MLCN Ý Kiến
Thành Viên Âm Thanh
Hìnhnh Vui Cười
Lời Chứng Các Tác Giả
Kho Tài Liệu Sản Phẩm
PhòngCầuNguyện CầuNguyệnOnline DÁnLuyệnNgục Trang Chúa Cha Trang MMaria MụcVTrẻ - 1001 T Viện Nhạc Lưu Bút
Phòng Thánh Thể CầuNguyện Email Cu Cho Ơn Gọi TrangChúaGiêsu   PhòngThánhCa  GĐThắcMắc Bác Ái
Lòng Thương Xót Thánh Kinh Đàng Thánh G TrangThánhThần   GởiThiệp Ecards WebHosting Nối Kết
 

VATICAN VÀ VẤN ĐỀ DIỆT CHỦNG

Trong bài Vatican Và Vấn Đề Tài Liệu, ta thấy  Ủy Ban Sử Học Do-Thái và Công Giáo một mặt nằng nặc đòi Vatican, bất chấp mọi luật lệ riêng của mình, phải mở cửa mọi văn khố, kể cả những văn khố thuần túy tôn giáo, một mặt lại cho rằng dù được phép đọc hết các văn khố vẫn không nhất thiết giải quyết dứt điểm các câu hỏi vây quanh vai trò của Tòa Thánh và nạn Diệt Chủng. Hình như họ đang đi tìm điều gì khác chứ không hẳn các tài liệu của văn khố Vatican hay bất cứ văn khố nào khác. Và phải chăng vấn đề chỉ được giải quyết khi Vatican nhìn nhận mình trực tiếp can dự vào biến cố Diệt Chủng?

Một lịch sử sóng gío và tiêu cực

Phải nhận rằng đấy là chủ trương của những người theo chủ nghĩa Zionism. Giáo hội Công Giáo không hẳn không nhận phần trách nhiệm của mình. Nhưng trách nhiệm đó đến đâu là điều cần được phân định.

Trong tài liệu Chúng Ta Tưởng Nhớ, Một Suy Tư về Nạn Diệt Chủng của Toà Thánh do Đức Hồng Y Edward Idris Cassidy công bố ngày 16 tháng 3 năm 1998, người ta thấy liên hệ giữa người Do-Thái và các Kitô hữu có một lịch sử khá sóng gió và xét chung khá tiêu cực. Ngay sau khi Đức Kitô bị đóng đinh, đã có những tranh luận gay gắt giữa Giáo hội sơ khai và các nhà lãnh đạo cũng như dân chúng Do-Thái, là những người vì trung thành với Lề Luật, đôi khi đã bạo hành chống lại các giảng viên Phúc Âm và các tín hũu Kitô đầu hết. Ðầu thời Ðế Quốc Rôma ngoại giáo, Do-Thái Giáo và Kitô giáo được bảo vệ như nhau không phân biệt, nhưng chẳng bao lâu sau Kitô hữu bị nhà nước Rôma bách hại thảm thương. Khi các hoàng đế Rôma trở lại Công Giáo, họ vẫn tiếp tục che chở người Do-Thái. Nhưng quần chúng Kitô hữu, khi tấn công các đền thờ ngoại giáo, đôi lúc xâm phạm cả đến các hội đường Do-Thái, vì ít nhiều bị các giải thích sai lạc về Tân Ước ảnh hưởng. Những giải thích sai lạc này cứ thế loan truyền tạo nên cả môt làn sóng bài Do-Thái kéo dài trong lịch sử, dẫn đến việc người Do-Thái nói chung bị đối xử phân biệt, đôi khi bị trục xuất hoặc bị buộc phải biến thành Công giáo.

Trong thế giới “Kitô giáo” cho đến tận cuối thế kỷ 18, những ai không phải là Kitô hữu không phải lúc nào cũng được hưởng đầy đủ các quyền lợi luật pháp. Dù vậy, người Do-Thái trong khắp thế giới Kitô giáo vẫn duy trì các truyền thống tôn giáo và các tập tục cộng đoàn của họ. Và do đó họ bị nhìn một cách hoài nghi, không đáng tin.Trong những lúc đói kém, chiến tranh, dịch bệnh hay căng thẳng xã hội, thiểu số Do-Thái thường bị coi như dê thế tội và trở thành nạn nhân của bạo lực, cướp bóc và ngay cả sát hại nữa.

Cuối thế kỷ 18 qua đầu thế kỷ 19, người Do-Thái nói chung đạt được thế đứng ngang hàng với các công dân khác tại hầu hết các nước và một số thành viên còn nắm giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội. Nhưng cũng cùng trong một đồng văn lịch sử ấy, nhất là trong thế kỷ 19, một chủ nghĩa quốc gia giả hiệu và quá khích xuất hiện. Trong bầu không khí thay đổi xã hội đầy nhiễu nhương, người Do-Thái thường hay bị tố cáo nắm giữ nhiều ảnh hưởng bất cân với số người của họ. Từ đó lan tràn ra hầu hết Âu Châu một chủ nghĩa bài Do-Thái, nặng về xã hội và chính trị hơn là tôn giáo. Ðồng thời, xuất hiện nhiều học thuyết bác khước tính đơn nhất của loài người, cho rằng nguyên thủy đã có sự khác biệt chủng tộc. Qua thế kỷ 20, Chủ Nghĩa Quốc Xã tại Ðức sử dụng các ý niệm này như một căn bản khoa học để phân biệt một bên điều họ gọi là các chủng tộc Aryan Phương Bắc (Nordic-Aryan) và một bên là các chủng tộc bị họ coi là hạ đẳng. Hình thức cực đoan của chủ nghĩa quốc gia càng lên cao tại Ðức vì những thất bại trong Thế Chiến I và những điều kiện khắc nghiệt do kẻ chiến thắng đặt để. Hậu quả là nhiều người Ðức coi chủ nghĩa Quốc Xã như một giải pháp cho các vấn đề của đất nước họ, do đó họ cộng tác chính trị với phong trào ấy.

Phản đối Quốc Xã ngay từ đầu

Giáo hội Công Giáo tại Ðức  phản đối chủ nghĩa ấy ngay từ những ngày đầu, qua lời giảng dạy của hàng giáo sĩ, qua giáo huấn công khai của các giám mục, và qua các bài viết của các nhà báo giáo dân Công giáo. Ngay trong tháng 2 và 3 năm 1931, các Đức Hồng Y Bertram của Breslau, Faulhaber và các Giám Mục Bavaria, Cologne cũng như Freiburg đã cho công bố các thư mục vụ lên án chủ nghĩa Quốc Xã trong việc ngẫu tượng hóa chủng tộc và nhà nước. Các bài giảng nổi tiếng trong Mùa Vọng của Đức Hồng Y Faulhaber năm 1933, năm Quốc Xã lên cầm quyền, ngỏ với không những chỉ người Công giáo mà có cả người Thệ Phản lẫn Do-Thái dự thính, rõ ràng đã lên án bộ máy tuyên truyền chống Do-Thái của Quốc Xã.

Người ta cũng không quên linh mục Bernard Lichtenberg, Cha sở Nhà Thờ Chánh Tòa Berlin, lên tiếng yêu cầu mọi người cầu nguyện cho người Do-Thái. Sau này, ngài bị Quốc Xã giam tại Dachau và chết tại đó.  Ðức Piô XI lên án chủ nghĩa này qua tông thư Mit brennender Sorge, được đọc trong tất cả các nhà thờ Ðức vào Chúa Nhật Chịu Nạn năm 1937.

Với các người hành hương Bỉ ngày 6 tháng 9 năm 1938, đức Piô XI khẳng định rằng “Không thể chấp nhận được chủ nghĩa bài Do-Thái. Chúng ta tất cả đều là Do-Thái theo nghĩa thiêng liêng”. Ðức Piô XII trong tông thư đầu tiên Summi Pontificatus (20/10/1939) lên tiếng cảnh cáo các học thuyết từ chối tính đơn nhất của loài người và thần thánh hoá nhà nước, tất cả sẽ dẫn đến “giờ phút đen tối” thực sự.

Ý thức hệ Quốc Xã

Như thế cần nhận ra sự khác nhau giữa chủ nghĩa bài Do-Thái (anti-Semitism) dựa vào các học thuyết trái với giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn vốn chủ trương tính đơn nhất của loài người và phẩm giá bằng nhau của mọi chủng tộc và con người, và những cảm quan  bất tin tưởng và thù nghịch vốn có từ xưa mà ta gọi là chủ nghĩa bài Do-Thái giáo (anti-Judaism).  Ý thức hệ Quốc Xã còn đi xa hơn theo nghĩa nó từ khước không nhìn nhận một thực tại siêu việt làm nguồn gốc sự sống và tiêu chuẩn của sự thiện luân lý. Hậu quả là một nhóm người, và cái nhà nước mà nhóm này tự đồng hóa với, tự cấp cho mình vị thế tuyệt đối và nhất quyết loại bỏ chính sự hiện hữu của dân tộc Do-Thái, một dân tộc được mời gọi làm chứng cho Thiên Chúa duy nhất và Lề Luật Giao Ước. Trên bình diện suy tư thần học, ta không thể bỏ qua sự kiện này là không ít đảng viên Quốc Xã không những khinh ghét ý niệm Thiên Chúa Quan Phòng  tác động vào công việc nhân loại , mà còn chứng tỏ họ thù ghét chính Thiên Chúa nữa. Theo luận lý, một thái độ như thế tất yếu sẽ dẫn tới việc từ bỏ Kitô giáo và ý muốn tiêu diệt Giáo Hội hay ít nhất cũng khuất phục Giáo Hội dưới quyền lợi của Nhà Nước Quốc Xã.

Chính cái ý thức hệ quá khích trên đã trở thành nền tảng cho các biện pháp được đưa ra, trước nhất để đẩy người Do-Thái ra khỏi nhà họ và sau đó tiêu diệt họ. Biến cố Shoah vì thế là công việc của một chế độ hiện đại hoàn toàn tân ngoại giáo. Cái gốc rễ bài Do-Thái của nó nằm ngoài Kitô giáo, cho nên khi theo đuổi các mục tiêu của mình, nó không ngần ngại chống đối Giáo Hội và bách hại các thành viên của Giáo Hội.

Nhưng người ta có thể hỏi cơn bách hại người Do-Thái của Quốc Xã há đã không trở nên dễ dàng nhờ các thiên kiến vốn có trong tâm trí các Kitô hữu đó sao! Các cảm quan bài Do-Thái nơi các Kitô hữu há đã không làm họ ít nhậy cảm, ngay cả dửng dưng trước  chiến dịch bách hại người Do-Thái được đưa ra khi Quốc Xã lên nắm chính quyền đó sao!

Bất cứ câu trả lời nào cho các câu hỏi trên đây cũng phải lưu ý rằng ta đang bàn đến lịch sử các thái độ và các cách suy nghĩ của người ta, vốn chịu ảnh hưởng từ nhiều phía. Hơn nữa, nhiều người không biết chút gì về “giải pháp chung cuộc” đang được đưa ra lúc ấy chống lại cả một dân tộc; nhiều người khác sợ cho chính bản thân và những người thân cận của mình; một số lợi dụng thời cơ; số khác bị lay động vì ganh ghét. Câu trả lời vì thế cần nhằm từng trường hợp một. Tuy nhiên để làm việc đó, điều cần là phải biết đích xác đâu là động lực của người ta trong một hoàn cảnh cá biệt.

Đóng cửa biên giới

Trước nhất, các nhà lãnh đạo Ðệ Tam Liên Bang tìm cách trục xuất các người Do-Thái. Không may, các chính phủ của một số quốc gia Tây Phương vốn theo truyền thống Kitô giáo, kể cả một số nước Bắc và Nam Mỹ, ngần ngại không chịu mở biên giới đón nhận những người Do-Thái bị bách hại này. Mặc dù họ không thấy trước được việc các chức sắc Quốc Xã tiến bao xa trong các ý định tội ác của chúng, các nhà lãnh đạo các quốc gia này biết rất rõ các khó khăn và nguy hiểm mà người Do-Thái sinh sống trong các lãnh thổ của Ðệ Tam Liên Bang đang phải chịu đựng. Việc đóng biên giới không tiếp nhận di dân Do-Thái trong các hoàn cảnh như thế, bất kể do lòng thù ghét hay ngờ vực Do-Thái, do nhát gan chính trị hoặc do thiển cận, hay do vị kỷ dân tộc, đều đã đè một gánh khá nặng lên lương tâm các nhà cầm quyền lúc ấy. Trong các xứ bọn Quốc Xã thi hành việc trục xuất hàng loạt, sự tàn bạo chung quanh những vụ trục xuất cưỡng bức những con người tuyệt vọng này lý ra phải khiến người ta hoài nghi mới đúng. Các Kitô hữu có giúp đỡ trong khả năng những con người bị bách hại này, và đặc biệt các người Do-Thái bị bách hại này hay không?

Mở cửa tâm hồn

Nhiều người có, nhiều người không. Những ai giúp cứu sống người Do-Thái trong khả năng của họ, dù bị nguy đến chính tính mạng mình, phải được nhắc đến. Trong và sau Chiến Tranh, các cộng đồng và các lãnh tụ Do-Thái đã ngỏ lời cám ơn những gì người ta đã làm cho họ, kể cả những gì Đức Piô XII thân hành làm hay qua các đại diện của ngài làm để cứu hàng trăm ngàn mạng sống Do-Thái. Rất nhiều các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân Công Giáo đã được Nhà Nước Israel tuyên dương vì lý do trên.

Tuy nhiên, như Đức Gioan Phaolô II đã nhìn nhận, bên cạnh những con người can đảm trên, sự đối kháng thiêng liêng và hành động cụ thể của nhiều Kitô hữu khác không hề là điều người ta chờ mong từ các Môn Ðệ của Ðức Kitô. Ta không thể biết có bao nhiêu Kitô hữu trong các xứ bị chiếm đóng hoặc bị cai trị bởi quyền lực Quốc Xã hay đồng minh của chúng tuy kinh hồn trước sự mất mạng của hàng xóm Do-Thái nhưng đã không mạnh bạo đủ để lên tiếng phản kháng chống lại. Ðối với Kitô hữu, cái gánh nặng lương tâm này của các anh chị em mình trong Thế Chiến II phải là lời mời gọi thống hối.  

Tài liệu viết tiếp :”Chúng tôi sâu xa hối tiếc các sai lầm và thiếu sót của con cái Giáo Hội. Chúng tôi xin muợn lời của Công Ðồng Vatican II trong tuyên ngôn Nostra Aetate làm lời của riêng mình mà khẳng nhận không hàm hồ rằng “Giáo hội… ý thức được gia tài chung với người Do-Thái, và được tác động bởi tình yêu thiêng liêng từ Phúc Âm chứ không do các xem sét chính trị, lên án lòng thù ghét, sự bách hại  và các biểu hiện bài Do-Thái nhằm vào người Do-Thái ở bất cứ thời nào và do nguồn gốc nào”.

“Chúng tôi nhớ lại và tuân thủ điều Ðức Gioan Phaolô II  đã tuyên bố khi nói truyện với các lãnh tụ cộng đồng Do-Thái tại Strasbourg năm 1988: “Tôi xin nhắc lại với qúi vị sự lên án mạnh mẽ nhất (của tôi) đối với chủ nghĩa bài Do-Thái và chủ nghĩa chủng tộc, là những chủ nghĩa đi ngược lại các nguyên tắc của Kitô giáo”.

Sau đó Tài liệu mở rộng đến những nhóm người khác từng chịu đau khổ do bàn tay con người tạo nên: “Giáo hội Công Giáo vì thế từ bỏ mọi hình thức bách hại chống lại một dân tộc hoặc một nhóm nhân bản nào bất cứ nơi đâu và bất cứ khi nào. Giáo hội tuyệt đối lên án mọi hình thức diệt chủng, cũng như mọi ý thức hệ duy chủng tộc đưa lại các hình thức diệt chủng trên. Nhìn lại thế kỷ qua, chúng tôi hết sức đau buồn bởi việc bạo hành trùm phủ lên cả một nhóm dân tộc và quốc gia.  Ðặc biệt chúng tôi nhớ đến vụ thảm sát người Armenia, biết bao nạn nhân khác tại Ukraine trong thập niên 1930, nạn diệt chủng đối với người Gypsies và những thảm trạng diệt chủng khác tại Mỹ Châu, Phi Châu và vùng Balkans. Chúng tôi cũng không quên hàng triệu nạn nhân của ý thức hệ độc trị tại Liên Bang Xô Viết, tại Trung Cộng, Cambodia và các nơi khác. Chúng tôi cũng không quên thảm kịch tại Trung Ðông. Và trong khi đang suy tư như thế này, “nhiều con người vẫn còn là nạn nhân của anh em mình”.

Người Do Thái là anh chị em tôi

Trở về với Cộng Ðồng Do-Thái, Tài liệu nói thêm: “Nhìn về tương lai các mối liên hệ giữa Kitô hữu và người Do-Thái, trước nhất chúng tôi kêu gọi anh chị em Công Giáo của chúng tôi canh tân ý thức của mình về nguồn cội Do-Thái trong đức tin của mình. Chúng tôi yêu cầu họ nhớ rằng đức Giêsu vốn là dòng dõi David; rằng Trinh Nữ Maria và các Tông Ðồ đều thuộc dân tộc Do-Thái; rằng Giáo Hội hút được nhựa sống từ rễ cây ôliu tốt lành vốn được tháp vào các nhành ôliu dân ngoại ( xem Thư La Mã 11:17-24); rằng người Do-Thái là anh chị em thân thương của chúng tôi, đúng hơn theo một nghĩa nào đó là “anh cả của chúng tôi”.

Ðoạn cuối cùng của tài liệu phát biểu như sau: “Ở cuối thiên niên kỷ này, Giáo Hội Công Giáo muốn bày tỏ nỗi buồn sầu sâu sắc của mình đối với những thiếu sót của con cái thuộc mọi thời đại. Ðây là một hành vi thống hối (teshuva), bởi vì trong tư cách thành viên Giáo Hội, chúng ta liên kết với các tội lỗi cũng như các công phúc của tất cả các con cái Giáo Hội. Với một lòng kính trọng và thương cảm sâu xa, Giáo Hội tiếp cận kinh nghiệm diệt chủng, shoah, mà dân tộc Do-Thái đã phải chịu trong Thế Chiến II. Ðây không phải chỉ là vấn đề ngôn từ mà thôi, nhưng quả là một cam kết trói buộc. ‘Nếu chúng ta không dấn thân cam kết rằng sự ác không thể thắng vượt sự thiện như đã từng xẩy ra cho hàng triệu con dân Do-Thái, chúng ta sẽ liều mình khiến cho các nạn nhân của những cái chết tàn bạo nhất chết một lần nữa… Nhân loại không thể cho phép tất cả những điều đó xẩy ra một lần nữa”. Sau cùng, Tài liệu liên kết chủ nghĩa bài Do-thái giáo (anti-judaism) với chủ nghĩa bài Do-Thái (anti-Semitism) lại với nhau, khi nói rằng: “những hạt giống hư thối của chủ nghĩa bài Do-thái-giáo và chủ nghĩa bài Do-Thái sẽ không bao giờ được phép bén rễ trong tâm hồn nhân loại”.

Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo và Do Thái     

Giám mục Michael Putney của Tổng Ðịa Phận Brisbane, trên tam cá nguyệt san The Australasian Catholic Record, số tháng 7 năm 1999, có thuật lại cuộc gặp gỡ của Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế giữa Công Giáo và Do-Thái tại Vatican, tháng 3 năm 1998 liền ngay sau khi tài liệu trên được công bố. Trong cuộc gặp gỡ này, Geoffrey Wigoder thuộc Ủy Ban Liên Tôn Israel đã nói với đức Gioan Phaolô II rằng: “người ta cảm thấy lời tự phê, dù rất quan trọng, đã không đi xa đủ và sự nối kết giữa lịch sử lâu dài của việc điều kiện hóa bài Do-Thái dưới sự đỡ đầu của Kitô giáo với chủ nghĩa dửng dưng phổ quát và ngay cả hợp tác khắp Âu Châu trong thời Diệt Chủng đã không được nói lên một cách không hàm hồ và rõ ràng đầy đủ”. Còn Phó Chủ Tịch của Hiệp Hội Do-Thái Thế Giới (World Jewish Congress), Tiến Sĩ Gerhard Reigner, thì đưa ra lời phê bình sau: “Tài liệu cố gắng miễn trừ chính giáo hội khỏi mọi trách cứ và chỉ tố giác các cá nhân Kitô hữu hay ‘thế giới Kitô giáo’ phải chịu trách nhiệm đối với ‘những giải thích sai lạc và bất công của Tân Ước liên quan tới dân tộc Do-Thái và các tội lỗi bị tố giác của họ là những thứ đã làm phát sinh ra các cảm quan thù nghịch chống lại người Do-Thái’”.

Đức Hồng Y Cassidy đã cố gắng trả lời phần nào cho các phẩm bình này. Ngài cho rằng hạn từ giáo hội trong tài liệu, đối với người Công Giáo, có ý chỉ về hiền thê huyền nhiệm và không sai lầm của Ðức Kitô, trong khi hạn từ con cái  của giáo hội bao hàm mọi thành viên của giáo hội bất luận ở bình diện nào. Ðây là một vấn đề thường xẩy ra đối việc Vatican sử dụng ngôn từ khi nói đến chính giáo hội và các thành viên của giáo hội. Chính giáo hội thì luôn luôn được miễn trừ khỏi tội; tội chỉ có nơi các thành viên của giáo hội mà thôi. Nếu người đọc nghĩ rằng ‘giáo hội’ ám chỉ hàng giáo phẩm hay Vatican, thì đương nhiên họ sẽ bị lẫn lộn khi đọc các văn kiện chính thức của Công giáo.

Khỏi nói thì ai cũng thấy việc sám hối của Giáo Hội Công Giáo không làm cho mọi giới Do-Thái hài lòng hoàn toàn. Ðiều này nghĩ cho cùng cũng dễ hiểu vì một lịch sử lâu dài như lịch sử liên hệ giữa Kitô giáo và Do-Thái không thể nhất đán một sớm một chiều có thể sáng tỏ ngay được. Có điều, trong khi Giáo Hội Công Giáo ráng xích gần lại người Do-Thái, thì một số các nhà lãnh đạo của họ vẫn khư khư những thiên kiến cũ. Thực thế, Tập San  Catholic World Report, số Tháng Mười Năm 1999, tường trình rằng tại một hội nghị về Các Mối Liên Hệ Công Giáo và Do-Thái họp tại Tel Aviv vào tháng Bẩy cùng năm, một đại biểu của Vatican đã phát biểu rằng các căng thẳng giữa hai tôn giáo không phải chỉ do điều người ta gọi là chính sách bài Do-Thái của Công-Giáo mà thôi, mà cũng do sự thù nghịch của Do-Thái đối với Kitô Giáo. Linh mục David Yager nhấn mạnh rằng Giáo Hội Công Giáo không bài Do-Thái. Các nhà lãnh đạo Giáo Hội  xưa nay vẫn cố gắng loại trừ mọi dấu vết của ý thức hệ bài Do-Thái khỏi các định chế của Giáo Hội, trong khi ấy chính phủ Israel vẫn còn chứa chấp các thiên kiến chống Công-Giáo gây hại cho viễn tượng đưa lại những mối liên hệ thân hữu hơn. Ðặc biệt, Linh Mục Yager trích dẫn hàng loạt những lời kết án do các nhà lãnh đạo Do-Thái đưa ra tố cáo Ðức Piô XII hợp tác với chính phủ Quốc Xã trong Thế Chiến II.

Đổ lỗi, dấu tội

Cũng trên Số báo trên, Tập San Catholic Worl Report có đăng một số ý kiến bạn đọc. Trong đó có ý kiến của Jerome Kavaney, ở Fairchild, Wisconsin, tựa là “Pointing fingers, hiding guilt” (đổ lỗi, dấu tội) như sau: Bạn tự hỏi tại sao Ðạo Trưởng Hier lại đưa ra những lời cáo buộc có tính mạ lỵ về “sự im lặng” của Giáo Hoàng Piô XII (Xã Luận, July 1999). Tôi tin rằng người Do-Thái đang chỉ tay lên án người khác, để giấu giếm mặc cảm tội lỗi của chính mình bởi rất nhiều người trong số họ biết chuyện gì đang xẩy ra lúc đó nhưng đã  không làm gì cả, bất cứ vì lý do gì”.

Tại Ðức năm 1933, con số người Ðức gốc Do-Thái lên đến 525,000 người gồm cả những người lãnh đạo các ngành văn chương, y khoa, khoa học, và tài chánh. Phần đông những người này muốn được coi là người Ðức, tự hào mình là người Ðức gốc Do-Thái. Khi Ðạo trưởng Stephen Wise, một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng và được kính trọng nhất trong cộng đồng Do-Thái tại Mỹ, tổ chức một cuộc biểu tình tại New York để phản đối việc Quốc Xã đối xử với người Do-Thái, ông ta đã nhận được một thông điệp của các đạo trưởng lãnh đạo từ Ðức nói là đừng có mắc mớ vào vì cho rằng các người Do-Thái tại Mỹ làm như thế chỉ là để phục vụ các mục tiêu riêng của họ, và làm như thế họ chỉ phá hoại nước Ðức, là nước mà người Do-Thái tại Ðức rất yêu mến.

Theo số báo tháng 7/8 của tờ American Heritage, năm 1933, 37,000 người Do-Thái ra khỏi Ðức, nhưng trong không khí tương đối yên ổn vào năm sau, 16,000 đã trở lại. Nói cho ngay, người ta phải hiểu rằng lúc đó chưa ai dự cảm được là việc bách hại của Quốc Xã lại sẽ dẫn đến việc diệt chủng (holocaust). Các hành động của chính phủ Ðức phần đông được cả các nạn nhân lẫn khách bàng quang hiểu như là việc trở lại cái hình thức bách hại của các thế kỷ trước, chứ không phải như những bước chuẩn bị dẫn đến việc diệt chủng. Người Do-Thái ngồi xổm chờ cho qua cơn bão, như họ vẫn từng làm trong quá khứ.

Độc quyền “diệt chủng”

Kavaney nhấn mạnh rằng: “Nếu người Do-Thái nghĩ rằng họ có độc quyền đối với đau khổ hoặc có bản quyền đối với hạn từ ‘holocaust’ thì quả là lầm; họ nên ra khỏi họ để vươn tới những người hiện đang chịu những ‘holocausts’ tương tự tại Balkans, Sudan, Rwanda, Cambodia, và các nơi khác trên thế giới. Các tổ tiên Ái Nhĩ Lan của riêng tôi từng bị phân thây cách có hệ thống bởi chính sách diệt chủng của người Anh đối với Ái Nhĩ Lan. Họ chết không phải trong các lò thiêu của tử trại mà chết trong các rạch hào của Kilala và Skibbereen. Và họ bị trừ khử cùng một lý lẽ: vì chủng tộc và tôn giáo của họ. Tôi xưa nay vẫn tự coi mình là một thứ ‘diều hâu Do-Thái’ cho đến khi người ta bắt đầu chống báng cây thánh giá được dựng lên trước đó tại Auschwitz để tôn kính những người không phải là Do-Thái chết tại đó. Chín triệu thường dân không phải là Do-Thái từng bị Quốc Xã sát hại. Cộng với ba triệu tù binh chiến tranh Xô Viết”.

Gavin Stevens ở Memphis, Tennessee thì cho rằng cái thứ đại kết bằng bất cứ giá nào đã đưa lại ảo tưởng khiến người ta quên cả thực tại. Bởi nó thúc giục người ta quên đi lịch sử, coi những vấn đề khúc mắc và các khác biệt tôn giáo là điều không quan trọng. Mục tiêu để tạo ra một cảm thức giả tạo về một thứ ‘tình anh em’ dân chủ, mà nội dung chính xác chẳng ai biết là cái quái gì. Nhờ thế, cái Do-Thái giáo của Talmud, một thứ Do-Thái giáo thù ghét Kitô giáo, đấng sáng lập ra nó là Ðức Giêsu, Mẹ Ngài và Giáo hội, đã được phép mặc tình mạ lỵ và vu khống vô tội vạ. Sự thù ghét ấy có ngay trong Talmud và tiếp tục sống với lịch sử. Kitô giáo và Kitô hữu hiểu điều đó đã 500 năm nay.

Ðối với John Loranger ở Sparks, Nevada, căn cứ vào sự kiện Ðức Piô XII cứu sống rất nhiều người Do-Thái (ít nhất 800,000 người theo Bách Khoa Từ Ðiển World Book), thì những lời tố cáo chống lại Ngài tệ nhất phải được coi là quỉ quái, mà nhẹ ra cũng là khùng điên. Cần phải nhớ rằng không phải chỉ có người Do-Thái bị Quốc Xã sát hại: có ít nhất năm triệu người không phải là Do-Thái cũng đã bị bọn chúng bức tử. Sự kiện ấy kẻ thù của Ðức Piô XII muốn mọi người đừng có nhớ. Nếu điều được gọi là sự im lặng của Ngài nhất thiết bao gồm cả việc làm ngơ trước cái chết của hàng triệu người Công giáo nữa, thì điều ấy rõ ràng đã làm những lời tố cáo của họ càng trở nên vô lý hơn người ta tưởng.

Nạn nhân Cộng Sản thì sao?

Cũng cần chú ý một điều: những người chống báng kia không muốn nghe nói về các nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản, mà con số vượt rất xa con số 11 triệu người bị Quốc Xã giết chết. Tại sao họ không muốn nghe chuyện đó? Bởi vì ngoài lòng thù ghét đối với Giáo hội Công giáo ra, họ muốn thuyết phục để thế giới tin rằng mọi cái ác chính trị đều do phe hữu mang lại. Hai mươi năm nữa, rất có thể thế giới sẽ tỉnh ngộ về nạn phá thai, cũng như họ đã tỉnh ngộ về nạn nô lệ và những tội ác khác trong quá khứ. Nhưng bạn đừng ngạc nhiên nếu một thế hệ mới những kẻ láo khoét sẽ bắt đầu viết những cuốn sách và những vở kịch về Ðức Gioan Phaolô II, nhạo báng sự im lặng của Ngài trước thảm trạng hàng triệu trẻ sơ sinh vô tội bị giết oan (vì phá thai). Những lời phỉ báng Ðức Piô XII hiện nay cũng vô lý chẳng kém. Tuy nhiên, trong câu chuyện này vẫn có điểm tích cực ở chỗ những thù ghét chống Ðức Piô XII cũng như các Giáo Hoàng vĩ đại của thế kỷ này đã chứng tỏ các ngài quả là những Kitô hữu chân thực. Vì “nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng nó đã ghét Ta trước. Nếu các con thuộc về thế gian, thế gian tất đã yêu thương các con; nhưng bởi vì các con không thuộc về thế gian, nhưng Ta đã chọn các con từ trong thế gian, nên nó thù ghét các con”.

Chủ nghĩa Xion (zionism)

Tưởng cũng nên thêm ở đây cái bộ mặt hai chiều (double standard) của những người Zionist. Trong khi họ đòi Đức Piô XII phải lên tiếng đích danh lên án Quốc Xã, dù thực tế Ngài đang ở trong tình trạng gần như bị giam lỏng, thì chính họ lại từ khước không chịu lên tiếng ít nhất để phê phán các hành động tàn ác của Nhà Nước Do-Thái tại West Bank, Gaza và Nam Lebanon. Một người nổi tiếng sống sót khỏi Nạn Diệt Chủng là Elie Wiesel (người, theo Cornwell, đã đưa Friedlander vào đường sự nghiệp), được người ta yêu cầu phát biểu ý kiến về Intifada, một phong trào nổi dậy của người Palestine trong các vùng Do-Thái chiếm đóng tại West Bank và Gaza. Ông ta đã từ chối không kết án chính sách đối xử bất nhân đối với người Palestine của Nhà Nước Do-Thái, một đối xử đã được các nhóm nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International) và chính Liên Hiệp Quốc thu thập tài liệu đầy đủ. Lý do được Wiesel nêu ra là mặc dù được sống yên ổn tại Phương Tây theo Kitô giáo, câu trả lời của ông có thể có lợi cho kẻ thù của Do-Thái. Không phải chỉ có Wiesel, đại đa số các lãnh tụ Zionist tại Mỹ đã im hơi lặng tiếng đối với kỷ lục xâm phạm nhân quyền của Nhà Nước Do-Thái. Nhưng họ lại to tiếng nhất trong việc kết án Pacelli! Họ sẽ nghĩ sao nếu giờ đây các nhà trí thức Công giáo lên tiếng tố giác Do-Thái giáo phải chịu trách nhiệm về tội ác của Stalin, bởi vì rất nhiều lãnh tụ Bolshevik vốn là người Do-Thái (xem Stuart Kahan, The Wolf of the Kremlin và Malcolm Muggeridge’s, Winter in Moscow). Chắc họ sẽ phản đối ầm ĩ. Thực sự Karl Marx, ông tổ chủ nghĩa cộng sản, và Leon Trotsky, một lãnh tụ Bolshevik sau trở thành kẻ thù của Stalin, đều là người Do-Thái, trong khi đại họa của thế giới là Vladimir Lenin vốn nửa người là Do-Thái. Người ta tự hỏi tại sao các nhà Zionist, theo tờ London Daily Express (24/03/1934), trong cuộc đại hội toàn thế giới, đã chọn Ðức để tấn công mà lại đồng thời không chịu chọn cả Liên Bang Sô Viết, nơi biết bao Kitô hữu cả tả lẫn hữu đang bị phanh thây? Và hỏi liệu các nhà Zionist có hay chăng bất cứ một giải thích nào cho sự im hơi lặng tiếng của mình trước nạn diệt chủng của Stalin đối với quảng đại quần chúng Kitô hữu? Người ta ước lượng rằng dưới ‘Ðế quốc tội ác’ Cộng Sản, hàng chục triệu người đã chết oan. Trên địa hạt truyền thông, một trong những lời chỉ trích đức Piô nặng nề nhất chính là tờ New York Times, từ lâu vốn là bộ máy  thông tin sai lạc của người Zionists và là người biện hộ trâng tráo cho những sai lầm của Nhà Nước Do-Thái, mới đây người ta tiết lộ rằng phóng viên tại Liên Bang Sô Viết của tờ này, ông Walter Duranty, nguyên gốc Anh nay đã qua đời, chính là một cò mồi cho bộ máy tuyên truyền của Stalin. Vụ diệt chủng/đói kém trong các năm 1932-1933 tại Ukraine là một trong những thảm họa lớn nhất trong lịch sử do con người tạo ra. Ðồ tể của Stalin trong tội ác tầy trời chống nhân loại này chính là Lazar Kaganovich. Tên này vốn là một người Do-Thái cũng là một trong những người ký vào lệnh diệt chủng hơn 25,000 sĩ quan công giáo Ba-Lan trong vụ thảm sát tại Rừng Katyn mùa Xuân 1940. Hàng triệu nông dân thiệt mạng trong các vụ cưỡng bức tập thể ở Ukraine. Nhưng New York Times không những bỏ qua những chuyện ấy mà còn tìm cách che đậy nữa. Thảm họa ấy được tờ báo gọi “phần lớn là tầm phào” (mostly bunk). Còn các vụ Stalin xử thanh trừng trong các năm 1928, 1934 và 1936 được tờ báo phúc trình như “để phục vụ công lý”. Trong khi đó, trong số ra ngày 17 tháng 7 năm 1990, tờ Washington Times tường trình chỉ có một triệu người Do-Thái chết tại Auschwitz chứ không phải bốn triệu như các người Zionists nguyên thủy vẫn tuyên bố. Ba trăm ngàn người không phải là Do-Thái cũng đã chết tại đó. Các nhà nghiên cứu tại đền kỷ niệm Yad Vashem tại Do-Thái cũng nhìn nhận con số mới trên là đúng. Nếu quả điều này đúng, thì con số 6 triệu người Do-Thái chết dưới chế độ Quốc Xã do phe Zionist nguyên thủy đưa ra hẳn phải trừ đi phân nửa. Và vì thế người ta phải đặt nghi vấn: “Tại sao những người Zionists này đã phóng đại con số nguyên thủy các nạn nhân Do-Thái lên như thế?”.

Tự mâu thuẫn

Riegner mà chúng tôi đã nhắc trên đây cũng khó tránh được cái lỗi hai mặt tương tự. Linh mục A. Graham S.J, một trong bốn thành viên trong ban ấn hành bộ tài liệu thời chiến của Vatican, khi nhận định về chiến dịch công kích Đức Piô XII, cho biết Hội Ðồng Các Giáo Hội Thế Giới, dưới sự lãnh đạo của Tổng thư ký Visser’t Hooft, đã quyết định không công khai lên án Quốc Xã, nhưng âm thầm triển khai các kế hoạch giúp người Do-Thái của mình. Hội Hồng thập tự Quốc tế có trụ sở tại Geneva cũng thế: Nhiều thành viên muốn có lời kết án công khai trước các tàn ác dã man của Quốc Xã, nhưng Hội đã đi đến kết luận rằng một phản đối công khai a) sẽ không đem lại hiệu quả nào, và b) nó còn phương hại đến các điều lợi mà Hội đang thực hiện cho các người bị giam giữ. Không ai ngày nay đi tra vấn sự hợp lý của các quyết định trên. Nhưng lại chĩa mũi dùi công kích vào Đức Piô XII là người có cùng một quyết định. Trong phản ứng riêng của mình đối với quyết định tiêu cực (không công khai phản đối) của Hồng Thập Tự, chính đại diện tại Geneva của Tổng Hội Do-Thái Thế Giới (World Jewich Congress), Gerhart Riegner, đã chấp nhận tính cách hợp lý thích đáng của nó. Nếu có điều cần làm để cứu các người Do-Thái đang bị đe dọa, thì điều đó cần được theo dõi, thay vì phản đối: ‘Tôi tin rằng – ông ta (Carl Burckhardt) nói với Ðại diện Ủy Ban - phản đối chỉ cần trong trường hợp thực sự không còn gì khác phải làm trong lúc ấy. Nhưng nếu ai đó vẫn còn có thể có  một chút ảnh hưởng nào đó và họ muốn tự chế không muốn phản đối, thì điều cần là phải hành động chứ không phải tự mãn  với việc thụ động ghi chép những tin tức về người bị đầy ải’. Quan điểm của Riegner, chuộng hành động hơn lời nói, quả trái ngược với ám ảnh trổi vượt hiện nay muốn có những phản kháng công khai, như thể những phản kháng ấy là những mục đích tự tại không bằng.”(How to Manufacture a Legend: The Controversy over the Alleged Silence of Pope XII in World War II). Ấy thế mà nay, Riegner đang góp phần vào chiến dịch công kích Đức Piô XII một cách khá mạnh mẽ, tố cáo ngài là mặc dù biết rõ mức độ và phạm vi khủng khiếp của Holocaust, mà vẫn im hơi lặng tiếng (xem thêm nhận định của ông nhân dịp công bố tài liệu We Remember của Tòa Thánh).

Thánh Do Thái hay Thánh Công Giáo

Hội chứng độc quyền đối với Holocaust của những người Zionists, như nhận định của Kavaney trên đây, không lúc nào rõ cho bằng dịp phong á thánh rồi hiển thánh cho Edith Stein, người con gái Xion. Như mọi người đã biết việc Edith quyết định gia nhập đạo Công giáo và sau đó đi tu Dòng Kín Carmel bị thân mẫu là bà Augusta Stein, dù được nhiều nhà phê bình coi như không hẳn con chiên ngoan đạo lắm của Do-Thái Giáo, lên án như một hành vi phản bội không phải chỉ riêng gia đình mà là cả giòng giống Do-Thái. Bẩy mươi năm qua rồi, lời kết án ấy không những không giảm mà còn bùng lên mạnh mẽ ngay cả nơi những người vốn tích cực tham gia trào lưu đối thoại với Công Giáo như đạo trưởng Melanie Aron (Edith Stein – Jewish Saint? October 23, 1998). Ông gọi bà là Tên Bỏ Ðạo (apostate) và dĩ nhiên không công nhận tư cách tử đạo của bà. “Ðối với tôi, rõ ràng Edith Stein bị giết vì bà là người Do-Thái chứ không dính dáng gì tới niềm tin tôn giáo của bà”. Jonathan S. Tobin, chủ bút tờ Connecticut Jewish Ledger, trong bài Converts, Saints and Jews: Confronting the Story of Edith Stein,October 15, 1998, kịch liệt lên án việc phong thánh cho Edith Stein: “Ý niệm coi cái chết của Edith Stein như biểu tượng cho việc áp chế giáo hội Công Giáo trong biến cố Diệt Chủng, mà một số người từng làm, quả là ghê tởm (repugnant). Stein chết tại Auschwitz không phải vì niềm tin tôn giáo, mà chỉ vì nguồn gốc Do-Thái của mình, dù chết trong bộ áo dòng. Dù Giáo Hội Công Giáo rất cố gắng trong việc dùng vụ phong thánh cho Edith Stein như một dịp tự vấn lương tâm mình về Nạn Diệt Chủng và cổ động lòng kính trọng đối với người Do-Thái, việc biến người phụ nữ này thành biểu tượng đau khổ của Do-Thái đã xúc phạm đến phần đông người Do-Thái. Như vị chủ tịch của Liên Ðoàn Chống Phỉ Báng (Anti Defamation League – ADL), Ông Abe Foxman, đã nói rất đúng, bà không phải là một đại biểu thích đáng cho các nạn nhân Do-Thái… Vấn đề ở đây không hẳn là ý xấu. Giáo hoàng Gioan Phaolô II từng chứng tỏ rất nhiều lần ngài là một chiến sĩ dũng cảm tranh đấu cho lòng khoan dung và trọng kính giữa người Công Giáo và Do-Thái. Công việc của ngài nói lớn hơn bất cứ ngôn từ nào. Nhưng đó mới là khó khăn. Các ngôn từ liên quan đến diễn trình phong thánh cho Stein và các ý niệm của Công Giáo về hy sinh đập vào mặt người Do-Thái  như những ý niệm tự nó đã bất kính đối với nỗi thống khổ và niềm vẹn toàn trong đức tin của chúng tôi. Ðề cập đến nỗi thống khổ của Do-Thái bằng các ngôn từ Công Giáo, là những ngôn từ không song hành chút nào với tư tưởng Do-Thái, thì nhất định sẽ dẫn đến xúc phạm. Vụ phong thánh cho Stein đã đổ muối lên vết thương Do-Thái khiến người ta nhớ đến sự bất động của Vatican và phần đông người Công Giáo trong biến cố Diệt Chủng. Nhiều người sợ rằng phong thánh cho Stein là người ta đã Kitô giáo hóa nạn Diệt Chủng, một hành vi chỉ có mục đích phạm thánh lịch sử mà thôi. Và nói đến việc phong thánh cho Piô XII chỉ khiến người Do-Thái ngỡ ngàng và ghê tởm… Chúng tôi chỉ xin một điều là Giáo Hội đừng sử dụng Stein để bôi bẩn lòng kính trọng đối với Do-Thái Giáo hay chân lý của thảm kịch Holocaust của người Do-Thái”.

Tobin có nhắc đến Abe Foxman. Ông này, trong bài The Canonization of Edith Stein: An Unnecessary Problem, viết chung với Leon Klenicki, đăng trên Trang Nhà của ADL tháng 10 năm 1998, viết như sau: “Tỏ lòng tôn kính đối với nỗi thống khổ Kitô giáo là điều có thể hiểu được nếu điều ấy không gây thiệt hại đến thực tại này là Nạn Diệt Chủng trong yếu tính vốn là một chương trình diệt trừ dân tộc Do-Thái. Chẳng may, với một loạt những bước kế tiếp trong các năm gần đây, một số nhân vật Kitô giáo đã hành động theo phương cách chiếm đoạt các biểu tượng thống khổ Do-Thái để tối thiểu hóa tầm ý nghĩa trong chủ trương bài Do-Thái của Công Giáo và bằng việc chú tâm đến công tác tự biến mình thành nạn nhân, đã làm lệch hướng việc xem sét vai trò của Giáo Hội trong việc dựng ra một môi trường giúp cho Nạn Diệt Chủng có thể xẩy ra được. Bắt đầu là việc dựng một tu viện Carmel tại Auschwitz trong thập niên 1980 để cầu nguyện cho người đã chết, kể cả người Do-Thái… Sự hiện diện của các nữ tu là cách chuyên chở ý niệm cho rằng Auschwitz là một nơi tử đạo thực sự có tính Kitô giáo. Không ai hoài nghi đã có nhiều Kitô hữu chết tại Auschwitz, đặc biệt các linh mục Ba-Lan, tuy nhiên công việc chính trong cái trại tập trung ấy là diệt trừ dân tộc Do-Thái. Cho nên cái tu viện kia đã giảm thiểu hóa cái thực tại ấy. Biến cố thứ hai là việc phong thánh cho Maximilian Kolbe. Ông này vốn là một linh mục đã chết thế cho một người tù tại Auschwitz. Và do đó, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho ông. Tuy nhiên ở đây nữa, cũng có vấn đề giảm thiểu hóa ý niệm Diệt Chủng đối với người Do-Thái. Vì ngay tại xà lim Auschwitz, Kolbe vẫn được chọn lựa trong tư cách một Kitô hữu, còn người Do-Thái thì không. Diệt Chủng đối với người Do-Thái là vắng bóng chọn lựa. Ðàng khác, Kolbe, người chịu các kinh hoàng tại Auschwitz, từng là tổng biên tập một công ty xuất bản quan trọng của người Công Giáo tại Ba-Lan trước khi Quốc Xã và Cộng Sản xâm lăng nước này ngày 1 tháng 9 năm 1939. Công ty này ấn hành một tạp chí bài Do-Thái hạng nhất trong nước, dù không có bằng chứng gì cho thấy chính Kolbe có viết bài nào như thế trên tạp chí này. Tuy thế, ông ta vẫn là tổng biên tập chịu trách nhiệm trước pháp luật về tạp chí này. Khi tôn phong một người có liên hệ, dù là liên hệ gián tiếp, đến chủ nghĩa bài Do-Thái từng dẫn đến Nạn Diệt Chủng, và do đó góp phần tạo ra một bầu không khí lãnh đạm khiến không còn ai quan tâm đến việc cứu vớt người Do-Thái, là một lần nữa giảm thiểu hóa các nhậy cảm của Do-Thái xung quanh thảm họa lớn lao này. Ðối với chúng tôi, việc phong thánh cho Edith Stein vào ngày 11 tháng 10 này là một bước nữa trong diễn trình Kitô giáo hóa nạn Diệt Chủng, chứng tỏ rằng Auschwitz, cái biểu tượng cốt lõi của tử đạo Do-Thái, trong yếu tính không phải là một biến cố Do-Thái, một biểu thức bài Do-Thái hoàn toàn có tính ngoại đạo được cái giáo huấn khinh miệt của Kitô giáo nuôi dưỡng suốt hai ngàn năm qua, nhưng phải được tưởng niệm như một nơi người Kitô giáo chịu thống khổ. Chúng tôi, người Do-Thái, chúng tôi cảm thấy bị mất Edith Stein đến hai lần. Lần đầu tiên khi bà bước qua Công Giáo. Lần thứ hai khi bà được phong thánh, là hành vi qua đó một số nhóm đã chiếm đoạt bà như một tử đạo Kitô giáo dù cái chết của bà liên hệ đến chủ điểm Do-Thái trong Nạn Diệt Chủng. Nhìn theo cách này, Edith Stein trở thành bản văn Do-Thái cho một lý văn  Kitô giáo (a Jewish text for a Christian pretext), một cái cớ qua đó Giáo Hội có thể đòi cái quyền chia phần nạn nhân mà chính các tập tục bài Do-Thái của riêng mình từng áp đặt lên mạng sống các người Do-Thái vô tội”.

Cái nhìn thần học

Nên nhớ Ðạo Trưởng Leon Klenicki từng tham gia cuộc đối thoại Công Giáo và Do-Thái suốt 25 năm qua. Ông từng làm việc với Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ  và là một đồng liên lạc viên với Vatican. Những tư cách ấy vẫn không giúp các quan điểm của ông dịu hòa chút nào qua các nhận định trên. Tuy nhiên, phần lớn những nhận định này có tính chính trị, hoặc ít nhất nặng về chính trị. Về phương diện thần học, không ai nói lên những tầng sâu nhất trong các khác biệt Kitô giáo và Do-Thái Giáo bằng David Novak. Novak vốn là giáo sư giữ ghế J. Richard & Dorothy Shiff của môn Do-Thái Học tại Ðại Học Toronto. Trong bài Edith Stein, Apostate Saint, đăng trên First Things, tháng 10 năm 1999, Novak dường như muốn khuyên đồng đạo ông nên chấp nhận quan điểm tự do cho rằng các xác tín tôn giáo là vấn đề chọn lựa cá nhân và rằng mỗi người nên kính trọng sự lựa chọn của mỗi người khác muốn tin điều gì họ muốn và muốn thực hành bất cứ tôn giáo nào, hoặc không tôn giáo nào, tùy họ. Có chỗ ông còn trích tiên tri Amos (9:7) để khuyên cả Công giáo lẫn Do-thái giáo nên nhìn nhận có những hình thức chân lý hạn chế hơn nơi tôn giáo kia, dù cả hai vẫn tin chân lý của mình, vì là chân lý giao ước, nên tròn đầy nhất. Thiên Chúa nói trong câu ấy rằng: “Các ngươi đối với ta chẳng như những người Êtiôpia kia sao?”. Quan điểm này, ông nói, giúp ta sống với người khác trong thiện tâm và có lòng kính trọng thực sự đối với họ và truyền thống của họ. Song, Novak cho rằng đấy chỉ là trên bình diện “trần thế”, nơi người Do-Thái và người Kitô giáo có nhiều điều để nói với nhau và hành động chung với nhau. Còn trên bình diện quan yếu hơn là bình diện bản chất hay bình diện chờ đợi Thiên Chúa, thì mỗi bên “phải làm riêng rẽ. Nghị trình đối thoại phải giữ cho xa nghị trình trở lại (conversion). Ðối thoại thuộc về đời này nhiều hơn; trong khi trở lại thuộc về đời sau nhiều hơn. Cho đến hồi chung cuộc, việc phán định về bản sắc không phải là việc của chúng ta, ngoại trừ những trường hợp hết sức tầm thường liên can đến các quyền lợi và thưởng phạt cộng đoàn. Chính vì thế, trong khi người Do-Thái chúng tôi có thể tương cảm  (empathize) với người Công Giáo vì đã lại kiếm được một vị thánh nữa, một cuộc đời gương mẫu thánh thiện nữa, nhưng đó không phải là điều chúng tôi có thể  thông cảm (sympathize) với người Công Giáo… Ở cái bình diện sâu thẳm ấy, chúng ta vẫn là những kẻ xa lạ đối với nhau. Dường như chúng ta mãi mãi như thế cho đến tận cùng, chỉ lúc ấy ta mới hy vọng trở thành bằng hữu đời đời của Thiên Chúa, và bằng hữu đời đời của nhau”. 

Bạn hũu trong cõi vĩnh hằng

Người Công Giáo ngày nay tin như thế. Người Do-Thái sẽ là những người bạn của họ trong cõi vĩnh hằng. Họ không độc quyền Thiên Chúa. Họ gọi người Do-Thái là “người anh cả” (Gioan Phaolô II). Ðã là anh cả, đương nhiên chia sẻ gia tài của Cha. Chỉ không hiểu người Do-Thái có coi người Kitô hữu là đứa em sinh sau hay không. Người ta hoài nghi chuyện đó. Vì trước đó, Novak cho hay: “Bà (Edith Stein) không thể là cây cầu bắc giữa người Do-Thái và người Công Giáo vì ở cõi đời này một người không thể đồng thời là Do-Thái tín trung và Công Giáo trung tín. Vì các cộng đồng Do-Thái và Công-Giáo loại bỏ lẫn nhau, và vì cả hai đều rút bản sắc từ giao ước Thiên Chúa đã ký kết với cộng đồng mình, nên không một thành viên nào của một cộng đồng lại có thể cũng là thành viên với một tư thế tốt của cộng đồng kia.” Phải thêm rằng ngay ở trần thế này, người Công giáo đang cố gắng hết sức để sống trong tình anh em với “người anh cả”. Nhưng dường như “người anh cả” vẫn không chịu ngồi chung bàn với đứa em sinh sau, dù Cha đã dọn sẵn một bữa tiệc linh đình hòa giải, giống người cha trong dụ ngôn Ðứa Con Hoang Ðàng. Người anh này vẫn chưa quên được quá khứ.

Trên kia, chúng ta thấy tài liệu We Remember của Tòa Thánh có nhắc đến những thiên kiến bài Do-Thái của các Kitô hữu do hoàn cảnh lịch sử tạo ra. Ðộc giả của EWTN Catholic Q & A nhắc lại một lời phát biểu tại Công Ðồng Nicea để hỏi rằng phải chăng đây là khởi đầu cho não trạng bài Do-Thái của người Kitô hữu? Lời phát biểu đó như sau: “Tôi từ bỏ mọi phong tục, nghi lễ, bánh không men và Lễ Chiên của người Do-Thái, các hy lễ, kinh cầu, uớc vọng, thanh tẩy , thánh hoá, và chuộc tội, thánh thi và thánh ca, các tuân thủ và các hội trường, và thực phẩm thức uống của người Do-Thái. Tắt một lời, tôi tuyệt đối từ bỏ bất cứ điều gì là Do-Thái, mọi Luật Lệ, mọi nghi thức và phong tục của họ….” (Stefano Assemani, Acta Sanctorum Martyrum Orientalium at Occidentalium, Vol 1 {Rome 1748}, trang 105).

Giáo Hội không bài Do Thái

Matthew Bunson có lời giải đáp như sau: Giáo hội từng bị nhiều người khác nhau do những nguyên do khác nhau tố giác là bài Do-Thái. Trước hết phải ghi nhận rằng Giáo Hội hiện không và đã từng không bao giờ bài Do-Thái hết. Như Công Ðồng Vatican đã tuyên bố, Giáo Hội “lên án mọi thù hận, bách hại, mọi biểu hiện của chủ nghĩa bài Do-Thái ở bất cứ thời nào và do bất cứ nguồn gốc nào nhằm vào người Do-Thái” (Nostra Aetate, 4). Dù vậy, không ai nghi ngờ sự kiện đã có nhiều thành phần tín hữu Kitô thực hiện nhiều hành vi lịch sử bài Do-Thái, như trong thời Trung Cổ buộc người Do-Thái phải sống trong các khu ghetto; nhiều Kitô hữu từng tham dự vào việc trục xuất người Do-Thái khỏi các nước Âu Châu (như Anh và Tây Ban Nha); và nhiều người Công Giáo đã tham gia các vụ sát hại (pogrom) người Do-Thái tại Ðức và Đông Âu, đặc biệt đã dự phần vào những tội ác tầy trời trong biến bố Diệt Chủng (Holocaust). Tất nhiên Giáo Hội lên án các hành vi ấy, và đa số người Công Giáo ghê tởm chủ nghĩa bài Do-Thái. Cái thực tại lịch sử của thiểu số Công Giáo kia hiện đang được sử dụng để vẽ lên hình ảnh toàn bộ Giáo hội là bài Do-Thái. Nhiều người làm như thế để ô danh Giáo Hội, để cổ động cho những nghị trình trái với giáo huấn của Giáo Hội, hay để bám lấy chủ nghĩa xét lại có tính khoa bảng lịch sử để phá hoại toàn bộ truyền thống của Giáo Hội. Chắc chắn mũi dùi độc địa nhất hiện nay là nhằm vào Ðức Piô XII, mà các cố gắng lâu dài nhân danh người Do-Thái cũng như sự thánh thiện bản thân đang bị hành vạ.

Theo lịch sử, người Do-Thái bị đánh đập, nhục hình, và tố giác bởi những kẻ vô học vì ý niệm cho rằng họ chịu trách nhiệm về cái chết của Ðức Kitô. Giáo hội dạy rằng điều đó không đúng như thế, trái lại rao giảng lời Ðức Kitô trên Thập giá rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Do hậu quả của chủ nghĩa bài Do-Thái đôi lúc rất phổ biến, Giáo Hội thấy khó làm cho nhiều người nhận ra ý niệm này là việc đối xử bất nhân đối với người Do-Thái là một việc sai lầm. Tuyên bố của ngôi vị giáo hoàng không thể nào rõ hơn lời của Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả khi ngài công bố rằng không ai được xách nhiễu người Do-Thái và họ phải được quyền nhượng mãi tài sản. Ấy thế mà văn hoá thời ấy vẫn chung chung bài Do-Thái. Họ chịu nhiều tước đoạt về luật lệ (legal disabilities), bị đẩy ra ngoài hệ thống phong kiến, và là mục tiêu cho nhiều lời kết án man rợ và hết sức nực cười: giết Ðức Kitô, chuốc độc các giếng và nước uống để truyền bệnh dịch, và cử hành những nghi lễ giết người (người ta tố cáo họ giết các thiếu niên Kitô giáo và dùng máu của họ làm bánh không men (như trường hợp William ở Norwich). Lòng thù ghét này càng trở nên nặng nề hơn với sự hiện diện của người Do-thái trong ngành ngân hàng mà người ta kết tội là cho vay nặng lãi. Bởi thế, người Do-Thái thường bị thảm sát vì chủng tộc (pogrom) và buộc phải sống trong những khu riêng (ghettoes) có vây tường trong các thị xã. Những khu này trở thành một nét cố định trong nền văn hóa Âu Châu, cả Rome cũng có. Tuy nhiên nếu so với cuộc Diệt Chủng Hàng Loạt (Holocaust) trong đó sáu triệu người bị giết dưới chế độ Quốc Xã, thì những tàn ác của thời Trung Cổ chẳng thấm thía vào đâu. Trong suốt thời Quốc Xã thống trị, Giáo Hội đã lên tiếng bênh vực người Do-Thái với nhiều vị giáo phẩm cao cấp, như Hồng Y Michael Faulhaber của Munich, nguy đến cả tính mạng. Ðức Piô XI ra tông thư Mit brennender Sorge (1937) tấn công chủ nghĩa Quốc Xã, và Ðức Piô XII ra tay tận tình cứu sống và che chở nhiều người Do-Thái tại Ý và các nơi khác.

Vatican II, trong Ánh Sáng Muôn Dân, đã ghi chú các mối liên hệ đặc biệt giữa người Công Giáo và người Do-Thái, gọi họ là “một dân tộc rất thân thương”. Dưới thời Ðức Gioan Phaolô II, nhiều tiến bộ đã được thực hiện nhằm vươn tới người Do-Thái khắp nơi trên thế giới: ngài ngỏ lời xin lỗi về việc một số Kitô hữu trong quá khứ đã bài người Do-Thái và đôi dòng của Ngài về Cách Thế Ðúng Ðắn Trong Việc Trình bày về người Do-Thái khi Giảng Dạy cũng như trong Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo công bố năm 1985. Cái thực tế có nhiều người Công Giáo thù ghét người Do-Thái và phạm nhiều tội ác khủng khiếp nhằm vào họ không có nghĩa là Giáo Hội Công Giáo bài Do-Thái. Giáo hội như một định chế không bài Do-Thái.

Vũ Văn An

Vietcatholic - VaticanRadio - ĐàiChânLýÁChâu - Đồng Công - CNA - CNS - ANI - SpiritDaily - Zenit - YahooMail - GMail Giesuyeuem.net
Home - Email Liên Lạc - TựĐiểnKinhThánh - Ý Kiến -
ThưViệnLời Nhạc - Kho Tài Liệu - Nối Kết - About Us
===oOo===
Quý vị là vị khách  Chúa Giêsu yêu.
Trang web được thăm viếng lần từ ngày 01/05/2002.
Cám ơn Quý vị đã ghé thăm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho Quý vị.
MLCN - Thanhlinh.net - Prayers-R-Us. In Jesus we trust, In Spirit we pray.