VATICAN VÀ VẤN ĐỀ
DIỆT CHỦNG
Trong bài Vatican Và Vấn Đề Tài Liệu,
ta thấy Ủy Ban Sử Học Do-Thái và Công
Giáo một mặt nằng nặc đòi Vatican, bất
chấp mọi luật lệ riêng của mình, phải mở
cửa mọi văn khố, kể cả những văn khố
thuần túy tôn giáo, một mặt lại cho rằng
dù được phép đọc hết các văn khố vẫn
không nhất thiết giải quyết dứt điểm các
câu hỏi vây quanh vai trò của Tòa Thánh
và nạn Diệt Chủng. Hình như họ đang đi
tìm điều gì khác chứ không hẳn các tài
liệu của văn khố Vatican hay bất cứ văn
khố nào khác. Và phải chăng vấn đề chỉ
được giải quyết khi Vatican nhìn nhận
mình trực tiếp can dự vào biến cố Diệt
Chủng?
Một lịch sử sóng gío và tiêu cực
Phải nhận rằng đấy là chủ trương của
những người theo chủ nghĩa Zionism. Giáo
hội Công Giáo không hẳn không nhận phần
trách nhiệm của mình. Nhưng trách nhiệm
đó đến đâu là điều cần được phân định.
Trong tài liệu Chúng Ta Tưởng Nhớ,
Một Suy Tư về Nạn Diệt Chủng của Toà
Thánh do Đức Hồng Y Edward Idris Cassidy
công bố ngày 16 tháng 3 năm 1998, người
ta thấy liên hệ giữa người Do-Thái và
các Kitô hữu có một lịch sử khá sóng gió
và xét chung khá tiêu cực. Ngay sau khi
Đức Kitô bị đóng đinh, đã có những tranh
luận gay gắt giữa Giáo hội sơ khai và
các nhà lãnh đạo cũng như dân chúng
Do-Thái, là những người vì trung thành
với Lề Luật, đôi khi đã bạo hành chống
lại các giảng viên Phúc Âm và các tín
hũu Kitô đầu hết. Ðầu thời Ðế Quốc Rôma
ngoại giáo, Do-Thái Giáo và Kitô giáo
được bảo vệ như nhau không phân biệt,
nhưng chẳng bao lâu sau Kitô hữu bị nhà
nước Rôma bách hại thảm thương. Khi các
hoàng đế Rôma trở lại Công Giáo, họ vẫn
tiếp tục che chở người Do-Thái. Nhưng
quần chúng Kitô hữu, khi tấn công các
đền thờ ngoại giáo, đôi lúc xâm phạm cả
đến các hội đường Do-Thái, vì ít nhiều
bị các giải thích sai lạc về Tân Ước ảnh
hưởng. Những giải thích sai lạc này cứ
thế loan truyền tạo nên cả môt làn sóng
bài Do-Thái kéo dài trong lịch sử, dẫn
đến việc người Do-Thái nói chung bị đối
xử phân biệt, đôi khi bị trục xuất hoặc
bị buộc phải biến thành Công giáo.
Trong thế giới “Kitô giáo” cho đến tận
cuối thế kỷ 18, những ai không phải là
Kitô hữu không phải lúc nào cũng được
hưởng đầy đủ các quyền lợi luật pháp. Dù
vậy, người Do-Thái trong khắp thế giới
Kitô giáo vẫn duy trì các truyền thống
tôn giáo và các tập tục cộng đoàn của
họ. Và do đó họ bị nhìn một cách hoài
nghi, không đáng tin.Trong những lúc đói
kém, chiến tranh, dịch bệnh hay căng
thẳng xã hội, thiểu số Do-Thái thường bị
coi như dê thế tội và trở thành nạn nhân
của bạo lực, cướp bóc và ngay cả sát hại
nữa.
Cuối thế kỷ 18 qua đầu thế kỷ 19, người
Do-Thái nói chung đạt được thế đứng
ngang hàng với các công dân khác tại hầu
hết các nước và một số thành viên còn
nắm giữ những chức vụ quan trọng trong
xã hội. Nhưng cũng cùng trong một đồng
văn lịch sử ấy, nhất là trong thế kỷ 19,
một chủ nghĩa quốc gia giả hiệu và quá
khích xuất hiện. Trong bầu không khí
thay đổi xã hội đầy nhiễu nhương, người
Do-Thái thường hay bị tố cáo nắm giữ
nhiều ảnh hưởng bất cân với số người của
họ. Từ đó lan tràn ra hầu hết Âu Châu
một chủ nghĩa bài Do-Thái, nặng về xã
hội và chính trị hơn là tôn giáo. Ðồng
thời, xuất hiện nhiều học thuyết bác
khước tính đơn nhất của loài người, cho
rằng nguyên thủy đã có sự khác biệt
chủng tộc. Qua thế kỷ 20, Chủ Nghĩa Quốc
Xã tại Ðức sử dụng các ý niệm này như
một căn bản khoa học để phân biệt một
bên điều họ gọi là các chủng tộc Aryan
Phương Bắc (Nordic-Aryan) và một bên là
các chủng tộc bị họ coi là hạ đẳng. Hình
thức cực đoan của chủ nghĩa quốc gia
càng lên cao tại Ðức vì những thất bại
trong Thế Chiến I và những điều kiện
khắc nghiệt do kẻ chiến thắng đặt để.
Hậu quả là nhiều người Ðức coi chủ nghĩa
Quốc Xã như một giải pháp cho các vấn đề
của đất nước họ, do đó họ cộng tác chính
trị với phong trào ấy.
Phản đối Quốc Xã ngay từ đầu
Giáo hội Công Giáo tại Ðức phản đối chủ
nghĩa ấy ngay từ những ngày đầu, qua lời
giảng dạy của hàng giáo sĩ, qua giáo
huấn công khai của các giám mục, và qua
các bài viết của các nhà báo giáo dân
Công giáo. Ngay trong tháng 2 và 3 năm
1931, các Đức Hồng Y Bertram của
Breslau, Faulhaber và các Giám Mục
Bavaria, Cologne cũng như Freiburg đã
cho công bố các thư mục vụ lên án chủ
nghĩa Quốc Xã trong việc ngẫu tượng hóa
chủng tộc và nhà nước. Các bài giảng nổi
tiếng trong Mùa Vọng của Đức Hồng Y
Faulhaber năm 1933, năm Quốc Xã lên cầm
quyền, ngỏ với không những chỉ người
Công giáo mà có cả người Thệ Phản lẫn
Do-Thái dự thính, rõ ràng đã lên án bộ
máy tuyên truyền chống Do-Thái của Quốc
Xã.
Người ta cũng không quên linh mục
Bernard Lichtenberg, Cha sở Nhà Thờ
Chánh Tòa Berlin, lên tiếng yêu cầu mọi
người cầu nguyện cho người Do-Thái. Sau
này, ngài bị Quốc Xã giam tại Dachau và
chết tại đó. Ðức Piô XI lên án chủ
nghĩa này qua tông thư Mit brennender
Sorge, được đọc trong tất cả các nhà
thờ Ðức vào Chúa Nhật Chịu Nạn năm 1937.
Với các người hành hương Bỉ ngày 6 tháng
9 năm 1938, đức Piô XI khẳng định rằng
“Không thể chấp nhận được chủ nghĩa bài
Do-Thái. Chúng ta tất cả đều là Do-Thái
theo nghĩa thiêng liêng”. Ðức Piô XII
trong tông thư đầu tiên Summi
Pontificatus (20/10/1939) lên tiếng
cảnh cáo các học thuyết từ chối tính đơn
nhất của loài người và thần thánh hoá
nhà nước, tất cả sẽ dẫn đến “giờ phút
đen tối” thực sự.
Ý thức hệ Quốc Xã
Như thế cần nhận ra sự khác nhau giữa
chủ nghĩa bài Do-Thái (anti-Semitism)
dựa vào các học thuyết trái với giáo
huấn của Giáo Hội, một giáo huấn vốn chủ
trương tính đơn nhất của loài người và
phẩm giá bằng nhau của mọi chủng tộc và
con người, và những cảm quan bất tin
tưởng và thù nghịch vốn có từ xưa mà ta
gọi là chủ nghĩa bài Do-Thái giáo
(anti-Judaism). Ý thức hệ Quốc Xã còn
đi xa hơn theo nghĩa nó từ khước không
nhìn nhận một thực tại siêu việt làm
nguồn gốc sự sống và tiêu chuẩn của sự
thiện luân lý. Hậu quả là một nhóm
người, và cái nhà nước mà nhóm này tự
đồng hóa với, tự cấp cho mình vị thế
tuyệt đối và nhất quyết loại bỏ chính sự
hiện hữu của dân tộc Do-Thái, một dân
tộc được mời gọi làm chứng cho Thiên
Chúa duy nhất và Lề Luật Giao Ước. Trên
bình diện suy tư thần học, ta không thể
bỏ qua sự kiện này là không ít đảng viên
Quốc Xã không những khinh ghét ý niệm
Thiên Chúa Quan Phòng tác động vào công
việc nhân loại , mà còn chứng tỏ họ thù
ghét chính Thiên Chúa nữa. Theo luận lý,
một thái độ như thế tất yếu sẽ dẫn tới
việc từ bỏ Kitô giáo và ý muốn tiêu diệt
Giáo Hội hay ít nhất cũng khuất phục
Giáo Hội dưới quyền lợi của Nhà Nước
Quốc Xã.
Chính cái ý thức hệ quá khích trên đã
trở thành nền tảng cho các biện pháp
được đưa ra, trước nhất để đẩy người
Do-Thái ra khỏi nhà họ và sau đó tiêu
diệt họ. Biến cố Shoah vì thế là
công việc của một chế độ hiện đại hoàn
toàn tân ngoại giáo. Cái gốc rễ bài
Do-Thái của nó nằm ngoài Kitô giáo, cho
nên khi theo đuổi các mục tiêu của mình,
nó không ngần ngại chống đối Giáo Hội và
bách hại các thành viên của Giáo Hội.
Nhưng người ta có thể hỏi cơn bách hại
người Do-Thái của Quốc Xã há đã không
trở nên dễ dàng nhờ các thiên kiến vốn
có trong tâm trí các Kitô hữu đó sao!
Các cảm quan bài Do-Thái nơi các Kitô
hữu há đã không làm họ ít nhậy cảm, ngay
cả dửng dưng trước chiến dịch bách hại
người Do-Thái được đưa ra khi Quốc Xã
lên nắm chính quyền đó sao!
Bất cứ câu trả lời nào cho các câu hỏi
trên đây cũng phải lưu ý rằng ta đang
bàn đến lịch sử các thái độ và các cách
suy nghĩ của người ta, vốn chịu ảnh
hưởng từ nhiều phía. Hơn nữa, nhiều
người không biết chút gì về “giải pháp
chung cuộc” đang được đưa ra lúc ấy
chống lại cả một dân tộc; nhiều người
khác sợ cho chính bản thân và những
người thân cận của mình; một số lợi dụng
thời cơ; số khác bị lay động vì ganh
ghét. Câu trả lời vì thế cần nhằm từng
trường hợp một. Tuy nhiên để làm việc
đó, điều cần là phải biết đích xác đâu
là động lực của người ta trong một hoàn
cảnh cá biệt.
Đóng cửa biên giới
Trước nhất, các nhà lãnh đạo Ðệ Tam Liên
Bang tìm cách trục xuất các người
Do-Thái. Không may, các chính phủ của
một số quốc gia Tây Phương vốn theo
truyền thống Kitô giáo, kể cả một số
nước Bắc và Nam Mỹ, ngần ngại không chịu
mở biên giới đón nhận những người
Do-Thái bị bách hại này. Mặc dù họ không
thấy trước được việc các chức sắc Quốc
Xã tiến bao xa trong các ý định tội ác
của chúng, các nhà lãnh đạo các quốc gia
này biết rất rõ các khó khăn và nguy
hiểm mà người Do-Thái sinh sống trong
các lãnh thổ của Ðệ Tam Liên Bang đang
phải chịu đựng. Việc đóng biên giới
không tiếp nhận di dân Do-Thái trong các
hoàn cảnh như thế, bất kể do lòng thù
ghét hay ngờ vực Do-Thái, do nhát gan
chính trị hoặc do thiển cận, hay do vị
kỷ dân tộc, đều đã đè một gánh khá nặng
lên lương tâm các nhà cầm quyền lúc ấy.
Trong các xứ bọn Quốc Xã thi hành việc
trục xuất hàng loạt, sự tàn bạo chung
quanh những vụ trục xuất cưỡng bức những
con người tuyệt vọng này lý ra phải
khiến người ta hoài nghi mới đúng. Các
Kitô hữu có giúp đỡ trong khả năng những
con người bị bách hại này, và đặc biệt
các người Do-Thái bị bách hại này hay
không?
Mở cửa tâm hồn
Nhiều người có, nhiều người không. Những
ai giúp cứu sống người Do-Thái trong khả
năng của họ, dù bị nguy đến chính tính
mạng mình, phải được nhắc đến. Trong và
sau Chiến Tranh, các cộng đồng và các
lãnh tụ Do-Thái đã ngỏ lời cám ơn những
gì người ta đã làm cho họ, kể cả những
gì Đức Piô XII thân hành làm hay qua các
đại diện của ngài làm để cứu hàng trăm
ngàn mạng sống Do-Thái. Rất nhiều các
giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân
Công Giáo đã được Nhà Nước Israel tuyên
dương vì lý do trên.
Tuy nhiên, như Đức Gioan Phaolô II đã
nhìn nhận, bên cạnh những con người can
đảm trên, sự đối kháng thiêng liêng và
hành động cụ thể của nhiều Kitô hữu khác
không hề là điều người ta chờ mong từ
các Môn Ðệ của Ðức Kitô. Ta không thể
biết có bao nhiêu Kitô hữu trong các xứ
bị chiếm đóng hoặc bị cai trị bởi quyền
lực Quốc Xã hay đồng minh của chúng tuy
kinh hồn trước sự mất mạng của hàng xóm
Do-Thái nhưng đã không mạnh bạo đủ để
lên tiếng phản kháng chống lại. Ðối với
Kitô hữu, cái gánh nặng lương tâm này
của các anh chị em mình trong Thế Chiến
II phải là lời mời gọi thống hối.
Tài liệu viết tiếp :”Chúng tôi sâu xa
hối tiếc các sai lầm và thiếu sót của
con cái Giáo Hội. Chúng tôi xin muợn lời
của Công Ðồng Vatican II trong tuyên
ngôn Nostra Aetate làm lời của
riêng mình mà khẳng nhận không hàm hồ
rằng “Giáo hội… ý thức được gia tài
chung với người Do-Thái, và được tác
động bởi tình yêu thiêng liêng từ Phúc
Âm chứ không do các xem sét chính trị,
lên án lòng thù ghét, sự bách hại và
các biểu hiện bài Do-Thái nhằm vào người
Do-Thái ở bất cứ thời nào và do nguồn
gốc nào”.
“Chúng tôi nhớ lại và tuân thủ điều Ðức
Gioan Phaolô II đã tuyên bố khi nói
truyện với các lãnh tụ cộng đồng Do-Thái
tại Strasbourg năm 1988: “Tôi xin nhắc
lại với qúi vị sự lên án mạnh mẽ nhất
(của tôi) đối với chủ nghĩa bài Do-Thái
và chủ nghĩa chủng tộc, là những chủ
nghĩa đi ngược lại các nguyên tắc của
Kitô giáo”.
Sau đó Tài liệu mở rộng đến những nhóm
người khác từng chịu đau khổ do bàn tay
con người tạo nên: “Giáo hội Công Giáo
vì thế từ bỏ mọi hình thức bách hại
chống lại một dân tộc hoặc một nhóm nhân
bản nào bất cứ nơi đâu và bất cứ khi
nào. Giáo hội tuyệt đối lên án mọi hình
thức diệt chủng, cũng như mọi ý thức hệ
duy chủng tộc đưa lại các hình thức diệt
chủng trên. Nhìn lại thế kỷ qua, chúng
tôi hết sức đau buồn bởi việc bạo hành
trùm phủ lên cả một nhóm dân tộc và quốc
gia. Ðặc biệt chúng tôi nhớ đến vụ thảm
sát người Armenia, biết bao nạn nhân
khác tại Ukraine trong thập niên 1930,
nạn diệt chủng đối với người Gypsies và
những thảm trạng diệt chủng khác tại Mỹ
Châu, Phi Châu và vùng Balkans. Chúng
tôi cũng không quên hàng triệu nạn nhân
của ý thức hệ độc trị tại Liên Bang Xô
Viết, tại Trung Cộng, Cambodia và các
nơi khác. Chúng tôi cũng không quên thảm
kịch tại Trung Ðông. Và trong khi đang
suy tư như thế này, “nhiều con người vẫn
còn là nạn nhân của anh em mình”.
Người Do Thái là anh chị em tôi
Trở về với Cộng Ðồng Do-Thái, Tài liệu
nói thêm: “Nhìn về tương lai các mối
liên hệ giữa Kitô hữu và người Do-Thái,
trước nhất chúng tôi kêu gọi anh chị em
Công Giáo của chúng tôi canh tân ý thức
của mình về nguồn cội Do-Thái trong đức
tin của mình. Chúng tôi yêu cầu họ nhớ
rằng đức Giêsu vốn là dòng dõi David;
rằng Trinh Nữ Maria và các Tông Ðồ đều
thuộc dân tộc Do-Thái; rằng Giáo Hội hút
được nhựa sống từ rễ cây ôliu tốt lành
vốn được tháp vào các nhành ôliu dân
ngoại ( xem Thư La Mã 11:17-24); rằng
người Do-Thái là anh chị em thân thương
của chúng tôi, đúng hơn theo một nghĩa
nào đó là “anh cả của chúng tôi”.
Ðoạn cuối cùng của tài liệu phát biểu
như sau: “Ở cuối thiên niên kỷ này, Giáo
Hội Công Giáo muốn bày tỏ nỗi buồn sầu
sâu sắc của mình đối với những thiếu sót
của con cái thuộc mọi thời đại. Ðây là
một hành vi thống hối (teshuva), bởi vì
trong tư cách thành viên Giáo Hội, chúng
ta liên kết với các tội lỗi cũng như các
công phúc của tất cả các con cái Giáo
Hội. Với một lòng kính trọng và thương
cảm sâu xa, Giáo Hội tiếp cận kinh
nghiệm diệt chủng, shoah, mà dân
tộc Do-Thái đã phải chịu trong Thế Chiến
II. Ðây không phải chỉ là vấn đề ngôn từ
mà thôi, nhưng quả là một cam kết trói
buộc. ‘Nếu chúng ta không dấn thân cam
kết rằng sự ác không thể thắng vượt sự
thiện như đã từng xẩy ra cho hàng triệu
con dân Do-Thái, chúng ta sẽ liều mình
khiến cho các nạn nhân của những cái
chết tàn bạo nhất chết một lần nữa… Nhân
loại không thể cho phép tất cả những
điều đó xẩy ra một lần nữa”. Sau cùng,
Tài liệu liên kết chủ nghĩa bài Do-thái
giáo (anti-judaism) với chủ nghĩa bài
Do-Thái (anti-Semitism) lại với
nhau, khi nói rằng: “những hạt giống hư
thối của chủ nghĩa bài Do-thái-giáo và
chủ nghĩa bài Do-Thái sẽ không bao giờ
được phép bén rễ trong tâm hồn nhân
loại”.
Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo và Do
Thái
Giám mục Michael Putney của Tổng Ðịa
Phận Brisbane, trên tam cá nguyệt san
The Australasian Catholic Record, số
tháng 7 năm 1999, có thuật lại cuộc gặp
gỡ của Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế giữa Công
Giáo và Do-Thái tại Vatican, tháng 3 năm
1998 liền ngay sau khi tài liệu trên
được công bố. Trong cuộc gặp gỡ này,
Geoffrey Wigoder thuộc Ủy Ban Liên Tôn
Israel đã nói với đức Gioan Phaolô II
rằng: “người ta cảm thấy lời tự phê, dù
rất quan trọng, đã không đi xa đủ và sự
nối kết giữa lịch sử lâu dài của việc
điều kiện hóa bài Do-Thái dưới sự đỡ đầu
của Kitô giáo với chủ nghĩa dửng dưng
phổ quát và ngay cả hợp tác khắp Âu Châu
trong thời Diệt Chủng đã không được nói
lên một cách không hàm hồ và rõ ràng đầy
đủ”. Còn Phó Chủ Tịch của Hiệp Hội
Do-Thái Thế Giới (World Jewish
Congress), Tiến Sĩ Gerhard Reigner, thì
đưa ra lời phê bình sau: “Tài liệu cố
gắng miễn trừ chính giáo hội khỏi mọi
trách cứ và chỉ tố giác các cá nhân Kitô
hữu hay ‘thế giới Kitô giáo’ phải chịu
trách nhiệm đối với ‘những giải thích
sai lạc và bất công của Tân Ước liên
quan tới dân tộc Do-Thái và các tội lỗi
bị tố giác của họ là những thứ đã làm
phát sinh ra các cảm quan thù nghịch
chống lại người Do-Thái’”.
Đức Hồng Y Cassidy đã cố gắng trả lời
phần nào cho các phẩm bình này. Ngài cho
rằng hạn từ giáo hội trong tài
liệu, đối với người Công Giáo, có ý chỉ
về hiền thê huyền nhiệm và không sai lầm
của Ðức Kitô, trong khi hạn từ con
cái của giáo hội bao hàm mọi thành
viên của giáo hội bất luận ở bình diện
nào. Ðây là một vấn đề thường xẩy ra đối
việc Vatican sử dụng ngôn từ khi nói đến
chính giáo hội và các thành viên của
giáo hội. Chính giáo hội thì luôn luôn
được miễn trừ khỏi tội; tội chỉ có nơi
các thành viên của giáo hội mà thôi. Nếu
người đọc nghĩ rằng ‘giáo hội’ ám chỉ
hàng giáo phẩm hay Vatican, thì đương
nhiên họ sẽ bị lẫn lộn khi đọc các văn
kiện chính thức của Công giáo.
Khỏi nói thì ai cũng thấy việc sám hối
của Giáo Hội Công Giáo không làm cho mọi
giới Do-Thái hài lòng hoàn toàn. Ðiều
này nghĩ cho cùng cũng dễ hiểu vì một
lịch sử lâu dài như lịch sử liên hệ giữa
Kitô giáo và Do-Thái không thể nhất đán
một sớm một chiều có thể sáng tỏ ngay
được. Có điều, trong khi Giáo Hội Công
Giáo ráng xích gần lại người Do-Thái,
thì một số các nhà lãnh đạo của họ vẫn
khư khư những thiên kiến cũ. Thực thế,
Tập San Catholic World Report,
số Tháng Mười Năm 1999, tường trình rằng
tại một hội nghị về Các Mối Liên Hệ Công
Giáo và Do-Thái họp tại Tel Aviv vào
tháng Bẩy cùng năm, một đại biểu của
Vatican đã phát biểu rằng các căng thẳng
giữa hai tôn giáo không phải chỉ do điều
người ta gọi là chính sách bài Do-Thái
của Công-Giáo mà thôi, mà cũng do sự thù
nghịch của Do-Thái đối với Kitô Giáo.
Linh mục David Yager nhấn mạnh rằng Giáo
Hội Công Giáo không bài Do-Thái. Các nhà
lãnh đạo Giáo Hội xưa nay vẫn cố gắng
loại trừ mọi dấu vết của ý thức hệ bài
Do-Thái khỏi các định chế của Giáo Hội,
trong khi ấy chính phủ Israel vẫn còn
chứa chấp các thiên kiến chống Công-Giáo
gây hại cho viễn tượng đưa lại những mối
liên hệ thân hữu hơn. Ðặc biệt, Linh Mục
Yager trích dẫn hàng loạt những lời kết
án do các nhà lãnh đạo Do-Thái đưa ra tố
cáo Ðức Piô XII hợp tác với chính phủ
Quốc Xã trong Thế Chiến II.
Đổ lỗi, dấu tội
Cũng trên Số báo trên, Tập San
Catholic Worl Report có đăng một số
ý kiến bạn đọc. Trong đó có ý kiến của
Jerome Kavaney, ở Fairchild, Wisconsin,
tựa là “Pointing fingers, hiding
guilt” (đổ lỗi, dấu tội) như sau:
Bạn tự hỏi tại sao Ðạo Trưởng Hier lại
đưa ra những lời cáo buộc có tính mạ lỵ
về “sự im lặng” của Giáo Hoàng Piô XII
(Xã Luận, July 1999). Tôi tin rằng người
Do-Thái đang chỉ tay lên án người khác,
để giấu giếm mặc cảm tội lỗi của chính
mình bởi rất nhiều người trong số họ
biết chuyện gì đang xẩy ra lúc đó nhưng
đã không làm gì cả, bất cứ vì lý do
gì”.
Tại Ðức năm 1933, con số người Ðức gốc
Do-Thái lên đến 525,000 người gồm cả
những người lãnh đạo các ngành văn
chương, y khoa, khoa học, và tài chánh.
Phần đông những người này muốn được coi
là người Ðức, tự hào mình là người Ðức
gốc Do-Thái. Khi Ðạo trưởng Stephen
Wise, một trong những nhà lãnh đạo có
ảnh hưởng và được kính trọng nhất trong
cộng đồng Do-Thái tại Mỹ, tổ chức một
cuộc biểu tình tại New York để phản đối
việc Quốc Xã đối xử với người Do-Thái,
ông ta đã nhận được một thông điệp của
các đạo trưởng lãnh đạo từ Ðức nói là
đừng có mắc mớ vào vì cho rằng các người
Do-Thái tại Mỹ làm như thế chỉ là để
phục vụ các mục tiêu riêng của họ, và
làm như thế họ chỉ phá hoại nước Ðức, là
nước mà người Do-Thái tại Ðức rất yêu
mến.
Theo số báo tháng 7/8 của tờ American
Heritage, năm 1933, 37,000 người
Do-Thái ra khỏi Ðức, nhưng trong không
khí tương đối yên ổn vào năm sau, 16,000
đã trở lại. Nói cho ngay, người ta phải
hiểu rằng lúc đó chưa ai dự cảm được là
việc bách hại của Quốc Xã lại sẽ dẫn đến
việc diệt chủng (holocaust). Các hành
động của chính phủ Ðức phần đông được cả
các nạn nhân lẫn khách bàng quang hiểu
như là việc trở lại cái hình thức bách
hại của các thế kỷ trước, chứ không phải
như những bước chuẩn bị dẫn đến việc
diệt chủng. Người Do-Thái ngồi xổm chờ
cho qua cơn bão, như họ vẫn từng làm
trong quá khứ.
Độc quyền “diệt chủng”
Kavaney nhấn mạnh rằng: “Nếu người
Do-Thái nghĩ rằng họ có độc quyền đối
với đau khổ hoặc có bản quyền đối với
hạn từ ‘holocaust’ thì quả là lầm; họ
nên ra khỏi họ để vươn tới những người
hiện đang chịu những ‘holocausts’ tương
tự tại Balkans, Sudan, Rwanda, Cambodia,
và các nơi khác trên thế giới. Các tổ
tiên Ái Nhĩ Lan của riêng tôi từng bị
phân thây cách có hệ thống bởi chính
sách diệt chủng của người Anh đối với Ái
Nhĩ Lan. Họ chết không phải trong các lò
thiêu của tử trại mà chết trong các rạch
hào của Kilala và Skibbereen. Và họ bị
trừ khử cùng một lý lẽ: vì chủng tộc và
tôn giáo của họ. Tôi xưa nay vẫn tự coi
mình là một thứ ‘diều hâu Do-Thái’ cho
đến khi người ta bắt đầu chống báng cây
thánh giá được dựng lên trước đó tại
Auschwitz để tôn kính những người không
phải là Do-Thái chết tại đó. Chín triệu
thường dân không phải là Do-Thái từng bị
Quốc Xã sát hại. Cộng với ba triệu tù
binh chiến tranh Xô Viết”.
Gavin Stevens ở Memphis, Tennessee thì
cho rằng cái thứ đại kết bằng bất cứ giá
nào đã đưa lại ảo tưởng khiến người ta
quên cả thực tại. Bởi nó thúc giục người
ta quên đi lịch sử, coi những vấn đề
khúc mắc và các khác biệt tôn giáo là
điều không quan trọng. Mục tiêu để tạo
ra một cảm thức giả tạo về một thứ ‘tình
anh em’ dân chủ, mà nội dung chính xác
chẳng ai biết là cái quái gì. Nhờ thế,
cái Do-Thái giáo của Talmud, một thứ
Do-Thái giáo thù ghét Kitô giáo, đấng
sáng lập ra nó là Ðức Giêsu, Mẹ Ngài và
Giáo hội, đã được phép mặc tình mạ lỵ và
vu khống vô tội vạ. Sự thù ghét ấy có
ngay trong Talmud và tiếp tục sống với
lịch sử. Kitô giáo và Kitô hữu hiểu điều
đó đã 500 năm nay.
Ðối với John Loranger ở Sparks, Nevada,
căn cứ vào sự kiện Ðức Piô XII cứu sống
rất nhiều người Do-Thái (ít nhất 800,000
người theo Bách Khoa Từ Ðiển World
Book), thì những lời tố cáo chống lại
Ngài tệ nhất phải được coi là quỉ quái,
mà nhẹ ra cũng là khùng điên. Cần phải
nhớ rằng không phải chỉ có người Do-Thái
bị Quốc Xã sát hại: có ít nhất năm triệu
người không phải là Do-Thái cũng đã bị
bọn chúng bức tử. Sự kiện ấy kẻ thù của
Ðức Piô XII muốn mọi người đừng có nhớ.
Nếu điều được gọi là sự im lặng của Ngài
nhất thiết bao gồm cả việc làm ngơ trước
cái chết của hàng triệu người Công giáo
nữa, thì điều ấy rõ ràng đã làm những
lời tố cáo của họ càng trở nên vô lý hơn
người ta tưởng.
Nạn nhân Cộng Sản thì sao?
Cũng cần chú ý một điều: những người
chống báng kia không muốn nghe nói về
các nạn nhân của chủ nghĩa Cộng sản, mà
con số vượt rất xa con số 11 triệu người
bị Quốc Xã giết chết. Tại sao họ không
muốn nghe chuyện đó? Bởi vì ngoài lòng
thù ghét đối với Giáo hội Công giáo ra,
họ muốn thuyết phục để thế giới tin rằng
mọi cái ác chính trị đều do phe hữu mang
lại. Hai mươi năm nữa, rất có thể thế
giới sẽ tỉnh ngộ về nạn phá thai, cũng
như họ đã tỉnh ngộ về nạn nô lệ và những
tội ác khác trong quá khứ. Nhưng bạn
đừng ngạc nhiên nếu một thế hệ mới những
kẻ láo khoét sẽ bắt đầu viết những cuốn
sách và những vở kịch về Ðức Gioan
Phaolô II, nhạo báng sự im lặng của Ngài
trước thảm trạng hàng triệu trẻ sơ sinh
vô tội bị giết oan (vì phá thai). Những
lời phỉ báng Ðức Piô XII hiện nay cũng
vô lý chẳng kém. Tuy nhiên, trong câu
chuyện này vẫn có điểm tích cực ở chỗ
những thù ghét chống Ðức Piô XII cũng
như các Giáo Hoàng vĩ đại của thế kỷ này
đã chứng tỏ các ngài quả là những Kitô
hữu chân thực. Vì “nếu thế gian ghét
các con, các con hãy biết rằng nó đã
ghét Ta trước. Nếu các con thuộc về thế
gian, thế gian tất đã yêu thương các
con; nhưng bởi vì các con không thuộc về
thế gian, nhưng Ta đã chọn các con từ
trong thế gian, nên nó thù ghét các
con”.
Chủ nghĩa Xion (zionism)
Tưởng cũng nên thêm ở đây cái bộ mặt hai
chiều (double standard) của những người
Zionist. Trong khi họ đòi Đức Piô XII
phải lên tiếng đích danh lên án Quốc Xã,
dù thực tế Ngài đang ở trong tình trạng
gần như bị giam lỏng, thì chính họ lại
từ khước không chịu lên tiếng ít nhất để
phê phán các hành động tàn ác của Nhà
Nước Do-Thái tại West Bank, Gaza và Nam
Lebanon. Một người nổi tiếng sống sót
khỏi Nạn Diệt Chủng là Elie Wiesel
(người, theo Cornwell, đã đưa
Friedlander vào đường sự nghiệp), được
người ta yêu cầu phát biểu ý kiến về
Intifada, một phong trào nổi dậy của
người Palestine trong các vùng Do-Thái
chiếm đóng tại West Bank và Gaza. Ông ta
đã từ chối không kết án chính sách đối
xử bất nhân đối với người Palestine của
Nhà Nước Do-Thái, một đối xử đã được các
nhóm nhân quyền như Ân Xá Quốc Tế
(Amnesty International) và chính Liên
Hiệp Quốc thu thập tài liệu đầy đủ. Lý
do được Wiesel nêu ra là mặc dù được
sống yên ổn tại Phương Tây theo Kitô
giáo, câu trả lời của ông có thể có lợi
cho kẻ thù của Do-Thái. Không phải chỉ
có Wiesel, đại đa số các lãnh tụ Zionist
tại Mỹ đã im hơi lặng tiếng đối với kỷ
lục xâm phạm nhân quyền của Nhà Nước
Do-Thái. Nhưng họ lại to tiếng nhất
trong việc kết án Pacelli! Họ sẽ nghĩ
sao nếu giờ đây các nhà trí thức Công
giáo lên tiếng tố giác Do-Thái giáo phải
chịu trách nhiệm về tội ác của Stalin,
bởi vì rất nhiều lãnh tụ Bolshevik vốn
là người Do-Thái (xem Stuart Kahan,
The Wolf of the Kremlin và Malcolm
Muggeridge’s, Winter in Moscow).
Chắc họ sẽ phản đối ầm ĩ. Thực sự Karl
Marx, ông tổ chủ nghĩa cộng sản, và Leon
Trotsky, một lãnh tụ Bolshevik sau trở
thành kẻ thù của Stalin, đều là người
Do-Thái, trong khi đại họa của thế giới
là Vladimir Lenin vốn nửa người là
Do-Thái. Người ta tự hỏi tại sao các nhà
Zionist, theo tờ London Daily Express
(24/03/1934), trong cuộc đại hội toàn
thế giới, đã chọn Ðức để tấn công mà lại
đồng thời không chịu chọn cả Liên Bang
Sô Viết, nơi biết bao Kitô hữu cả tả lẫn
hữu đang bị phanh thây? Và hỏi liệu các
nhà Zionist có hay chăng bất cứ một giải
thích nào cho sự im hơi lặng tiếng của
mình trước nạn diệt chủng của Stalin đối
với quảng đại quần chúng Kitô hữu? Người
ta ước lượng rằng dưới ‘Ðế quốc tội ác’
Cộng Sản, hàng chục triệu người đã chết
oan. Trên địa hạt truyền thông, một
trong những lời chỉ trích đức Piô nặng
nề nhất chính là tờ New York Times,
từ lâu vốn là bộ máy thông tin sai lạc
của người Zionists và là người biện hộ
trâng tráo cho những sai lầm của Nhà
Nước Do-Thái, mới đây người ta tiết lộ
rằng phóng viên tại Liên Bang Sô Viết
của tờ này, ông Walter Duranty, nguyên
gốc Anh nay đã qua đời, chính là một cò
mồi cho bộ máy tuyên truyền của Stalin.
Vụ diệt chủng/đói kém trong các năm
1932-1933 tại Ukraine là một trong những
thảm họa lớn nhất trong lịch sử do con
người tạo ra. Ðồ tể của Stalin trong tội
ác tầy trời chống nhân loại này chính là
Lazar Kaganovich. Tên này vốn là một
người Do-Thái cũng là một trong những
người ký vào lệnh diệt chủng hơn 25,000
sĩ quan công giáo Ba-Lan trong vụ thảm
sát tại Rừng Katyn mùa Xuân 1940. Hàng
triệu nông dân thiệt mạng trong các vụ
cưỡng bức tập thể ở Ukraine. Nhưng
New York Times không những bỏ qua
những chuyện ấy mà còn tìm cách che đậy
nữa. Thảm họa ấy được tờ báo gọi “phần
lớn là tầm phào” (mostly bunk). Còn các
vụ Stalin xử thanh trừng trong các năm
1928, 1934 và 1936 được tờ báo phúc
trình như “để phục vụ công lý”. Trong
khi đó, trong số ra ngày 17 tháng 7 năm
1990, tờ Washington Times tường
trình chỉ có một triệu người Do-Thái
chết tại Auschwitz chứ không phải bốn
triệu như các người Zionists nguyên thủy
vẫn tuyên bố. Ba trăm ngàn người không
phải là Do-Thái cũng đã chết tại đó. Các
nhà nghiên cứu tại đền kỷ niệm Yad
Vashem tại Do-Thái cũng nhìn nhận con số
mới trên là đúng. Nếu quả điều này đúng,
thì con số 6 triệu người Do-Thái chết
dưới chế độ Quốc Xã do phe Zionist
nguyên thủy đưa ra hẳn phải trừ đi phân
nửa. Và vì thế người ta phải đặt nghi
vấn: “Tại sao những người Zionists này
đã phóng đại con số nguyên thủy các nạn
nhân Do-Thái lên như thế?”.
Tự mâu thuẫn
Riegner mà chúng tôi đã nhắc trên đây
cũng khó tránh được cái lỗi hai mặt
tương tự. Linh mục A. Graham S.J, một
trong bốn thành viên trong ban ấn hành
bộ tài liệu thời chiến của Vatican, khi
nhận định về chiến dịch công kích Đức
Piô XII, cho biết Hội Ðồng Các Giáo Hội
Thế Giới, dưới sự lãnh đạo của Tổng thư
ký Visser’t Hooft, đã quyết định không
công khai lên án Quốc Xã, nhưng âm thầm
triển khai các kế hoạch giúp người
Do-Thái của mình. Hội Hồng thập tự Quốc
tế có trụ sở tại Geneva cũng thế: Nhiều
thành viên muốn có lời kết án công khai
trước các tàn ác dã man của Quốc Xã,
nhưng Hội đã đi đến kết luận rằng một
phản đối công khai a) sẽ không đem lại
hiệu quả nào, và b) nó còn phương hại
đến các điều lợi mà Hội đang thực hiện
cho các người bị giam giữ. Không ai ngày
nay đi tra vấn sự hợp lý của các quyết
định trên. Nhưng lại chĩa mũi dùi công
kích vào Đức Piô XII là người có cùng
một quyết định. Trong phản ứng riêng của
mình đối với quyết định tiêu cực (không
công khai phản đối) của Hồng Thập Tự,
chính đại diện tại Geneva của Tổng Hội
Do-Thái Thế Giới (World Jewich
Congress), Gerhart Riegner, đã chấp nhận
tính cách hợp lý thích đáng của nó. Nếu
có điều cần làm để cứu các người Do-Thái
đang bị đe dọa, thì điều đó cần được
theo dõi, thay vì phản đối: ‘Tôi tin
rằng – ông ta (Carl Burckhardt) nói với
Ðại diện Ủy Ban - phản đối chỉ cần trong
trường hợp thực sự không còn gì khác
phải làm trong lúc ấy. Nhưng nếu ai đó
vẫn còn có thể có một chút ảnh hưởng
nào đó và họ muốn tự chế không muốn phản
đối, thì điều cần là phải hành động chứ
không phải tự mãn với việc thụ động ghi
chép những tin tức về người bị đầy ải’.
Quan điểm của Riegner, chuộng hành động
hơn lời nói, quả trái ngược với ám ảnh
trổi vượt hiện nay muốn có những phản
kháng công khai, như thể những phản
kháng ấy là những mục đích tự tại không
bằng.”(How to Manufacture a Legend:
The Controversy over the Alleged Silence
of Pope XII in World War II). Ấy thế
mà nay, Riegner đang góp phần vào chiến
dịch công kích Đức Piô XII một cách khá
mạnh mẽ, tố cáo ngài là mặc dù biết rõ
mức độ và phạm vi khủng khiếp của
Holocaust, mà vẫn im hơi lặng tiếng
(xem thêm nhận định của ông nhân dịp
công bố tài liệu We Remember của
Tòa Thánh).
Thánh Do Thái hay Thánh Công Giáo
Hội chứng độc quyền đối với Holocaust
của những người Zionists, như nhận định
của Kavaney trên đây, không lúc nào rõ
cho bằng dịp phong á thánh rồi hiển
thánh cho Edith Stein, người con gái
Xion. Như mọi người đã biết việc Edith
quyết định gia nhập đạo Công giáo và sau
đó đi tu Dòng Kín Carmel bị thân mẫu là
bà Augusta Stein, dù được nhiều nhà phê
bình coi như không hẳn con chiên ngoan
đạo lắm của Do-Thái Giáo, lên án như một
hành vi phản bội không phải chỉ riêng
gia đình mà là cả giòng giống Do-Thái.
Bẩy mươi năm qua rồi, lời kết án ấy
không những không giảm mà còn bùng lên
mạnh mẽ ngay cả nơi những người vốn tích
cực tham gia trào lưu đối thoại với Công
Giáo như đạo trưởng Melanie Aron (Edith
Stein – Jewish Saint? October 23,
1998). Ông gọi bà là Tên Bỏ Ðạo
(apostate) và dĩ nhiên không công nhận
tư cách tử đạo của bà. “Ðối với
tôi, rõ ràng Edith Stein bị giết vì bà
là người Do-Thái chứ không dính dáng gì
tới niềm tin tôn giáo của bà”. Jonathan
S. Tobin, chủ bút tờ Connecticut
Jewish Ledger, trong bài
Converts, Saints and Jews: Confronting
the Story of Edith Stein,October 15,
1998, kịch liệt lên án việc phong thánh
cho Edith Stein: “Ý niệm coi cái chết
của Edith Stein như biểu tượng cho việc
áp chế giáo hội Công Giáo trong biến cố
Diệt Chủng, mà một số người từng làm,
quả là ghê tởm (repugnant). Stein chết
tại Auschwitz không phải vì niềm tin tôn
giáo, mà chỉ vì nguồn gốc Do-Thái của
mình, dù chết trong bộ áo dòng. Dù Giáo
Hội Công Giáo rất cố gắng trong việc
dùng vụ phong thánh cho Edith Stein như
một dịp tự vấn lương tâm mình về Nạn
Diệt Chủng và cổ động lòng kính trọng
đối với người Do-Thái, việc biến người
phụ nữ này thành biểu tượng đau khổ của
Do-Thái đã xúc phạm đến phần đông người
Do-Thái. Như vị chủ tịch của Liên Ðoàn
Chống Phỉ Báng (Anti Defamation League –
ADL), Ông Abe Foxman, đã nói rất đúng,
bà không phải là một đại biểu thích đáng
cho các nạn nhân Do-Thái… Vấn đề ở đây
không hẳn là ý xấu. Giáo hoàng Gioan
Phaolô II từng chứng tỏ rất nhiều lần
ngài là một chiến sĩ dũng cảm tranh đấu
cho lòng khoan dung và trọng kính giữa
người Công Giáo và Do-Thái. Công việc
của ngài nói lớn hơn bất cứ ngôn từ nào.
Nhưng đó mới là khó khăn. Các ngôn từ
liên quan đến diễn trình phong thánh cho
Stein và các ý niệm của Công Giáo về hy
sinh đập vào mặt người Do-Thái như
những ý niệm tự nó đã bất kính đối với
nỗi thống khổ và niềm vẹn toàn trong đức
tin của chúng tôi. Ðề cập đến nỗi thống
khổ của Do-Thái bằng các ngôn từ Công
Giáo, là những ngôn từ không song hành
chút nào với tư tưởng Do-Thái, thì nhất
định sẽ dẫn đến xúc phạm. Vụ phong thánh
cho Stein đã đổ muối lên vết thương
Do-Thái khiến người ta nhớ đến sự bất
động của Vatican và phần đông người Công
Giáo trong biến cố Diệt Chủng. Nhiều
người sợ rằng phong thánh cho Stein là
người ta đã Kitô giáo hóa nạn Diệt
Chủng, một hành vi chỉ có mục đích phạm
thánh lịch sử mà thôi. Và nói đến việc
phong thánh cho Piô XII chỉ khiến người
Do-Thái ngỡ ngàng và ghê tởm… Chúng tôi
chỉ xin một điều là Giáo Hội đừng sử
dụng Stein để bôi bẩn lòng kính trọng
đối với Do-Thái Giáo hay chân lý của
thảm kịch Holocaust của người Do-Thái”.
Tobin có nhắc đến Abe Foxman. Ông này,
trong bài The Canonization of Edith
Stein: An Unnecessary Problem, viết
chung với Leon Klenicki, đăng trên Trang
Nhà của ADL tháng 10 năm 1998, viết như
sau: “Tỏ lòng tôn kính đối với nỗi thống
khổ Kitô giáo là điều có thể hiểu được
nếu điều ấy không gây thiệt hại đến thực
tại này là Nạn Diệt Chủng trong yếu tính
vốn là một chương trình diệt trừ dân tộc
Do-Thái. Chẳng may, với một loạt những
bước kế tiếp trong các năm gần đây, một
số nhân vật Kitô giáo đã hành động theo
phương cách chiếm đoạt các biểu tượng
thống khổ Do-Thái để tối thiểu hóa tầm ý
nghĩa trong chủ trương bài Do-Thái của
Công Giáo và bằng việc chú tâm đến công
tác tự biến mình thành nạn nhân, đã làm
lệch hướng việc xem sét vai trò của Giáo
Hội trong việc dựng ra một môi trường
giúp cho Nạn Diệt Chủng có thể xẩy ra
được. Bắt đầu là việc dựng một tu viện
Carmel tại Auschwitz trong thập niên
1980 để cầu nguyện cho người đã chết, kể
cả người Do-Thái… Sự hiện diện của các
nữ tu là cách chuyên chở ý niệm cho rằng
Auschwitz là một nơi tử đạo thực sự có
tính Kitô giáo. Không ai hoài nghi đã có
nhiều Kitô hữu chết tại Auschwitz, đặc
biệt các linh mục Ba-Lan, tuy nhiên công
việc chính trong cái trại tập trung ấy
là diệt trừ dân tộc Do-Thái. Cho nên cái
tu viện kia đã giảm thiểu hóa cái thực
tại ấy. Biến cố thứ hai là việc phong
thánh cho Maximilian Kolbe. Ông này vốn
là một linh mục đã chết thế cho một
người tù tại Auschwitz. Và do đó, Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II đã phong thánh cho
ông. Tuy nhiên ở đây nữa, cũng có vấn đề
giảm thiểu hóa ý niệm Diệt Chủng đối với
người Do-Thái. Vì ngay tại xà lim
Auschwitz, Kolbe vẫn được chọn lựa trong
tư cách một Kitô hữu, còn người Do-Thái
thì không. Diệt Chủng đối với người
Do-Thái là vắng bóng chọn lựa. Ðàng
khác, Kolbe, người chịu các kinh hoàng
tại Auschwitz, từng là tổng biên tập một
công ty xuất bản quan trọng của người
Công Giáo tại Ba-Lan trước khi Quốc Xã
và Cộng Sản xâm lăng nước này ngày 1
tháng 9 năm 1939. Công ty này ấn hành
một tạp chí bài Do-Thái hạng nhất trong
nước, dù không có bằng chứng gì cho thấy
chính Kolbe có viết bài nào như thế trên
tạp chí này. Tuy thế, ông ta vẫn là tổng
biên tập chịu trách nhiệm trước pháp
luật về tạp chí này. Khi tôn phong một
người có liên hệ, dù là liên hệ gián
tiếp, đến chủ nghĩa bài Do-Thái từng dẫn
đến Nạn Diệt Chủng, và do đó góp phần
tạo ra một bầu không khí lãnh đạm khiến
không còn ai quan tâm đến việc cứu vớt
người Do-Thái, là một lần nữa giảm thiểu
hóa các nhậy cảm của Do-Thái xung quanh
thảm họa lớn lao này. Ðối với chúng tôi,
việc phong thánh cho Edith Stein vào
ngày 11 tháng 10 này là một bước nữa
trong diễn trình Kitô giáo hóa nạn Diệt
Chủng, chứng tỏ rằng Auschwitz, cái biểu
tượng cốt lõi của tử đạo Do-Thái, trong
yếu tính không phải là một biến cố
Do-Thái, một biểu thức bài Do-Thái hoàn
toàn có tính ngoại đạo được cái giáo
huấn khinh miệt của Kitô giáo nuôi dưỡng
suốt hai ngàn năm qua, nhưng phải được
tưởng niệm như một nơi người Kitô giáo
chịu thống khổ. Chúng tôi, người
Do-Thái, chúng tôi cảm thấy bị mất Edith
Stein đến hai lần. Lần đầu tiên khi bà
bước qua Công Giáo. Lần thứ hai khi bà
được phong thánh, là hành vi qua đó một
số nhóm đã chiếm đoạt bà như một tử đạo
Kitô giáo dù cái chết của bà liên hệ đến
chủ điểm Do-Thái trong Nạn Diệt Chủng.
Nhìn theo cách này, Edith Stein trở
thành bản văn Do-Thái cho một lý văn
Kitô giáo (a Jewish text for a Christian
pretext), một cái cớ qua đó Giáo Hội có
thể đòi cái quyền chia phần nạn nhân mà
chính các tập tục bài Do-Thái của riêng
mình từng áp đặt lên mạng sống các người
Do-Thái vô tội”.
Cái nhìn thần học
Nên nhớ Ðạo Trưởng Leon Klenicki từng
tham gia cuộc đối thoại Công Giáo và
Do-Thái suốt 25 năm qua. Ông từng làm
việc với Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ và là
một đồng liên lạc viên với Vatican.
Những tư cách ấy vẫn không giúp các quan
điểm của ông dịu hòa chút nào qua các
nhận định trên. Tuy nhiên, phần lớn
những nhận định này có tính chính trị,
hoặc ít nhất nặng về chính trị. Về
phương diện thần học, không ai nói lên
những tầng sâu nhất trong các khác biệt
Kitô giáo và Do-Thái Giáo bằng David
Novak. Novak vốn là giáo sư giữ ghế J.
Richard & Dorothy Shiff của môn Do-Thái
Học tại Ðại Học Toronto. Trong bài
Edith Stein, Apostate Saint, đăng
trên First Things, tháng 10 năm
1999, Novak dường như muốn khuyên đồng
đạo ông nên chấp nhận quan điểm tự do
cho rằng các xác tín tôn giáo là vấn đề
chọn lựa cá nhân và rằng mỗi người nên
kính trọng sự lựa chọn của mỗi người
khác muốn tin điều gì họ muốn và muốn
thực hành bất cứ tôn giáo nào, hoặc
không tôn giáo nào, tùy họ. Có chỗ ông
còn trích tiên tri Amos (9:7) để khuyên
cả Công giáo lẫn Do-thái giáo nên nhìn
nhận có những hình thức chân lý hạn chế
hơn nơi tôn giáo kia, dù cả hai vẫn tin
chân lý của mình, vì là chân lý giao
ước, nên tròn đầy nhất. Thiên Chúa nói
trong câu ấy rằng: “Các ngươi đối với ta
chẳng như những người Êtiôpia kia sao?”.
Quan điểm này, ông nói, giúp ta sống với
người khác trong thiện tâm và có lòng
kính trọng thực sự đối với họ và truyền
thống của họ. Song, Novak cho rằng đấy
chỉ là trên bình diện “trần thế”, nơi
người Do-Thái và người Kitô giáo có
nhiều điều để nói với nhau và hành động
chung với nhau. Còn trên bình diện quan
yếu hơn là bình diện bản chất hay bình
diện chờ đợi Thiên Chúa, thì mỗi bên
“phải làm riêng rẽ. Nghị trình đối thoại
phải giữ cho xa nghị trình trở lại
(conversion). Ðối thoại thuộc về đời này
nhiều hơn; trong khi trở lại thuộc về
đời sau nhiều hơn. Cho đến hồi chung
cuộc, việc phán định về bản sắc không
phải là việc của chúng ta, ngoại trừ
những trường hợp hết sức tầm thường liên
can đến các quyền lợi và thưởng phạt
cộng đoàn. Chính vì thế, trong khi người
Do-Thái chúng tôi có thể tương cảm
(empathize) với người Công Giáo vì đã
lại kiếm được một vị thánh nữa, một cuộc
đời gương mẫu thánh thiện nữa, nhưng đó
không phải là điều chúng tôi có thể
thông cảm (sympathize) với
người Công Giáo… Ở cái bình diện sâu
thẳm ấy, chúng ta vẫn là những kẻ xa lạ
đối với nhau. Dường như chúng ta mãi mãi
như thế cho đến tận cùng, chỉ lúc ấy ta
mới hy vọng trở thành bằng hữu đời đời
của Thiên Chúa, và bằng hữu đời đời của
nhau”.
Bạn hũu trong cõi vĩnh hằng
Người Công Giáo ngày nay tin như thế.
Người Do-Thái sẽ là những người bạn của
họ trong cõi vĩnh hằng. Họ không độc
quyền Thiên Chúa. Họ gọi người Do-Thái
là “người anh cả” (Gioan Phaolô II). Ðã
là anh cả, đương nhiên chia sẻ gia tài
của Cha. Chỉ không hiểu người Do-Thái có
coi người Kitô hữu là đứa em sinh sau
hay không. Người ta hoài nghi chuyện đó.
Vì trước đó, Novak cho hay: “Bà (Edith
Stein) không thể là cây cầu bắc giữa
người Do-Thái và người Công Giáo vì ở
cõi đời này một người không thể đồng
thời là Do-Thái tín trung và Công Giáo
trung tín. Vì các cộng đồng Do-Thái và
Công-Giáo loại bỏ lẫn nhau, và vì cả hai
đều rút bản sắc từ giao ước Thiên Chúa
đã ký kết với cộng đồng mình, nên không
một thành viên nào của một cộng đồng lại
có thể cũng là thành viên với một tư thế
tốt của cộng đồng kia.” Phải thêm rằng
ngay ở trần thế này, người Công giáo
đang cố gắng hết sức để sống trong tình
anh em với “người anh cả”. Nhưng dường
như “người anh cả” vẫn không chịu ngồi
chung bàn với đứa em sinh sau, dù Cha đã
dọn sẵn một bữa tiệc linh đình hòa giải,
giống người cha trong dụ ngôn Ðứa Con
Hoang Ðàng. Người anh này vẫn chưa quên
được quá khứ.
Trên kia, chúng ta thấy tài liệu We
Remember của Tòa Thánh có nhắc đến
những thiên kiến bài Do-Thái của các
Kitô hữu do hoàn cảnh lịch sử tạo ra.
Ðộc giả của EWTN Catholic Q & A
nhắc lại một lời phát biểu tại Công Ðồng
Nicea để hỏi rằng phải chăng đây là khởi
đầu cho não trạng bài Do-Thái của người
Kitô hữu? Lời phát biểu đó như sau: “Tôi
từ bỏ mọi phong tục, nghi lễ, bánh không
men và Lễ Chiên của người Do-Thái, các
hy lễ, kinh cầu, uớc vọng, thanh tẩy ,
thánh hoá, và chuộc tội, thánh thi và
thánh ca, các tuân thủ và các hội
trường, và thực phẩm thức uống của người
Do-Thái. Tắt một lời, tôi tuyệt đối từ
bỏ bất cứ điều gì là Do-Thái, mọi Luật
Lệ, mọi nghi thức và phong tục của họ….”
(Stefano Assemani, Acta Sanctorum
Martyrum Orientalium at Occidentalium,
Vol 1 {Rome 1748}, trang 105).
Giáo Hội không bài Do Thái
Matthew Bunson có lời giải đáp như sau:
Giáo hội từng bị nhiều người khác nhau
do những nguyên do khác nhau tố giác là
bài Do-Thái. Trước hết phải ghi nhận
rằng Giáo Hội hiện không và đã từng
không bao giờ bài Do-Thái hết. Như Công
Ðồng Vatican đã tuyên bố, Giáo Hội “lên
án mọi thù hận, bách hại, mọi biểu hiện
của chủ nghĩa bài Do-Thái ở bất cứ thời
nào và do bất cứ nguồn gốc nào nhằm vào
người Do-Thái” (Nostra Aetate,
4). Dù vậy, không ai nghi ngờ sự kiện đã
có nhiều thành phần tín hữu Kitô thực
hiện nhiều hành vi lịch sử bài Do-Thái,
như trong thời Trung Cổ buộc người
Do-Thái phải sống trong các khu ghetto;
nhiều Kitô hữu từng tham dự vào việc
trục xuất người Do-Thái khỏi các nước Âu
Châu (như Anh và Tây Ban Nha); và nhiều
người Công Giáo đã tham gia các vụ sát
hại (pogrom) người Do-Thái tại Ðức và
Đông Âu, đặc biệt đã dự phần vào những
tội ác tầy trời trong biến bố Diệt Chủng
(Holocaust). Tất nhiên Giáo Hội lên án
các hành vi ấy, và đa số người Công Giáo
ghê tởm chủ nghĩa bài Do-Thái. Cái thực
tại lịch sử của thiểu số Công Giáo kia
hiện đang được sử dụng để vẽ lên hình
ảnh toàn bộ Giáo hội là bài Do-Thái.
Nhiều người làm như thế để ô danh Giáo
Hội, để cổ động cho những nghị trình
trái với giáo huấn của Giáo Hội, hay để
bám lấy chủ nghĩa xét lại có tính khoa
bảng lịch sử để phá hoại toàn bộ truyền
thống của Giáo Hội. Chắc chắn mũi dùi
độc địa nhất hiện nay là nhằm vào Ðức
Piô XII, mà các cố gắng lâu dài nhân
danh người Do-Thái cũng như sự thánh
thiện bản thân đang bị hành vạ.
Theo lịch sử, người Do-Thái bị đánh đập,
nhục hình, và tố giác bởi những kẻ vô
học vì ý niệm cho rằng họ chịu trách
nhiệm về cái chết của Ðức Kitô. Giáo hội
dạy rằng điều đó không đúng như thế,
trái lại rao giảng lời Ðức Kitô trên
Thập giá rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ,
vì họ không biết việc họ làm” (Lc
23:34).
Do hậu quả của chủ nghĩa bài Do-Thái đôi
lúc rất phổ biến, Giáo Hội thấy khó làm
cho nhiều người nhận ra ý niệm này là
việc đối xử bất nhân đối với người
Do-Thái là một việc sai lầm. Tuyên bố
của ngôi vị giáo hoàng không thể nào rõ
hơn lời của Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô Cả
khi ngài công bố rằng không ai được xách
nhiễu người Do-Thái và họ phải được
quyền nhượng mãi tài sản. Ấy thế mà văn
hoá thời ấy vẫn chung chung bài Do-Thái.
Họ chịu nhiều tước đoạt về luật lệ
(legal disabilities), bị đẩy ra ngoài hệ
thống phong kiến, và là mục tiêu cho
nhiều lời kết án man rợ và hết sức nực
cười: giết Ðức Kitô, chuốc độc các giếng
và nước uống để truyền bệnh dịch, và cử
hành những nghi lễ giết người (người ta
tố cáo họ giết các thiếu niên Kitô giáo
và dùng máu của họ làm bánh không men
(như trường hợp William ở Norwich). Lòng
thù ghét này càng trở nên nặng nề hơn
với sự hiện diện của người Do-thái trong
ngành ngân hàng mà người ta kết tội là
cho vay nặng lãi. Bởi thế, người Do-Thái
thường bị thảm sát vì chủng tộc (pogrom)
và buộc phải sống trong những khu riêng
(ghettoes) có vây tường trong các thị
xã. Những khu này trở thành một nét cố
định trong nền văn hóa Âu Châu, cả Rome
cũng có. Tuy nhiên nếu so với cuộc Diệt
Chủng Hàng Loạt (Holocaust) trong đó sáu
triệu người bị giết dưới chế độ Quốc Xã,
thì những tàn ác của thời Trung Cổ chẳng
thấm thía vào đâu. Trong suốt thời Quốc
Xã thống trị, Giáo Hội đã lên tiếng bênh
vực người Do-Thái với nhiều vị giáo phẩm
cao cấp, như Hồng Y Michael Faulhaber
của Munich, nguy đến cả tính mạng. Ðức
Piô XI ra tông thư Mit brennender
Sorge (1937) tấn công chủ nghĩa Quốc
Xã, và Ðức Piô XII ra tay tận tình cứu
sống và che chở nhiều người Do-Thái tại
Ý và các nơi khác.
Vatican II, trong Ánh Sáng Muôn Dân,
đã ghi chú các mối liên hệ đặc biệt
giữa người Công Giáo và người Do-Thái,
gọi họ là “một dân tộc rất thân thương”.
Dưới thời Ðức Gioan Phaolô II, nhiều
tiến bộ đã được thực hiện nhằm vươn tới
người Do-Thái khắp nơi trên thế giới:
ngài ngỏ lời xin lỗi về việc một số Kitô
hữu trong quá khứ đã bài người Do-Thái
và đôi dòng của Ngài về Cách Thế Ðúng
Ðắn Trong Việc Trình bày về người
Do-Thái khi Giảng Dạy cũng như trong
Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo công bố
năm 1985. Cái thực tế có nhiều người
Công Giáo thù ghét người Do-Thái và phạm
nhiều tội ác khủng khiếp nhằm vào họ
không có nghĩa là Giáo Hội Công Giáo bài
Do-Thái. Giáo hội như một định chế không
bài Do-Thái.
Vũ Văn An
