Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

03- Chúa Thánh Linh là Đấng Bào Chữa

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy. Đây là sách về giảng dạy giá trị và đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần để học hỏi và tìm hiểu.


 

 

Chúa Thánh Linh Là Đấng Bào Chữa

 

    Trong bài suy niệm trước về Chúa Thánh Linh, chúng ta khởi sự nghiên cứu văn bản Thánh Gioan về lời Chúa Giêsu từ biệt các môn đệ. Nói một cách nào đó đây là chính nguồn gốc Phúc Âm về Thánh Linh học. Chúa Giêsu loan báo việc Chúa Thánh Thần ngự đến, Ngài là Thánh Linh chân lý, “Đấng từ Thiên Chúa Cha mà ra” (Jn 15:26). Chúa Thánh Linh sẽ được Chúa Cha gửi đến với các tông đồ và Giáo Hội nhân danh Chúa Kitô, nhờ ơn cứu chuộc do hy lễ thập giá đem lại theo chương trình cứu độ từ thuở đời đời. Do công nghiệp của hy lễ thập giá, Chúa Con cũng “phái” Thánh Linh “đi”, vì Ngài nói: Thánh Linh sẽ đến là kết quả và là giá của việc Ngài ra đi (tc. Jn 16:7). Ý nghĩa trong lời nói của Chúa Giêsu là có mối liên hệ giữa cái chết, phục sinh, lên trời của Ngài và việc ban tràn đầy Thánh Linh, giữa mầu nhiệm Vượt Qua và Lễ Hiện Xuống. Hiển nhiên, theo bốn Sách Phúc Âm, việc ban Chúa Thánh Linh xảy ra vào chính chiều Chúa Nhật Phục Sinh (tc. Jn 20:22-25). Có thể nói thương tích nơi cạnh sườn Chúa Kitô trên thánh giá đã mở lối cho việc tuôn trào Thánh Linh, mà việc này là dấu chỉ và hoa trái từ vinh quang đạt được qua khổ hình và tử nạn của Chúa Kitô.

 

   Chúng ta học từ lời Chúa Giêsu, trong căn phòng trên lầu, Ngài gọi Chúa Thánh Linh là “Đấng Phù Trợ (Bào Chữa, Paraclete)”: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ gửi đến Đấng Bào Chữa khác, ở với anh em mãi mãi” (Jn 14:16). Chúng ta cũng đọc trong bản văn khác lời tương tự: “Đấng Bào Chữa, Chúa Thánh Linh” (tc. Jn 14:16; 15:26; 16:7). Thay vì “Đấng Bào Chữa” (Paraclete) nhiều bản chuyển ngữ dùng từ (ngữ) “Cố Vấn” (Counselor). Chuyển ngữ đó có thể chấp nhận được, tuy nhiên cần đến từ nguyên Hy Lạp Parákletos mới thấu triệt lời Chúa Giêsu nói về Chúa Thánh Linh.

 

   Parákletos nghĩa chính là “người được kêu gọi hoặc triệu đến để giúp đỡ” (do từ  ngữ para-kaléin,  “kêu gọi tới giúp đỡ người nào đó”). Vì thế người ấy là “người bảo vệ, người bảo trợ,” “người bào chữa,” cũng là “người trung gian” làm công việc trung gian bầu cử. Chúng ta chú ý theo nghĩa “người trạng sư bào chữa”, trong khi nhớ rằng một số Giáo Phụ dùng parákletos theo nghĩa “Đấng Cố Vấn” đặc biệt khi dẫn chiếu về hành động của Chúa Thánh Linh cho Giáo Hội. Hôm nay chúng ta nói về Chúa Thánh Linh là Đấng Bào Chữa. Danh xưng này giúp chúng ta ý thức sự liên hệ gắn bó giữa việc làm của Chúa Kitô và của Chúa Thánh Linh, như sẽ thấy khi nghiên cứu thêm về văn bản trong Phúc Âm Thánh Gioan.

 

   Chúa Kitô chính là Đấng Đệ Nhất Bầu Cử

 

   Tại phòng Tiệc Ly, trước khi nạp mình chịu khổ hình cứu chuộc, Chúa Giêsu loan báo việc Chúa Thánh Linh đến: “Chúa Cha sẽ ban cho anh em Đấng An Ủi Bầu Cử  khác.” Những lời này cho thấy chính Chúa Kitô là Đấng đệ nhất Bầu Cử, và việc làm của Chúa Thánh Linh là việc làm của Chúa Kitô được kéo dài.

 

     Dĩ nhiên, Chúa Giêsu Kitô đã, đang và sẽ là “người bảo vệ” mãi mãi. Chính Thánh Gioan nói như thế trong Thư I của ngài: “Nếu người nào phạm tội, thì chúng ta có Đấng Bào Chữa (Parákletos) trước mặt Chúa Cha, đó là Chúa Giêsu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Jn 2:1).

 

    Đấng bào chữa chính là Đấng, lãnh nhận vai trò của những kẻ có tội, bào chữa cho họ khỏi hình phạt phải chịu vì tội lỗi của họ, và cứu họ khỏi lâm nguy mất sự sống đời đời và ơn cứu rỗi. Đây chính là công việc Chúa Giêsu đã làm. Chúa Thánh Linh cũng được gọi là Đấng Bào Chữa (Parákletos) vì Ngài tiếp tục công việc cứu chuộc của Chúa Kitô cho chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết đời đời.

 

    Lại nữa, Chúa Thánh Linh là “vị trạng sư và bảo vệ khác.” Chúa Thánh Linh ở cùng với các môn đệ Chúa Kitô để canh giữ và bảo vệ các ngài bằng sức mạnh toàn năng của mình. Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Ngài sẽ ban cho anh em Đấng Bảo Trợ khác ở với anh em muôn đời” (Jn 14:16). “Ngài sẽ ngự trong anh em, và hành động với anh em” (Jn 14:16). Lời hứa này cũng quan trọng như lời Chúa Giêsu hứa khi về với Chúa Cha: “Thầy ở cạnh (ở với) anh em từng giây từng phút cho tới ngày mãn thế” (Mt 28:20). Chúng ta biết Chúa Kitô là Ngôi Lời “nhập thể và nhập thế” (Jn 1:14). Khi về với Chúa Cha, Chúa Kitô hứa với các môn đệ: “Thầy ở cạnh anh em từng giây từng phút cho tới ngày mãn thế” (Mt 28:20. Kế tiếp, nhờ Chúa Thánh Linh, các tông đồ và Giáo Hội phải liên tiếp tìm kiếm sự hiện diện của Ngôi Lời, Chúa Con. Trong sứ mệnh trần thế, Chúa Cứu Thế đã nhập thể, sau khi về với Chúa Cha, thân xác Ngài hoàn toàn đi vào huyền nhiệm.

 

Sự hiện diện của Chúa Thánh Linh ở trong các linh hồn và nơi Giáo Hội như Chúa Giêsu đã nói (“Ngài ở với anh em và ở trong anh em”: Jn 14:17), làm cho Chúa Giêsu hiện diện cách vô hình (huyền nhiệm) liên tục “cho tới tận thế.” Sự hiệp nhất siêu việt của Chúa Con và Chúa Thánh Linh bảo đảm rằng nhân tính của Chúa Kitô, mà Ngôi Lời đã mặc lấy, sẽ hiện diện hoạt động nơi nào chương trình cứu độ của Chúa Ba Ngôi được quyền năng Chúa Cha làm cho hữu hiệu.

 

     Chúa Thánh Linh là Đấng Bầu Cử  bảo vệ các tông đồ và tất cả mọi người trong Giáo Hội sẽ kế thừa việc làm nhân chứng và tông đồ vụ của các vị đó qua mọi thế kỷ. Điều này đặc biệt xảy ra vào những lúc khó khăn khi các ngài bị thử thách về lòng dũng cảm. Đây là điều Chúa Giêsu tiên báo và hứa: “Người ta sẽ nộp anh em cho công nghị ... anh em sẽ bị giải nạp cho các quan chức và nhà vua ... Khi người ta giao nạp anh em, anh em đừng lo lắng phải nói thế nào hoặc phải nói điều gì ... vì không phải chính anh em nói, mà Thánh Linh Chúa Cha nói qua anh em” “vì Chúa Thánh Linh sẽ dạy anh em phải nói gì vào lúc đó” (Mt 10:17-20; tc. Mk 13:11; Lc 12:12).

 

   Theo ý nghĩa rất thực tiễn ở trên, Chúa Thánh Linh là Trạng Sư và là Đấng Bầu Cử. Ngài hiện diện kề cận để soi dẫn các tông đồ khi các vị đó phải tuyên xưng, biện minh và bảo vệ chân lý. Chính Chúa Thánh Linh nói bằng ngôn từ của các ngài, và cùng với các ngài Chúa Thánh Linh làm chứng cho Chúa Kitô và Phúc Âm. Trước mặt những phán quan, Chúa Thánh Linh trở nên vị trạng sư vô hình bào chữa cho những người bị cáo, vì Ngài hành động với tư cách là cố vấn, bảo vệ và nâng đỡ các vị đó.

 

    Đặc biệt suốt các cuộc bách hại thuộc mọi thời đại, những lời Chúa Giêsu nói tại căn phòng trên lầu thành hiện thực: “Khi Đấng Phù Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ gửi từ nơi Cha Thầy đến với anh em ... Ngài sẽ làm chứng về Thầy; và anh em cũng là chứng nhân nữa, vì anh em đã ở với Thầy từ đầu” (Jn 15:26-27).

 

   Chúa Thánh Linh là “chứng nhân” ẩn hình, “âm thầm” hành động trong trái tim các tông đồ khi họ công khai làm chứng cho Chúa Kitô. Qua sự hiện diện và hành động nội tại đó, quyền năng siêu việt của chân lý về Chúa Kitô, Đấng là Ngôi Lời Chân Lý và Khôn Ngoan, hiển hiện và lan tràn ra khắp thế giới. Từ Chúa Kitô, nhờ Chúa Thánh Linh, các tông đồ giành được khả năng, sức mạnh, để làm chứng nhân theo lời Chúa Kitô hứa: “Thầy sẽ ban cho anh em miệng lưỡi khôn ngoan, mà không một đối thủ nào của anh em có thể đương đầu hoặc chống lại được” (Lc 21:15). Sự kiện này đã xảy ra trong trường hợp vị tử đạo tiên khởi Stephen, trong Công Vụ Tông Đồ chứng tỏ rằng ngài “đầy Thánh Thần” (Cv 6:5). Các đối thủ của ngài “không thể đương đầu với sự minh triết và linh hoạt của ngài” (Cv 6:10). Trong các thế kỷ kế tiếp những người phản kháng Kitô hữu vẫn còn liên tục chống lại các sứ giả Phúc Âm. Nhiều lần họ nhận chìm tiếng nói của Kitô hữu trong máu các ngài, nhưng không thể bóp nghẹt chân lý mà các ngài là sứ giả loan báo. Chân lý Phúc Âm tiếp tục lan rộng khắp thế giới nhờ quyền lực Chúa Thánh Linh.

 

    Theo lời Chúa Kitô, Chúa Thánh Linh - Thần Linh chân lý, Đấng Phù Trợ - là Đấng “sẽ chứng minh thế giới sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử” (Jn 16:8). Chúa Giêsu đã dành cho những từ ngữ này lời giải thích ý nghĩa rất quan trọng: “Tội lỗi” có nghĩa là tình trạng thiếu đức tin mà Chúa Giêsu đã gặp giữa “những người dân của Ngài,” những người thuộc dân riêng Ngài, nhưng họ đã kết án Ngài chết trên thập giá. Khi nói về “sự công chính,” dường như Chúa Giêsu nghĩ đến sự công chính cuối cùng mà Chúa Cha muốn trao cho Ngài (“... vì Thầy đi về với Chúa Cha”) khi phục sinh và lên trời. Trong bối cảnh này “sự xét đoán” có nghĩa là Thánh Linh chân lý sẽ chứng minh thế gian tội lỗi vì chối bỏ Chúa Kitô, hoặc tổng quát hơn, trong việc quay lưng lại với Thiên Chúa. Vì Chúa Kitô không đến để xét xử và kết án thế gian nhưng để cứu thế gian, vì thế thực tế “việc chứng minh thế giới tội lỗi” về phần Thánh Linh chân lý phải được hiểu là một sự can thiệp hướng thẳng vào việc cứu độ thế giới, hướng thẳng vào lợi ích cuối cùng của nhân loại.

 

     “Việc xét xử” nói cách đặc biệt tới “tên chúa trùm thế giới này” là Satan. Ngay từ thuở ban đầu nó đã cố gắng đảo lộn công cuộc tạo dựng, chống lại giao ước và việc kết hiệp nhân loại với Thiên Chúa: nó cố tình chống lại ơn cứu chuộc. Vì thế, nó “đã bị xét xử” ngay từ thuở ban đầu, như cha đã giải thích trong Tông Huấn Dominum et Vivificantem (số. 27).

 

     Nếu Chúa Thánh Linh, Đấng Phù Trợ, phải cho thế giới thấy rõ về “việc xét xử” này, hiển nhiên Ngài làm việc đó để tiếp tục công việc của Chúa Kitô nhắm vào công cuộc cứu chuộc thế gian.

 

   Vì thế chúng ta có thể kết luận: khi làm chứng cho Chúa Kitô, Đấng Phù Trợ là một vị trạng sư và người bảo vệ, mặc dầu vô hình, tận lực bênh vực công cuộc cứu độ và tất cả mọi việc liên quan đến công cuộc này. Ngài cũng là người bảo đảm chiến thắng sau cùng chống lại tội lỗi và thế giới bị khống chế trong tội lỗi, để giải phóng thế giới khỏi tội lỗi và đưa thế giới đến con đường cứu độ.

 

Buổi gặp chung ngày 24 tháng Năm, 1989


Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II


www.thanhlinh.net