CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU
Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy.
Đây là sách về giảng dạy đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần mà mọi tủ sách gia đình cần có.
G.S. Nguyễn Đức Tuyên và Ngưỡng Nhân Lưu Ấu Nhi chuyển dịch
|Trở về Mục lục| |Mua sách|

Thánh Linh Thiên Chúa
Thanh Tẩy
Trong bài giáo lý trước, chúng ta
đã trích một vế Thánh Vịnh 51 mà trong
đó thánh vịnh gia, thống hối tội lỗi
khốn nạn của mình, nài xin Thiên Chúa
thương xót và: “Xin Chúa đừng lấy đi
Thánh Linh (của) Chúa khỏi con” (câu
13). Thánh Vịnh đó là kinh Xin Thương
Xót (Miserere) rất nổi tiếng thường được
nhắc lại trong phụng vụ, cũng như trong
nghi thức thống hối của các Kitô hữu.
Thánh Vịnh 51 diễn tả tâm tình thống
hối, tín thác và khiêm tốn sau khi đã
phạm tội, tâm tình đó rất dễ đến trong
“con tim thống hối và khiêm tốn” (Tv
51:19). Theo truyền thống các Giáo Phụ
và các tác giả sách tu đức Kitô Giáo thì
Thánh Vịnh 51 đáng được học hỏi và suy
niệm; Thánh Vịnh này cho chúng ta những
kích thước mới về ý niệm “Thánh Linh
Thiên Chúa (divine spirit)” trong Cựu
Ước. Thánh Vịnh 51 giúp chúng ta chuyển
dịch giáo thuyết thành ra thực hành
thiêng liêng và thần học tu đức khổ chế.
Những ai theo dõi những trưng dẫn
các lời tiên tri trong bài giáo lý trước
sẽ thấy dễ dàng khám phá ra tính cách
liên hệ mật thiết của kinh Xin Thương
Xót (Miserere) với những kinh văn đó,
đặc biệt là những lời trong sách Isaiah
và Ezekiel. Cảm tưởng đứng trước mặt
Thiên Chúa trong chính hoàn cảnh tội
lỗi, trong đoạn văn về thống hối của
Isaiah (59:12; tc. Ez 6:9)71 và cảm
tưởng về trách nhiệm cá nhân được nói kỹ
trong Ezekiel (18:1-32) đều có trong
Thánh Vịnh 51 này. Trong bối cảnh về
kinh nghiệm tội lỗi và nhu cầu cảm thấy
mãnh liệt phải ăn năn hối cải, thánh
vịnh gia xin Thiên Chúa ban ơn thanh tẩy
trái tim cùng với tinh thần được đổi
mới. Như thế, hành động của Thánh Linh
Thiên Chúa thể hiện những khía cạnh kiên
vững hơn và lời cam kết đúng đắn hơn
trên mức độ nào đó của điều kiện hiện
sinh của một cá nhân.
Thánh vịnh gia van nài Chúa thương xót
để được thanh tẩy khỏi tội lỗi: “Lạy
Thiên Chúa, xin thương xót con! Xin xóa
sạch tội con, xin rửa con sạch hết lỗi
lầm, và mọi tội lỗi con xin Ngài thanh
tẩy!” (Tv 51:3-4). “Xin dùng ngành hương
thảo tẩy sạch tội lỗi con; xin rửa con
và con sẽ trắng hơn tuyết” (câu 9).
Nhưng thánh vịnh gia biết sự tha thứ của
Thiên Chúa không thể được thu nhỏ tới
việc giản dị là ngưng việc kết tội bên
ngoài, mà không có việc đổi mới bên
trong: sự việc đó chắc chắn rằng nhân
loại không thể tự mình làm được. Vì thế
thánh vịnh gia xin: “Lạy Thiên Chúa, xin
tạo trong con trái tim thanh sạch, đổi
mới tinh thần cho con nên chung thủy.
Xin đừng xua đuổi con ra khỏi thánh nhan
Chúa, và xin đừng rút Thánh Linh (của)
Chúa khỏi con. Xin cho con lại được hân
hoan vui mừng vì được Ngài cứu độ, và
nâng đỡ con bằng tinh thần quảng đại”
(cc 12-14).
Cách chọn chữ của thánh vịnh gia thật
là ý nghĩa: ngài xin cho việc tạo dựng,
tức là tác động sức mạnh của Thiên Chúa
toàn năng với chủ ý tạo dựng một sự hữu
mới (new being). Chỉ một mình Thiên Chúa
mới có thể tạo dựng (bara), tức là làm
cho thứ gì mới hiện hữu (tc. Stk 1:1; Xh
34:10; Is 48:7; 65:17; Jer 31:21-22).
Chỉ một mình Thiên Chúa có thể ban cho
trái tim tinh tuyền, hoàn toàn thanh
sạch để tất cả mọi ước nguyện của trái
tim hợp với thánh ý Ngài. Chỉ một mình
Thiên Chúa có thể đổi mới phần thâm sâu
của con người, biến đổi con người từ bên
trong, làm cho ngay thẳng chiều hướng
căn bản đời sống đạo giáo và lương tâm.
Theo danh từ thần học và chính tín điều
(tc. DS 1521-1522; 1560): chỉ một mình
Thiên Chúa có thể công chính hóa người
tội lỗi, điều này được chuyển dịch theo
cách nói của ngôn sứ là: “xin ban cho
một trái tim mới” (Tv 51:12).
Kế đến là xin “Một tinh thần chung
thủy” (Tv 51:12) và phun tưới uy lực của
Thiên Chúa vào tinh thần nhân loại, xin
được giải thoát khỏi sự yếu đuối về luân
lý mà trong lòng cảm thấy những biểu
hiện tội lỗi. Sở dĩ có sức mạnh và lòng
chung thủy này là nhờ sự hiện diện của
Thánh Linh Thiên Chúa, vì thế nên thánh
vịnh gia van nài: “Xin đừng lấy Thánh
Linh của Chúa ra khỏi con.” Sự kiện này
là lần duy nhất mà chúng ta tìm thấy
cách diễn tả “Thánh Linh của Thiên Chúa”
trong các thánh vịnh. Khi nghiền ngẫm
lịch sử Israel trong Cựu Ước, chúng ta
cũng tìm thấy lời nói về Thánh Linh
trong sách Isaiah. Ngôn sứ Isaiah đã
than khóc với Thiên Chúa về sự nổi loạn
mà “họ đã làm buồn lòng Thánh Linh” (Is
63:10), và nhớ lại ông Moses, người đã
được Thiên Chúa “trao ban Thánh Linh vào
nội tâm ông” (Is 63:11).
Thánh vịnh gia ý thức sự hiện diện gần
gũi của Thần Linh Thiên Chúa là nguồn
liên tục ban sự thánh thiện, nên thánh
gia đã van nài: “Xin đừng lấy Thánh Linh
của Chúa ra khỏi con!” Thế nên lời van
xin tương tự khác nữa là “Xin đừng xua
đuổi con lìa xa thánh nhan Chúa” giúp
chúng ta hiểu thấu lòng kiên tín của
thánh vịnh gia về việc có Thánh Linh
Thiên Chúa được nối liền với sự hiện
diện Thần Linh trong thâm sâu tâm hồn
con người. Nếu bị Thiên Chúa xua đuổi xa
khỏi sự hiện diện của Ngài thì thật sự
là một điều đại bất hạnh. Nếu Chúa Thánh
Linh ở trong con người thì con người có
mối giao tình với Thiên Chúa, mà không
còn phải là “mặt giáp mặt” như đối diện
để chiêm ngắm, nhưng trong chính mình có
sức mạnh Thần Linh hướng dẫn thế cách cư
xử của mình.
Sau khi van nài Thiên Chúa đừng lấy
đi Thánh Linh, thánh vịnh gia xin phục
hồi lại sự hân hoan. Trước đó thánh vịnh
gia đã cầu xin cũng ơn hồi phục này, khi
ngài xin Thiên Chúa ban ơn thanh tẩy, hy
vọng trở nên “trắng hơn tuyết”; “Xin làm
cho con được vui mừng hân hoan; những
xương cốt Ngài đã đạp nát cững sẽ nhảy
múa tưng bừng trở lại” (Tv 51:10). Nhưng
trong tiến trình tư duy tâm lý đã làm
nảy sinh ra lời cầu nguyện, thánh vịnh
gia cảm thấy rằng muốn hưởng được niềm
vui này trọn vẹn thì thanh tẩy mọi tội
lỗi cũng chưa đủ. Mà điều cần thiết là
phải tái tạo một trái tim mới, một tinh
thần chung thủy nối kết với sự hiện diện
của Thánh Linh Thiên Chúa. Chỉ khi đó
thánh vịnh gia mới có thể van nài: “Xin
cho con niềm vui được Ngài cứu độ!”
Sự hân hoan là cốt lõi trong việc
đổi mới đã đề cập trong “việc tạo dựng
một trái tim mới.” Sự kiện đó cũng là
kết quả của việc tái sinh mà Chúa Giêsu
đã giảng giải trong dụ ngôn người con đi
hoang. Người vui mừng thứ nhất là người
cha vì đã tha thứ và muốn chia sẻ niềm
hân hoan với mọi người (tc. Lc
15:20-32).
Song song với sự vui mừng, thánh
vịnh gia còn xin thêm “một tinh thần
nồng nàn” nữa, nghĩa là một sự dấn thân
can đảm. Thánh vịnh gia xin tinh thần
can đảm dấn thân nơi Đấng, mà theo Sách
Isaiah, đã hứa cứu độ kẻ yếu đuối: “Ta
ngự chốn cao vời thánh thiện, nhưng vẫn
ở với tâm hồn tan nát buồn phiền, làm
sống lại tinh thần con người sầu khổ và
những tâm hồn tan nát” (Is 57:15).
Sau khi xin điều này, thánh vịnh
gia lập tức thêm lời cam kết dấn thân
phụng thờ Thiên Chúa thay cho những
người tội lỗi, xin cho họ ơn ăn năn
thống hối: “Con sẽ dạy người tội lỗi
đường lối của Ngài để họ trở lại với
Ngài” (Tv 51:15). Lại thêm một yếu tố
đặc thù khác nữa trong tiến trình nội
tâm chân thành đã giũ sạch mọi lầm lỗi.
Một trái tim như thế cũng ước muốn giành
thêm sự tha thứ cho người khác nữa và
thúc đẩy những kẻ tội lỗi ăn năn thống
hối. Và những sự kiện trên cũng là mục
đích mà chính trái tim đó hứa hẹn quyết
tâm hành động. “Điều cam kết tinh thần”
này nơi một người thống hối và được tha
thứ tràn ra sự hiện diện của “Thánh Linh
Thiên Chúa” và là dấu chỉ sự hiện diện
đó. Trong tinh thần phấn khởi của việc
ăn năn thống hối và nhiệt thành dấn
thân, thánh vịnh gia trình bày với Thiên
Chúa lòng xác tín liên quan đến kết quả
các hành động riêng của mình. Đối với
thánh vịnh gia thì sự việc hầu như chắc
chắn xảy ra là “những người tội lỗi sẽ
trở lại với Chúa.” Cũng cần phải kể thêm
sự hiện hữu uy lực nội tại của Chúa
Thánh Linh đóng vai trò tích cực.
Sự suy diễn mà thánh vịnh gia mô tả
có tầm mức giá trị hoàn vũ: “Lạy Thiên
Chúa, tế phẩm con dâng là một tinh thần
thống hối, một trái tim ăn năn hối hận
và khiêm tốn. Lạy Thiên Chúa, Ngài sẽ
chẳng khinh chê” (Tv 51:19). Với tính
cách tiên tri, thánh vịnh gia có viễn
kiến sẽ đến ngày mà trong thành
Jerusalem được trùng tu, mọi lễ vật được
dâng hiến trên bàn thờ trong đền thánh
theo lề luật sẽ được chấp nhận (tc. cc
20-21). Việc xây dựng lại các tường
thành Jerusalem sẽ là dấu chỉ Thiên Chúa
đã tha thứ, như các ngôn sứ Isaiah (tc.
câu 60:1 ff; 62:1 tt.), Jeremiah (tc.
30:15-18) và Ezekiel (tc. 36:33) đã tiên
báo. Nhưng sự kiện còn có giá trị lớn
lao hơn nữa là “tế phẩm tinh thần” của
người khiêm tốn xin tha thứ, mà Thánh
Linh soi lòng ăn năn thống hối và cầu
nguyện, không bị lấy mất đi khỏi người
đó (tc. Tv 51:13).
Rõ ràng từ phần trình bày vắn gọn
những chủ điểm căn bản này, đối với
chúng ta Thánh Vịnh Xin Thương Xót
(Miserere) không những chỉ là một lời
cầu nguyện đẹp mà còn là chỉ dẫn trong
đời sống khắc kỷ thống hối. Thánh Vịnh
Xin Thương Xót còn minh chứng trình độ
phát triển đạt được trong Cựu Ước về ý
niệm “Thần Khí Thiên Chúa (Divine
Spirit),” như ý niệm đó dần dần trở nên
gần gũi hơn điều sẽ được mạc khải về
Chúa Thánh Linh trong Tân Ước.
Vì thế Thánh Vịnh Kinh Thương Xót là
một chương lớn của lịch sử đời sống tâm
linh trong Cựu Ước, trong cuộc lữ hành,
mặc dầu trong bóng mờ nhưng vẫn hướng về
Jerusalem mới là nơi Chúa Thánh Linh
ngự.
Buổi gặp chung ngày 28 tháng
Hai, 1990
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II
www.thanhlinh.net