CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU
Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.
G.S. Nguyễn Đức Tuyên và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi chuyển dịch
|Trở về Mục lục| |Mua sách|

Ý nghĩa từ ngữ “Thánh Linh” trong Cựu Ước
Trong những bài huấn giáo về ngôi vị và sứ mệnh của Chúa Thánh Linh, trước hết chúng ta đã tìm hiểu và lắng nghe lời Chúa Giêsu loan báo và hứa về Chúa Thánh Linh, đặc biệt là trong Tiệc Ly. Chúng ta đã xem xét lại phần tường thuật về Chúa Thánh Linh ngự đến ghi trong Công Vụ Tông Đồ. Chúng ta phải duyệt lại các văn bản Tân Ước tìm hiểu những điều Giáo Hội sơ khai rao giảng về Chúa Thánh Linh và lòng tin vào Ngài. Nhưng trong phần phân tích chúng ta lại thường khai triển Cựu Ước. Chính các tông đồ khi rao giảng lần đầu tiên ngay sau khi Chúa Thánh Linh hiện xuống đã trình bày rõ ràng việc Chúa Thánh Linh ngự đến như là sự hoàn tất những lời hứa và tiên tri trong Cựu Ước. Các ngài coi giao ước cũ và lịch sử Israel như là thời gian chuẩn bị cho việc đón nhận sự sung mãn chân lý và ân sủng do Đấng Thiên Sai đem lại.
Lễ Hiện Xuống đích thực là một biến cố trọng đại chuyển biến tương lai. Vì Lễ Hiện Xuống ghi dấu lúc khởi đầu thời đại Chúa Thánh Linh, Đấng mà chính Chúa Giêsu đã nói là vị chủ chốt, cùng với Chúa Cha và Chúa Con, trong công cuộc cứu độ, một công cuộc được ấn định phải chảy tràn từ thập giá tới toàn thế giới. Vả lại, muốn hiểu đầy đủ hơn toàn thể mạc khải về Chúa Thánh Linh, cần phải trở ngược dòng thời gian, tức là tìm trong Cựu Ước, để thấy được những dấu vết việc chuẩn bị lâu dài cho mầu nhiệm Phục Sinh và Lễ Hiện Xuống.
Vì thế chúng ta lại cần phải suy gẫm những dữ kiện Phúc Âm liên quan đến Chúa Thánh Linh và tiến trình mạc khải từ những phác thảo trong Cựu Ước dần dần hiện lên thành những minh định của Tân Ước. Những sự kiện này được mô tả từ trước trong công cuộc tạo dựng, kế đến là trong công cuộc cứu độ; trước tiên trong lịch sử và các lời tiên tri về Israel, rồi đến cuộc đời và sứ mệnh Chúa Giêsu Đấng Thiên Sai, từ giây phút Nhập Thể cho tới khi phục sinh.
Đầu tiên phải nghiên cứu sự kiện về danh xưng Chúa Thánh Linh mà lần thứ nhất ghi được trong Cựu Ước và những ý nghĩa khác biệt của danh xưng này.
Chúng ta biết theo não trạng người Do Thái thì một danh xưng có ý nghĩa đặc biệt tiêu biểu một con người. Chúng ta có thể nhớ lại tầm quan trọng được qui chiếu cho việc kêu thánh danh Thiên Chúa trong Sách Xuất Hành và trong toàn thể truyền thống Do Thái. Việc mạc khải một danh xưng được coi là sự hiển lộ của chính ngôi vị đó: thánh danh đã cấu thành mối liên hệ giữa dân chúng và sự hiện hữu siêu việt của Thiên Chúa (tc. Xh 3:13-14).
Thánh danh nói về Chúa Thánh Linh trong Cựu Ước giúp chúng ta hiểu các đặc tính của Ngài, mặc dù chỉ nhờ mạc khải trong Tân Ước chúng ta mới học biết được thực tại của Ngài là một Ngôi Vị Thần Linh, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Con. Thiệt là chính đáng khi cho rằng từ ngữ được các tác giả Sách Thánh chọn rất chính xác, và hơn nữa, chính Chúa Thánh Linh, Đấng linh hướng các ngài, đã hướng dẫn tiến trình triết học và văn học dẫn tới việc soạn thảo và trình bày chi tiết giải thích chính xác việc định nghĩa Ngôi Vị của Ngài trong Cựu Ước nữa.
Trong Phúc Âm, từ ngữ chỉ Thánh Linh (Thần Khí) tiếng Hebrew là ruah. Nghĩa thứ nhất của từ ngữ ruah chuyển sang Latin là spiritus, nghĩa là “hơi thở.” (Theo Anh ngữ sự liên hệ giữa tinh thần, thần khí và hơi thở cũng rõ ràng.) Chúng ta nhận thấy hơi thở là thực tại vô hình. Không thể nhìn thấy hơi thở; không thể dùng tay mà nắm được hơi thở; dường như hơi thở là hư không, dẫu vậy hơi thở vô cùng quan trọng, quan trọng sinh tử. Người ta không thở thì không thể sống. Sự khác biệt giữa người sống và người chết là người sống có hơi thở và người chết không còn hơi thở. Sự sống từ Thiên Chúa mà có. Vì thế hơi thở cũng từ Thiên Chúa mà có, và Ngài có thể lấy hơi thở đi (tc. Tv 104: 29-30). Nhìn hơi thở theo cách này, chúng ta hiểu sự sống lệ thuộc vào một nguyên tắc tinh thần, nguyên tắc đó được gọi cũng bằng từ ngữ Hebrew là ruah. Hơi thở của người ta có liên hệ nhiều hơn nữa với gió, một thứ hơi thở mạnh mẽ bên ngoài.
Từ ngữ ruah tiếng Hebrew (Do Thái), cũng như từ ngữ spiritus của Latin, cũng nói đến sự chuyển động (thổi) của gió. Không ai nhìn thấy gió, dẫu vậy hiệu lực của gió thì mạnh. Gió đưa mây bay và làm cây cối rung lay. Khi gió mạnh, gió có thể làm biển động và nhận chìm tàu thuyền (tc Tv 107:25-27). Đối với cổ nhân gió có vẻ là sức mạnh huyền bí mà Thiên Chúa nắm quyền điều khiển (tc Tv 1:4:3-4). Gió đã từng được gọi là “hơi thở của Thiên Chúa.”
Sách Xuất Hành ghi: “Đấng Yahweh khiến gió đông thổi mạnh suốt đêm rẽ biển thành hai, và làm cho lòng biển thành đất khô. Nước biển tách ra như vách hai bên và con cái Israel đi qua đất khô giữa lòng biển ...” (Xh 14:21-22). Trong chương kế tiếp cũng những sự việc tương tự được mô tả bằng những vần thơ và làn gió đông được gọi là “luồng khí từ mũi’ Thiên Chúa. Khi nói về Thiên Chúa, thi nhân nói: “Luồng khí từ hai cánh mũi Ngài phát ra và nước đùn cao chất ngất ... Một hơi Ngài thở, biển lại phủ chìm những người đó” (Xh 15:8-10). Áng thơ này mô tả gợi cảnh lòng kiên tín gió là khí cụ Thiên Chúa dùng trong những trường hợp này.
Từ nhận thức sức mạnh vô hình của gió, người ta biết được sự hiện hữu của “Thánh Linh (Thần Khí) Thiên Chúa.” Các văn bản trong Cựu Ước, chúng ta dễ dàng hiểu từ nghĩa này qua nghĩa khác, và ngay cả trong Tân Ước chúng ta thấy gió lưỡng nghĩa (gió có hai nghĩa). Để giúp ông Nicodemus hiểu cách Chúa Thánh Linh hoạt động, Chúa Giêsu dùng ẩn dụ (hình dung so sánh, tỉ dung) với gió, và Chúa dùng cũng cách nói đó trong cả hai trường hợp: “Gió muốn thổi đi đâu thì thổi ... Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Jn 3:8).
Vì thế ý kiến căn bản được mô tả trong danh xưng theo Phúc Âm về Thánh Linh không nói về sức mạnh linh thiêng, nhưng là sức thúc đẩy sinh động, thí dụ như sức mạnh của gió. Trong Phúc Âm, chức năng thứ nhất của Thánh Linh (thần khí) không phải là cho hiểu, nhưng làm cho chuyển động, không chiếu ánh sáng, nhưng gieo cho tính năng động.
Tuy nhiên nhận định trên không hoàn toàn tuyệt đối. Những phương diện khác cũng được diễn tả như những viên gạch lát đường cho việc mạc khải tiếp theo sau. Trước nhất và trên hết là về phương diện nội tâm. Hẳn nhiên, hơi thở đi vào trong con người. Theo thuật ngữ Phúc Âm, điều này có thể diễn tả bằng cách nói Thiên Chúa hà thần khí vào trái tim con người (tc. Ez 36:26; Rom 5:5). Vì quá loãng mỏng, không khí có thể thấm nhập không những vào thân xác chúng ta, mà cũng cả mọi chỗ hở và khe nứt. Điều này khiến chúng ta hiểu “thần khí của Chúa phủ ngập thế giới” (Kn 1:7) và thấm nhập đặc biệt “mọi thần khí thông minh, tinh tuyền và tinh tế bén nhạy nhất” (7:23), như lời Sách Khôn Ngoan dạy.
Liên quan tới khía cạnh tâm thức là khía cạnh tri thức. Thánh Phaolô hỏi: “Ai biết được đáy lòng người ta, nếu không phải là chính thần khí người đó?” (1 Cor 2:11). Chỉ có thần khí của người ấy mới biết những phản ứng và tâm trạng thầm kín của chính mình mà chưa hề truyền thông cho người khác. Cũng tương tự, và với lý do mạnh hơn, Thánh Linh Thiên Chúa hiện diện trong mọi hiện hữu của vũ trụ và biết mọi sự thâm sâu kín nhiệm (Kn 1:7). Dĩ nhiên, “Thánh Linh (Thần Khí) thấm sâu trong lòng sự vật, ngay cả cõi sâu thẳm của Thiên Chúa ... Những sâu thẳm của Thiên Chúa chỉ có thể thấu biểu bởi Thánh Linh (Thần Khí) Thiên Chúa” (1 Cor 2:10-11).
Khi đề cập đến vấn đề tri thức và đối thoại giữa con người, chúng ta không thể quên hơi thở phải song hành với ngôn từ. Muốn nói chúng ta phải sử dụng hơi thở. Thanh đới làm rung hơi thở, và như thế hơi thở chuyển thanh âm của ngôn từ. Được linh hướng nhờ sự kiện này, Sách Phúc Âm đưa ra một so sánh giữa lời nói và hơi thở (tc. Is 11:4), hoặc lời nói và thần khí. Nhờ hơi thở, lời nói được truyền đi; từ hơi thở phát ra sức mạnh và năng động tính. Thánh Vịnh 33 dùng lối tỉ dung (so sánh) này về biến cố lúc khởi đầu sáng thế và viết: “Do lời Yahweh các tầng trời được tạo dựng, do hơi khí miệng Ngài tạo thành các thiên thể ...” (Tv 33:6).
Trong những văn bản thuộc loại này chúng ta có thể thấy một sự chuẩn bị từ xa cho việc Chúa Kitô mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa Cha là uyên nguyên việc tạo dựng muôn loài. Ngài tạo dựng mọi sự bởi Lời của Ngài, tức là bởi Chúa Con, và bởi Hơi Thở (Thần Khí) của Ngài, Chúa Thánh Linh.
Từ ngữ ruah có nhiều nghĩa của Hebrew được sử dụng trong Phúc Âm để biểu thị Thánh Linh (Thần Khí), tuy nhiên cũng đem lại một vài lúng túng (mơ hồ). Hiển nhiên, trong một văn bản, thường không thể xác định nghĩa chính xác của từ ngữ ruah. Người ta có thể phân vân giữa gió và hơi thở, giữa hơi thở và thần khí, hoặc giữa thần khí thụ tạo và Thánh Linh (Thần Khí) Thiên Chúa.
Tuy nhiên, tính cách đa dạng này có giá trị của nó, vì nó thiết lập sự truyền thông có hiệu quả giữa quá nhiều thực thể. Về phương diện này, tốt hơn cả là bỏ đi phần nào những kỳ vọng của lý luận ngõ hầu nắm được những ý nghĩa bao quát hơn. Khi nghĩ về Chúa Thánh Linh, điều hữu ích là chúng ta nhớ danh xưng của Ngài theo Phúc Âm có nghĩa là “hơi thở,” và ý nghĩa đó liên quan với sức thổi mạnh của gió và hơi thở của chính chúng ta. Thay vì bám víu vào quan niệm thuần lý khô khan, chúng ta sẽ thấy hữu ích khi chấp nhận giá trị của những hình ảnh và sự kiện này. Nhưng rủi thay, những chuyển dịch (chuyển ngữ, phiên dịch) đều không có khả năng chuyển tải những điều đó tới cho chúng ta cách đầy đủ, vì phiên dịch từ ngữ ruah thường phải lựa chọn song hành với những từ ngữ khác. Để dịch từ ngữ ruah của tiếng Hebrew, bản Septuagint (Bảy Mươi) chuyển ruah ra tiếng Hy Lạp đã dùng hai mươi bốn (24) từ ngữ khác nhau, và như thế không cho phép người ta hiểu cặn kẽ ý nghĩa của hạn từ đó trong các văn bản của Phúc Âm viết bằng tiếng Hebrew (Do Thái).
Để chấm dứt phần phân tích thuật ngữ này của những văn bản Cựu Ước về từ ngữ ruah, chúng ta có thể nói hơi thở (thần khí, thánh linh) của Thiên Chúa xuất hiện trong những từ ngữ này là quyền năng sức mạnh ban sự sống cho các thụ tạo. Từ ngữ ruah mô tả thực tế sâu thẳm của Thiên Chúa hoạt động âm thầm sâu thẳm nơi con người ta. Từ ngữ ruah biểu lộ rõ ràng năng động tính của Thiên Chúa hiệp thông với các thụ tạo.
Tuy rằng chưa nhận thức được Ngôi Vị rõ ràng như thế nào trong ngữ cảnh về tồn hữu siêu nhiên, nhưng “hơi thở (thần khí, thần linh)” hoặc “Thánh Linh (Thần Khí)” của Thiên Chúa có thể phân biệt được theo cách nào đó với Thiên Chúa Đấng phái Thần Khí của Ngài hoạt động nơi các thụ tạo. Như thế, từ quan điểm văn chương, tri thức nhân loại được chuẩn bị dần dần để tiếp nhận mạc khải về Ngôi Vị Chúa Thánh Linh hiện ra như là cách biểu lộ đời sống và quyền tuyệt đối của Thiên Chúa.
Buổi gặp chung ngày 3 tháng Giêng, 1990
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
www.thanhlinh.net