CHÚA GIÊSU ĐANG SỐNG
Tác
giả: Lm Emiliano Tardif
Lm Phêrô Hoàng Minh Tuấn chuyển dịch
MLCN chân thành cám ơn Lm Phêrô Hoàng
Minh Tuấn đã cho phép phổ biến cuốn sách
này để làm chứng rằng Chúa Giêsu đang
sống và hoạt động giữa thế giới hôm
nay.
Về Mục Lục
Chương II:
NAGUA và PIMENTEL
I. NAGUA
Sau năm ấy,
lẽ ra phải nằm bệnh viện, tôi trở
về Cộng Hòa Đôminicana. Bề Trên sai
tôi đến một xứ đạo thuộc tỉnh
Nagua.
Đến nơi,
tôi mời lối 40 người lại, để làm
chứng cho họ biết việc tôi được
lành bệnh. Tôi nhớ là đã mời một
số bệnh nhân đến ngồi phía trước,
để cầu nguyện cho họ. Tôi ngạc
nhiên thấy số người bệnh đông hơn
người khoẻ. Tối hôm đó, Chúa chữa
lành 2 người. Cả nhóm dậy lên nỗi
vui mừng, và những người được lành
bệnh đi làm chứng khắp nơi. Cách
khiêm tốn như thế, bắt đầu một câu
chuyện mà chúng ta không ngờ đem
lại kết quả quá kỳ diệu.
Nhờ việc
Chúa chữa lành bệnh tật, nhóm
chúng tôi trở nên như Bàn Tiệc Nước
Trời: những kẻ được mời là què,
đui, câm, điếc, và nghèo khổ.
Tuần này
qua tuần kia, Chúa đã chữa lành
mọi bệnh tật. Vào tháng 8, Chúa
chữa lành bà Sara khỏi ung thư tử
cung. Bị các bác sĩ chê, bà xuất
viện về nhà chờ chết. Người ta
dẫn bà đến với nhóm, và trong lúc
cầu nguyện cho bệnh nhân, bà cảm
thấy nơi bụng nóng như đốt, và bà
bắt đầu khóc. Dần dần, bà nhận ra
là căn bệnh đã biến mất. 15 ngày
sau, bà được hoàn toàn bình phục.
Bà trở lại với nhóm, đem theo khăn
liệm và đồ an táng, mà con cái đã
sắm sẵn để chôn bà.
Dân chúng
tới mỗi lúc một đông, mọi người ca
hát, vui mừng và tưng bừng ngợi
khen Thiên Chúa. Thấy các bệnh nhân
được chữa lành và những dấu lạ,
người ta khóc nức nở: khóc vì
hạnh phúc, và người ta kể lại cho
mọi người nghe những sự lạ đang
xảy ra trong xứ đạo.
Chúa đã
dùng lời trí tri mà dạy rằng:
“Ta, Ta làm
việc trong an bình. Ta ban bình an
cho anh em. Hãy nên sứ giả hòa
bình! Ta bắt đầu đổ Thánh Thần Ta
trên các ngươi. Đó là ngọn lửa
thiêu sẽ lan tràn khắp phố phường.
Hãy mở mắt và các ngươi sẽ thấy
dấu lạ điềm thiêng, mà nhiều người
muốn được thấy lại không thấy!
Chính Ta nói như thế và Ta sẽ
làm.”
Chắc chắn,
đây là công trình của Chúa. Rất
nhiều phép lạ luôn xảy ra, tôi không
thể kể hết. Những đôi vợ chồng
rối đến chịu Phép Hôn Phối, những
bạn trẻ thoát khỏi tật nghiền ma
túy và rượu. Đó là mẻ cá lạ
lùng. Chúa đã cho cá vào đầy
lưới, đến nỗi tưởng chừng như chìm
ghe.
Chúa Yêsu
đang giải thoát dân Ngài khỏi xiềng
xích nô lệ. Có những bạn trẻ
trước đây không còn thiết tha với
Giáo Hội cũng như với đức tin, bây
giờ bắt đầu tuyên xưng Chúa Yêsu là
Đấng giải phóng họ.
Trong một
kỳ tĩnh tâm ở xứ đạo, chúng tôi
loan báo Tin Mừng về Chúa Yêsu, và
sau đó, dâng Thánh Lễ cầu nguyện
cho bệnh nhân. Lời thông tri đầu tiên
mà Chúa ban cho tôi là:
-
Ở đây có
một phụ nữ đang được chữa bệnh ung
thư. Bà ấy đang thấy nóng như đốt
ở bụng.
Tôi tiếp
tục cầu nguyện và nói nhiều lời
trí tri khác, được xác minh bởi
những chứng tá. Nhưng ngay lúc đó,
không ai xác minh lời trí tri đầu
tiên này cả.
Hôm sau, có
một phụ nữ đến trước máy phóng
thanh và nói với mọi người:
-
Có lẽ các
bạn lấy làm ngạc nhiên khi thấy tôi
đến đây. Tôi là một kẻ tội lỗi,
một gái điếm. Từ nhiều năm nay, tôi
đã hành nghề mãi dâm. Hôm qua, tôi
có đến đây dự lễ cầu nguyện cho
bệnh nhân, nhưng không dám vào nhà
thờ vì xấu hổ; tôi bèn đứng ở sau
hàng rào. Tôi bị ung thư, đã 2 lần
mổ, nhưng không chặn được bệnh. Đến
khi linh mục lên tiếng báo có một
người đang được chữa bệnh ung thư,
tôi liền nghĩ đó chính là tôi.
Chúa Yêsu
đã chữa chị không chỉ khỏi ung thư
thể xác, mà còn cả ung thư linh
hồn. Chị ta đã hối cải, và ngày
hôm sau chị đến rước lễ.
Khi thấy
chị rước lễ với niềm vui khôn tả
và khuôn mặt đầm đìa nước mắt vì
hạnh phúc, tôi liên tưởng ngày trở
về của đứa con hoang đàng được cha
thết đãi tiệc béo. Chị ấy rước
Chiên Thiên Chúa – Đấng xóa tội lỗi
trần gian – đến tẩy sạch linh hồn
và đổi mới đời sống chị. Sau đó,
chị trở về nhà chứa, khóc lóc vui
mừng kể lại cho các bạn biết về
việc Chúa đã làm cho chị:
-
Tôi không
đến để bảo các bạn từ bỏ lối
sống này, tôi chỉ muốn nói cho các
bạn biết về Người Bạn Yêsu của
tôi: Ngài đã chuộc mạng tôi và
biến đổi đời tôi.
Chị kể
lại việc Chúa chữa chị lành bệnh
và việc chị ăn năn trở lại. Sau
đó, chị ta xin phép lập một nhóm
cầu nguyện tại nhà chứa, và cứ
mỗi thứ hai, họ đóng cửa không
tiếp khách, để mở tâm hồn ra đón
Chúa Yêsu. Ở đây, họ cầu nguyện,
đọc Lời Chúa và ca hát.
Chúa chưa
kết thúc công việc của Ngài ở
đấy. Năm sau, một cuộc tĩnh tâm
được tổ chức cho 47 cô gái điếm
trong thành phố. Chính ở đấy, tôi
thấy Chúa Yêsu biểu lộ tình thương
xót của Ngài: người ta hối cải, ăn
năn trở lại và xưng thú tội lỗi.
27 cô gái đã bỏ đường cũ, và theo
tin tức mới đây, 21 cô vẫn bền đỗ
trong đường lối Chúa, vài cô đã
trở thành giáo lý viên, mấy cô
khác thành người hướng dẫn những
nhóm cầu nguyện, làm chứng về
Tình yêu hay thương xót của Chúa đã
biến đổi họ.
Trong số 21
nhà chứa tại đường Mariano-Perez,
chỉ có 4 nhà còn hoạt động. Các
chị em trong nhóm cầu nguyện đã
đến đó, và Chúa đã hoán cải
những nhà đó.
Cũng phải
nhắc lại đây trường hợp của một cô
gái trong số các phụ nữ ấy, mà
Chúa Yêsu đã bảo là họ sẽ vào
Nước Thiên Chúa trước các ký lục
và biệt phái.
Cô Diane đã
được tình Chúa thúc bách, và cô
đã dâng cả cuộc đời cho Chúa. Tuy
vậy, cuộc hoán cải của cô rất
chậm và chua xót. Cô đã có lần
tái phạm vì cần tiền. Khi lìa xa
Chúa, Chúa đã nói với cô:
-
Diane, ai
theo Ta sẽ đi trong ánh sáng và sẽ
không thiếu thốn gì.
Cô ấy đã
hối cải và trở lại với Chúa. Cô
trở thành giáo lý viên, và ngày
nay, trong các buổi tĩnh tâm, cô làm
chứng cách hăng say về lòng thương
xót của Chúa. Cô trở thành đoàn
viên của nhóm Rao giảng Tin Mừng,
và nhiều linh mục mong muốn có một
sức mạnh như cô, để cao rao sức
sống mới trong Đức Yêsu Kitô.
Thống kê
chính thức cho biết, tại Nagua,
trong số 500 nhà chứa, có hơn 80%
đã đóng cửa. Dù chưa trở lại hết,
nhưng tất cả các cô đã thấm nhiễm
sứ điệp “Chúa-Yêsu-đang-sống”.
Nhiều nhà chứa trước kia đã phục
vụ cho tội lỗi và ích kỷ, thì nay
đã trở thành nhà của nhóm cầu
nguyện. Sự thay đổi rõ rệt đến
nỗi người ta phải nói:
-
Nagua trước
kia là thành phố mãi dâm, nay là
thành phố cầu nguyện.
Hiện nay,
không con đường nào ở Nagua lại
không có nhóm cầu nguyện. Đó là
những nhóm Rao giảng Tin Mừng, đem
mỗi cá nhân đến gặp gỡ
Chúa-Yêsu-đang-sống.
Trường hợp
thành phố Nagua cho chúng ta hiểu
thế nào là Đặc sủng Rao giảng Tin
Mừng. Đặc sủng không phải là đồ
trang trí tình cờ, nhưng thực sự
là máng chuyển lời rao giảng.
Đối với
những người phủ nhận đặc sủng và
cho là không cần thiết,
tôi chỉ xin nhắc lại là thành phố
Nagua đã được Phúc Âm hóa, và đã
rửa sạch tiếng xấu là “thành phố
mãi dâm”, nhờ một buổi tĩnh tâm
dành cho gái điếm. Buổi tĩnh tâm
này đã mang lại kết quả nhờ một
phụ nữ, như Madalena đã theo Chúa
Yêsu và sau đó đã nên chứng tá.
Tại sao? Thưa vì cô ta đã được chữa
lành bệnh ung thư (nhờ đặc sủng
chữa bệnh).
Một việc
lành bệnh thể lý tầm thường đã
dẫn đến một biến đổi xã hội.
Cũng vậy, Nước Thiên Chúa được
thiết lập qua những biến cố nhỏ
mọn, tầm thường như hạt cải; nhưng
một khi đâm chồi nảy lộc, sẽ mang
lại hoa trái dồi dào.
Hỡi bạn,
chúng ta là ai mà dám khinh thường
đường lối của Thiên Chúa?
II.
PIMENTEL
Tại Nagua,
tôi đang sung sướng công tác với các
nhóm cầu nguyện, nhưng Thánh Thần
lại chuẩn bị cho tôi một bất ngờ
lớn. Quả thật, đường lối Thiên
Chúa khác với đường lối chúng ta
(Is 55,8), nhưng tốt đẹp trổi xa
điều chúng ta có thể cầu xin hay
tưởng nghĩ (Eph 3,20).
Cha Giám
Tỉnh xin tôi tạm thay cho một linh
mục đi nghỉ hè. Phải bỏ Nagua đi
nơi khác, thực thà mà nói, đó là
một điều đau xót cho tôi. Chúng ta
luôn muốn được an phận với những
gì mình đang có. Nhưng đó là điều
làm cản trở tác động bất ngờ của
Thần Khí khi Ngài muốn ra uy. Sống
trong Thánh Thần là từ bỏ mình,
không chiếm hữu cho mình những gì
Thiên Chúa đã khấng ban cho ta, ngay
cả điều mà chúng ta gọi là “Thừa
tác vụ”. Chúng ta được gọi sống
đời lữ khách dưới các lều tạm,
luôn sẵn sàng dấn bước vào cuộc
hành trình không hẹn ngày về.
Chính lúc chúng ta không có gì cả,
lại là lúc chúng ta có khả năng
được tất cả.
Ngày
10-06-1974, tôi đến nhiệm sở mới:
Pimentel, một làng dễ thương ở ngay
trung tâm đất nước, xung quanh có
đồng bằng, dồi dào thóc lúa, khoai
tây, ca cao và cam, nhờ nguồn nước
sông Cuaba. Chỉ có một con đường
đất băng ngang qua làng, lừa ngựa
thường xuyên qua lại, thỉnh thoảng
mới có một chiếc xe hi hoặc xe
buýt. Lá quốc kỳ phất phới trên
tòa nhà thị chính, quanh đó là
công viên với những vòm cây chà là
và xiêm gai. Phía bên kia tòa thị
chính là xứ đạo Thánh Gioan Tẩy
Giả – một cái tên gợi lên sứ vụ
của tôi cũng như bất cứ ai đi rao
giảng Tin Mừng: đó là vai trò
tiền hô dọn đường cho Chúa Cứu
Thế. Thần Khí Chúa đã dẫn tôi đến
đó, để làm chứng cho ánh sáng của
Chúa Yêsu Kitô Phục Sinh.
Vừa tới
nơi, tôi vào nhà cha sở, ngài đã
sẵn sàng vali để lên đường. Tôi chỉ
xin cha cho phép tổ chức một nhóm
Canh Tân nhỏ.
Chuyện này
làm cha sở bực mình, ngài sợ!
Không dám từ chối, bởi lẽ tôi đến
đây là để thế chân cho ngài đi nghỉ
hè, nhưng ngài nói:
-
Thôi được,
cha cứ lập nhóm, nhưng đừng có bày
chuyện đặc sủng.
-
Vâng! Nhưng,
thưa cha, đặc sủng không do tôi ban,
mà là do Thánh Thần. Nếu Thánh
Thần muốn ban đặc sủng cho giáo dân
của cha, tôi làm gì được nào?
Cha sở đáp
và chào từ giã:
-
Thôi, cha
muốn làm gì thì làm!
Hè năm ấy
nóng bức, nhưng một điềm báo Thần
Khí Chúa sẽ đổ xuống trên chúng
tôi. Ai không tin Chúa-Yêsu-đang-sống
hiện ở cùng chúng tôi, và ngày
nay, Ngài còn làm những việc lạ
lùng, thì đừng đọc những chuyện
sau đây, vì với họ, đó là chuyện
khó tin.
1. Buổi
họp đầu tiên:
Trong Thánh
Lễ Chúa Nhật đầu tiên, tôi mời mọi
người đến dự buổi giảng về Canh
Tân Đặc Sủng, và hứa sẽ kể lại
việc lành bệnh của tôi. Hôm ấy, có
200 người đến dự. Với lòng tin, họ
đã mang đến một người bại liệt
nằm trên băng ca. Bệnh nhân này bị
gãy xương sống và đã nằm liệt 5
năm rưỡi.
Khi thấy
họ mang bệnh nhân đến, tôi phải
nhận là họ bạo gan thật. Hành
động này nhắc tôi nhớ chuyện 4
người đã khiêng người bạn bất toại
đến với Chúa Yêsu (Mc 2,1-12). Chúng
tôi cầu nguyện cho anh ta, và kêu xin
Chúa – cậy vì quyền lực các dấu
đinh của Ngài – hãy chữa lành
người bại liệt này. Người bệnh
bắt đầu toát mồ hôi và run rẩy.
Tôi liền nhớ lại, khi được Chúa
chữa, tôi cũng thấy nóng ran cả
người. Tôi nói với anh:
-
Chúa đang
chữa anh, nhân danh Chúa Yêsu, hãy
đứng lên!
Tôi cầm
lấy tay anh và anh nhìn tôi sững
sờ. Anh ta cố gắng đứng dậy và
bắt đầu bước đi chầm chậm. Tôi
nói:
-
Nhân danh
Chúa Yêsu, hãy tiếp tục bước đi!
Chúa đang chữa anh.
Anh ta bước
từng bước một đến gần Thánh Thể,
rồi òa khóc mà tạ ơn Chúa. Mọi
người ngợi khen Chúa, trong khi
người được chữa lành bước ra giữa
cộng đoàn, vác băng ca của mình.
Ngày hôm đó, có 10 người khác được
Chúa Yêsu Kitô thương chữa lành.
Quả thực,
người ta khao khát cầu nguyện dường
nào! Họ đến gần chúng tôi và yêu
cầu dạy họ cầu nguyện. Như Chúa
Yêsu, chúng tôi phải dạy họ bằng
cách cùng cầu nguyện với họ.
Chúng tôi không thể bỏ lỡ một cơ
hội tuyệt diệu như thế! Nếu ta nói
về Chúa ít hơn và nói với Ngài
nhiều hơn, thì trần gian sẽ được
thay đổi mau biết mấy! Đúng thế!
Chúa thích chúng ta nói về Ngài,
nhưng hơn thế nữa, Ngài thích chúng
ta nói với Ngài.
2. Buổi
họp thứ hai:
Thứ tư sau,
có 3.000 người kéo đến; bởi đó,
chúng tôi phải họp ngoài đường, vì
nhà thờ không đủ chỗ chứa. Do quá
đông như vậy, chúng tôi không thể tụ
thành một nhóm cầu nguyện được,
tôi liền giảng nửa giờ trước khi
dâng Thánh Lễ cầu cho bệnh nhân.
Trong giờ
cầu nguyện, một phụ nữ tên Mercedes
Dominguez, mù đã 10 năm, cảm thấy
lạnh buốt ở đôi mắt. Dominguez trở
về nhà, rất xúc động nói cho mọi
người biết là bà đã thấy được
một chút. Hôm sau, lúc thức dậy,
bà được hoàn toàn sáng mắt. Chúa
đã mở mắt cho bà, và bà đã mở
miệng để làm chứng khắp nơi, về
việc bà được lành bệnh một cách
kỳ diệu, làm cho dân làng xúc động
mãnh liệt.
3. Buổi
họp thứ ba:
Các bạn
thử tưởng tượng xem sự gì đã xảy
ra trong tuần lễ thứ ba này? Chúng
tôi ra công viên, ngay giữa trời, để
ngợi khen vinh quang Chúa. Như thuở
xưa, Chúa Yêsu – Đấng-đang-sống –
cũng đến trong làng chúng tôi. Công
viên trở nên giống hồ Bêthesđa xưa:
“với đầy bệnh nhân mù, què và bại
liệt, đang chờ được chữa lành” (Ga
5,1-2).
Bêthesđa có
nghĩa là “Nhà xót thương”. Pimentel
– một làng nhỏ nhất – đã trở nên
nơi Chúa chọn, để tỏ bày lòng
thương xót của Ngài. Tác vụ chữa
bệnh là tác vụ của lòng thương
xót của Thiên Chúa. Đêm hôm đó, có
hơn 7.000 người dự. Như tuần trước,
chúng tôi rao giảng tình yêu của
Chúa Yêsu, Ngài đang sống trong Giáo
Hội, và tiếp tục hành động qua
những dấu lạ và kỳ công. Chúng tôi
dâng Thánh Lễ và Chúa lại chữa
lành các bệnh nhân. Thật là ngoài
sức tưởng tượng! Như xưa tại tiệc
cưới Cana, Chúa đã biến nước thành
rượu, nhiều đến nỗi còn có thể
tổ chức thêm những tiệc cưới khác.
Khi chúng ta xin Chúa điều gì, thì
Ngài cũng ban cho, vì quyền năng
cũng như tình yêu của Ngài không có
giới hạn. Ngài không chỉ chữa lành
cho 2, 3 người, nhưng cho một số đông
vô kể.
Cảnh sát
rất bực bội, vì phải làm việc
ngoài giờ để giữ trật tự cho số
đông dân chúng đi lại, trong một
làng quá bé nhỏ như thế. Cảnh sát
đã xin Trưởng ty dẹp các cuộc hội
họp này đi, ông ta giang đôi tay ra,
cười và trả lời:
-
Tôi cũng
vậy, cũng đã muốn dẹp chúng đi.
Nhưng khốn nỗi, chính vợ tôi đã
được lành bệnh, từ một trong những
buổi nhóm họp này.
Bà vợ ông
ta bị bệnh đã 12 năm. Tình yêu Chúa
đã chạm đến bà. Vài ngày sau, hai
ông bà đã đến chịu phép Hôn phối.
Chúa đã
tiên liệu tất cả, thay vì cấm họp,
cảnh sát đã tăng cường cho chúng
tôi 18 nhân viên, để ổn định trật
tự lưu thông trong buổi họp kỳ tới.
4. Buổi
họp thứ tư:
Ngày 9
tháng 7, kỷ niệm ngày tôi trở về
Cộng Hòa Đôminicana, sau khi được
Chúa chữa bệnh. Từ 9 giờ sáng, dân
chúng khắp nơi trong nước tuôn đến
bằng xe lớn, xe nhỏ. Ngay cả mấy
bác tài xế taxi cũng quảng cáo
giùm chúng tôi, vì trong vụ này,
họ cũng có lợi. Chiều hôm đó, có
khoảng 20.000 người đến họp cầu
nguyện. Số người quá đông, đến nỗi
chúng tôi phải leo lên mái nhà đặt
bàn thờ và loa phóng thanh trên đó.
Các bạn
có biết Chúa đã “trả thù” cách
nào đối với những cảnh sát định
dẹp cuộc nhóm họp không? Chính đêm
hôm đó, Chúa chữa lành cho một nhân
viên bị xuất huyết mạch máu não,
nên bị bán thân bất toại. Bắt đầu
từ lúc đó, tất cả nhân viên cảnh
sát đều đứng về phía chúng tôi.
Quả thật, Chúa giải quyết các vấn
đề cách êm đẹp hơn chúng ta biết
bao!
Một bà
nọ, trong làng ai cũng biết là bị
điếc từ 16 năm, nay bà được khỏi
hẳn. Thoạt đầu, bà nghe ù ù trong
tai, liền đó, bà mới nhận ra là
đã nghe rõ bài giảng. Hôm sau, gặp
bà ấy đi chợ, một người làm công
nói với bạn:
-
Bà điếc
đến đấy, chúng ta thử nhép miệng
nhưng không phát âm, để trêu bà ấy
chơi!
Nhưng bà
đã nghe họ nói và tươi cười đáp:
-
Không, thưa
các anh, tôi không còn điếc đâu!
Chúa Kitô đã chữa tôi chiều hôm qua.
Như thế,
bà ta không chỉ minh chứng là được
lành bệnh, nhưng còn làm chứng cho
quyền năng Thiên Chúa nữa.
Một người
đàn ông chỉ bò đi bằng tứ chi cũng
được chữa khỏi ngày hôm đó. Quá
nhiều sự lạ và ơn lành bệnh đã
xảy ra! Chúng tôi được chứng kiến
mọi sự. Mắt thấy, tai nghe trực
tiếp và sống động những điều được
kể trong Phúc Âm. Chính
Chúa-Yêsu-Phục-Sinh đang đi đứng
giữa chúng ta và đang cứu thoát dân
Ngài.
Đêm hôm đó,
theo các lời chứng được ghi nhận,
đã có hơn 100 người được chữa
lành.
5. Buổi
họp thứ năm:
Đến buổi
nhóm họp thứ năm, thiết bị âm thanh
của chúng tôi không thể đủ mạnh để
nghe. Cảnh sát làm một bài tính
số người trên mét vuông: có đến
42.000 người, đến từ Puerto Rico,
Haiti và từ tất cả các xứ đạo
trong nước. Các mái nhà đông nghẹt
người, xe buýt, xa tải, xe con choán
chật con đường làng.
Sở dĩ
người ta đến đông như vậy, chỉ vì
Chúa Yêsu chưa thay đổi phương pháp
làm việc. Đơn giản thế thôi! Phần
chúng ta, chúng ta hãy lo tìm phương
phápp phục vụ hữu hiệu hơn, phù
hợp với thời đại hơn. Còn Chúa,
Ngài cứ tiếp tục lối làm việc
của Ngài: Ngài đi khắp vùng Galilê,
chữa lành mọi bệnh tật, đoàn lũ
dân chúng theo Ngài và được Ngài
rao giảng Lời Cứu Rỗi (Lc 6,17-18).
Ngày nay, vẫn vậy: Chúa chữa người
bệnh tật, và hằng ngàn, hằng vạn
người tụ đến, và chúng tôi rao
truyền Nước Thiên Chúa cho họ. Đơn
giản, đó là Phúc Âm đang được tái
diễn.
Tôi bắt
đầu hoảng sợ, vì những người khốn
khổ này cứ muốn chạm đến tôi và
xin tôi cầu nguyện cho. Tối hôm đó,
họ giật hết nút áo tôi, và sém
chút nữa thì đè tôi chết bẹp. Tôi
cũng lo lắng cho những người đã đi
đường cả ngày trời đến đây, mà
lại không kiếm được thức ăn trong
làng, và đành ra về bụng đói,
nhưng lòng đầy tình thương của
Chúa.
Do đó,
chúng tôi cầu xin Chúa soi sáng cho
biết phải làm gì cho đám dân đông
đảo này. Chính Chúa đã đặt chúng
tôi vào thế kẹt, thì cũng chính
Ngài phải giải quyết cho chúng tôi
thôi! Trong lúc cầu nguyện, Chúa
chỉ giáo cho chúng tôi qua tiếng lạ
của Evarsto Guzman. Để không còn
chút nghi ngờ nào, thì Chúa cho tôi
ơn giải thích thông điệp ấy:
-
Hãy loan
báo Tin Mừng cho dân Ta! Ta muốn có
một đoàn dân ca ngợi.
Không nên
sợ những đoàn tụ đông đảo Chúa đưa
đến với chúng ta, để họ được nghe
rao truyền Lời Cứu Độ. Ai sợ những
kỳ công của Chúa, tức là sợ luôn
“Vị Chúa của các kỳ công”.
Một số
người ngạc nhiên, vì Chúa đáp lời
cầu nguyện của họ quá mau lẹ. Tôi
nói với họ rằng: nếu Chúa là
Đấng tốt lành dường nào, mà không
đáp lời cầu của họ, mới là điều
đáng ngạc nhiên hơn:
“Trước
khi chúng kêu cầu, Ta đã đáp lại;
khi chúng còn đang nói, Ta đã nhận
lời” (Is 65,24).
“Hãy xin
sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ
cửa sẽ mở cho!” (Lc 11,9-13).
Đức cha
Antonio Flores, Giám Mục La Vega,
nghĩ sao về tất cả vụ này? Ngài
rất cởi mở, nhưng lại rất ngại khi
thấy báo chí, phát thanh, truyền
hình làm rùm beng. Tôi đến thăm
ngài và tìm thấy ngài trong nhà
nguyện. Chúng tôi cùng cầu nguyện,
sau đó đã đồng ý phân chia đám đông
thành nhiều nhóm nhỏ, nhưng chúng
tôi đã từng làm trước kia tại
Nagua. Tôi trở về vui mừng, vì nhờ
Thánh Thần, Giám Mục và tôi hoàn
toàn đồng ý với nhau.
Ngay sau
đó, chúng tôi nhờ phát thanh và
truyền hình, để thông báo rằng:
Các cuộc tụ họp quy mô, đông đảo
từ nay tạm đình lại, và yêu cầu
mỗi người về nhóm họp tại nhà
thờ xứ đạo mình mà cầu nguyện.
Chúa có
chương trình cho những biến cố tại
Pimentel: thức tỉnh dân Ngài, lay
chuyển Giáo Hội, đồng thời cho
thấy rằng Ngài đang sống, và ban
sự sống dồi dào cho những ai tin
vào danh Ngài.
Từ đây,
bắt đầu một cách làm việc mới,
sâu hơn và tế nhị hơn; huấn luyện
người phụ trách những nhóm cầu
nguyện nhỏ. Cuối tuần, chúng tôi
có một buổi tĩnh tâm cho những
người tình nguyện dấn thân nhiệt
tình nhất. Chúng tôi dẫn giải cho
họ hiểu thế nào là nhóm họp cầu
nguyện, là Canh Tân Đặc Sủng, Thanh
Tẩy trong Thánh Thần và các đặc
sủng là gì, và “Chúng tôi đã trao
phó họ cho ơn sủng của Thiên Chúa”
(Cv 20,32). Ba ngày sau, họ đã đảm
trách việc hướng dẫn 45 nhóm cầu
nguyện rải rác nhiều nơi trong xứ
đạo. Có nhóm họp nhau dưới lùm
cây, nhóm trong nhà thờ, nhóm tại
các nhà tư và đây đó khắp nơi. Tất
cả thành phố trở nên nhà cầu
nguyện.
Để cho mọi
người dán mắt nhìn vào Chúa Yêsu,
chứ không phải vào một người phàm
nào; thì đêm hôm đó, tôi rời xứ
đạo. Chúa ở lại với họ và tiếp
tục chữa lành bệnh nhân.
Năm 1984,
trong một dịp viếng thăm nhằm ấn
hành quyển sách này, người ta tặng
cho tôi một cuốn vở ghi 244 chứng
từ được chữa lành, do một trong
những nhóm đã họp tại nhà của
Guara Rosario, đường Colomb. Chỉ trong
đêm 13-11-1985, đã có 22 chứng từ
về ơn lành bệnh. Sau đó ít lâu,
bởi số chứng từ quá đông, người ta
thôi ghi chép. Chúng tôi có hỏi là
Chúa còn tỏ uy quyền ra như trước
không, thì họ trả lời cách đơn sơ
hết sức:
-
Không, bởi
bây giờ không còn có các bệnh nhân
như trước nữa.
6. Chúa
Nhật Lễ Lá:
Chúa ngự
đến khải hoàn, không những trong
thành Pimentel, mà còn trong cả xứ
và vượt qua biên giới nữa. Mọi sự
đều diễn ra lạ lùng như mơ. Chưa bao
giờ đời truyền giáo của tôi lại
trở nên hấp dẫn và đẹp đến thế!
Cả phương
tiện truyền thông, Chúa cũng dùng
để chữa lành bà mẹ của một nhân
viên giới thiệu chương trình truyền
hình. Và chính anh ta đảm nhận
việc làm chứng cho Chúa trước ống
kính thu hình.
Chúa cũng
vào Hạ nghị viện, để chữa lành
một nữ dân biểu bị đau cổ.
Sau này,
tôi được biết là nhà xuất bản tạp
chí Pháp “Ngài vẫn sống”, đã biên
thư hỏi Đức Giám Mục về sự xác
thực của những việc xảy ra tại
Pimentel. Ngày 15-10-1975, Đức Giám
Mục đã phúc đáp ngyên văn như sau:
“Lời chứng của cha Tardif là xác
thực”. Thư của Ngài được đăng trên
báo số 6-7 của tập san.
Trong những
ngày đó, chúng tôi – như các Tông
đồ trên núi Taborê – được nhìn
ngắm vinh quang của Chúa. Chúng tôi
chia sẻ với Chúa Yêsu điều mà Cha
Ngài đã phán:
“Đây là
Con Ta rất yêu dấu, Người được Ta
sủng ái” (Mt 17,5).
Ngày 16
tháng 7, Chúa tiên báo, qua một lời
tiên tri, cho biết là chúng tôi sẽ
bị tấn công, chế giễu; nhưng chúng
tôi không phải hoảng sợ, vì Chúa
đã thắng thế gian.
Ba tháng
sau, cha sở nghỉ hè về. Ngài rất
ngạc nhiên về những gì ngài thấy
và nghe dân chúng kể lại. Tất cả
đều quá kỳ diệu, khiến ngài không
thể tin nổi.
Chúa đã
viếng thăm dân Ngài, khơi dậy một
mãnh lực cứu độ trong xứ đạo của
Ngài, xót thương người nhà của
Ngài, thắp lên một tia sáng giữa
bóng tối, để một khi được giải
thoát khỏi mọi nỗi lo sợ, chúng ta
có thể phụng sự Chúa cách thánh
thiện và chính trực mọi ngày trong
đời sống chúng ta (Kinh Benedictus).
Chúa đã
chữa lành đàn ông và đàn bà, từ
nhân viên cảnh sát đến trẻ con,
những người từ xa đến và những
bệnh nhân nan y. Chúa rao giảng Tin
Mừng, loan báo Nước Trời cho dân
Ngài, sử dụng các phương tiện
truyền thông như báo chí, truyền
hình. Quả thực, đó là một ngày
Chúa Nhật Lễ Lá: Chúa ngự vào
thành cách khải hoàn.
Khi tôi rời
Pimentel để trở về Nagua, con đường
đất vắng tanh. Gió lay nhẹ những
cành lá chà là, và mơn trớn lá
cờ đã từng chứng kiến những việc
lạ lùng Chúa làm. Lòng tôi luyến
tiếc nhớ đến những đám đông đã
từng thấy. Lúc bấy giờ, có một
chú lừa con đi qua, nhảy nhót vui
vẻ, nhìn tôi với đôi mắt to, rồi
nhô cả hàm răng, như cười nói với
tôi:
-
Ông chỉ là
con lừa đã mang Chúa Yêsu đến làng
này, và bây giờ ông phải quay về
Betfagê thôi! Vinh dự, cành lá vạn
tuế và lòng tri ân chỉ dành cho
Đấng được ông chở trên lưng, chứ
không phải cho ông. Phần ông, như
Gioan Tẩy Giả, hãy nhỏ đi để Ngài
lớn lên! Emiliano Tardif phải chết,
để Chúa Kitô sống trong ông. Vinh dự
của ông là Chúa Kitô được hiển
vinh, đặc ân của ông là rao giảng
Tin Mừng.
Con lừa
vẫy đuôi, như nói với tôi: “Chào
tạm biệt nhé!’, rồi nó xa dần.
Còn tôi trở về Nagua, lòng đầy hân
hoan, phấn khởi.
7. Tuần
Thánh:
Mọi sự đã
xảy ra như buổi hoàng hôn muôn sắc
màu rực rỡ, và Chúa đã tỏ ra
thật tuyệt vời hơn chúng tôi có
thể tưởng. Khi cơn say tình Chúa
chưa qua, thì đã có những áng mây
đen ập đến che kín bầu trời. Đột
nhiên, mọi sự tối sầm lại, mặt
trời ẩn khuất đâu mất, cuồng phong,
bão táp bắt đầu ào thổi dữ dội,
nhưng tôi vẫn tin là Chúa đang ở
với tôi.
Ông Bộ
Trưởng Y tế tố cáo trên truyền
hình là: tôi đã lạm dụng sự ngu
dốt của dân chúng, làm cho họ
tưởng đã lành bệnh. Ông ta nói tôi
là một tên lang băm, lừa gạt dân
chúng. Ông hỏi tại sao tôi không đi
làm như vậy ở một nước đang phát
triển như Canada.
Kẻ khác
tấn công, bảo tôi là người ngoại
quốc nên không hiểu gì về dân chúng
ở đây, các phép lạ và việc chữa
bệnh này sẽ đưa dân chúng đến sự
phù phép, mê tín. Tôi đã trả lời
rằng:
-
Chắc chắn
là tôi không biết dân chúng bằng
họ, nhưng tôi biết rõ Chúa Yêsu, và
Ngài không bao giờ đem đến mê tín,
dị đoan. Trái lại, khi Chúa hành
động, Ngài luôn làm tốt mọi sự,
chúng ta không phải sợ.
Đài phát
thanh, báo chí, đài truyền hình
tấn công tôi dữ dội… Chỉ sau mấy
hôm, tôi đã thành tay phù thủy và
tên lừa bịp, bởi tôi tin và rao
truyền Chúa Yêsu đang sống, đang cứu
thoát và đang chữa lành dân Ngài,
mà người ta cho tôi là điên khùng,
là cuồng tín, v.v…
Các tờ
báo trước kia đã thán phục tôi,
thì nay – sau 24 giờ đồng hồ – đã
trở mặt chống lại tôi. Nhờ đó, tôi
học biết được một điều: vinh quang
mà thế gian ban tặng quả là mong
manh, chóng tàn, và lo nghe ngóng
dự luận người đời cũng là một
việc điên rồ. Chỉ trong vòng mấy
tiếng đồng hồ, mọi hào quang, vinh
hiển đều bị quét sạch. Phần tôi,
tôi tin cậy vào Chúa Yêsu – Đấng hôm
qua, hôm nay, ngày mai và mãi mãi
là một, không đổi thay. Vì tôi không
bận tâm đến lời họ khen tụng tôi,
nên khi bị chỉ trích, tôi cũng
chẳng mảy may giao động. Lòng tôi
thật sự an bình.
Một số
người tự xưng là tâm lý gia đến
nói với tôi: những bệnh được chữa
lành là do tác động của đám đông,
hoặc do năng động cuồng loạn của
tập thể; vì thế, đó là điều rất
bình thường, không có gì là phép
lạ cả. Tôi đáp lại họ cách đơn
giản:
-
Thế là
các ông rất bất công; vì khi biết
được cách chữa bệnh như vậy, mà
các ông lại không tổ chức những
cuộc tụ họp như thế mỗi buổi
chiều, để chữa bệnh cho dân chúng
trong xứ.
Những
người khác cho chúng tôi thuộc loại
duy cảm xúc. Tôi nói với họ là
thuyết duy cảm xúc chỉ cố tìm cảm
xúc vì cảm xúc; còn chúng tôi,
chúng tôi tìm Chúa. Điều này mới
thật là cảm động! Tìm thấy một
kho tàng chôn giấu, là điều cảm
động và hào hứng. Khi sự mừng rỡ
tỏ hiện trên mặt một người, thì
đó là dấu cho biết người đó đã
tìm được kho báu.
Người khác
đả kích sự “ấu trĩ” của dân chúng
rằng:
-
Đoàn lũ
này chỉ đến vì tọc mạch và cũng
vì các việc chữa bệnh.
-
Không cần
biết vì lý do nào mà họ đến!
Điều đáng quan tâm là họ đã có
mặt, để chúng tôi rao giảng Phúc
Âm. Chắc chắn là Giakêu không leo lên
cây sung để lần hạt, nhưng chỉ do
tọc mạch, “muốn thấy Chúa Yêsu” (Lc
19,3).
Đôi vị linh
mục bắt đầu châm chọc chua cay:
-
Cha Emiliano
được khỏi bệnh lao, nhưng mắc phải
chứng loạn óc.
Bởi tôi
cầu nguyện bằng tiếng lạ, và tôi
tin vào quyền phép chữa lành của
Chúa Yêsu Kitô, nên họ tưởng tôi hóa
điên, đến nỗi họ đến hỏi là tôi
có điên không. Tôi trả lời:
-
Chính tôi,
tôi cũng đang tự hỏi mình như thế,
vì bây giờ, tôi chỉ nói về Chúa
mà thôi!
Những linh
mục lân cận ganh với tôi. Một số
đề nghị Cha Giám Tỉnh Hội dòng
của tôi trục xuất tôi ra khỏi xứ,
vì theo họ nghĩ: với tất cả việc
tào lao kia, tôi sẽ phá hỏng mọi cơ
cấu mục vụ. Tôi trả lời:
-
Chúa Yêsu
không đến để cứu cơ cấu mục vụ,
nhưng để cứu dân Ngài, và đó là
việc duy nhất mà Chúa đang làm
giữa chúng ta.
Họ tố cáo
rằng tôi lôi cuốn giáo dân bỏ xứ
đạo, nhưng tôi có mời ai đâu, tôi
chỉ rao giảng Tin Mừng thôi.
Một vị
linh mục nói là chúng tôi thổi
phồng quá trớn, trong khi cần phải
làm chậm rãi hơn. Ông ta lý luận:
-
Nếu cha kể
cho tôi về một vài phép lạ, thì
tôi có thể bắt đầu tin. Nhưng khổ
nỗi, nhóm Canh Tân Đặc Sủng các
người điên rồi, chỉ biết nói phép
lạ với phép lạ…!
Tôi trả
lời:
-
Chỉ vì cha
chưa biết Chúa Yêsu thật sự là ai
đó thôi!
Linh mục
ấy đáp:
-
Có chứ!
Nhưng cứ xem ở Lộ Đức! Tại đấy có
một văn phòng xét nghiệm Y khoa,
nghiên cứu các trường hợp được
chữa lành, và người ta bảo là có
rất ít trường hợp lành bệnh bởi
phép lạ. Còn cha thì ngược lại…!
Tôi đáp:
-
Nhưng, thưa
cha, tiêu chuẩn đức tin của chúng ta
không phải là văn phòng xét nghiệm
Y khoa Lộ Đức, song là Phúc Âm; mà
Phúc Âm nói đến bao nhiêu là phép
lạ. Thánh Marcô – vị Thánh Sử đầu
hết trong 4 vị – đã thuật 18 phép
lạ và chữa bệnh của Chúa Yêsu,
trong 16 đoạn Phúc Âm. Nếu chúng ta
bỏ những đoạn kể lại những dấu
lạ và quyền năng của Chúa trong
Phúc Âm Marcô, thì sách này chỉ
còn lại mấy trang thôi. Nhiều
người, vì muốn loại bỏ khía cạnh
dấu lạ ấy, nên chỉ còn giữ lại
một Phúc Âm bị cắt giảm, biến
thành một giáo thuyết. Không! Phúc
Âm là một sức sống! Ta cần phải
cảm nghiệm và làm chứng cho sự
sống ấy! Lần đầu tiên, Công vụ Tông
đồ đề cập đến Kitô giáo, đã định
nghĩa Kitô giáo là “sức sống” (Cv
5,20).
Người ta
tấn công tôi tới tấp, khắp nơi –
ngay cả những người tưởng là thân
nghĩa với Chúa Yêsu. Thậm chí tôi
phải viết một bài báo đăng trên
tạp chí “Amigo del Hogar” tháng
08-1975, với tựa đề: “LỖI TẠI CHÚA
YÊSU”, trong đó có đoạn tôi nói thế
này:
“Khi đối
diện với những nguy cơ thực sự có
thể đưa đến cuồng tín do những
phép lạ xảy ra, thì chúng ta lại
rơi vào tình huống ngược lại, có
khi còn trầm trọng hơn; đó là quên
rằng: Thiên Chúa là Chúa Tể, có
thể làm những điều-không-thể
(Maitre de L’Impossible).
“Chữa
bệnh, thực sự là một cách Chúa
đáp lời cầu nguyện với lòng tin,
như chúng ta đã thấy nhiều lần
trong Tin Mừng. Lối cầu nguyện này
có thể xuất phát từ bệnh nhân,
hoặc từ những thân nhân, hoặc của
cộng đoàn hay một cá nhân nào đó.
‘Chúa Yêsu hôm qua, hôm nay và mãi
mãi vẫn là một’. Chính Ngài làm
chủ lịch sử và Ngài thực hiện như
ý Ngài muốn, không cần hỏi ý kiến
hay xin phép để thực hiện những
dấu lạ của Ngài. Chúng ta là ai
mà dám chống lại, hoặc đặt giới
hạn cho công việc của Thiên Chúa?
Chúng tôi chắc chắn là Chúa không
phản đối y khoa, nhưng sự thực là
hàng ngày, biết bao người không có
tiền đi khám bệnh, trả tiền bệnh
viện, thuốc men…
“Có gì
lạ khi Thiên Chúa quan tâm đến người
nghèo và đích thân cứu giúp họ?
Tại sao ngăn cản những kẻ tin lời
Chúa Yêsu phán: ‘Hãy đến với Ta,
hỡi những ai khó nhọc và gánh
nặng! Ta sẽ bổ sức cho…’?
“Phải chăng
chúng ta đã quen với thứ Kitô giáo
theo tầm cỡ của chúng ta? Bằng
những dấu chỉ này, Chúa cho chúng
ta thấy Ngài đang sống. Ngài chất
vấn chúng ta, vì nếu Ngài đang
sống, thì mọi yêu sách của Ngài
đều thích đáng. Vấn đề chủ yếu
là Chúa Yêsu đang sống, chứ không
phải chết rồi!”
Ít lâu sau,
tôi nhận ra rằng mình đã phạm hai
sai lầm qua bài báo này; đó là
minh chứng sự việc chữa lành bằng
cách nêu danh tánh và địa chỉ của
những người khỏi bệnh, với ý
nghĩ: chính những sự kiện hiển
nhiên sẽ cảm hóa con tim của họ,
chứ không do ơn đức tin. Tôi cho họ
dấu bởi trời mà họ muốn thấy,
nhưng không hoán cải được họ, vì
dấu chỉ vẫn là dấu chỉ thôi! Duy
có đức tin mới làm cho chúng ta
nhận ra ý nghĩa của các dấu chỉ:
đó là Thiên Chúa đã yêu thương con
người, Đức Kitô đang sống, và Giáo
Hội có quyền năng của Thánh Thần
để phục sinh kẻ chết.
May thay,
Chúa đã cho tôi hiểu và nhận ra
rằng: đừng tìm cách chống lại
những kẻ tấn công, đừng làm khác
Chúa Yêsu, đã không tự biện hộ
trước những kẻ tố cáo Ngài. Nếu
tôi tìm cách tự vệ bằng những
phương thế và lý luận riêng, tức
là tôi không để Chúa bảo vệ tôi
bằng đường lối và cách thức của
Ngài.
Mặt khác,
tự biện hộ cho mình thì chẳng
khác chi từ chối không để Chúa
thanh luyện. Qua những chống đối,
những hiểu lầm, Chúa muốn uốn nắn
ta theo hình ảnh Con của Người –
Đấng đã phải trải qua đêm đen của
Núi Sọ, để đạt đến vinh quang Phục
Sinh.
Thời gian
đã giúp chúng tôi xác tín rằng:
lời nịnh hót nguy hiểm hơn lời chỉ
trích; vì lời chỉ trích được ví
như ngọn lửa thanh luyện và đốt
cháy những bất chính trong lòng ta,
còn lời xua nịnh đã từng bị Chúa
Yêsu lên án gắt gao nhất:
“Khốn
cho các ngươi, khi mọi người đều
nói tốt cho các ngươi; vì cũng
cách ấy, cha ông họ đã đối xử với
các tiên tri giả” (Lc 6,26).
Vì vô ý
thức, chúng ta quên mình chỉ là
những bình sành bằng đất; song
chính Chúa đã nhắc nhỏ chúng ta
điều đó bằng thập giá của hiểu
lầm và chống đối. Trong tình thương
xót, Chúa thanh tẩy và hạ chúng ta
xuống, để chúng ta không tự giành
lấy vinh quang chỉ thuộc về một
mình Chúa.
Thập giá
ví như sa mạc, nơi Thiên Chúa hằng
sống tỏ mình ra. Cần cởi dép ra,
để được đến gần bụi gai bừng
cháy. Lời chỉ trích chẳng khác
nào tiền đường của Đền Thánh Chúa
– nơi chuẩn bị chúng ta nên trong
sạch, trong suốt – mà tiến vào
Điện Thờ Thiên Chúa hằng sống…,
dứt chúng ta khỏi mọi ràng buộc
nguy hiểm nhất, mà ta gọi là những
công trạng và “những hoạt động tông
đồ” của mình.
Những
chống đối ngày càng dữ dội và
liên tục, đến nỗi tôi tưởng chừng
không cưỡng lại nổi. Khắp nơi,
người ta làm khốn tôi. Phần mình,
tôi cảm thấy cô đơn trên một nẻo
đường mới lạ. Bấy giờ, tôi xin một
người chị em đầy ơn Chúa cầu
nguyện cho tôi. Chị đó đã cầu
nguyện và cho tôi một lời thông tri
để trấn an. Chúa nói với tôi:
-
Sau khi
hưởng niềm vui của ngày Chúa Nhật
Lễ Lá, con có thấy là bình
thường, khi nếm thử một chút Tuần
Thánh không?
Lời này
đã chữa lành vết thương lòng tôi.
Từ đó, tôi nhìn các vấn đề một
cách xác đáng trong sự bình an
trọn vẹn. Những lúc mọi sự đều êm
xuôi, tôi nói: “Chúng ta đang ở trong
Chúa Nhật Lễ Lá”. Nếu gặp khó
khăn, tôi đơn giản xác quyết: “Đó
là Tuần Thánh!”. Dù sao đi nữa,
Phục sinh không còn xa… Vinh danh
Thiên Chúa!
Trước khi
thử thách chúng ta, Chúa Yêsu ban
tình yêu Ngài cho ta; và khi Ngài
yêu ta, Ngài luôn tặng thập giá
Ngài cho ta. Thập giá là quà tặng
của Thiên Chúa cho những kẻ Người
yêu mến, nhưng thập giá không thể
hiểu và đón nhận được, khi ta chưa
cảm nghiệm được tình Chúa yêu ta.
Trong kế đồ của Thiên Chúa, trước
đồi Canvê, luôn có núi Tabo. Chúa
đã cho tôi nếm thử vinh quang Tabo,
nhưng không cho tôi cắm lều trên đó;
Chúa đưa tôi xuống núi và thông
phần vào thập giá của Ngài – thập
giá cứu độ và đưa chúng ta đến
Phục sinh.
Cuộc sống
chúng ta diễn tiến như các mầu
nhiệm Mân Côi: mầu nhiệm Vui có,
Thương có, Mừng có; nhưng tất cả
mỗi mầu nhiệm đều kết thúc bằng
một lời chúc tụng: “Sáng danh Chúa
Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Mỗi ngày, chúng ta sống một mầu
nhiệm. Đời ta không chỉ là vui,
thương, hay mừng; song là tất cả
mầu nhiệm hòa trộn với nhau cho
vinh quang Thiên Chúa. Thập giá và
Phục sinh tựa như những bức họa
của Rembrandt; trong đó, bóng tối
và ánh sáng chen lẫn vào nhau để
diễn tả cái đẹp.
Dân chúng
mê ngủ, thụ động, chìm đắm trong
ươn lười… Chúa đã đến và lay
chuyển tất cả. Người ta hỏi các
linh mục về những gì đã xảy ra;
bởi đó, các linh mục đã phải đọc
sách và tìm hiểu để trả lời
thích đáng; ngay một ủy ban thuộc
Hội Đồng Giám Mục cũng đã nhóm
họp để cho ra một công bố. Việc
này đối với tôi, thật rất quan
trọng! Phần tôi, tôi tin chắc rằng:
điều đang xảy ra là công việc của
Chúa, nhưng tôi cần đến sự nhận
định sáng suốt của các Giám Mục.
Đối với tôi, các ngài là tiếng
nói của Thiên Chúa. Các ngài phát
hành một công bố với tựa đề: “Đức
Thánh Cha phê chuẩn và khuyến khích
những cuộc họp cầu nguyện Canh Tân
Đặc Sủng”; dưới đó, có phụ đề
này: “Đức Cha Pepen (Thư ký Hội
Đồng Giám Mục toàn quốc) tán
thành công việc của cha Tardif”.
Khi đọc
bản văn này, tôi rất sung sướng;
nhưng tôi lại phát cười nghĩ rằng:
“Đâu có phải là công việc của
tôi…!” Cũng như Thánh Giuse xưa, tôi
có một điều chắc chắn là: sự
sống đang nảy sinh trong lòng Giáo
Hội không phải là của tôi.
Chẳng biết
thế nào và tại sao, tôi nhận được
lời mời của Đức Cha Carlos Talavera
đến giảng cấm phòng cho các linh
mục tại Guađalajara, Mêhicô. Bắt đầu
từ đó, nhiều nơi khác đã mời tôi
đến, để cao rao việc lạ lùng của
Chúa tại các xứ Châu Mỹ La tinh.
Tôi bắt
đầu thấy ló rạng một kỷ nguyên
sáng lạn cho Giáo Hội. Tôi nghĩ đã
đến lúc phải rao giảng trên các
mái nhà, ngoài khuôn viên thánh
đường, vì nhà thờ không đủ chỗ cho
đám đông. Chúa dẫn chúng tôi đi đến
tận cùng mặt đất, để làm chứng
rằng Ngài đang sống… Khắp nơi, khắp
chốn, đều được nghe thấy một điều:
“Người
mù được thấy, kẻ què được đi,
người cùi được lành, kẻ điếc được
nghe, người chết sống lại và Tin
Mừng được loan báo cho người nghèo
khó” (Lc 7,22).
Sau chuyến
đi Panama, tôi trở về với nhiệm vụ
cha xứ. Tôi chuẩn bị đi thăm cộng
đoàn sâu tít trong núi. Tôi phải đi
bằng lừa. Ngồi lắc lư trên lưng
lừa, tôi trộm nghĩ:
-
Ôi chao, con
lừa của tôi thật khác xa với máy
bay Boeing 747 của hãng PanAm biết
bao!
Đường lối
của Chúa quả thật tuyệt vời! Đi
máy bay hay cưỡi lừa, chúng ta luôn
là những sứ giả của Chúa, mười
ngàn hay sáu chục ngàn người cũng
là con cái của Chúa. Và những
người bé mọn trên núi kia mới thật
là người nghèo của Chúa. Chúa
thật lạ lùng! Sau khi cho chúng tôi
đi máy bay, bây giờ thì đặt chúng
tôi trên lưng lừa, âu cũng là để
dạy chúng tôi bài học khiêm tốn.
Trên lưng
lừa, tôi hiểu được bài học lớn
này: chúng ta được gọi, để đóng
vai con lừa chở Chúa Yêsu vào thành
Yêrusalem ngày Chúa Nhật Lễ Lá. Ơn
gọi chúng ta là làm người chuyên
chở Chúa Yêsu, chúng ta là bình
sành chứa đựng một kho tàng quý
giá bên trong.
Trước kia, chúng ta cố gắng nuôi
một dân không biết đói khát Chúa.
Tệ hơn nữa là chính chúng ta cũng
không nếm hưởng được Bánh ban sự
sống đời đời. Đến bây giờ, chúng
ta vẫn không thể nuôi sống tất cả
mọi người, mùa gặt thì nhiều, quá
nhiều; nhưng Chúa còn lớn lao và
quyền phép hơn.
Chúa đã
nhóm lên đốm lửa, bây giờ là một
đám cháy, ai có thể tắt nổi? Ấy
cũng là dòng sông nước trường sinh
đang tràn ngập Giáo Hội, để thanh
tẩy, canh tân và thánh hóa Giáo
Hội.
Nhiều cặp
vợ chồng sống với nhau không hôn
phối, đã ý thức là họ không thể
tiếp tục sống như vậy nữa. Bí
tích Hôn phối, đối với họ, nay đã
trở nên quan trọng. Họ đã chuẩn bị
nghiêm túc để đón nhận và sống Bí
tích đó. Trong một năm, chúng tôi
cử hành 306 đôi hôn phối; đó là
một con số không dễ có.
Phép lạ
lớn nhất Chúa ban cho tôi được
chứng kiến trong những năm gần đây,
đã khơi dậy những người thợ gặt
cho mùa lúa của Ngài.
Bây giờ
thì số giáo lý viên rất đông, đông
đến nỗi chúng tôi thấy trách nhiệm
trước tiên là đào tạo họ thành
những người có khả năng rao truyền
Tin Mừng.
Lễ Hiện
Xuống năm 1976, chúng tôi có tất cả
120 giáo lý viên, và đã xin Chúa
đổ Thần Khí Ngài xuống trên chúng
tôi. Thần Khí không chỉ là một ơn
sủng làm cho lòng trí chúng ta
được hân hoan, nhưng còn là một sức
mạnh đặc biệt, để loan báo cho thế
giới biết là Đức Kitô đang sống và
đang ban sự sống cho những ai tin nơi
Ngài (Ga 3,15).
Tôi bắt
đầu nhận những lá thư từ Pháp,
Châu Mỹ La tinh, Phi Luật Tân; có cả
những người gởi từ những nước mà
tôi không thấy ghi trên bản đồ.
Thỉnh thoảng, tôi nhận được thư
bằng những ngôn ngữ và các dấu
hiệu mà tôi không hiểu gì cả, tôi
bèn đặt chúng vào tay Chúa, xin
Ngài phúc đáp, vì Chúa biết mọi
sự.
Tôi nhớ
chưa bao giờ tôi có một sức khoẻ
như hiện nay. Tôi ăn được mọi thứ,
ngủ ngon. Chúa đã trả lại cho tôi
sức khoẻ hoàn hảo, và tôi sung
sướng được phục vụ việc rao truyền
Tin Mừng cho dân Ngài.
Tuy nhiên,
tôi tin là ơn lớn nhất Chúa đã ban
cho tôi là niềm hoan lạc: tôi vui
sướng không phút giây nào ngơi.
Chưa bao
giờ tôi sống trọn vẹn chức linh
mục của tôi như bây giờ!
Về Mục Lục
