm cho linh mục. Vì con không thể nào gặp được Cha, con đã hỏi thăm chỗ Cha ở và đã để vài lời nhắn lại, xin Cha cầu nguyện cho con gái con: nó bị khối u hai bên ngực và các bác sĩ đã quyết định giải phẫu cắt đi.
Nó đã bắt đầu điều trị bằng nội tiết tố được 4 ngày khi con nghe nói Cha ở đây. Và như người đàn bà bị loạn huyết, con đánh bạo hỏi xin Cha, nếu có dư chút thì giờ, đến gặp chúng con và cầu nguyện cho con gái con.
Cha đã hết sức thương nhận lời. Khi con gái con được nói chuyện với Cha, nó đã khóc vì vui sướng.
Một tuần lễ chưa trôi qua, mà chúng con đã nhận thấy nó không còn khối u nào nữa.
Từ đó đến nay đã 5 năm, nó không còn có vấn đề gì nữa. Ngay từ đầu, chúng con đã dâng lời cảm tạ Chúa cho Cha. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Cha vì sự trợ giúp lớn lao Cha đã dành cho chúng con, mà không bận tâm với nỗi nhọc nhằn Cha chắc chắn phải cảm thấy bởi tất cả các việc làm ấy.
Thiên Chúa thật lớn lao, đến nỗi Người sử dụng cả phương tiện gọi điện thoại ấy, để ban tràn đầy hoan lạc cho chúng ta hết thảy.
Ký tên: Ma Dolores S.de Reyes”
Chứng tá sau đây đến từ một phụ nữ, một hôm đã điện thoại cho tôi từ Tây Ban Nha đến Cộng Hòa Dominicana:
“Đầu năm 1982, sau khi đã tìm kiếm Cha khắp cùng trời đất, con đã may mắn gặp được Cha ở điện thoại. Sau vài phút chờ đợi, từ bên kia Đại Tây Dương, Cha đã trả lời con. Con đã trình bày cho Cha nỗi đau buồn của con về bệnh của chồng con. Ngay tại điện thoại, Cha dâng một lời cầu nguyện ngắn cho anh ấy.
Giờ đây, con đến nói cho Cha biết là chồng con hoàn toàn đã được khỏi bệnh, và con nghiệm ra rằng: đối với Chúa, khoảng cách chẳng có gì đáng kể...”
Qua cả thư từ, Chúa cũng tỏ mình ra. Vì tôi nhận được không biết bao nhiêu là thư từ xin cầu nguyện; vì̀ tôi không có đủ giờ để đọc hết, cho nên một nữ tu đảm nhiệm việc trả lời thay tôi, và chắc chắn với họ rằng: thứ sáu đầu tháng tới, tôi sẽ dâng Thánh Lễ chỉ theo ý những ai nhờ tôi cầu nguyện cho.
Chính như thế đó, mà cách đây vài tháng, tôi nhận được một lá thư từ Braxin, do một phụ nữ viết cho tôi như sau:
“Cha Emiliano thân mến,
Đã khá lâu rồi, con có viết thư kể nỗi đau buồn và khổ sở của con cho Cha nghe. Con vô cùng vui sướng nhận được thư hồi âm của Cha, trong đó Cha hứa sẽ cầu nguyện cho con trong Thánh Lễ thứ sáu đầu tháng. Thưa Cha, con muốn nói Cha nghe là chính hôm thứ sáu ấy, con đã được chữa lành hết các tật bệnh. Xin Chúa chúc lành cho Cha trong công vụ của Cha”.
Thực ra tôi đã không có giờ đọc lá thư trên của bà ấy, nhưng có sao đâu, Chúa đã đọc và đã lo săn sóc cho bà.
Cuối cùng, cách diễn tả mới mẻ không phải là những phương pháp hay những khí cụ, mà ta dùng để rao truyền Tin Mừng, nhưng là sự cậy nhờ vào quyền năng của Thánh Thần, rồi thì dùng bất cứ dụng cụ nào trong tầm tay để rao truyền Tin Mừng.
5. Cách rao truyền mới phải toàn diện.
Toàn bộ Tin Mừng là để cho toàn diện con người và cho tất cả mọi người.
· Toàn bộ Tin Mừng.
Tin Mừng là Chúa Yêsu. Không có ai khác. Nhưng ta đừng quên mầu nhiệm thân thể Ngài: Chúa Yêsu hợp với Giáo Hội thành một thân thể. Chính vì thế, không thể rao truyền toàn bộ Tin Mừng, nếu chúng ta giảm thiểu Tin Mừng vào việc trình bày chỉ nguyên bản thân Đức Yêsu mà thôi, và quên hẳn thân mình Ngài là Giáo Hội.
Ngài đã nới rộng sứ vụ Ngài cho các kẻ thân thuộc: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Yn 20.21).
Từ đó, ơn cứu độ của Chúa Yêsu được trở thành hiện diện và hiệu lực, qua thừa tác vụ của Giáo Hội. Chính vì thế mà phân rẽ thân ra khỏi đầu là phản bội Tin Mừng. Bỏ lơ khía cạnh Giáo Hội sẽ là chia rẽ cặp Chúa Kitô-Giáo Hội.
Khi một ký lục hỏi Đức Yêsu về điều răn trọng nhất, Ngài trả lời: “Giới răn đệ nhất... là yêu mến Thiên Chúa; còn giới răn thứ hai, yêu mến đồng loại” (x. Mt 22.36-40). Hai giới răn ấy không thể tách rời. Bởi đó, mối tương quan với Thiên Chúa cũng bao hàm mối tương quan với các thành phần khác của Thân Thể.
Đàng khác, Tin Mừng toàn bộ cũng bao gồm cả những dấu chỉ quyền năng, chứng tỏ Vương quốc đang ở giữa chúng ta. Chúng ta không thể lơ bỏ những đặc sủng, kẻo sẽ cưa cụt Tin Mừng.
Một hôm, một vị Giám Mục mời tôi đến giảng tĩnh tâm cho linh mục ở Canada, nhưng với điều kiện là không có việc cầu nguyện cho bệnh nhân được lành phần xác, và không được đề cập đến đề tài các đặc sủng, cách riêng đặc sủng chữa bệnh.
Tôi gợi ý cho Ngài là nên mời một Cha giảng khác, ông ấy sẽ không nói đến tác vụ chữa lành; còn phần tôi, tôi không thể không nói điều tôi đã mắt thấy tai nghe. Lúc ấy, vị Giám Mục bèn nói: “Hãy đến và giảng cho chúng tôi toàn bộ Tin Mừng!”
Trong bài giảng đầu tiên, tôi lấy đoản văn trong đó Thánh Matthêô toát yếu phương pháp rao truyền Tin Mừng của Đức Yêsu: “Đức Yêsu rảo khắp xứ Galilê, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao truyền Tin Mừng về Nước và chữa lành mọi tật nguyền bệnh hoạn trong dân” (Mt 4.23).
Rồi tôi nói thêm: “Đức Yêsu không hề thay đổi phương pháp. Chúng ta không thể sáng chế ra một phương pháp hay hơn được. Tự tiện bỏ đi một yếu tố nào của Tin Mừng, đó là tài khôn mà cho rằng phương pháp của chúng ta hay hơn phương pháp của Chúa Yêsu. Bỏ đi các việc chữa lành là phản bội Tin Mừng”.
· Cho toàn diện con người.
Tin Mừng không phải chỉ đạt tới sự biến đổi trái tim, nhưng tới tất cả những gì có liên can tới con người.
Con người là xác, hồn và trí. Bởi thế, sự cứu độ lan thấu toàn diện hữu thể họ.
Chúa Yêsu không đến cứu linh hồn, nhưng cứu những con người vừa có hồn có xác. Theo kinh nghiệm riêng của tôi, tôi thấy Thiên Chúa mượn hai con đường:
- Con đường của người bất toại: trước tiên Ngài tha tội rồi sau chữa thể xác người ấy (x. Mc. 2.9-12).
- Con đường của anh mù bẩm sinh: Ngài khởi sự chữa lành bệnh mù, rồi sau Ngài biến đổi nội tâm anh (Yn 9).
Chương trình của Thiên Chúa đụng chạm đến con người toàn diện. Bởi thế, việc rao truyền Tin Mừng cũng phải cứu vớt mọi khía cạnh của đời sống con người, đụng chạm tới tất cả con người: giải thoát khỏi tội, khỏi u mê và khỏi chết.
Nhưng nó cũng phải thỏa mãn mọi nhu cầu căn bản của con người: lương thực, quần áo, sức khỏe và nhà ở xứng đáng với kẻ làm con cái Thiên Chúa.
· Cho tất cả mọi người.
Vốn có tính cứu độ, việc rao truyền Tin Mừng phải có năng lực giải phóng: đạt tới mọi cơ cấu của đời sống nhân loại:
- Đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.
- Cải biến các cơ cấu bất công và vô nhân đạo.
- ảnh hưởng trên các nền văn hóa, thấm nhiễm chúng bằng những tiêu chuẩn và giá trị của Tin Mừng.
Thiên Chúa đã muốn giải thoát ra, cứu vớt ta không phải chỉ như những cá nhân đơn lẻ, không liên hệ với nhau, nhưng Ngài đã họp thành một dân tộc.
Vậy Tin Mừng phải biến cải những tương quan giữa các cá nhân và các dân tộc, thiết lập một nền văn minh của yêu thương: “trời mới và đất mới”.(*)
Quyền lực của Tin Mừng đạt hiệu năng tối đa khi đã biến đổi các cá nhân rồi, thì những người này có khả năng “ảnh hưởng và hầu như đảo lộn - nhờ sức mạnh của Tin Mừng - những tiêu chuẩn phán đoán, những giá trị định đoạt, những điểm lôi cuốn lưu ý, những đường nét tư tưởng, những nguồn suối gợi cảm hứng và những mẫu mực cho đời sống của nhân loại” (Evangelii Nuntiandi, số 19).
Điều có thể toát yếu tốt hơn cả ý nghĩa của việc rao giảng Tin Mừng toàn diện ấy là đây:
Cách đây vài năm, tôi đến giáo phận của Đức Giám Mục Carlos Talavena, và giảng một cuộc tĩnh tâm cuối tuần. Có đến hơn 20.000 người mong ước nghe Lời cứu độ và thấy hiệu lực của nó. Sau khi chúng tôi đã rao truyền lời sự sống và Chúa đã chữa nhiều bệnh nhân, Đức Giám Mục nói với đám dân khổng lồ ấy:
“Rao giảng Tin Mừng không phải là chỉ nói về Đức Yêsu Kitô, nhưng để cho Ngài hoạt động, ngõ hầu Ngài có thể đổ tràn ơn cứu độ của Ngài trong thế giới này. Rao giảng Tin Mừng, chính là gieo rắc hoạt động cứu độ của Chúa Yêsu. Chúng ta nói về Chúa Yêsu: điều ấy không còn đủ cho thế giới, thế giới cần thấy Ngài hành động. Nếu không, nó sẽ không tin vào Ngài nữa.
“Nếu một đàng, thế giới không thỏa mãn với những lời nói suông mà muốn các việc làm, đàng khác, chứng tá bản thân ta lại không đủ: thế thì ơn cứu độ của Chúa Yêsu Kitô phải trở thành hữu hiệu, trong mọi lãnh vực của đời sống nhân loại.
“Chúng ta được kêu gọi để biến đổi những trung tâm lôi cuốn chú ý, những mẫu mực cho cuộc sống nhân loại, và những giá trị có sức quyết định cách cư xử của con người. Lúc ấy, phải cho thế gian có thể nhận thấy rằng: Nước Thiên Chúa đã đến, và quả thực Đức Yêsu là Đấng Thiên Sai đã đến, mang một kiểu sống mới vào giữa lòng nhân loại, giữa các nhóm, giữa các dân tộc.
“Rao truyền Tin Mừng chính là gieo vãi hoạt động cứu độ của Chúa Yêsu Kitô, ngõ hầu hạt giống ấy tự sức lực của nó mọc và lớn lên, thì thực tại nhân loại được trở nên phì nhiêu, để cho kế đồ của Thiên Chúa được thực hiện đầy tròn trong thế giới.”
Rao giảng Tin Mừng, chính là cứu vớt tất cả những ai bị cầm hãm trong móng vuốt của Satan, dù đó là dưới hình thức đạo bí truyền, hay khoa thần bí, hoặc là bằng bất cứ loại tiếp xúc nào, với những kẻ chữa bệnh bằng phù phép hay với thông thần học.(*) Không cần nói đến bè tế tự Satan đang càng ngày càng bành trướng.
Hiển nhiên, khí giới chính của kẻ thù là sự dối trá: nó lừa gạt chúng ta bằng cách làm chúng ta tin rằng: nó chỉ hoạt động ở trong những loại chuyện như thế. Nhưng nó còn hoạt động ngay cả trong lối sống tiêu thụ quá trớn, trong dục vọng, bất công, chạy đua vũ trang, sách báo dâm đãng, đồi trụy, phá thai, và nói tắt mọi hình thái hư đốn, băng hoại và tham vọng quá độ.
Kẻ thù có muôn ngàn vạn cách ngoắt ngoéo để đánh lừa ta: ngày nay, có những hệ thống nằm dưới quyền lực của Satan. Đức quốc xã đã là một bằng chứng. Nhưng còn có những hình thái xã hội, tư bản chủ nghĩa và những chế độ độc tài, chẳng hạn như lực lượng an ninh quốc gia cực đoan, trong đó người ta vi phạm đến các quyền lợi của con người, được nắn tạo theo hình ảnh giống Thiên Chúa: tất cả đều phản-Tin-Mừng.
Tin Mừng không phải là một sự lẩn trốn thực tại, nhưng là men biến đổi đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, thương mại và Giáo Hội.
Phải, lúc ấy, chúng ta sẽ có thể khẳng định rằng: Nước Thiên Chúa đã đến và chính cái đó chi phối đời sống của xã hội.
6. Cách rao giảng mới là công việc của Thánh Thần.
Rao truyền Tin Mừng là một công việc tột bực của Thiên Chúa, bởi vì đây là vấn đề thiết lập Nước Thiên Chúa trong trần gian này, đang khi ở một phương diện khác, sự sống thần linh được phát sinh trong tâm hồn con người. Và vì thế, chỉ có thể làm được công cuộc đó nhờ sự trợ lực của hoạt động của Chúa Thánh Thần.(*)
Vai trò của Chúa Thánh Thần tuyệt đối cần thiết vừa nơi người rao giảng Tin Mừng, vừa nơi kẻ đón nhận.
· Nơi người rao giảng.
Chúa Thánh Thần xức dầu họ bằng quyền năng Ngài, để cho Lời loan báo có thể đánh động con tim người nghe, như một lời hiệu lực, có khả năng hoán cải. Không phải khoa giảng thuyết, tài hùng biện hay cái miệng phun châu nhả ngọc của ta có sức thuyết phục người ta.
Đã đành, Chúa Thánh Thần có thể sử dụng tất cả những phương tiện ấy, song tựu trung, tác nhân chính của rao truyền Tin Mừng vẫn là Ngài.
Rao truyền Tin Mừng, gieo vãi sự sống Thần linh, đó chính là hoạt động đặc thù của Thánh Thần. Ngài cần đến sự hợp tác của ta, điều ấy đã rõ; nhưng không có Chúa Thánh Thần, nỗ lực và thiện chí của ta chẳng thể nào biến cải thế giới và lòng người. “Nếu Chúa không xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là luống công” (Tv 127.1).
Phaolô, Apollô hoặc bất cứ người rao truyền nào khác chỉ là những dụng cụ, nhưng Đấng duy nhất làm cho hạt giống mọc lên, đó là Thiên Chúa. Chúng ta không có khả năng hoán cải bất cứ một người nào. Việc này là công trình riêng của Chúa Thánh Thần.
Một hôm, một vị giảng thuyết danh tiếng và rất hùng hồn, đang giảng tĩnh tâm mùa chay trong một đền thờ đầy nghẹt người. Ông rất xúc động và vung tay làm những cử chỉ lớn, miệng thì nói những lời văn hoa, cẩm tú, và trưng những danh ngôn của những đại tư tưởng gia Kitô giáo.
Sau bài giảng, ông vào phòng mặc áo để nghỉ ngơi. Ông ngồi trong một chiếc ghế bành êm ái và cởi nút cổ áo cho thoải mái. Vì coi như ông đã vừa đánh một trận thư hùng, ông xả hơi và duỗi cẳng ra. Ngay đó, một bà già bất chợt đi vào và nói: “Lạy Cha, con sẵn lòng thay đổi cuộc sống, con ký thác đời con trong tay Chúa Yêsu”.
Với một vẻ mãn nguyện, vì nhận thấy ngay tức thì kết quả của bài giảng hùng hồn của mình, vị linh mục hỏi bà: “Câu nào trong bài giảng của Cha đã thuyết phục con hoán cải?”. Bà trả lời cách ngay thật: “Thưa Cha không, chẳng có câu nào trong những gì Cha nói..., nhưng đang lúc nóng nảy như thế, Cha rút khăn trắng trong túi ra, con suy nghĩ và nhủ thầm: “Madalena hỡi, còn linh hồn mày thì sao lại đen đủi đến dường ấy...” Và khi Cha hỉ mũi, phát ra một tiếng lớn trong máy phóng thanh, đến nỗi nó làm con liên tưởng tới kèn đồng thổi ngày phán xét chung, và thế là con quyết định đi xưng tội ngay...”
Đôi khi, Chúa dùng “kèn đồng của ngày phán xét chung” để đánh động một tâm hồn. Đường lối của Chúa thật kỳ lạ. Ngài sử dụng mọi hoàn cảnh, mọi chi tiết.
· Nơi người nghe.
Chúa gõ cửa lòng và đồng thời ban ơn để cánh cửa có thể mở ra: khi Phaolô giảng ở Philíp, có một bà, tên là Lydia, nghe ông cách chăm chú. Nhưng Thánh Luca, khi biên chép chuyện này, thì nói: “Chúa đã mở lòng bà, cho chú ý vào các điều Phaolô giảng giải” (Cv 16.14). Thiên Chúa ban ơn để người ta đáp lại tiếng gọi của Người.
Sức mạnh của cuộc Canh Tân Đặc Sủng, là ở chỗ nó ăn sâu vào sự kinh nghiệm về quyền năng của Thánh Thần. Ta đã rõ công việc Thiên Chúa không tùy vào sức ta, khả năng ta; trái lại, nó cũng không bị ngừng trệ bởi các giới hạn hay khuyết điểm của ta. Thiên Chúa còn lớn hơn tất cả mọi yếu đuối khốn cùng của ta.
Cách rao giảng mới có hiệu lực, khi nó được linh hoạt bởi làn cuồng phong của ngày lễ Hiện Xuống. Đó chính là tảng đá góc của một cuộc rao truyền Tin Mừng có hiệu quả. Bí quyết thành công của Phêrô khi ông làm cho ba ngàn người trở lại vào buổi sáng vinh quang ấy, là ở cái việc ông vừa xuống khỏi phòng Tiệc Ly, ở đó ông được tràn đầy Chúa Thánh Thần và các đặc sủng.
Chính vì vậy, Đức Thánh Cha Phaolô VI khẳng định: “Các kỹ thuật rao truyền Tin Mừng đều tốt, nhưng dù những cái tối tân nhất cũng không thể thay thế tác động âm thầm của Thánh Thần” (Evangelii Nuntiandi, số 75) “Kerygma” hay lời rao giảng căn bản chỉ đạt được mục tiêu toàn vẹn, khi người ta kinh nghiệm được quyền lực của Chúa Thánh Thần. Cuộc tái sinh là công trình của Ngài. Chính vì vậy, nếu không có Ngài, không thể có việc rao truyền Tin Mừng đầy đủ. Chúng ta đã tưởng rằng có thể thuyết phục được người ta bằng chân lý..., thay vì để cho Thánh Thần làm việc!
7. Cần những người rao giảng mới cho cách thức rao giảng mới.
Chắc chắn, chúng ta cần một cách thức rao giảng mới mẻ theo chiều hướng ta đã vạch ra trên kia.
Nhưng không thể có cách thức rao giảng mới nếu không có những người rao giảng mới, truyền lại cho người khác cái mình đã kinh qua.
D. Dino nói trong Thánh Lễ Bế mạc Đại Hội toàn quốc của Phong trào Canh Tân Italia ở Remini, trước 40.000 người tham dự, với mục đề: “Hãy đi rao truyền Chúa Kitô đang sống!”:
“Trong Thánh Lễ kết thúc kỳ Đại Hội của chúng ta này, đang khi chúng ta dâng lên Cha lời ca tạ ơn vì tất cả những gì chúng ta đã chiêm ngắm, và vì những gì tay ta đã sờ đụng được, bây giờ, chúng ta - cũng như các tông đồ - chỉ còn có việc loan báo cách mạnh mẽ cho thế giới cái kinh nghiệm tuyệt vời ấy, thuật lại những gì Đức Kitô phục sinh đã làm cho chúng ta.
Từ ngày cô Maria Madalena khóc trước nấm mồ trố́ng - bởi vì cô tưởng người ta đã đánh cắp mất Đức Yêsu của cô - đã vang lên sứ điệp của thiên thần: “Tại sao các người tìm kiếm Đấng sống giữa các kẻ chết? Ngài không có ở đây! Ngài đã sống lại!”. Cũng như các tông đồ trước tiên, rồi đến các Kitô hữu, cho chí chúng ta, chúng ta phải lãnh nhận sứ điệp ấy mà sống, rồi công bố cho hết mọi người: Đức Kitô đang sống hôm nay, như hôm qua và mãi muôn đời! Đấng bị chết trên thập giá, đã rời bỏ nấm mồ và đang sống. Từ âm u của nấm mồ ấy đã bừng lên một ánh sáng chói lọi, soi chiếu cho mọi người để làm phát sinh một tạo thành mới.
Nếu Chúa Yêsu không còn ở trong nấm mồ trống tại Yêrusalem, thì chắc chắn Ngài ở khắp nơi trong thế giới.
Chúa Yêsu không bảo các tông đồ của Ngài hãy truyền lại những học thuyết hay những ý tưởng trừu tượng, song làm chứng về những gì thấy tận mắt, nghe tận tai. Việc rao truyền Tin Mừng phải phát đi từ những ai đã sống cái kinh nghiệm đích thân với Chúa Kitô phục sinh.
Buồn thay! Hình như thường thường chúng ta luôn lo lắng dạy dỗ đạo lý hơn là thông truyền sự sống. Muốn (làm cho người ta) lớn lên trong sự sống Thiên Chúa, thì trước hết, phải (làm cho người ta) được đầy quyền năng Chúa Thánh Thần đã. Chúng ta đã nhấn mạnh điều ấy trong những ngày vừa qua.
Một người rao truyền Tin Mừng, trước hết, là một chứng nhân đã có một kinh nghiệm bản thân về sự chết và sống lại của Chúa Yêsu Kitô, rồi truyền lại cho người khác không phải một đạo lý cho bằng một con người sống động, con người ấy đang hiến sự sống dồi dào cho họ.
Chỉ sau đó, và luôn là sau đó, người ta mới dạy giáo lý và chỉ dẫn về luân lý.
Nhiều khi, chúng ta huy động hết sức lực để làm cho người ta tuân giữ các giới răn. Chúng ta không được quên rằng: Luật chỉ được ban sau khi Thiên Chúa đã hiển linh trên núi Sinai. Kết cục là không ai có thể trở nên sứ giả thực thụ của Tin Mừng, nếu người đó chưa trải qua kinh nghiệm về sự sống mới do Chúa Yêsu Kitô ban cho. Khi chúng ta trở thành chứng nhân về những gì Chúa Yêsu đã làm, lúc ấy tất cả sẽ thay đổi. Việc loan báo, việc rao truyền Tin Mừng của chúng ta sẽ mau lẹ được kèm theo bằng những dấu lạ và điềm thiêng mà Chúa đã hứa.
Việc loan báo, lời rao giảng không được là một cách nói, cho dù hay ho về Chúa Yêsu, nhưng là cộng tác và để Chúa sử dụng ta như dụng cụ trong tay Ngài, hầu Ngài có thể hành động với tất cả quyền lực của Thần Khí Ngài. Cái đó có nghĩa là chúng ta phải loan báo cho tất cả mọi người tình yêu hay thương xót của Ngài, là chúng ta như những chứng nhân xác tín, phải làm cho người ta biết rằng Chúa Yêsu yêu họ, mỗi người một cách riêng biệt.
Có ai đó đã nói mới đây rằng: Chúng ta sống lại những điều đã xảy ra cách đây 2000 năm. Đúng, các ơn sủng của Thần Khí không phải là chuyện cổ xưa. “Thế giới hôm nay - Đức Giáo Chủ Phaolô VI nói - đã chán chạy theo các ông thầy, họ sẵn lòng đi theo các chứng nhân”. Những chứng nhân đã sống cái kinh nghiệm sự sống mới do Chúa Yêsu đem lại, nhờ gặp gỡ đích thân với Đấng đã sống lại.
Anh em thân mến,
Nếu chúng ta muốn thành những người rao truyền Tin Mừng đích thật, chúng ta chỉ còn phải lặp lại như các tông đồ: “Phần chúng tôi, chúng tôi không thể không nói những gì chúng tôi đã thấy và đã nghe” (Cv 4.20).
Những gì chúng ta đã thấy và đã nghe thúc đẩy chúng ta. Người rao giảng, nếu không phải là một chứng nhân đã gặp gỡ bản thân với Chúa Kitô phục sinh, sẽ trở thành một tên tuyên truyền những học thuyết trừu tượng. Người ấy phải kinh nghiệm ơn cứu độ trong chính xác thịt mình đã, mới có thể nói chắc chắn với người khác: “Cái gì đã xảy ra cho tôi, cũng có thể xảy ra cho bạn nữa!”
Vậy, thật chí lý, nếu cách thức rao giảng mới không thể nào thực hiện mà không có một “týp” người rao giảng mới.
Các môn đồ của Yêsu đã đi rao giảng Tin Mừng (hồi sinh thời của Ngài), ấy thế mà Ngài vẫn nhấn đến việc họ chưa có: “Các ngươi sẽ chịu ấy quyền lực Thánh Thần đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ là chứng nhân của ta... cho đến tận cùng mặt đất” (Cv 1.8). Cả chúng ta cũng cần được đổi mới bởi Thần Khí của Chúa Yêsu.
Cái phân biệt rõ sự khác nhau giữa một người rao giảng thường và một người rao giảng mới là biến cố Hiện Xuống. Duy mình Chúa Thánh Thần làm chúng ta trở thành chứng nhân của Chúa Yêsu Kitô phục sinh. Ai đã không có kinh nghiệm bản thân về Chúa Thánh Thần hiện xuống, không thể rao giảng có mãnh lực, vì không có người phàm nào có thể đánh động trái tim (làm người ta đổi đời sống cũ), nếu không phải là Chúa Thánh Thần. Ngài khiến chúng ta công bố rằng: Đức Yêsu là Chúa và Cứu Thế.
Người rao giảng mới không thể tự cho là đủ vì mình có sự thông thái, vì đã phục vụ, hay vì đã đi loan báo. Có một cái gì còn sâu xa hơn thế nữa! Ba nhân vật sau đây xem ra rất mẫu mực, tuy vậy, họ vẫn còn thiếu “cái chi tiết nhỏ”:
· Nicôđêmô.
Nicôđêmô là một hiền nhân, một bậc thầy trong dân Israen, ông thông thạo Luật và mọi người đến hỏi ý kiến ông về những vấn đề khó khăn nhất. Tuy vậy, mặc dầu thông thái, có các chức tước và danh tiếng, ông vẫn còn thiếu “cái chi tiết nhỏ” nhưng căn bản: tái sinh. Biết trong đầu là một chuyện, mà biết bằng kinh nghiệm là chuyện khác. Cũng vậy, người ta có thể là một nhà thông thái trong những chuyện về Chúa, có chức tước địa vị trong môn học tôn giáo, và ngay cả giật được bằng tiến sĩ thần học tại một Đại Học danh tiếng, cái đó vẫn không đủ. Cái đó không phải là xấu, song cũng có thể xảy đến cho mình cái đã đến cho ông linh mục tổ chức rước kiệu trên kia, ông đã xếp đặt hết mọi việc hoàn chỉnh, nhưng đã quên mất “một chi tiết nhỏ” (nhưng thiết yếu nhất).
Ai đã từng được tái sinh sẽ thông truyền sự sống mới ấy, nếu không, tất cả sẽ chỉ dồn lại thành một mớ lý thuyết, hay một mớ đạo lý khô khan, trừu tượng.
· Samuen.
Bà Anna, mẹ cậu, đã hiến dâng cậu cho Chúa lúc mới vừa cai sữa. Lời thánh vịnh là bản nhạc đầu đời mà cậu được nghe, và các lễ nghi phụng vụ là khung cảnh sinh hoạt trong thời thơ ấu của cậu. Vì thế, chẳng lạ gì người thấy cậu ở trong Đền Thờ ngay từ niên thiếu, phục vụ bên cạnh Tư Tế Hêli. Kinh Thánh cho biết cậu phục vụ Chúa trong Cung thánh ngay từ niên thiếu (1S 3.1).
Thế mà, 6 câu sau đó, bản văn lại nói là Samuen chưa biết Chúa. Tức là, mặc dầu cậu đã được mẹ hiến dâng cho Chúa, và dù đã bao ngày giờ phục vụ và tận tụy lo việc Chúa, cậu vẫn chưa biết đích thân Đấng cậu phụng sự.
Cũng đáng buồn cho chúng ta! Có thể chúng ta đã được hiến thánh để phục vụ trong Nhà Chúa mà không biết Chúa. Người ta có thể đã làm việc lâu trong vườn nho Chúa, mà không biết người chủ vườn nho, hay không hề thương mến người con thừa kế của chủ.
Chúng ta có thể lo mọi sự của Chúa mà vẫn không thuộc về Chúa của mọi sự.(*)
Nhưng từ khi Samuen bắt đầu để tâm nghe không những lời Chúa, mà còn chính Chúa nói với mình, thì cậu mới trở thành vị ngôn sứ.
Thế nghĩa là chúng ta có thể chu toàn một sự phục vụ (kể cả phục vụ việc rao truyền lời Chúa) như những người làm công, những chuyên viên của thánh vụ; nhưng chỉ khi ta có một sự gặp gỡ đích thân với Chúa, lúc ấy ta mới trở thành ngôn sứ.
· Klêôpha.
Đức Yêsu đã thành công làm cho sống dậy các niềm hi vọng giải phóng dân Israen. Với tư cách là con cháu chính thức của Vua Đavít, Ngài nuôi dưỡng niềm trông đợi phục hưng Vương Quốc Isaen. Thế nhưng, tất cả đã tan thành mây khói trong ba ngày. Các Thượng Tế và luật sĩ bất ngờ bắt giữ Ngài, kết án tử hình và xử tử Ngài, để tránh mối họa đang đe dọa các cơ cấu hiện hành. Và lễ Vượt Qua năm ấy đã vấy máu của một Chiên vô tội chảy tràn núi Canvê.
Nơi những kẻ đã theo Ngài,tiếng gọi khôi phục quốc gia tắt ngúm đi mau lẹ. Chẳng còn làm gì được nữa! Kẻ thì trốn lánh, kẻ thì di tản và có nhiều người còn đào ngũ, chối phăng mối liên hệ với người tử tội bị đóng đinh. Lại một lần nữa, giấc mơ giải phóng và công lý cho dân tộc Israen tàn lụi...
Ngày đầu tuần, hai môn đồ vượt cửa thành lũy Đavít để ruổi theo con đường khô khan của thất vọng, đang khi mặt trời hấp hối phía tây, để lại cả thế giới trong tang sầu.
Họ vừa đi vừa chuyện vãn với nhau - một cách buồn bã và nét mặt tối sầm - về tất cả những phép lạ và các việc chữa lành Ngài đã làm: Ngài làm hoàn hảo mọi sự, không hề gây cho ai tổn thương hay buồn khổ. Họ khâm phục quyền phép lớn lao của Ngài và nhìn nhận có bàn tay Thiên Chúa nơi Ngài... Nhưng tất cả nay đã hết thật rồi và hi vọng của họ đã tiêu tan.
Chẳng mấy chốc, trên cùng con đường ấy, một khách bộ hành đến nhập bọn với hai môn đồ. Ông cầm gậy đi đường, chân xủ dép dan và bận một áo chùng trắng nhẹ nhàng. Tiến lại gần và thấy vẻ khắc khoải của họ, người ấy hỏi: “Các ông nói về chuyện gì thế?”
Ngạc nhiên về người lữ khách mù tịt mọi chuyện, họ dừng lại, bộ mặt ảo não, vì vô tình lữ khách đã chạm tới vết thương chưa lành miệng. Họ nói: “Duy chỉ mình ông là không hay biết gì về chuyện đã xảy ra mấy ngày nay sao? Ông chui rúc ở đâu mà chẳng biết chút gì về những việc động trời đã xảy ra ba hôm nay, mà tất cả Yêrusalem đang còn kháo láo với nhau, và thế giới sẽ còn bình luận không biết đến bao giờ?”
Lữ khách bí mật nhún vai, trả lời với vẻ ngạc nhiên: “Chuyện gì thế?”. Câu ấy khiến cho Klêôpha nhớ lại mọi chuyện, và ông bắt đầu kể lại hết những gì ông biết về Đức Yêsu: các phép lạ, những việc chữa lành và sứ vụ tiên tri của Ngài. Rồi với giọng rầu rầu, ông thêm: “Chúng tôi đã hi vọng rằng chính Ngài sẽ giải phóng Israen, nhưng... các nhà cầm quyền của chúng tôi đã kết án tử hình, đã đóng đinh Ngài trên thập giá. Đó! Những chuyện ấy đã xảy ra nay đã là 3 ngày rồi...” Đúng vậy, Klêôpha đã nghe thấy tiếng gào thét của đám dân đòi xử tử Vua dân Do Thái. Ông có mặt đâu đó trong lúc người ta điệu đoàn tử tội lên đồi Canvê, và từ chỗ núp, ông đã chứng kiến hơi thở cuối cùng của Ngài, đã thấy người ta táng liệm và lăn hòn đá lớn lấp cửa nấm mồ. Do đó, ông kể lại các chi tiết ấy một cách rành rọt.
Cuối cùng, ông cũng kể lại không mấy xác tín, mà lại có vẻ khó chịu là đàng khác... “Có điều là tảng sáng hôm nay, có mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi hoảng hồn một phen khi hớt ha hớt hải chạy về báo rằng: họ không thấy xác Ngài đâu, nhưng lại thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Ngài đang sống... Ôi chao ơi, lời đàn bà nói ấy mà, biết thế nào mà lường được... Tuy vậy, để xem sao, có mấy người trong nhóm chúng tôi đã đi tới mồ và cũng thấy như thế: tảng đá đã được lăn sang một bên, còn Ngài thì họ không thấy đâu...”
Klêôpha đã tường thuật không sai một nét, về tất cả những sự gì liên can đến đời sống và sự chết của Thầy, nhưng đến việc sống lại, thì ông chỉ biết lặp lại những gì các phụ nữ bảo là các thiên thần đã nói. Ông không có kinh nghiệm bản thân về Chúa Yêsu đang sống, cho nên ông kể lại điều những người khác nói hay người khác đã nói...
Ai không có kinh nghiệm về Chúa Yêsu phục sinh, sẽ chỉ luôn luôn lặp lại những gì các kẻ khác đã nói hay đã viết về đó, bởi vì họ chẳng có gì riêng để mà tự mình nói ra.
Nếu chúng ta nhận xét kỹ, diễn từ của Phêrô ngày lễ Hiện Xuống, nhưng với những điểm khác này:
- Klêôpha nói về sự chết và sống lại của Chúa Yêsu với một giọng buồn sầu. Chuyện kể về các biến cố bị bao phủ trong một bầu khí thất vọng. Niềm vui của ông đã bị chôn chặt trong nấm mồ của Đấng bị đóng đinh.
- Phêrô rao truyền một chứng tá về những gì ông đã kinh qua, đang khi Klêôpha lặp lại đơn giản bằng trí nhớ những gì các kẻ khác nói rằng: những người khác nữa đã nói...
- Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là việc làm chứng của Thánh Thần. Còn trên đường đi Em-mau, Klêôpha chỉ lặp lại chứng tá của mấy phụ nữ.
- Phêrô có xác tín về những điều ông nói. Klêôpha lặp lại không mấy xác tín.
- Tất cả các điều trên bộc lộ ra một sự khác biệt căn bản: Klêôpha là người tường thuật những gì các người liên hệ với ông đã kể lại về việc sống lại, đang khi Phêrô làm chứng về những điều ông đã sống, đã kinh nghiệm.(*)
Phần ta, cũng nên tự hỏi có phải chúng ta chỉ là những phóng viên tường thuật, hay chúng ta là những người rao truyền Tin Mừng thực thụ? Một phóng viên loan tin tức cho người ta biết nhưng không hoán cải được ai, đang khi một chứng nhân có sức mạnh của xác tín thuyết phục được người khác đổi đời sống.
Klêôpha công bố nhiều tin tức, nhưng không phải công bố Tin Mừng. Biết các chân lý và các sự việc mình loan báo một cách đầy đủ kỹ thuật, như thế không đủ. Phải còn đồng thời là một nhân chứng, rao truyền Tin Mừng với niềm vui lây lan, một niềm trông cậy vững vàng và một sự tin chắc của bản thân.
Chính vì thế mà kết quả hiển nhiên: diễn từ của Phêrô - nhân chứng, được xức dầu bằng quyền năng của Thánh Thần - khiến 3.000 người trở lại. Đang khi với 3.000 diễn từ theo kiểu Klêôpha - phóng viên -, người ta chẳng làm ai ăn năn trở lại cả.
Nói tóm, thật không đủ, nếu chỉ là những người thông thái như Nicôđêmô, là thợ vườn nho như Samuen, hay là người giảng thuyết như Klêôpha. Phải trải qua một cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa Yêsu phục sinh. Đó chính là “cái chi tiết nhỏ” song căn bản, khiến chúng ta trở thành những người rao truyền mới của Tin Mừng Chúa.
Cách thức rao truyền mới chỉ có thể hoàn tnành mỹ mãn bởi những người rao truyền mới, vốn đã được canh tân bởi Thần Khí Thiên Chúa và được xức dầu bởi quyền năng của Ngài, và họ làm chứng rằng Chúa Yêsu đang sống.
8. Chiến thuật mới.
Cách rao truyền mới đòi hỏi một chiến thuật mới.
Cách duy nhất để thông truyền toàn bộ Tin Mừng cho toàn diện con người và cho tất cả mọi người, đó là chúng ta làm việc theo tư cách là thân thể Chúa Kitô.
Sự hiệp nhất tất cả mọi chi thể của Thân Mình Chúa Kitô là một đòi buộc khẩn thiết, để có thể rao truyền Tin Mừng cho hữu hiệu. Trong bữa tiệc ly, Đức Yêsu đã cầu cho sự ấy trong lời nguyện tế hiến:
“Lạy Cha, xin cho chúng nên một ngõ hầu thế gian tin...” (Yn 17.21).
Từ bản văn ấy, chúng ta có thể nhận ra rằng: sự hiệp nhất qui về phục vụ lợi ích trực tiếp cho việc rao truyền Tin Mừng. Đang khi nếu mỗi người làm việc đơn phương độc mã hoặc bên lề các người khác, người ấy sẽ như một chi thể tách rời thân mình, đánh mất tất cả sức mạnh và hiệu lực.
Sự hiệp nhất các Phong Trào khác nhau trong Giáo Hội, phải là một tối thượng lệnh vượt trên uy danh hay sự nhìn nhận phong trào của mình. Cái khiến chúng ta phải để tâm trên hết mọi sự, là làm sao Tin Mừng đạt tới hết mọi người và mọi cơ cấu nhân loại. Nếu không biết từ bỏ sự khu biệt của riêng chúng ta - vốn là một hình thức của vị kỷ - chúng ta sẽ không có hiệu lực nào cả trong việc rao truyền Tin Mừng.
Thánh Luca thuật lại một giai thoại minh họa cách tuyệt diệu kết quả của sự hiệp nhất (x. Lc 5.1-7). Khi Simon Phêrô đã thâu đêm đánh lưới, mà chẳng bắt được gì và ông nếm thất bại cay chua, ông rút vào bờ giặt lưới. Nhưng Đức Yêsu bước lên thuyền ông và bảo ông chèo ra nước sâu. Chúng ta phải đi ra sâu hơn là chỗ chúng ta đang đến bây giờ. Nếu chúng ta không ra tới nước sâu, hoặc vì thất vọng chúng ta giặt lưới, ta sẽ không bao giờ bắt được mẻ cá nhiều vô kể mà ta cần.
Khi tất cả đã tới giữa hồ Tibêniát, Ngài bảo họ thả lưới. Mặc dầu điều đó có vẻ không hợp lý với Phêrô, nhưng ông cũng làm theo, vì có lời Chúa bảo.
Đây là bí quyết của cách Rao Truyền mới: nếu ta làm nhân danh ta, hay nhân danh một nhóm nào hoặc một phong trào nào, chúng ta sẽ giống Phêrô, cực nhọc thâu êm mà chẳng bắt được gì.
Nhưng khi Phêrô làm nhân danh Chúa, ông bắt được cá nhiều đến nỗi lưới ông hòng vỡ tung và ông không thể kéo lên nổi nữa.
Bài học sau đó cũng vô cùng phong phú: cứ muốn một mình kéo lưới đầy nhóc cả lên, lưới sẽ rách tung. Giả sử họ có kéo lên được, thì thuyền cũng sẽ chìm dưới sức nặng và họ có thể cũng sẽ chết đuối, vì họ đã ra rất xa bờ.
Họ bèn làm hiệu cho các bạn của một thuyền khác đến trợ lực. Khi những bạn này đến, cùng nhau họ đã kéo được lưới lên, và đổ đầy cả hai thuyền đến mức cả hai hòng chìm.
Một mình, chúng ta không thể kéo lưới lên, vì lưới nặng trì lại. Người ta sẽ làm lưới rách tung và mất cả chì lẫn chài. Nếu ta muốn chất cá lên thuyền riêng của ta, số cá nhiều vô kể ấy là sẽ làm thuyền chìm và mất tất cả mẻ cá.
Chiến thuật khôn khéo nhất là xin bạn bè đến gỡ một tay. Khi họ đến, người ta sẽ chung lưng đấu cật mà làm thành công. Lời Chúa dạy ta rằng: muốn thành công trong việc rao truyền Tin Mừng, chúng ta phải giúp đỡ lẫn nhau. Nếu không, một là thuyền Phêrô sẽ không có cá, hai là sẽ chìm.
“Và người ta đã chất hai thuyền đầy ắp những cá”: cả hai thuyền, vậy là ai cũng có cá. Tất cả mọi thuyền đều đầy ắp, nhưng luôn với một điều kiện này: hợp tác với nhau. Nếu Phêrô đã chỉ muốn dành tất cả mẻ cá cho mình, thuyền ông sẽ chìm và mất hết; nhưng khi ông quyết định chia sẻ cùng các bạn ở thuyền khác, ông cũng được đầy cá cho thuyền ông.
Đàng khác, chính khi các bạn ở thuyền kia trước đó đậu gần bờ vì chẳng bắt được cá, quyết đi