CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU
Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.
|Trở về Mục lục| |Mua sách|

Lễ Hiện
Xuống Đánh Dấu Khởi Đầu Sứ Mệnh Giáo
Hội
Trong Hiến Chế Ad Gentes (Hoạt Động
Truyền Giáo của Giáo Hội) của Công Đồng
Vatican II, biến cố Lễ Hiện Xuống nối
kết chặt chẽ với khởi đầu lịch sử Giáo
Hội: “Vào ngày Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh
Linh đã ngự xuống trên các môn đệ ... Và
chính từ Lễ Hiện Xuống khởi đầu ‘mọi
hành động của các tông đồ’” (AG 4). Bởi
thế, từ giây phút khai sinh của mình, do
việc đi vào thế giới trong ngày Lễ Hiện
Xuống, Giáo Hội biểu hiện là “nhà truyền
giáo,” việc này thể hiên nhờ hành động
của Chúa Thánh Linh. Chúng ta cũng có
thể nói thêm rằng Giáo Hội luôn như thế:
Giáo Hội vẫn ở “trong tình trạng truyền
giáo” (in statu missionis). Đặc tính
truyền giáo này là bản chất chính của
Giáo Hội. Đây là đặc tính tạo thành Giáo
Hội Chúa Kitô, vì Chúa Thánh Linh đã làm
cho Giáo Hội trở thành truyền giáo từ
lúc khai sinh.
Đoạn văn Công Vụ Tông Đồ ghi lại biến
cố Lễ Hiện Xuống (Cv 2:1-13) cho thấy sự
thực về điều khẳng định này của Công
Đồng gắn liền với sản nghiệp chung của
Giáo Hội.
Chúng ta biết các tông đồ và môn đệ
khác, tụ họp cùng với Đức Maria trong
căn phòng trên lầu, đã nghe “một âm
thanh tựa như cơn gió mạnh,” và xuất
hiện “những lưỡi lửa, tỏa ra trên đầu
mọi người” (tc. Cv 2:2-3). Theo truyền
thống Israel lửa là biểu hiệu sự hiển lộ
đặc biệt của Thiên Chúa, Đấng nói lời
chỉ dạy, hướng dẫn và cứu độ dân Ngài.
Ký ức về kinh nghiệm kỳ diệu tại Núi
Sinai vẫn còn sống động trong tâm hồn
người Israel và giúp họ hiểu ý nghĩa
việc hiệp thông mới bao gồm trong biểu
tượng đó, và cũng như là bằng chứng hiển
nhiên trong “Sách Huấn giáo Jerusalem”
(Jerusalem Tamud) (tc. Hag 2, 77b, 32;
đọc thêm Mildrash Rabbat 5, 9 về Xuất
hành 4:27).
Cũng truyền thống Jerusalem Tamud của
người Israel đã chuẩn bị các tông đồ
hiểu “lưỡi” có nghĩa sứ mệnh rao giảng,
làm chứng nhân và giảng dạy mà chính
Chúa Giêsu đã trao cho các ngài. “Lửa”
không phải chỉ liên quan với luật của
Thiên Chúa, mà Chúa Giêsu đã xác quyết
và kiện toàn, mà còn liên quan tới chính
Chúa Giêsu, “con người” của Ngài, cuộc
đời Ngài, tử nạn và phục sinh, vì chính
Ngài là tân Huấn Chỉ (Torah[1])
phải được loan truyền khắp thế giới. Nhờ
hành động của Chúa Thánh Linh, những
“lưỡi lửa” đã trở thành lời nói nơi
miệng các tông đồ: “Các ngài được tràn
đầy Chúa Thánh Linh và bắt đầu nói những
ngôn ngữ khác, theo như Thánh Linh làm
cho các ngài nói được” (Cv 2:4).
Trong lịch sử Cựu Ước đã có những
cuộc hiển lộ tương tự mà trong đó thần
khí của Chúa được ban cho việc nói tiên
tri (tc. Mic 3:8; Is 61:1; Zech 7:12;
Neh 9:30). Ngôn sứ Isaiah cho biết một
luyến thần (seraphim) bay đến bên ngài,
“trong tay cầm cục than đỏ lửa mà thiên
thần đã dùng cái kẹp gắp lấy từ bàn
thờ.” Thiên thần chạm cục than đỏ lửa đó
vào môi ngôn sứ Isaiah để thanh tẩy ông
khỏi mọi tội lỗi, trước khi Chúa trao
cho ông sứ mệnh nói với dân Ngài (tc. Is
6:6-9 ff.). Các tông đồ biết biểu tượng
truyền thống này nên nắm được ý nghĩa sự
việc xảy ra với các ngài vào ngày Lễ
Hiện Xuống. Thánh Phêrô minh chứng điều
này trong bài giảng thuyết đầu tiên, nối
kết ơn nói nhiều ngôn ngữ với lời ngôn
sứ Joel đã nói về việc tuôn đổ Thánh
Linh làm cho các môn đệ có khả năng nói
tiên tri (Cv 2:17 ff; Joel 3:1-5).
Qua “lưỡi lửa” (Cv 2:3) mỗi tông đồ
nhận được đặc sủng đa dạng của Thánh
Linh, như những người tôi tớ trong dụ
ngôn tin mừng, tất cả đều đã nhận được
một số vốn để sinh lợi (tc. Mt
25:14ff.). “Lưỡi lửa” là biểu hiệu ý
thức mà các tông đồ có và luôn nhớ liên
quan tới sứ mệnh truyền giáo các ngài
được kêu gọi và cống hiến. Ngay khi được
“tràn đầy Chúa Thánh Linh, các ngài bắt
đầu nói những ngôn ngữ khác lạ, mà Thánh
Linh ban cho các ngài nói được.” Thánh
Linh ban cho các ngài sức mạnh, khả
năng, và thúc đẩy trong lòng, để các
ngài thi hành sứ mệnh được trao phó.
Việc này xảy ra trong căn phòng trên
lầu, nhưng ngay sau đó sứ mệnh loan báo
tin mừng và nói nhiều ngôn ngữ đã vượt
ra khỏi nơi các ngài ở. Hai biến cố đặc
biệt đã xảy ra và được mô tả trong Công
Vụ Tông Đồ. Trước nhất, Sách Công Vụ mô
tả ơn ngôn ngữ mà nhờ đó những lời các
ngài nói có tính cách đa ngôn ngữ và
dùng để hát ca chúc tụng Thiên Chúa (tc.
Cv 2:11). Đám đông gồm “những người
Israel sùng đạo” dịp này đang ở
Jerusalem mừng Lễ Vượt Qua đã nghe tiếng
động mạnh (khi Chúa Thánh Linh ngự xuống
căn phòng Tiệc Ly) kêu gọi tụ tập lại và
ngỡ ngàng trước sự việc này. Họ thuộc
“mọi quốc gia dưới gầm trời” (Cv 2:5)
“và nói ngôn ngữ dân địa phương họ ở,
mặc dầu theo sắc tộc thì họ vẫn là người
Israel.” Lúc này đám đông tụ tập chung
quanh các tông đồ “bỡ ngỡ lạ lùng, vì
mỗi người này đã nghe các tông đồ nói
thổ ngữ của họ. Họ ngỡ ngàng và ngạc
nhiên, nói, ‘Không phải những người này
đang nói tiếng miền Galilee sao? Và làm
cách nào mà mỗi người chúng tôi nghe thổ
ngữ của mình?’” (Cv 2:6-8).
Ở điểm này Thánh Luca không ngần ngại
vạch ra bản đồ thế giới miền Địa Trung
Hải mà từ đó những người Israel sùng đạo
đã tới Jerusalem. Chẳng khác gì ngài đặt
thế giới những người trở lại theo Chúa
Kitô đối nghịch với việc phân chia ngôn
ngữ từ tháp Babel và các sắc dân như
Sách Sáng Thế đã ghi lại (11:1-9). Thánh
Luca cũng không quên kể, trong số đó,
“những người từ Roma, người Parthian và
Medes và Elamites và cư dân ở
Mesopotamia, Judea và Cappadocia,
Pontius và Tiểu Á, Phrygia và Pamphylia,
Aicập và những miền thuộc Libya thuộc
Cyrene, và các du khách từ Roma, cả
người Israel và người tòng Do Thái giáo,
người Cretan và Ả Rập” (Cv 2:11-19).
Thánh Sử, qua miệng tất cả những người
đó, dường như làm sống lại biến cố đã
xảy ra tại Jerusalem và được trao lại
theo truyền thống Kitô hữu tiên khởi
bằng những lời sau đây: “Chúng tôi nghe
(từ các tông đồ, người gốc từ Galilee)
nói bằng ngôn ngữ của địa phương chúng
tôi về những việc lạ lùng của Thiên
Chúa” (Cv 2:11).
Sự kiện ngày Lễ Hiện Xuống hiển nhiên
là huyền nhiệm và quan trọng. Chúng ta
có thể khám phá được trong đó một dấu
chỉ phổ quát của thế giới Kitô Giáo và
đặc tính truyền giáo của Giáo Hội. Người
viết Sách Thánh cho chúng ta thấy điều
này và biết rõ thông điệp Lễ Hiện Xuống
được gửi tới cho cả nhân loại thuộc mọi
dân tộc. Chính Chúa Thánh Linh can thiệp
để bảo đảm mọi người đều hiểu ít nhất
điều gì đó bằng ngôn ngữ của mình: “Từng
người chúng tôi nghe hiểu bằng tiếng địa
phương của mình” (Cv 2:8). Ngày nay
chúng ta có thể nói về chuyển dịch ngôn
ngữ và các nền văn hóa đã sản sinh ra
ngôn ngữ đó. Vì thế người ta có thể nhìn
thấy nơi toàn thể sự việc này một hình
thức sơ khởi của hội nhập văn hóa, nhờ
Chúa Thánh Linh đem lại.
Một sự kiện đặc biệt khác là lòng
can đảm mà thánh Phêrô và mười một tông
đồ “đã đứng lên” bắt đầu giải thích ý
nghĩa thiên sai và thánh linh của sự
việc đang xảy ra trước mắt đám đông ngỡ
ngàng đó (Cv 2:14ff). Chúng ta sẽ trở
lại vấn đề này khi đến lúc. Ở đây chúng
ta có thể thực hiện một suy nghiệm cuối
cùng về điểm tương phản (một thứ loại
suy từ những điểm đối nghịch) giữa điều
xảy ra ngày Lễ Hiện Xuống và điều chúng
ta đọc trong Sáng Thế Ký về Tháp Babel
(tc. St 11:1-9). Trong chuyện lịch sử
Tháp Babel chúng ta chứng kiến sự phân
tán ngôn ngữ, bởi thế nên người ta không
thể hiểu nhau, vì nói những ngôn ngữ
khác nhau. Trái lại, vào Lễ Hiện Xuống,
dưới hành động của Thánh Linh Đấng là
“Thần Linh chân lý” (tc. Jn 15:26), sự
phân tán ngôn ngữ không còn cản trở
người ta hiểu điều đang được loan báo
nhân danh và vì vinh danh Thiên Chúa. Vì
thế có sự liên hệ trong việc kết hiệp
nhân loại, vượt qua ranh giới ngôn ngữ
và văn hóa, và việc hiệp nhất này được
Chúa Thánh Linh thể hiện trong thế giới.
Đây là việc thành toàn đầu tiên
những lời Chúa Giêsu hứa với các tông đồ
trước khi về với Chúa Cha: “Anh em sẽ
nhận được sức mạnh khi Chúa Thánh Linh
đến trên anh em; và anh em sẽ làm chứng
về Thầy ở Jerusalem và khắp miền Judea
và Samaria và toàn thế giới” (Cv 1:8).
Công Đồng Vatican II bình luận:
“Chúa Thánh Linh thông đạt cho Giáo Hội
toàn thể chân lý. Ngài thống nhất Giáo
Hội bằng kết hiệp và phục vụ. Ngài xây
dựng và dẫn dắt Giáo Hội bằng nhiều ân
sủng khác nhau theo phẩm trật và đoàn
sủng” (LG 4), Ngài “là linh hồn làm sống
động những định chế trong Giáo Hội và đổ
vào lòng các tín hữu cùng một tinh thần
truyền giáo đã thúc đẩy chính Chúa Kitô”
(LG 4). Từ Chúa Kitô, đến các tông đồ,
đến Giáo Hội, đến toàn thế giới: dưới
hành động của Chúa Thánh Linh tiến trình
hợp nhất toàn cầu trong chân lý và yêu
thương có thể và phải trải rộng ra.
Buổi gặp chung ngày 20 tháng Chín, 1989
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
www.thanhlinh.net