Phong
Trào Canh Tân Trong Thánh Thần
Nguyên tác : Afin que vous portiez beaucoup de fruits, Paris,1982.
Tác giả : Cha Philippe, OSB.- Linh mục Carôlô chuyển dịch.
Phải thừa nhận là có một sự mơ hồ. Người ta gọi phong trào này bằng nhiều danh hiệu, như "giáo phái", "Canh tân đặc sủng", "Phong trào Ngũ tuần", "Phong trào nói tiếng lạ"... Có người gọi mà không phân biệt rõ các danh hiệu ấy ; có người gọi bừa đang khi chưa hiểu rõ về phong trào; lại có những người gọi với thành kiến xấu. Để nắm rõ vấn đề, ta phải luôn nhớ tới lời Thánh Phaolô khuyên trong thư gởi tín hữu Thêxalônica: "Đừng dập tắt Thánh Thần... Hãy cân nhắc mọi sự : điều tốt thì giữ ; còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì tránh cho xa" (1 Tx 5, 19-20).
Trước hết nên tránh một danh từ dễ gây hiểu lầm, đó là "Phong trào Hiện Xuống Công giáo". Danh từ này làm cho người ta hiểu rằng chúng ta đồng ý với Phong trào Hiện Xuống cổ điển, là một phong trào chứa đựng một số lầm lạc về thần học. Cũng nên tránh danh từ 'Phép rửa trong Thánh Thần", vì nó có nghĩa là chúng ta chưa nhận được Thánh Thần. Càng ngày người Công Giáo càng thích danh từ "Canh tân trong Thánh Thần". Tính từ "charismatique" (có thể dịch là "đặc sủng" hay "đoàn sủng" tuỳ trường hợp) cũng có thể gây hiểu lầm. Có người hiểu tính từ này chỉ những tín hữu có một kiểu sống đạo đức hơi kỳ dị. Thực ra, nên biết rằng "đoàn sủng" là tính chất của toàn thể Giáo Hội, còn "đặc sủng" là một ơn ("sủng") đặc biệt ("đặc") được ban hôm nay để giúp người ta ý thức tính chất kia. Phần giúp tìm hiểu này tự giới hạn trong một cái nhìn tổng quát về một phong trào tín ngưỡng mà ngày nay đang lan đến hầu hết các nước trên thế giới. Nó gồm 5 phần:
1 Một bảng tóm lược lịch sử.
2. Canh tân trong Thánh Thần là gì ?
3. Một nhóm cầu nguyện đặc sủng phải thế nào ?
4. Một số hiểu lầm và nguy hiểm.
5. Giáo Hội và Phong Trào Canh tân trong Thánh Thần.
1. MỘT BẢNG TÓM LƯỢC LỊCH SỬ
Giữa Canh tân trong Giáo Hội và Phong trào Ngũ Tuần, có những điểm chung nhau và khác nhau sâu sắc. Bởi đó sẽ không vô ích nếu ta xác định vị trí của mình và nhắc lại nguồn gốc của Phong trào Ngũ Tuần. Ta có thể phân biệt 3 biểu hiện :
Phong trào Ngũ Tuần cổ điển
Phong trào này được khai sinh năm 1900 Ở Texas miền Topecca. Khi đó một mục sư giáo phái Méthodiste tên Charles Parnam giảng về Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn nhỏ bé của ông. Thế rồi xảy ra những biểu hiện đặc sủng và tiếp theo là một sự canh tân nội tâm rõ rệt. Một mục sư Méthodiste khác, M.J. Seymour, một người "da đen", đã chứng kiến tất cả những biểu hiện đặc sủng ấy. Ông này sống Ở Los Angeles, cho nên ông cũng giảng về Thánh Thần cho cộng đoàn của ông ở đấy và gặt hái được thành công phi thường. Chính ông là người cổ động cho Phong trào Ngũ Tuần cổ điển.
Phong Trào Ngũ Tuần cổ điển là gì ?
Cái nhân trung tâm là Phép Rửa trong Thánh Thần. Theo những người thuộc phong trào này thì có hai phép rửa : phép rửa bằng nước là phép rửa sám hối để được tha tội và phép rửa trong Thánh Thần, qua đó ta nhận được Thánh Thần. Việc lãnh phép rửa trong Thánh Thần cần đi kèm với "ơn ngôn ngữ" như một bằng chứng rằng ta thực sự được rửa trong Thánh Thần.
Xét trên quan điểm chú giải thì giáo lý này về hai phép rửa - và sự nối kết cần thiết của ơn ngôn ngữ với ơn Thánh Thần - quả không thể chấp nhận được. Cha Sullivan, s.j, đã chứng minh rõ ràng như thế trong một bài viết trong tập san Gregorianum (Baptism in the Holy Spirit, Gegorianum, số 55, năm 1974).
Chung quanh cái nhân trung tâm ấy, có một kiểu cầu nguyện tự phát, nhấn mạnh nhiều về cảm nghiệm cá nhân, về những biểu hiện đặc sủng bề ngoài như chữa bệnh, nói tiên tri v.v... Có lẽ cũng có một đức tin chủ quan rất chân thành, đi kèm với những hoa trái thực sự của Thánh Thần. Mặt khác, những người thuộc phong trào này có khuynh hướng chống cơ chế; họ hiểu Thánh Kinh một cách rất sát mặt chữ (fondamentaliste). Vài nhóm cầu nguyện thỉnh thoảng để mình bị cuốn hút trong những biểu hiện loạn thần kinh. Như thế nghĩa là có sự pha trộn giữa thực và giả. Mặc dù bị những Giáo Hội Tin Lành lớn tẩy chay, nhưng những nhóm cầu nguyện này tiếp tục khẳng định mình qua số lượng những người tham gia (khoảng 12 triệu) và qua môt đức tin chân thành và sống động, như lời chứng của Wilkerson trong quyển Thập giá và Lưỡi gươm.
Thành thật mà nói, ngoài một số điều phải thận trọng, ta cũng phải công nhận rằng Phong trào Ngũ Tuần cổ điển nhắc chúng ta nhớ rằng Thánh Thần vẫn còn đang hiện hữu và hoạt động.
Phong trào Tân Ngũ Tuần nơi người Tin Lành
Có thể định vị nó quanh những năm 1950. Bên châu Mỹ và một số nơi khác, những cộng đoàn Tin Lành như Episcopal, Méthodiste, Presbytérien, v.v... từ trước tới nay vẫn chống lại Phong trào Ngũ Tuần thì bây giờ dần dần bớt lạnh nhạt hơn. Ngay trong các xứ đạo của họ, những nhóm cầu nguyện tự phát đã được phép hoạt động như trong các Giáo Hội Ngũ Tuần.
Thế nhưng - đây mới là điều quan trọng - những nhóm Tin Lành này vẫn trung thành với lễ nghi và nội dung đức tin của Giáo Hội mình. Điều đáng lưu ý hơn cả là các cộng đoàn ấy có một sức sống mới nhờ khám phá được nguồn của sự sống ấy là Chúa Thánh Thần, Đấng vốn ở sẵn trong ta từ khi ta lãnh nhận phép Rửa. Mặt khác những nhóm Tân Ngũ Tuần này không để bị lôi cuốn theo hướng trở thành giáo phái riêng và cách giải thích Thánh Kinh theo sát nghĩa đen như Phong trào Ngũ Tuần cổ điển.
Phong trào Tân Ngũ Tuần nơi những người Công giáo - hay là Canh Tân trong Thánh Thần
Đây là trào lưu sau cùng nhưng lại phát triển rất mạnh, đến nỗi được các báo chí và sách thần học viết đến rất nhiều, như là một hiện tượng đáng ngạc nhiên trong Giáo Hội. Ở đây, tôi chỉ muốn giới hạn phần trình bày trong việc nhắc lại đôi dòng lịch sử, còn những vấn đề thuộc giáo thuyết thì sẽ bàn sau.
Mọi sự khởi đầu vào năm 1967 do một nhóm sinh viên trẻ thuộc Đại học Duquesnes gần Pittsburg. Họ là những Kitô hữu nhiệt tình nhưng lo âu khi thấy tình trạng ngày càng suy đồi của Giáo Hội Công giáo. Một hôm, họ đã đọc được quyển Thập giá và Lưỡi gươm và cảm thấy bị sốc : "Sao những người Công giáo chúng ta lại có thể xa rời với cảm nghiệm về Thánh Thần như thế được? Tại sao chúng ta không còn thấy được nữa những dấu chỉ quyền năng của Thiên Chúa?" Thế là họ bắt đầu mở sách Công vụ Tông đồ để đọc đi đọc lại và suy gẫm từng dòng. Hơn thế nữa, họ còn cầu nguyện xin được đổ tràn Thánh Thần. Họ đã được nhậm lời và nhận được một sức sống hoàn toàn mới hẳn. Họ đã ý thức được sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần. Họ trở thành những Kitô hữu rạng ngời niềm vui và cách sống của họ thực sự biểu lộ cho người ta thấy Chúa Giêsu Kitô. Trong một khoảng thời gian ngắn, nhiều nhóm cầu nguyện khác đã thành hình trong nhiều trường đại học khác nữa, đâu đâu cũng khám phá được cùng một cảm nghiệm ấy.
Bắt đầu từ giới trẻ, phong trào đã lan đến mọi người: già và trẻ, trí thức và lao động, da trắng và da đen, bảo thủ và cấp tiến, ... Sau đây là một vài con số cho ta thấy tầm quan trọng hiển nhiên của sự thức tỉnh tôn giáo này: hiện nay phong trào đã có mặt ở trên 100 quốc gia, thu hút nhiều triệu người Công giáo. Tháng 5 năm 1981, tại Vatican, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tiếp kiến những nhà lãnh đạo của Canh tân trong Thánh Thần đại diện cho tất cá các quốc gia trên.
Trước một biến cố như thế, có thể có 3 thái độ : thái độ hào hứng bồng bột : thái độ này hơi nguy hiểm ; thái độ hoài nghi mà không chịu tìm hiểu : thái độ này có nguy cơ dập tắt Thánh Thần; và sau cùng là thái độ cởi mở nhưng thận trọng, xem quả để biết cây và cho rằng biến cố này chứa đựng một sự ý thức mới về quyền năng của Thánh Thần. Sau khi điểm qua đôi dòng lịch sử, bây giờ chúng ta hãy phân tích biến cố này. Ở đây, chúng tôi không tham vọng đưa ra một bảng phân tích cặn kẽ và đầy đủ, mà chỉ nhằm đưa ra vài suy nghĩ để gợi lên những suy nghĩ khác. Hy vọng những suy nghĩ này sẽ kích thích các bạn tự mình suy nghĩ dể đào sâu thêm về biến cố này.
2. CANH TÂN TRONG THÁNH THẦN LÀ GÌ ?
Nói cách khác, Canh Tân này thực chất là gì? Thực chất đó không là gì khác với điều mà chúng ta dã lãnh nhận được qua các bí tích khai tâm Kitô hữu. Phép Rửa ban cho chúng ta một sự sống mới; một căn mơí; chúng ta được dẫn vào mầu nhiệm sự sống của Thiên Chúa. Nói như thánh Phaolô, chúng ta được dẫn tới Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần.
Khi đọc lại lời nguyện làm phép nước rửa tội, ta thấy Chúa Thánh Thần chính là tác nhân của phép Rửa. Nhờ phép Thêm Sức, cũng chính Thánh Thần ấy được ban cho chúng ta như nguyên lý chủ động của đời sống mới này. Và cũng lại là Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu hiện diện trong phép Thánh Thể, đồng thời làm cho chúng ta nên một với Chúa Giêsu Kitô. Như thế, qua các bí tích khai tâm ấy, tất cả chúng ta đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần cùng hết mọi "năng lực" mà Ngài đặt vào trong chúng ta. Tất cả những năng lực thiêng liêng ấy đã được ban cho chúng ta như những hạt giống, như những hạt cải nhỏ tí xíu nhưng chứa sẵn khả năng trở thành những cây to.
Vậy chúng ta đã làm gì với những khả năng phong phú ấy? Nếu làm một bảng minh hoạ tình trạng tất cả những người đã được rửa tội trên thế giới, có lẽ ta phải nói đại khái như sau : đa số Kitô hữu đã để cho những năng lực mà họ nhận lãnh khi chịu phép Rửa phải ngủ vùi; chỉ có một thiểu số biết đương đầu với sóng gió để cho hạt giống ấy khỏi bị chết ngạt, nếu không muốn nói là để cho tinh thần Kitô hữu không bị biến mất khỏi thế giới hôm nay.
Ta phải hiểu về Canh Tân trong nhãn giới như vừa mô tả ở trên. Đây chính là một ơn ban của Thiên Chúa giúp Giáo Hội ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần vốn là Đấng đã được ban cho chúng ta từ trước rồi. Nói thế không có nghĩa là trước khi có phong trào này thì chưa ai có cảm nghiệm về Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta muốn nhấn mạnh rằng ngày nay luồng gió Thánh Thần đang thổi qua tất cả các Giáo Hội Kitô giáo chứ không riêng một vài Giáo Hội ưu tiên nào cả. Giống như ta chợt khám phá rằng ở tận đáy lòng mình có một nguồn suối dâng trào lên tràn ngập toàn thể con người mình: trí khôn, ý chí, cảm xúc và cả thân xác mình nữa. Biểu tượng nước này diễn tả rất đúng cái thực tế mầu nhiệm mà chúng ta đã lãnh nhận lúc chịu phép Rửa và nay được tái khám phá nhờ một tác động đặc biệt của Thánh Thần ở trong chúng ta.
Thực ra, đó chính là biểu tượng mà chính Chúa Giêsu đã dùng trong ngày Lễ Lều: "Ai khát, hãy đến với Tôi, ai tin vào Tôi, hãy đến mà uống ... Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống". Chúa Giêsu muốn nói về Thánh Thần mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận (Ga 7, 37-89).
Đối với một số người, đây quả là một khám phá, bởi vì có thể nói được rằng trước khi được cảm nghiệm này thì họ chưa hề ý thức về ơn bí tích Rửa Tội của họ. Còn đối với một số người khác thì đây là một sự thức tỉnh, một sự quay về, một sự thức dậy từ một giấc ngủ thiêng liêng. Đối với những người trước đây vốn đã sốt sắng thì đây là một sự khám phá về sự đầy tràn mà từ trước tới nay họ chưa được biết. Khám phá này giúp họ đi tới cùng con đường mà họ đã dấn thân.
Nếu chúng ta muốn tìm hiểu sâu xa hơn nữa về Canh tân trong Thánh Thần, cách tốt nhất là xem đến những hiệu quả mà nó làm phát sinh trên những người đã xin và đã nhận được ơn ban này. Ở đây, tôi xin nói về điều tôi đã thấy và đã nghe, không chỉ một lần mà hàng trăm hàng ngàn lần. Hiệu quả thứ nhất là khám phá hoặc tái khám phá chính Chúa Giêsu. Người là "đặc sủng tuyệt hảo". Thánh Thần giúp khám phá sự hiện diện và quyền năng của Chúa Giêsu trong một "liên hệ sống", nghĩa là một liên hệ ban cho ta sự sống. Chúa Giêsu trở thành trung tâm của cuộc sống, của những suy nghĩ, những lo toan khiến chúng ta dấn thân theo Người một cách mới mẻ, hay nói đúng hơn, dâng hiến chính mình cho Người một cách trọn vẹn và dứt khoát.
Tôi cũng nhận thấy một hiệu quả này nữa là mọi người đều ham mê đọc Sách Thánh. Sách Thánh thực sự là Lời Thiên Chúa, những lời ban Thánh Thần và Sự Sống, làm cho đời ta biến đổi. Lời Chúa Giêsu hứa nay đã thành hiện thực: 'Thầy sẽ gởi đến chúng con Đấng Phù Trợ và Ngài sẽ nhắc lại cho chúng con tất cả những lời Thầy nói, Ngài sẽ dẫn chúng con đi vào sự thật toàn vẹn" (Ga 14,26). Như vậy, ơn ban Thánh Thần trở thành một thực tế thấm sâu vào tận tâm trí chúng ta và giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của Sách Thánh.
Hiệu quả thứ ba là tiến bộ đến ngạc nhiên trên con đường tự do thiêng liêng. Thánh Thần giúp ta hiểu rằng mình cần phải cởi bỏ những thái độ không phù hợp với Tin Mừng. Và điều này ta sẽ làm được nhờ ơn ban sức mạnh, nó giúp ta hành động, nó gây nên những thay đổi mà sức riêng ta không làm nổi. Chẳng hạn như có những thanh niên nam nữ đã có thể bỏ thói nghiện ngập và những đam mê tính dục nhờ họ đã gặp được Chúa Giêsu Kitô. Tất cả đều nói : "Cuộc sống tôi đã thay đổi, tôi không còn như trước nữa."
Một hiệu quả khác nữa, cũng rất rõ ràng, đó là cảm nhận được sự hiệp thông. Trong những nhóm cầu nguyện, có những người mà xét trên bình diện nhân loại thì rất xa cách nhau - về tuổi tác, chủng tộc, trình độ trí thức, xã hội - thế mà họ đã hợp nhất với nhau trong Chúa Giêsu Kitô. Họ nói : "Chúng tôi không còn đơn độc lẻ loi nữa ; chúng tôi yêu thương nhau trong Chúa Giêsu Kitô. Mỗi lần gặp nhau là một niềm vui."
Giáo Hội cũng được nhìn bằng một cách nhìn mới : những người trẻ quay trở về với Giáo Hội vì họ đã biết ra rằng Giáo Hội vừa có tính đoàn sủng vừa có tính cơ chế. Nếu chỉ là cơ chế thì Giáo Hội chết ; hoặc nếu chỉ là đoàn sủng thì Giáo Hội hoá điên. Những người trẻ ấy trở về với bí tích Thánh Thể và bí tích Hoà Giải. họ không phí giờ để phê bình chỉ trích và thắc mắc về Giáo Hội nữa.
Một điều khiến cho nhiều Kitô hữu ngạc nhiên là người ta tìm gặp lại Đức Maria trong ngày lễ Hiện Xuống:
- Mẹ là người đã lãnh nhận tràn đầy Thánh Thần, và bởi đầy tràn Thánh Thần như thế nên Mẹ đã ban Đấng Cứu Độ cho chúng ta.
- Mẹ là "người được đặc sủng" tuyệt hảo nhất, vì Mẹ đã biết bước theo Thánh Thần một cách trung thành và yêu thương trọn vẹn.
- Mẹ là người dự phần vào việc khai sinh Giáo Hội trong ngày lễ Hiện Xuống.
Và trên tất cả những hiệu quả kể trên, đó là sự gia tăng những hoa trái của Thánh Thần trong những nhóm cầu nguyện. Những hoa trái này là bảng trắc nghiệm và là bằng chứng rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động thực sự chứ không phải những người ấy đang bị lôi cuốn vào một thứ vong thân hay bị xúc động thái quá.
Có thể bạn sẽ nói với tôi : Tất cả những điều ấy đâu phải là gì mới trong Giáo Hội? Đúng thế, và rất may là đúng như thế, bởi vì, từ ngày lễ Hiện Xuống đầu tiên, Chúa Thánh Thần vẫn luôn tỏ mình trong Giáo Hội. Điều xảy ra hôm nay là một sự ý thức mới, một sự cởi mở mới đối với tác động của Ngài. Chúng ta ý thức rõ ràng hơn rằng không phải chúng ta xây dựng Nước Thiên Chúa mà là Thánh Thần dùng chúng ta như những dụng cụ nếu chúng ta chịu ngoan ngoãn để cho Ngài dùng. Hoạt động này của Thánh Thần không dành riêng cho một số ít người "đạo đức ưu tuyển" mà là cho mọi người thuộc đủ mọi thành phần văn hoá và xã hội.
Cũng cần biết thêm rằng Canh Tân này chính là một con đường mới dẫn tới Đại Kết, bởi vì đó là một phong trào của cả những người Công giáo lẫn Tin Lành. Cũng cùng một Thánh Thần hoạt động nơi những Kitô hữu anh em này.
Làm thế nào để có thể hưởng nhờ những ơn ích của luồng gió mới này đang thổi trên Giáo Hội? Trước hết ta phải học biết và học biết cho thấu đáo. Tiếp đến, phải có lòng ao ước được Chúa Thánh Thần chiếm ngự tràn đầy. Khi đó chỉ cần xin ơn ấy một cách tin tưởng và khiêm tốn. Thánh Luca đã nói : "Chúa Cha sẽ ban Thánh Thần cho những kẻ xin Ngài" (Lc 11,13). Làm như thế là chúng ta làm đúng như Giáo Hội dạy, tức là hãy sốt sắng khi đọc những lời cầu nguyện cùng Chúa Thánh Thần có sẵn trong sách lễ. Chúng tôi tha thiết khuyên bạn hãy dọn mình thật kỹ trước khi cầu nguyện xin ơn Thánh Thần. Kinh nghiệm chứng minh rằng nếu đi vào 7 tuần huấn luyện mà lại cùng đi với những anh chị em khác thì đó chẳng những là cần thiết mà còn rất hữu ích, vì ta sẽ tránh được thái độ nóng vội hoặc cảm xúc hời hợt nhất thời. Gặp gỡ Thánh Thần là gặp gỡ chính mầu nhiệm ơn sủng. Thế nhưng, trước khi bước vào 7 tuần huấn luyện, bạn cần tham gia một nhóm cầu nguyện trong một thời gian.
3. NHÓM CẦU NGUYỆN ĐẶC SỦNG LÀ GÌ?
Ngày nay có những nhóm cầu nguyện hầu như ở khắp nơi. Không phải tất cả đều theo cùng một hướng với Phong trào Canh Tân trong Thánh Thần. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng tôi đánh giá thấp mọi hình thức họp nhau để cầu nguyện như : chia sẻ Tin Mừng, suy gẫm chung v.v... Ở đây chúng tôi muốn đề ra những nét đặc thù của một nhóm cầu nguyện Canh Tân.
Sau đây là những điều mà ta có thể gọi là những ý lực cho một cuộc nhóm họp cầu nguyện. Gọi là "ý lực" thôi bởi vì chúng không phải là những "thực đơn" kê sẵn.
- Trước tiên, họp nhau lại là để gặp Đức Kitô đang hiện diện giữa những kẻ họp nhau nhân danh Người. Điểm này là then chốt và có tính chỉ đạo cho mọi cuộc họp. Mỗi lần họp nhau, ta đều phải nhớ đến sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô.
- Mỗi lần họp, phải xin Chúa Thánh Thần tác động, vì Thánh Thần Thiên Chúa không bao giờ ngừng hoạt động trong ta. Trong ta vẫn luôn còn những vùng sâu thẳm chưa bao giờ ai chạm tới. Cũng có thể đôi khi ta làm buồn Thánh Thần bởi những thái độ không thích hợp với Tin Mừng. Vì thế ta cần được Thánh Thần đổ tràn vào lòng để ta lại có thể tiến bước theo Ngài.
- Cầu nguyện trong những buổi họp này trước tiên là cầu nguyện ngợi khen, diễn tả ra bằng thánh ca, thánh vịnh và những lời do Thánh Thần soi sáng. Ta "nhận biết" Chúa Giêsu Kitô là Chúa tể, cho nên khi ngợi khen Người, cái nhìn của ta ít quy hướng về mình và những vấn đề của mình cho bằng về chính Người. Nhờ thái độ chiêm ngưỡng tích cực và tự do như thế, ta được dẫn tới mầu nhiệm Chúa Cha và lòng sẽ không ngừng trào lên những tâm tình ca ngợi.
- Buổi họp phải hướng về Chúa Giêsu như trung tâm, không những để ngợi khen Người mà còn để lắng nghe Lời Người và cho Lời ấy thấm sâu vào trái tim mình.Trong mỗi buổi họp phải thực hiện được điều Chúa Giêsu đã nói : "Thánh Thần mà Chúa Cha sai đến nhân danh Thầy, Ngài sẽ dạy cho chúng con tất cả những gì Thầy đã nói với chúng con" (Ga 14, 26).
- Những buổi họp cũng phải là một sự diễn tả sống động sự hiệp thông trong Chúa Giêsu Kitô. Sự hiệp thông này chủ yếu là công trình của Chúa Thánh Thần. Vì thế, ta phải biết lắng nghe nhau, ai cũng sẵn sàng nhận và cho. Làm như thế là ta thực hiện lời các thánh tông đồ : "Cộng đoàn các tín hữu chỉ có một lòng một ý”
- Sau cùng, có thể nói rằng việc họp lại để cầu nguyện đặt ta vào bầu khí của những cộng đoàn Kitô đầu tiên như được mô tả trong sách Công Vụ : "Họ chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau, tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện ... Họ để mọi sự làm của chung" (Cv 2, 42.44).
4. NHỮNG HIỂU LẦM VÀ NHỮNG NGUY HIỂM
Những hiểu lầm :
- Đây không phải là một phong trào thêm vào những phong trào có sẵn bấy lâu nay. Đúng hơn, đây chính là một luồng gió mới thổi vào Giáo Hội làm sống lại tất cả những gì được chạm đến. Nhưng nói thế không có nghĩa là phong trào này chẳng có tổ chức và cơ cấu gì cả.
- Đây không phải là một hình thức mục vụ mới, trái lại mọi hình thức mục vụ đều có thể tìm thấy một luồng sinh khí mới khi biết cởi mở cho tác động của Thánh Thần.
- Cũng không phải là một cách diễn tả thần học mới về dữ kiện đức tin, mà là một sự ý thức về thực tại sống động của Thánh Thần, Đấng làm cho mọi sự nên mới.
- Có người nói đây là một "sản phẩm của châu Mỹ". Phong trào Canh Tân cũng được sinh ra Ở nhiều xứ khác chẳng có liên hệ gì với Hoa Kỳ cả. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng Ở châu Mỹ, phong trào này đã phát triển rất nhanh và lan ra khắp thế giới ; nhưng trong mỗi xứ, phong trào có kiểu diễn tả riêng, thích hợp với những nền văn hoá khác nhau.
- Xin đừng lẫn lộn phong trào này với các nhóm Tin Lành và Ngũ Tuần cổ điển mặc dù những nhóm trên có nhiều điểm chung với Giáo Hội Công giáo.
Có người còn bảo phong trào này là một giáo phái. Ta hiểu được nỗi lo lắng của những người ấy vì họ đã thấy những tác hại to lớn của các giáo phái lên những người trẻ. Thế nhưng, đối với Canh Tân, ta chỉ cần đọc lại những phát biểu mới đây nhất của ĐGH Gioan Phaolô II thì cũng an tâm rồi.
- Đây cũng không phải là một cái gì mới, làm như là người ta vừa đột ngột khám phá ra sự hiện hữu của Chúa Thánh Thần. Phong trào này ở trong lịch sử Giáo Hội và ở giữa những cuộc canh tân khác. Điểm đặc thù là : nó là một sự ý thức về thực tại Thánh Thần và về tác động của Ngài : chúng ta đã quên mất một nguồn phong phú và những khả năng chúng ta đang có mà không hay. Điểm mới mẻ chính là khám phá ra được điều đó.
Những nguy hiểm:
Không nên coi thường mà cũng chẳng nên phóng đại chúng, mà phải nhận diện chúng và xem xét chúng một cách khách quan.
- Xúc động thái quá. Quả có nguy hiểm này. Vậy ta phải kiểm soát các xúc động của mình, nhưng không nên dập tắt chúng. Xúc động cũng là ơn Chúa ban. Cho nên nếu biết sử dụng chúng cách khôn ngoan thì ta sẽ có được một lòng đạo đức vừa rất thiêng liêng mà cũng vừa rất nhân bản. Canh tân giúp ta lại trở thành chính mình, trong sự tự do của con cái Chúa.
- Khuynh hướng "thần khải" (illuminisme), nghĩa là như được Thánh Thần gọi điện thoại dạy cho ta biết hết từng chi tiết phải làm gì nói gì. Để khỏi rơi vào cái bẫy này, ta cũng nên theo lời dạy của Đức Gioan Phaolô II. Ngài bảo những người lãnh đạo Canh tân phải được đào tạo vững chắc về giáo thuyết cũng như phải có một sự biện phân sáng suốt để biết nhận ra những gì là do Thánh Thần và loại bỏ những gì chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng loài người.
- Khuynh hướng hiểu Thánh Kinh sát mặt chữ (fondamentalisme). Phải loại bỏ cách hiểu Thánh Kinh kiểu này của một số nhóm Ngũ Tuần cổ điển, bởi vì họ chẳng quan tâm gì cả đến văn thể (thi ca, lịch sử, dụ ngôn) và bối cảnh văn hóa của những đoạn sách thánh.
- Không nên quá đề cao các đặc sủng, đến nỗi làm hại đến những hoa trái của Thánh Thần. Những hoa trái này là trắc nghiệm và là bằng chứng rằng ta đang sống theo Thánh Thần. Thật ra, có thể có những đặc sủng giả tạo. Chỉ có Giáo Hội mới có thể biện phân điều gì thực sự do Thánh Thần mà đến.
- Trong những giáo phái Ngũ Tuần (Tin lành), đôi khi có hiện tượng loạn thần kinh tập thể. Cách chung thì những cộng đoàn Kitô lớn cũng đủ sáng suốt để kìm giữ mình khỏi bị cuốn hút vào những biểu hiện kiểu ấy... Thế nhưng có ai dám chắc là không bao giờ có chuyện như thế? Vì thế phải luôn luôn thận trọng.
- Ta cũng cần tránh nguy hiểm ưu tuyển hoá (élitisme). Nếu một vài nhóm cầu nguyện nào đó vì nhận được những ơn lành của Thánh Thần nên tự cho mình là thành phần ưu tuyển rồi coi thường những Kitô hữu khác thì đó là bằng chứng họ đang rơi vào ảo tưởng, bởi vì Thánh Thần được ban cho mọi người đã rửa tội chứ không phải cho riêng một ai. Những người ấy phải biết nhận ra những dấu chỉ của thời đại và cách riêng ơn ban Thánh Thần cho Giáo Hội ngày nay vào giai đoạn mà Giáo Hội đang gặp một cơn khủng hoảng trước đây chưa từng có.
- Sau cùng phải coi chừng khuynh hướng trốn tránh (évasion). Canh tân thực sự không phải là trốn tránh, bởi vì canh tân giúp ta dẹp bỏ bất cứ thái độ nào không phù hợp với Tin Mừng. Đó chính là điều mà thánh Phaolô nói trong bài ca đức ái (xem 1 Cr các chương 12, 18 và 14). Canh Tân trong Thánh Thần không tách ta ra khỏi thế giới trái lại còn dẫn ta dấn thân vào đó nhiều hơn nữa, nhưng bằng một cách thức khác trước : muốn canh tân thế giới thì phải canh tân lòng người, mà muốn canh tân lòng người thì trước đó phải canh tân lòng mình nhờ tác động của Thánh Thần.
KẾT LUẬN
Trong canh tân, có rất nhiều giá trị phong phú nhưng cũng không ít nguy hiểm và lầm lạc. Giải pháp không phải là chọn lấy một thái độ thận trọng thuần tuý nhân loại có tính tiêu cực, mà là phải biết biện phân để thấy được cái gì là tốt hơn để chọn lấy nó và tránh những lệch lạc. Như lời Đức Hồng Y Suenens : "Không phải vì có những nguy hiểm trên đường mà ta bảo đừng ra đường; đúng hơn ta hãy bảo "hãy ra đường, nhưng nên tôn trọng đèn xanh đèn đỏ. "
5. GIÁO HỘI VÀ PHONG TRÀO CANH TÂN TRONG THÁNH THẦN
Nhiều Kitô hữu đã có một ý nghĩ phiến diện về Canh Tân do chỉ nhìn một người hoặc một nhóm cầu nguyện rồi vội vàng đánh giá. Ta phải nhìn từ độ cao hơn và phải hỏi Giáo Hội: Công Đồng nói gì? Đức Giáo Hoàng và các giám mục nói gì? Thật đáng ngạc nhiên vì những kẻ thường đưa ra những lời chỉ trích gay gắt nhất đều hoàn toàn không biết gì tới những tài liệu chính thức ấy.
Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi không thể trưng dẫn rộng rãi các tài liệu. Chúng tôi khuyên các bạn nên tìm đọc kỹ những tài liệu ấy và trích ra những đoạn có nhiều ý nghĩa nhất để đọc cho thính giả nghe hầu mỗi người đều có một hiểu biết đầy đủ về vấn đề.
Bây giờ ta hãy xem những vị kế nhiệm Thánh Phêrô nghĩ gì về những đặc sủng cách chung và về sự Canh Tân trong Thánh Thần cách riêng. Chúng tôi chỉ trưng dẫn những bản văn chính thức và để cho những bản văn ấy tự nói với các bạn.
A. Hai Tài Liệu Của Công Đồng Vaticanô II
1- Lumen Gentium, số 12.
"… Cũng chính Thánh Thần ấy không chỉ thánh hoá và hướng dẫn dân Thiên Chúa bằng các bí tích, các chức vu, và trang điểm họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu, "phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài" (1Cr 12,11) khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép rằng: "Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại lợi ích" (1 Cr 12,7). Phải lãnh nhận những đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội. Nhưng không nên liều lĩnh kêu nài những ơn đặc biệt, và cũng đừng vì nó mà tự đắc mong rằng việc tông đồ sinh kết quả. Những vị thủ lãnh trong Giáo Hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân chính và sự sử dụng hợp lý các ơn lạ ấy; các ngài có nhiệm vụ đặc biệt phải khảo sát tất cả, không phải để dập tắt Thánh Thần, nhưng để giữ lại những điều thiện hảo (x 1 Tx 5,12 và 19-21)."
2- Tông đồ giáo dân, số 3
"Để thể hiện việc tông đồ này, Chúa Thánh Thần thánh hoá dân Chúa qua thừa tác vụ và các bí tích. Ngài cũng ban cho các tín hữu những ơn đặc biệt (x. 1 Cr 12, 7), "phân phát những ơn đó cho mọi người tuỳ ý Ngài" (1 Cr 12, 11) để mỗi người tuỳ theo ơn đã nhận mà giúp đỡ nhau và chính họ trở nên như "những người quản lý trung tín giữ mọi thứ ơn của Thiên Chúa" (1 Pr 4, 10) hầu xây dựng toàn thân trong đức ái (x. Ep 4, 16). Do sự đón nhận những đoàn sủng này đều là những đoàn sủng thông thường, mỗi tín hữu có quyền lợi và bổn phận sử dụng những ơn đó trong Giáo Hội cũng như giữa trần gian để mưu ích cho mọi người và xây dựng Giáo Hội trong tự do của Chúa Thánh Thần, Đấng "muốn thổi đâu thì thổi" (Ga 3, 8).
Qua những bản văn trên, ta thấy rõ các đoàn sủng là thành phần đời sống bình thường của Giáo Hội, rằng các tín hữu giáo dân có quyền và có bổn phận sử dụng chúng. Hình như các nghị phụ đã dọn sẵn đường cho Canh tân trong Thánh Thần khi đặt cho chúng ta cái nền tảng giáo thuyết vững vàng này.
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại ở đây lời nguyện của Đức Gioan 23 khi mở Công Đồng: "Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu, Đấng hỗ trợ cho Giáo Hội bằng sự hiện diện của Ngài và hướng dẫn Giáo Hội một cách không sai lầm, xin hãy tái diễn trong thời đại chúng con như một Lễ Hiện Xuống với những việc kỳ diệu của Ngài, và ban ơn cho Hội Thánh đang hiệp nhất cầu nguyện một cách thiết tha và kiên trì cùng với Đức Maria - Mẹ của Chúa Giêsu, dưới quyền dẫn dắt của thánh Phêrô. Xin Ngài giúp Giáo Hộí mở mang Nước của Chúa Cứu Thế, Nước của chân lý và công bình, của tình thương và hoà bình .
B. Tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã theo dõi Phong trào Canh Tân một cách chăm chú ngay từ những ngày đầu. Trong những bài giảng của ngài dịp lễ Hiện Xuống năm 1972 và nhất là năm 1973, ngài đã nối kết Năm Thánh với Lễ Hiện Xuống. Khi ngỏ lời với những người tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Canh Tân Ở Grottaferrata ngày 10 tháng 10 năm 1973, ngài đã nói về Chúa Thánh Thần với một giọng diệu ngày càng tha thiết. Trong buổi triều yết chung ngày 6 tháng 6 năm 1978, ngài còn dám nói rằng: 'Tiếp theo khoa Kitô học và Giáo Hội học của Công Đồng, còn phải có một sự nghiên cứu mới và một sự tôn thờ mới về Chúa Thánh Thần."
Sau cùng, Ngài cũng đã chính thức công nhận Canh Tân khi ngỏ lời với Hội Nghị Quốc Tế của những nhóm Canh Tân đang tập họp tại đền thờ thánh Phêrô ngày thứ Hai sau lễ Hiện Xuống năm 1975. Lời công nhận này ngày nay được coi là Hiến chương của Canh Tân. Chúng tôi xin trích lại dưới đây:
"Hỡi các con yêu dấu, trong Năm Thánh này, các con đã chọn thành Rôma này để nhóm họp Hội Nghị Quốc Tế lần thứ ba; các con đã xin ta đến gặp và ngỏ lời với các con hôm nay, điều này cho thấy lòng các con gắn bó với Giáo Hội được Chúa Giêsu Kitô thiết lập và với ngai toà của thánh Phêrô. Việc các con muốn đặt mình ở trong Giáo Hội là một dấu chỉ chắc chắn về tác động của Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa đã làm người trong Chúa Giêsu Kitô mà Giáo Hội là Nhiệm Thể của Nguời. Chính trong Giáo Hội mà Thánh Thần của Đức Kitô đã được ban xuống trong ngày lễ Ngũ Tuần khi Ngài hiện xuống trên các tông đồ đang tụ họp trong "phòng cao", "chuyên cần cầu nguyện", "quanh Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu" (x. Cv l,13-14).
Một Cơ May Cho Giáo Hội
"Ta đã nói thế vào tháng 10 vừa qua với một số người trong các con. Hơn bao giờ hết Giáo Hội và thế giới đang cần "ơn lạ của Lễ Hiện Xuống được tiếp diễn trong lịch sử" (Báo Osservatore Romano, ngày 17-10-1974). Thật vậy ngất ngây vì những sự chinh Phục của mình, con người thời nay đã dám tưởng rằng, nói theo cách nói của Công Đồng, "chính mình là cùng đích của mình, là người duy nhất kiến tạo và điều khiển lịch sử của mình" (Gaudium et Spes, 20,l). Than ơi, trong số những người còn theo truyền thống mà tiếp tục tuyên xưng sự hiện hữu của Thiên Chúa, hoặc vì bổn phận mà vẫn tiếp tục thờ phượng Ngài, có bao nhiêu người mà Thiên Chúa đã trở thành xa lạ trong cuộc sống của họ? Đối với một thế giới như thế, một thế giới ngày càng tục hoá, thật chẳng có gì cần thiết hơn cho bằng chứng từ của "việc canh tân thuộc linh" này mà ta tin rằng do Chúa Thánh Thần khơi đậy hôm nay trong những miền và những nơi rất khác nhau. Những biểu hiện thì rất nhiều: chẳng hạn sự thông hiệp sâu sắc giữa các tâm hồn, sự tiếp xúc thân tình với Thiên Chúa trong sự trung thành với những điều đã cam kết từ khi lãnh nhận phép Rửa, trong việc cầu nguyện chung, khi ấy mỗi người vừa tự do bày tỏ ý nguyện của mình, vừa trợ giúp, nâng đỡ và nuôi dưỡng lời cầu nguyện của những người khác, và - đây là nền tảng cho tất cả - một sự xác tín cá nhân, bắt nguồn không chỉ từ giáo huấn của Đức tin mà còn từ cảm ngniệm của cuộc sống, rằng nếu không có Thiên Chúa, con người không thể tự mình làm được gì cả, nhưng cùng với Ngài thì mọi sự đều có thể được: từ ý thức ấy phát sinh nhu cầu ngợi khen và tán tụng những kỳ công mà Chúa đã làm khắp nơi chung quanh chúng ta và trong chúng ta. Sự hiện hữu của con người tìm thấy mối liên hệ của mình với Thiên Chúa. đây là điều mà người ta gọi là "chiều đứng" mà nếu không có nó thì con người sẽ bị thui chột vô phương cứu chữa. Hẳn là việc tìm kiếm Thiên Chúa ấy không phải là một ý muốn chế ngự hoặc chiếm hữu, nhưng là một thái độ đón nhận Đấng yêu thương chúng ta và tự hiến cho chúng ta, bởi vì Ngài yêu thương chúng ta nên Ngài ao ước thông chia cho chúng ta một sự sống mà chúng ta chỉ có thể lãnh nhận cách nhưng không từ nơi Ngài với lòng trung thành khiêm tốn. Lòng trung thành này phải biết kết hợp việc làm với đức tin theo những lời thánh Giacôbê: "Cũng như một cái xác không hồn là một cái xác chết thì đức tin không việc làm là một đức tin chết" (Gc 2, 26).
Thế thì làm sao mà phong trào "canh tân thuộc linh" này lại không thể là một "cơ may" cho Giáo Hội và thế giới? Và làm sao mà ta lại không dùng hết mọi phương tiện để cho phong trào này tồn tại?
Những Nguyên Tắc Để Bảo Đảm Tương Lai
Những phương tiện này, các con yêu quý, Chúa Thánh Thần sẽ sẵn sàng chỉ cho các con biết, theo sự khôn ngoan của những vị mà Ngài "đã đặt lên làm những kẻ bảo vệ và chăn dắt Giáo Hội của Chúa" (Cv 20, 28). Chính Thánh Thần đã linh ứng cho thánh Phaolô những chỉ dẫn cần thiết rất rõ ràng, nay ta chỉ cần lặp lại cho các con. Nếu chúng con trung thành theo những chỉ dẫn này thì đó thật là một bảo đảm vững chắc cho tương lai.
Khi viết cho các tín hữu Thêxalônikê về các ơn ban của Thánh Thần, thánh Tông đồ đã bảo: "đừng đập tắt Thánh Thần" (1 Tx 5, 19) và ngài nói thêm "Hãy nghiệm xét mọi sự, hãy giữ những gì tốt" (5,21). Tức là ngài cho rằng luôn cần phải biện phân, và ngài giao trách nhiệm biện phân này cho những người mà ngài đặt làm đầu cộng đoàn (5, 12).
Vài năm sau, khi viết cho tín hữu Côrintô, ngài đi sâu vào chi tiết, bảo họ đặc biệt lưu ý đến 3 nguyên tắc hướng dẫn giúp dễ dàng thực hiện việc biện phân.
Nguyên tắc thứ nhất là trung thành với giáo thuyết xác thực của đức tin (1 Cr 12, 1-3). Điều gì ngược với giáo thuyết này thì không xuất phát từ Thánh Thần, bởi vì Đấng phân phối các ơn ban cũng là một với Đấng đã linh ứng cho Sách Thánh và hỗ trợ cho Huấn quyền của Giáo Hội vốn đã được Đức Kitô trao ban thẩm quyền giải thích Sách Thánh ấy (x. Hiến chế Dei Verbum, 10). Chính vì thế, các con cần phải luôn học hỏi thêm để đào sâu giáo thuyết về các phương diện Thánh Kinh, tu đức, thần học. Chỉ có sự học hỏi này - mà tính xác thực phải được bảo đảm bởi Hàng Giáo Phẩm - mới giúp các con tránh khỏi những lệch lạc luôn có thể xảy ra, và ban cho các con niềm vui phục vụ Tin Mừng "mà không đánh vào không khí" (1 Cr 9, 26).
Nguyên tắc thứ hai: tất cả mọi ơn ban thiêng liêng đều phải được đón nhận với lòng biết ơn. Các con biết thánh Phêrô đã đưa ra một bảng liệt kê rất dài về những ơn ban ấy (x. 1 Cr 12, 4-l0.28-30) vậy mà vẫn chưa cho là đủ (x. Rm 12, 6-8; Ep 6, 11). Tuy nhiên, vì được ban "nhằm ích lợi chung" (1 Cr 12, 7), nên những ơn ấy không được ban cho mọi người theo cùng một mức độ. Vì thế, các tín hữu Côrintô phải "tha thiết tìm những ơn cao trọng nhất" (12, 31) và ích lợi nhất cho cộng đoàn (14, 1-5).
Nguyên tắc thứ ba trong ý tưởng của Thánh Tông Đồ là nguyên tắc quan trọng nhất, nó đã gợi ý cho ngài viết nên một trong những trang có lẽ là đẹp nhất trong nền văn chương, và một dịch giả mới đây đã đề cho nó một cái tựa rất súc tích là "Đứng trên tất cả là Tình Yêu" (E. Osty). Dù các ơn ban thiêng liêng đều đáng ao ước đến đâu đi nữa thì chỉ có Tình Yêu, Bác ái, Agapè mới làm cho Kitô hữu nên hoàn thiện, chỉ có nó mới khiến con người được "vừa ý Thiên Chúa", Đấng mà các nhà thần học gọi là "gratia gratum faciens". Đó là vì Tình Yêu ấy không chỉ là một ơn ban của Thánh Thần mà còn là chính sự hiện điện của Ngài trong lòng người tín hữu.
Các Giáo Phụ đã giải thích những câu này cách tuyệt vời. Chỉ xin lấy một thí dụ là lời giải thích của thánh Fulgence: "Chúa Thánh Thần có thể ban mọi loại ơn mà không cần đích thân Ngài hiện diện; thế nhưng Ngài đã chứng tỏ mình hiện diện trong ơn sủng khi ban ơn Tlnh Yêu", "se Ipsum demonstrat per gratiam preasentem quando tribuit caritatem" (Contra Fabianum, Fragment 28, PL 65, 791). Khi hiện diện trong tâm hồn người tín hữu, Chúa Thánh Thần thông truyền cho ngưỡi đó, qua ân sủng của Ngài, chính sự sống của Ba Ngôi, chính tình yêu mà Chúa Cha yêu thương Chúa Con trong Chúa Thánh Thần (x. Ga 17, 26), tình yêu mà Đức Kitô yêu thươ ng chúng ta và chúng ta, đến lượt mình. cũng phải yêu thương các anh em của chúng ta (x. Ga 13, 34), "không những bằng lời nói, bằng miệng lưỡi, mà bằng những hành động thực sự" (1 Ga 3, 18).
Đúng vậy, xem quả thì biết cây. Và Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết rằng "hoa quả của Thánh Thần là Tình Yêu" (Gl 5, 22) cũng như ngài đã mô tả nó trong bài thánh thi ca tụng đức ái. Tất cả mọi ơn mà Thánh Thần ban cho kẻ Ngài muốn đều quy chiếu về Tình Yêu, bởi vì chính tình yêu mới xây dựng (x. 1 Cr 8, 1), cũng chính Tình Yêu, sau ngày Lễ Hiện Xuống, đã làm cho các tín hữu đầu tiên trở thành một cộng đoàn "chuyên cần sống hiệp thông với nhau" (Cv 2, 42), "mọi người chỉ có một trái tim và một tâm hồn" (4, 32). Các con hãy trung thành với những nguyên tắc mà thánh Tông Đồ đã vạch ra. Và, cũng theo lời dạy của ngài, các con hãy trung thành cử hành Lễ Tạ ơn một cách thường xuyên và xứng đáng (x. 1 Cr 11, 26-29). Đó là con đường mà Chúa đã chọn để các con có được sự sống của Ngài trong các con (x. Ga 6, 53). Các con cũng hãy đến với bí tích Hoà Giải với lòng trông cậy. Hai bí tích này thể hiện rằng ơn sủng đến với chúng ta từ Thiên Chúa qua trung gian cần thiết của Giáo Hội.
Các con yêu quý, với sự trợ giúp của Chúa, sự cầu bầu của đức Maria - Mẹ Giáo Hội, và cùng sự hiệp thông với các Mục Tử của các con trong đức tin, đức ái và việc tông đồ, các con sẽ chắc chắn không bị lầm lẫn. Và phần các con các con cũng góp phần vào cuộc canh tân của Giáo Hội nữa.
Chúa Giêsu là Đức Chúa ! Alleluia !"
C. Tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
Tôi xin chuyển lại tư tưởng này y như tôi đã nhận được trong cuộc Hội Nghị Quốc Tế lần thứ tư của những người lãnh đạo Canh Tân tại Rôma, từ 4 đến 9 tháng 5 năm 1981. Hội nghị này quy tụ 600 người lãnh đạo của 5 châu lục: khoảng 100 nước, đại diện cho nhiều triệu tín hữu. được chứng kiến tận mắt những ngày này, tôi muốn giúp độc giả thấy được Đức Gioan Phaolô II đã tiếp đón thế nào các Kitô hữu đến từ khắp nơi trên toàn thế giới. Và khi ta biết rằng Đức Giáo Hoàng như "bị ăn" bởi hàng ngàn cuộc triều yết, ta mới hiểu cuộc tiếp đón này quan trọng và có tính chất hết sức đặc biệt đến mức nào.
Trước hết, có một cú điện thoại từ Vatican vào hôm thứ tư ngày 6 tháng 5. Đức Giáo Hoàng mời một số thành viên của Hội Đồng Quốc Tế đến dùng bữa với ngài. Ở Rôma, ai cũng biết một lời mời như thế là một cử chỉ biểu tượng, có nghĩa là Đức Giáo Hoàng muốn chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt đối với những người và những phong trào mà ngài coi là quan trọng cho Giáo Hội. Bữa ăn hôm đó còn mang ý nghĩa lớn hơn nữa vì Hội Đồng Quốc Tế vừa đến Rôma, giữa lòng Giáo Hội. Một bữa ăn rất đơn sơ: Đức Giáo Hoàng lắng nghe, hỏi han và khuyến khích.
Biểu hiện thứ hai của cuộc tiếp đón là một "cuộc họp cầu nguyện vào chiều thứ Năm ngày 7 tháng 5, trong khu vườn Vatican. Mọi người đã tham dự buổi cầu nguyện đó sẽ ghi nhớ kỷ niệm ấy đến suốt đời. Trước hết là một lời ca tụng rất đơn thuần dâng lên Chúa; tràn ngập một bầu không khí hiệp thông sâu sắc trong Thánh Thần; Đức Giáo Hoàng và cộng đoàn sống cùng một đức tin, một đức mến và một đức cậy. Niềm vui của Thánh Thần lan toả đến tận đáy lòng mọi người như một dòng suối vọt lên; niềm vui ấy rạng ngời trên khuôn mặt Đức Giáo Hoàng. Buổi cầu nguyện ấy kéo dài, cầu nguyện vừa bằng thinh lặng, vừa bằng hát, vừa bằng cử chỉ, vừa bằng tiếng thỏ thẻ (tiếng lạ). Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào Đức Giáo Hoàng, và, qua ngài, về Chúa Giêsu
- Đấng cứu độ mọi người. Chẳng có gì là gượng ép, mọi sự đều thật, mọi sự đều diễn ra trong tự do của Thánh Thần. Tới một lúc nào đó, Ralph Martin, một trong những người tiên phong của Canh Tân, tiến lên micro và nói mấy lời đơn sơ, bày tỏ lòng trung thành và yêu mến của những nhóm cầu nguyện đối với Đức Giáo Hoàng, và ông tạ ơn Thiên Chúa vì Đức Giáo Hoàng đã can đảm dám nói lên sự thật ở bất cứ những nơi nào ngài đi đến. Kết thúc, ông nói: "Giờ đây, bằng một cử chỉ cụ thể, con muốn tỏ cho Đức Thánh Cha biết lòng trung thành, sự gắn bó và lòng yêu mến của chúng con", rồi ông tiến về phía Đức Gioan Phaolô II để quỳ xuống. Nhưng ông không kịp vì Đức Giáo Hoàng đã đưa hai cánh tay khoẻ mạnh của ngài ra ôm choàng lấy ông. Giây phút vô cùng cảm động và vui sướng mãnh liệt, ai nấy đều cảm thấy mình được Cha nhìn nhận và yêu thương trong lúc chúng tôi họp nhau trong cầu nguyện quanh ngài.
Hai cuộc đón tiếp ấy, dùng bữa và cầu nguyện, đưa chúng tôi đến cuộc đón tiếp thứ ba, có tính giáo thuyết hơn nhưng ai cũng biết là rất quan trọng: đó là sứ điệp mà Đức Giáo Hoàng gởi đến toàn thể Phong trào Canh Tân đặc sủng. Sứ điệp này, được ngài nói trong vòng 20 phút, là một lời đón nhận Phong trào Canh Tân vào lòng Giáo Hội, cũng như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã đón nhận trước đấy. Trước khi trình bày cho các bạn những đường nét chủ lực của sứ điệp này, tôi muốn nhìn nó trong tổng thể. Mỗi khi một đặc sủng sinh ra trong Giáo Hội, dù nó được ban cho một người hoặc một phong trào, thì vai trò của Giáo Hội trước hết là biện phân nó, tiếp theo nếu thấy đó là một tác động của Thánh Thần thì Giáo Hội nhìn nhận nó, và sau cùng định cho nó một vị trí trong Giáo Hội. Quả vậy, không thể có mâu thuẫn giữa Giáo Hội do Thánh Thần xây dựng với những ơn ban của Thánh Thần. Trong sứ điệp này, Đức Giáo Hoàng đã nhìn nhận Canh Tân đặc sủng như là một ơn ban đích thực của Thánh Thần, tiếp đến ngài định vị ơn
ban này trong quan hệ với Giáo Hội. Trong cương vị Mục Tử tối cao, ngài đã hành động với ơn ban riêng của ngài, tức là ơn biện phân, giữ lại tất cả những gì là tốt và thật, và cảnh giác những biến thái có thể có, trong lòng ngài lúc nào cũng có cùng một quan tâm: đó là quan tâm lo cho Nước Thiên Chúa được lớn lên trong sự thật, hiệp nhất và yêu thương trong cùng một Thánh Thần duy nhất. Sứ điệp của ngài được gởi đến trước hết là những nhà lãnh đạo Phong trào Canh Tân đặc sủng, nhưng qua họ là gởi đến toàn thể Phong trào Canh Tân. Sau đây là những đường nét lớn của sứ điệp.
Lời Tiếp Đón
Đây là những lời của Thánh Phaolô nói với các tín hữu Philípphê (1, 3.9-10): "Mỗi lần nhớ tới anh em là tôi tạ ơn Thiên Chúa... Điều tôi khẩn khoản nài xin là lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Kitô quang lâm."
Và Đức Giáo Hoàng tỏ lòng vui mừng vì hội nghị các vị lãnh đạo đã chọn họp tại Rôma. Ngài nói: "Thật là một dấu hiệu đặc biệt quan trọng mà các con đưa ra do việc các con bám rễ vào ngai toà hữu hình của thánh Phêrô."
Nhắc Lại Sứ Điệp Của Đức Phaolô Vi
Trước khi đưa ra sứ điệp của mình, Đức Giáo Hoàng nối kết với sứ điệp của Đức Phaolô VI phát biểu vào ngày Lễ Hiện Xuống 1975 như một dấu chỉ về sự liên tục và hiệp nhất. Đức Phaolô VI đã đưa ra 3 nguyên tắc làm nền tảng cho mọi Canh Tân đặc sủng trong Giáo Hội.
Thứ nhất là trung thành với giáo thuyết đức tin; điều gì đến từ Thánh Thần thì không thể đi ngược lại giáo thuyết ấy. Thứ hai là thiết tha tìm kiếm những ơn ban quan trọng hơn và tốt hơn, bởi vì những ơn ấy được ban là vì ích lợi chung. Thứ ba là tình yêu động lực dẫn đắt mọi sự đến chỗ hoàn hảo. Đức Phaolô VI đã kết luận: "Việc Canh Tân trong Thánh Thần này là một cơ may cho Giáo Hội và thế giới . Và Đức Gioan Phaolô II nói tiếp: "Giáo Hội, sau 6 năm, đã thấy xuất hiện những hoa trái như ý nghĩa của sự cầu nguyện, cuộc sống càng ngày càng dấn thân hơn, lòng thiết tha yêu mến Lời Chúa, quan tâm chia sẻ với những người nghèo đang đòi hỏi có công bình nhiều hơn và đang khao khát tình yêu".
Ba Lời Huấn Dụ Cho Các Nhà Lãnh Đạo
Chúng ta đang đi tới điểm quan trọng nhất của sứ điệp này. Tất cả tuỳ thuộc vào phẩm chất của những vị hữu trách, vào việc họ hội nhập vào Giáo Hội, hầu tránh cái nguy hiểm bè nhóm và chia rẽ.
a. Mọi nhà lãnh đạo phải nêu gương cầu nguyện.
- Đời sống cầu nguyện đặt nền trên Lời Chúa.
- Mở lòng ra đón nhận những ơn ban của Thánh Thần chứ không chú trọng quá đáng vào những ơn ban lạ thường.
- Năng lãnh nhận bí tích Hoà Giải.
- Năng tham dự bí tích Tạ Ơn như là trung tâm của sự cầu nguyện Kitô giáo và như suối nguồn và đỉnh cao của việc
Phúc âm hoá.
Thật là khích lệ khi thấy rằng ước ao này của Đức Giáo Hoàng đã trở thành hiện thực cụ thể trong những nhóm cầu nguyện.
b. Mọi nhà lãnh đạo phải được đào tạo vững chắc về giáo thuyết
Đức Giáo Hoàng nối kết việc đào tạo giáo thuyết với tác động của Chúa Thánh Thần, bằng hai cách. Một mặt, người lãnh đạo phải nuôi dưỡng mình bằng lời Sách Thánh được linh ứng bởi Thánh Thần chân lý; mặt khác người lãnh đạo không bao giờ được quên rằng cùng một Thánh Thần ấy linh ứng Giáo Hội trong việc giải thích Lời Chúa. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến việc đào tạo thần học lành mạnh cho người lãnh đạo hầu người ấy có thể cung cấp giáo huấn xác thực cho những người mà mình phải hướng dẫn.
c Mọi nhà lãnh đạo phải có những liên hệ tin cậy và hợp tác với các giám mục
Các giám mục đã lãnh nhận từ Thiên Chúa trách nhiệm hướng dẵn toàn Nhiệm Thể Đức Kitô, trong đó gồm cả Canh Tân đặc sủng. Đức Giáo Hoàng làm rõ vai trò của Giám mục đối với Canh Tân. Ngay cả khi bản thân Giám mục đó không tham gia hình thức cầu nguyện này thì ngài cũng phải trợ giúp nó bằng sự bảo đảm của việc biện phân của ngài. Có nhiều Giám mục trên thế giới, hoặc cá nhân hoặc tập thể đã khuyến khích và hướng dẫn Canh Tân đặc sủng; các ngài cũng giúp cho người Kitô hữu hiểu rõ hơn vị trí của phong trào này trong Giáo Hội. "Bằng việc chu toàn trách nhiệm mục tử của mình, Đức Giáo Hoàng nói, các Giám mục đã phục vụ chúng ta thật nhiều khi tạo điều kiện cho Canh Tân có thể lớn lên và phát triển, mở rộng cửa cho mọi sự phong phú của tình yêu Thiên Chúa tràn vào Giáo Hội."
Hợp Tác Giữa Linh Mục Và Giáo Dân
Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự hợp tác này. Trước hết, ngài nhắc các linh mục nhớ đến bổn phận đã được trao qua việc truyền chức. Linh mục là cộng sự viên của Giám mục, chia sẻ với Giám mục cùng một chức tư tế và sứ vụ của Chúa Giêsu Kitô. Với danh nghĩa này, linh mục đóng vai trò độc nhất và thiết yếu trong Canh Tân, cũng như trong mọi cộng đoàn Kitô hữu. Sứ mạng của ngài không phải là chống lại, mà cũng không phải là song song bên cạnh vai trò hợp pháp của giáo dân. Trách nhiệm của ngài là giúp đỡ cho những nhóm Canh Tân thiêng liêng được uống nơi nguồn suối các bí tích, được tham dự đời sống phụng vụ của Giáo Hội và đặc biệt là tham dự lễ Tạ ơn. Ngài chia sẻ với Giám mục việc rao giảng Tin Mừng; nhằm mục đích ấy, ngài đã được lãnh nhận một sự huấn luyện thần học tương xứng. Như thế, sứ mạng của linh mục là đảm bảo cho các phong trào thiêng liêng hoà nhập vào
Giáo Hội hầu tránh tình trạng có những cơ cấu dẫm chân nhau hoặc đứng ngoài lề nhau.
Mặt khác, linh mục không thể thi hành nhiệm vụ mà không có thái độ đón tiếp đối với Canh Tân, một thái độ đặt nền trên ước muốn mà ngài chia sẻ với mọi Kitô hữu là được lớn lên trong những ơn ban của Thánh Thần.
Như thế linh mục và giáo dân sẽ là chứng nhân về sự hợp tác vì ích chung, theo như lời khuyên của Thánh Tông Đồ: "Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thánh Thần đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà, gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thánh Thần, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng" (Ep 4, 3-4).
Canh Tân Và Đại Kết
Đức Giáo Hoàng thấy Canh Tân có chiều kích đại kết, bởi vì những người Công giáo và những anh em ly khai đều có cùng một cảm nghiệm chung về những ơn ban của Thánh Thần. Ngài xin đừng để mình buông theo một thứ đại kết dễ dãi bằng cách loại trừ những khó khăn giáo thuyết, nhưng hãy tìm một con đường sự thật dẫn đến cùng một đức tin. "Hãy trông cậy, ngài nói, nếu chúng ta ngoan ngoãn với tác động của Thánh Thần để canh tân mình, thì chính Thánh Thần ấy sẽ có cách làm thoả mãn cho niềm hy vọng của chúng ta về "chỉ một Chúa, một đức tin, một phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, hoạt động trong mọi nguời và cư ngụ trong mọi người" (Ep 4, 6).
Trao Phó Canh Tân Cho Mẹ Thiên Chúa
Cùng với sứ điệp của Đức Phaolô VI, sứ điệp quan trọng này của Đức Gioan Phaolô II là thành phần… của bản Hiến chương của Canh Tân đặc sủng. Sứ điệp kết thúc bằng một cái nhìn tin tưởng về Mẹ Thiên Chúa. "Anh chị em thân mến thư gởi tín hữu Galát đã viết: "khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới sinh làm con một nguời đàn bà, và sống dưới lề luật để chuộc những ai sống duới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. để chứng thục anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: 'Abba, Cha ơi'" (Gl 4, 4-6). Người đàn bà ấy là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta. Ngài luôn ngoan ngoãn tuân theo những thúc đẩy của Thánh Thần. Tôi xin trao phó trong tay ngài công việc quan trọng mà anh chị em đang làm, là Canh Tân Giáo Hội trong lòng Giáo Hội. Trong tình yêu Con của ngài là Chúa Giêsu, tôi hết lòng ban phép lành tông truyền cho anh chị em."
Cũng nên nói thêm rằng sứ điệp này của Đức Giáo Hoàng đã làm hân hoan cõi lòng những người đã khám phá "hồng ân Canh Tân". Đức Giáo Hoàng đã công nhận họ, ưu ái họ và đặt họ vào lòng Giáo Hội. Chúng tôi nghĩ rằng sự đón tiếp của Đức Giáo Hoàng đã làm chấm dứt một sự hoài nghi nào đó đối với Canh Tân đặc sủng. Có nhiều người đã nhìn phong trào từ những góc cạnh bề ngoài nên đã không nhận biết rằng ở trái tim của phong trào có một hồng ân, một ơn của Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, là ơn giúp ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần. Điều mới mẻ không phải là Thánh Thần mà là mỗi người chúng ta khám phá rằng có Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta, Đấng đã sinh ra Giáo Hội và hôm nay lại tái sinh Giáo Hội.
"Lạy Chúa, xin gởi Thánh Thần của Ngài đến để canh tđn bộ mặt trái đất."
KẾT LUẬN
Qua tất cả những văn kiện trên, chúng ta có thể nắm bắt tư tưởng của Giáo Hội và Giáo huấn của vị lãnh đạo Giáo Hội. Ngài đã sử dụng đặc sủng của mình để biện phân về Canh Tân trong Thánh Thần.
Khi đọc những văn kiện ấy, chúng ta nhận thấy rằng Giáo Hội tự bản chất đã mang tính đặc sủng (mọi người đã rửa tội đều mang tính đặc sủng), nhưng đồng thời, đó cũng là một Giáo Hội cơ chế.
Để giữ thế quân bình, phải luôn ý thức mối liên hệ giữa hai phương diện ấy của Giáo Hội.
a. Trong tư cách đặc sủng
Giáo Hội là toàn thể những người đã rửa tội và đã lãnh nhận Thánh Thần. Họ có quyền hành xử những ơn ban đặc sủng; họ cũng có bổn phận làm thế, bởi vì những ơn ấy được ban tuỳ theo mức lãnh hội của mỗi người nhằm phục vụ cho Nước Chúa. Nhưng họ phải làm việc trong sự tùng phục Giáo Hội tông truyền và cơ chế được chính Chúa Giêsu Kitô thiết lập: "Con là Đá và trên đá này Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy. "
b. Trong tư cách cơ chế
Đức Giáo Hoàng, các Giám mục và các linh mục là những Đấng được Giáo Hội uỷ nhiệm, cho nên, các ngài là những người đảm bảo sự hiệp nhất và gìn giữ kho tàng đức tin. Trong những vấn đề liên hệ với các đặc sủng, cơ chế Giáo Hội không được dập tắt: Giáo Hội phải thừa nhận rằng dân Thiên Chúa cũng nhận được những đặc sủng nhưng Giáo Hội cũng có trách nhiệm biện phân những ơn ban ấy.
Như thế hai phương diện trên bổ túc cho nhau và đều được linh hoạt bởi cùng một Thánh Thần duy nhất.
Chính bằng cách đi theo con đường trên mà chúng ta sẽ khám phá thấy trong Canh Tân điều mà Đức Phaolô Vl gọi là "cơ may cho Giáo Hội" và chúng ta sẽ tránh được những điều tệ hại. Những người hay lo lắng sẽ thấy an tâm, họ sẽ tiến lên phía trước chứ không còn cản trở bước tiến của Canh Tân nữa; còn về những người thiếu thận trọng, họ sẽ chấp nhận sự biện phân của Giáo Hội. Và như thế "Thánh Thần sẽ không bị dập tắt'.
Linh mục Carôlô chuyển dịch