CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU
Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy giá trị và đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần để học hỏi và tìm hiểu.
|Trở về Mục lục| |Mua sách|

Chúa Thánh Linh Là Đấng
Bào Chữa
Trong bài suy niệm
trước về Chúa Thánh Linh, chúng ta khởi
sự nghiên cứu văn bản Thánh Gioan về lời
Chúa Giêsu từ biệt các môn đệ. Nói một
cách nào đó đây là chính nguồn gốc Phúc
Âm về Thánh Linh học. Chúa Giêsu loan
báo việc Chúa Thánh Thần ngự đến, Ngài
là Thánh Linh chân lý, “Đấng từ Thiên
Chúa Cha mà ra” (Jn 15:26). Chúa Thánh
Linh sẽ được Chúa Cha gửi đến với các
tông đồ và Giáo Hội nhân danh Chúa Kitô,
nhờ ơn cứu chuộc do hy lễ thập giá đem
lại theo chương trình cứu độ từ thuở đời
đời. Do công nghiệp của hy lễ thập giá,
Chúa Con cũng “phái” Thánh Linh “đi”, vì
Ngài nói: Thánh Linh sẽ đến là kết quả
và là giá của việc Ngài ra đi (tc. Jn
16:7). Ý nghĩa trong lời nói của Chúa
Giêsu là có mối liên hệ giữa cái chết,
phục sinh, lên trời của Ngài và việc ban
tràn đầy Thánh Linh, giữa mầu nhiệm Vượt
Qua và Lễ Hiện Xuống. Hiển nhiên, theo
bốn Sách Phúc Âm, việc ban Chúa Thánh
Linh xảy ra vào chính chiều Chúa Nhật
Phục Sinh (tc. Jn 20:22-25). Có thể nói
thương tích nơi cạnh sườn Chúa Kitô trên
thánh giá đã mở lối cho việc tuôn trào
Thánh Linh, mà việc này là dấu chỉ và
hoa trái từ vinh quang đạt được qua khổ
hình và tử nạn của Chúa Kitô.
Chúng ta học từ lời
Chúa Giêsu, trong căn phòng trên lầu,
Ngài gọi Chúa Thánh Linh là “Đấng Phù
Trợ (Bào Chữa, Paraclete)”: “Thầy sẽ xin
Chúa Cha và Ngài sẽ gửi đến Đấng Bào
Chữa khác, ở với anh em mãi mãi” (Jn
14:16). Chúng ta cũng đọc trong bản văn
khác lời tương tự: “Đấng Bào Chữa, Chúa
Thánh Linh” (tc. Jn 14:16; 15:26; 16:7).
Thay vì “Đấng Bào Chữa” (Paraclete)
nhiều bản chuyển ngữ dùng từ (ngữ) “Cố
Vấn” (Counselor). Chuyển ngữ đó có thể
chấp nhận được, tuy nhiên cần đến từ
nguyên Hy Lạp Parákletos mới thấu triệt
lời Chúa Giêsu nói về Chúa Thánh Linh.
Parákletos nghĩa chính
là “người được kêu gọi hoặc triệu đến để
giúp đỡ” (do từ ngữ para-kaléin, “kêu
gọi tới giúp đỡ người nào đó”). Vì thế
người ấy là “người bảo vệ, người bảo
trợ,” “người bào chữa,” cũng là “người
trung gian” làm công việc trung gian bầu
cử. Chúng ta chú ý theo nghĩa “người
trạng sư bào chữa”, trong khi nhớ rằng
một số Giáo Phụ dùng parákletos theo
nghĩa “Đấng Cố Vấn” đặc biệt khi dẫn
chiếu về hành động của Chúa Thánh Linh
cho Giáo Hội. Hôm nay chúng ta nói về
Chúa Thánh Linh là Đấng Bào Chữa. Danh
xưng này giúp chúng ta ý thức sự liên hệ
gắn bó giữa việc làm của Chúa Kitô và
của Chúa Thánh Linh, như sẽ thấy khi
nghiên cứu thêm về văn bản trong Phúc Âm
Thánh Gioan.
Chúa Kitô chính là
Đấng Đệ Nhất Bầu Cử
Tại phòng Tiệc Ly,
trước khi nạp mình chịu khổ hình cứu
chuộc, Chúa Giêsu loan báo việc Chúa
Thánh Linh đến: “Chúa Cha sẽ ban cho anh
em Đấng An Ủi Bầu Cử khác.” Những lời
này cho thấy chính Chúa Kitô là Đấng đệ
nhất Bầu Cử, và việc làm của Chúa Thánh
Linh là việc làm của Chúa Kitô được kéo
dài.
Dĩ nhiên, Chúa Giêsu
Kitô đã, đang và sẽ là “người bảo vệ”
mãi mãi. Chính Thánh Gioan nói như thế
trong Thư I của ngài: “Nếu người nào
phạm tội, thì chúng ta có Đấng Bào Chữa
(Parákletos) trước mặt Chúa Cha, đó là
Chúa Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Jn
2:1).
Đấng bào chữa chính
là Đấng, lãnh nhận vai trò của những kẻ
có tội, bào chữa cho họ khỏi hình phạt
phải chịu vì tội lỗi của họ, và cứu họ
khỏi lâm nguy mất sự sống đời đời và ơn
cứu rỗi. Đây chính là công việc Chúa
Giêsu đã làm. Chúa Thánh Linh cũng được
gọi là Đấng Bào Chữa (Parákletos) vì
Ngài tiếp tục công việc cứu chuộc của
Chúa Kitô cho chúng ta khỏi tội lỗi và
sự chết đời đời.
Lại nữa, Chúa Thánh
Linh là “vị trạng sư và bảo vệ khác.”
Chúa Thánh Linh ở cùng với các môn đệ
Chúa Kitô để canh giữ và bảo vệ các ngài
bằng sức mạnh toàn năng của mình. Chúa
Giêsu nói: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài
sẽ ban cho anh em Đấng Bảo Trợ khác ở
với anh em muôn đời” (Jn 14:16). “Ngài
sẽ ngự trong anh em, và hành động với
anh em” (Jn 14:16). Lời hứa này cũng
quan trọng như lời Chúa Giêsu hứa khi về
với Chúa Cha: “Thầy ở cạnh (ở với) anh
em từng giây từng phút cho tới ngày mãn
thế” (Mt 28:20). Chúng ta biết Chúa Kitô
là Ngôi Lời “nhập thể và nhập thế” (Jn
1:14). Khi về với Chúa Cha, Chúa Kitô
hứa với các môn đệ: “Thầy ở cạnh anh em
từng giây từng phút cho tới ngày mãn
thế” (Mt 28:20. Kế tiếp, nhờ Chúa Thánh
Linh, các tông đồ và Giáo Hội phải liên
tiếp tìm kiếm sự hiện diện của Ngôi Lời,
Chúa Con. Trong sứ mệnh trần thế, Chúa
Cứu Thế đã nhập thể, sau khi về với Chúa
Cha, thân xác Ngài hoàn toàn đi vào
huyền nhiệm.
Sự hiện diện của Chúa
Thánh Linh ở trong các linh hồn và nơi
Giáo Hội như Chúa Giêsu đã nói (“Ngài ở
với anh em và ở trong anh em”: Jn
14:17), làm cho Chúa Giêsu hiện diện
cách vô hình (huyền nhiệm) liên tục “cho
tới tận thế.” Sự hiệp nhất siêu việt của
Chúa Con và Chúa Thánh Linh bảo đảm rằng
nhân tính của Chúa Kitô, mà Ngôi Lời đã
mặc lấy, sẽ hiện diện hoạt động nơi nào
chương trình cứu độ của Chúa Ba Ngôi
được quyền năng Chúa Cha làm cho hữu
hiệu.
Chúa Thánh Linh là
Đấng Bầu Cử bảo vệ các tông đồ và tất
cả mọi người trong Giáo Hội sẽ kế thừa
việc làm nhân chứng và tông đồ vụ của
các vị đó qua mọi thế kỷ. Điều này đặc
biệt xảy ra vào những lúc khó khăn khi
các ngài bị thử thách về lòng dũng cảm.
Đây là điều Chúa Giêsu tiên báo và hứa:
“Người ta sẽ nộp anh em cho công nghị
... anh em sẽ bị giải nạp cho các quan
chức và nhà vua ... Khi người ta giao
nạp anh em, anh em đừng lo lắng phải nói
thế nào hoặc phải nói điều gì ... vì
không phải chính anh em nói, mà Thánh
Linh Chúa Cha nói qua anh em” “vì Chúa
Thánh Linh sẽ dạy anh em phải nói gì vào
lúc đó” (Mt 10:17-20; tc. Mk 13:11; Lc
12:12).
Theo ý nghĩa rất thực
tiễn ở trên, Chúa Thánh Linh là Trạng Sư
và là Đấng Bầu Cử. Ngài hiện diện kề cận
để soi dẫn các tông đồ khi các vị đó
phải tuyên xưng, biện minh và bảo vệ
chân lý. Chính Chúa Thánh Linh nói bằng
ngôn từ của các ngài, và cùng với các
ngài Chúa Thánh Linh làm chứng cho Chúa
Kitô và Phúc Âm. Trước mặt những phán
quan, Chúa Thánh Linh trở nên vị trạng
sư vô hình bào chữa cho những người bị
cáo, vì Ngài hành động với tư cách là cố
vấn, bảo vệ và nâng đỡ các vị đó.
Đặc biệt suốt các
cuộc bách hại thuộc mọi thời đại, những
lời Chúa Giêsu nói tại căn phòng trên
lầu thành hiện thực: “Khi Đấng Phù Trợ
đến, Đấng mà Thầy sẽ gửi từ nơi Cha Thầy
đến với anh em ... Ngài sẽ làm chứng về
Thầy; và anh em cũng là chứng nhân nữa,
vì anh em đã ở với Thầy từ đầu” (Jn
15:26-27).
Chúa Thánh Linh là
“chứng nhân” ẩn hình, “âm thầm” hành
động trong trái tim các tông đồ khi họ
công khai làm chứng cho Chúa Kitô. Qua
sự hiện diện và hành động nội tại đó,
quyền năng siêu việt của chân lý về Chúa
Kitô, Đấng là Ngôi Lời Chân Lý và Khôn
Ngoan, hiển hiện và lan tràn ra khắp thế
giới. Từ Chúa Kitô, nhờ Chúa Thánh Linh,
các tông đồ giành được khả năng, sức
mạnh, để làm chứng nhân theo lời Chúa
Kitô hứa: “Thầy sẽ ban cho anh em miệng
lưỡi khôn ngoan, mà không một đối thủ
nào của anh em có thể đương đầu hoặc
chống lại được” (Lc 21:15). Sự kiện này
đã xảy ra trong trường hợp vị tử đạo
tiên khởi Stephen, trong Công Vụ Tông Đồ
chứng tỏ rằng ngài “đầy Thánh Thần” (Cv
6:5). Các đối thủ của ngài “không thể
đương đầu với sự minh triết và linh hoạt
của ngài” (Cv 6:10). Trong các thế kỷ kế
tiếp những người phản kháng Kitô hữu vẫn
còn liên tục chống lại các sứ giả Phúc
Âm. Nhiều lần họ nhận chìm tiếng nói của
Kitô hữu trong máu các ngài, nhưng không
thể bóp nghẹt chân lý mà các ngài là sứ
giả loan báo. Chân lý Phúc Âm tiếp tục
lan rộng khắp thế giới nhờ quyền lực
Chúa Thánh Linh.
Theo lời Chúa Kitô,
Chúa Thánh Linh - Thần Linh chân lý,
Đấng Phù Trợ - là Đấng “sẽ chứng minh
thế giới sai lầm về tội lỗi, về sự công
chính và việc xét xử” (Jn 16:8). Chúa
Giêsu đã dành cho những từ ngữ này lời
giải thích ý nghĩa rất quan trọng: “Tội
lỗi” có nghĩa là tình trạng thiếu đức
tin mà Chúa Giêsu đã gặp giữa “những
người dân của Ngài,” những người thuộc
dân riêng Ngài, nhưng họ đã kết án Ngài
chết trên thập giá. Khi nói về “sự công
chính,” dường như Chúa Giêsu nghĩ đến sự
công chính cuối cùng mà Chúa Cha muốn
trao cho Ngài (“... vì Thầy đi về với
Chúa Cha”) khi phục sinh và lên trời.
Trong bối cảnh này “sự xét đoán” có
nghĩa là Thánh Linh chân lý sẽ chứng
minh thế gian tội lỗi vì chối bỏ Chúa
Kitô, hoặc tổng quát hơn, trong việc
quay lưng lại với Thiên Chúa. Vì Chúa
Kitô không đến để xét xử và kết án thế
gian nhưng để cứu thế gian, vì thế thực
tế “việc chứng minh thế giới tội lỗi” về
phần Thánh Linh chân lý phải được hiểu
là một sự can thiệp hướng thẳng vào việc
cứu độ thế giới, hướng thẳng vào lợi ích
cuối cùng của nhân loại.
“Việc xét xử” nói
cách đặc biệt tới “tên chúa trùm thế
giới này” là Satan. Ngay từ thuở ban đầu
nó đã cố gắng đảo lộn công cuộc tạo
dựng, chống lại giao ước và việc kết
hiệp nhân loại với Thiên Chúa: nó cố
tình chống lại ơn cứu chuộc. Vì thế, nó
“đã bị xét xử” ngay từ thuở ban đầu, như
cha đã giải thích trong Tông Huấn
Dominum et Vivificantem (số. 27).
Nếu Chúa Thánh Linh,
Đấng Phù Trợ, phải cho thế giới thấy rõ
về “việc xét xử” này, hiển nhiên Ngài
làm việc đó để tiếp tục công việc của
Chúa Kitô nhắm vào công cuộc cứu chuộc
thế gian.
Vì thế chúng ta có thể
kết luận: khi làm chứng cho Chúa Kitô,
Đấng Phù Trợ là một vị trạng sư và người
bảo vệ, mặc dầu vô hình, tận lực bênh
vực công cuộc cứu độ và tất cả mọi việc
liên quan đến công cuộc này. Ngài cũng
là người bảo đảm chiến thắng sau cùng
chống lại tội lỗi và thế giới bị khống
chế trong tội lỗi, để giải phóng thế
giới khỏi tội lỗi và đưa thế giới đến
con đường cứu độ.
Buổi gặp chung ngày 24
tháng Năm, 1989
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
www.thanhlinh.net