Home
Printer-friendly versionSend by email
-A A +A

08- Sự huyền lộ quyền năng Thiên Chúa trong Lễ Hiện Xuống

 

CHÚA THÁNH LINH
ĐẤNG BAN SỰ SỐNG và TÌNH YÊU


Giáo Lý dựa trên Kinh Tin Kính do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giảng dạy. Đây là sách về giảng dạy giá trị và đầy đủ nhất về Chúa Thánh Thần để học hỏi và tìm hiểu.


 

 

 

Sự Hiển Lộ Quyền Năng Thiên Chúa trong Lễ Hiện Xuống

 

  Những điều chúng ta biết về Chúa Thánh Linh đều căn cứ vào lời Chúa Giêsu nói về Ngài; đặc biệt khi nói đến ngày về với Chúa Cha: “Khi nào Thầy đi khỏi ... Chúa Thánh Linh sẽ đến với anh em” (tc. Jn 16:7). Cuộc “ra đi” có tính cách vượt qua của Chúa Kitô qua thánh giá, phục sinh và về trời kết thúc trong Lễ Hiện Xuống, tức là trong việc Chúa Thánh Linh ngự xuống trên các tông đồ. Tất cả mọi người “cùng một lòng một ý chuyên cần cầu nguyện” trong căn phòng trên lầu “cùng với Hiền Mẫu Chúa Giêsu” (tc. Cv 1:14) và toàn thể những người tạo thành hạt nhân của Giáo Hội nguyên thủy.

 

   Trong biến cố Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Linh vẫn còn là Thiên Chúa huyền nhiệm (tc. Is 45:15), và Ngài vẫn như thế suốt dòng lịch sử Giáo Hội và thế giới. Có thể nói Chúa Thánh Linh ẩn trong bóng Chúa Kitô, Đấng là Chúa Con, Ngôi Lời, đồng nhất với Chúa Cha, “đã nhập thể và nhập thế (trở nên nhục thể, hữu hình và cư ngụ giữa chúng ta)” (Jn 1:14).

 

    Trong việc Ngôi Lời nhập thể, Chúa Thánh Linh không hiển lộ cách hữu hình, Ngài vẫn là Thiên Chúa vô hình, Ngài bao phủ Đức Maria cách huyền nhiệm. Thiên sứ nói với Đức Trinh Nữ, vị nương tử được chọn làm con đường tất yếu để Thiên Chúa đến với nhân loại: “Chúa Thánh Linh sẽ ngự đến với Trinh Nữ, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao phủ Trinh Nữ”  (Lc 1:35).

 

   Cũng tương tự như thế, vào Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Linh “phủ bóng” trên Giáo Hội sắp chào đời, ngõ hầu dưới ảnh hưởng của Ngài, Giáo Hội có thể được ban cho sức mạnh “loan báo những thánh sự (kỳ công) của Thiên Chúa” (tc. Cv 2:11). Việc xảy ra trong lòng Đức Maria khi Ngôi Lời nhập thể vào Lễ Hiện Xuống hôm nay thể hiện cách rộng rãi hơn. Chúa Thánh Linh diệu hoạt như “Thiên Chúa ẩn hình (hidden)” trong ngôi vị ẩn tảng (vô hình, invisible) của Ngài.

 

   Tuy nhiên, Lễ Hiện Xuống là một cuộc thần hiển (theophany) có nghĩa là sự biểu lộ quyền năng thần linh. Lễ Hiện Xuống hoàn tất việc hiển lộ trên Núi Sinai, sau khi ông Moses hướng dẫn dân Israel thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Theo truyền thống Do Thái giáo, việc hiển lộ trên Núi Sinai xảy ra năm mươi ngày sau Lễ Vượt Qua và Xuất Hành, ngày Lễ Ngũ Tuần.

 

   “Núi Sinai chìm trong khói, vì Chúa ngự xuống trong lửa; và khói bốc lên như khói lò gạch, và khắp núi đó đất động mạnh” (Xh 19:18). Khi đó tính siêu việt tuyệt đối của “Đấng Hằng Hữu” hiển lộ (tc. Xh 3:14). Rồi tại chân Núi Horeb, ông Moses đã nghe từ giữa bụi cây rực lửa những lời: “Ngươi đừng tới gần; trút dép ra, vì nơi ngươi đang đứng là thánh địa” (Xh 3:5). Lúc này tại chân Núi Sinai Thiên Chúa nói với ông (Moses): “Ngươi hãy đi xuống cảnh cáo dân chúng, để chúng đừng kéo nhau lên nhìn Chúa mà nhiều người sẽ bị chết” (Xh 19:21).

 

   Việc thần hiển trong Lễ Hiện Xuống là lần cuối cùng trong hàng loạt những lần hiển lộ mà trong đó Thiên Chúa tuần tự tỏ mình ra với nhân loại. Cuộc hiển lộ trong ngày Lễ Hiện Xuống hoàn tất việc Thiên Chúa tự khải; qua đó Ngài muốn in vào tâm hồn dân của Ngài niềm tin vào sự vinh hiển và siêu việt của Ngài và, cùng lúc ấy Ngài âm thầm hiện diện nội tại là “Thiên Chúa ở với chúng ta,” “Emmanuel.”

 

Cuộc thần hiển vào ngày Lễ Hiện Xuống, cùng với Đức Maria, liên quan trực tiếp tới toàn thể Giáo Hội ở chính cốt lõi căn nguyên của Giáo Hội và hoàn tất tiến trình lâu dài đã khởi đầu từ cựu ước. Nếu chúng ta nghiên cứu chi tiết sự việc xảy ra trong căn phòng trên lầu ghi trong Sách Công Vụ (2:1-11), chúng ta thấy những yếu tố khác nhau nhắc nhớ lại những cuộc thần hiển trước, đặc biệt là tại Núi Sinai, mà Thánh Luca dường như lưu ý tới khi ngài mô tả Chúa Thánh Linh ngự xuống. Theo trình thuật của Thánh Luca, cuộc thần hiển trong căn phòng trên lầu xảy ra với những yếu tố giống như tại Núi Sinai: “Khi tới ngày Lễ Ngũ Tuần, tất cả mọi người tụ họp tại một nơi. (Và) bất chợt một âm thanh từ trời đến tựa như cơn giông gió mạnh, và tràn ngập khắp ngôi nhà nơi mọi người đang hiện diện. Và xuất hiện (trên họ) những lưỡi lửa, và tách ra đậu trên mọi người. (Và) mọi người tràn đầy Chúa Thánh Linh và bắt đầu nói những ngôn ngữ khác, mà Thánh Linh làm cho họ nói được” (Cv 2:1-4).

 

Ba yếu tố căn bản đánh dấu bién cố đó: âm thanh của cơn giông gió mạnh, những lưỡi lửa, và đặc sủng nói những ngôn ngữ khác. Tất cả các yếu tố này đều có giá trị biểu tượng phong phú cần phải được ghi nhớ. Trong linh quang những sự kiện này chúng ta hiểu rõ hơn điều tác giả Sách Công Vụ lưu ý khi ngài nói những người hiện diện trong căn phòng trên lầu “đều tràn đầy Chúa Thánh Linh.”

 

“Một âm thanh tựa cơn giông gió mạnh.” Từ quan điểm ngữ học chúng ta thấy ở đây có một đặc tính giống nhau giữa gió (hơi gió thổi, hà hơi) và “thần khí.” Trong tiếng Hebrew (Do Thái),  cũng như tiếng Hylạp (Greek), “gió = wind ” đồng âm với “thần khí = spirit”: “ruah – pneuma.” Chúng ta đọc trong Sách Sáng Thế (1:2): “Thần khí (ruah) Thiên Chúa là là trên mặt nước,” và trong Phúc Âm Thánh Gioan: “Gió (pneuma) muốn thổi đi đâu thì thổi” (Jn 3:8).

 

Trong Phúc Âm cơn gió mạnh “loan báo” sự hiện diện của Thiên Chúa. Đó là dấu chỉ cuộc thần hiển. Như chúng ta đọc trong Samuel II: “Ngài được nhìn thấy trong những cơn (làn) gió” (Sam II 22:11). Và Sách Ezekiel mở đầu bằng cuộc thần hiển: “Này, một cơn gió bão thổi từ phương bắc, và một đám mây lớn có những vành sáng bao quanh, và lửa lóe lên không ngừng” (Ezek 1:4). Đặc biệt, làn gió là biểu lộ sức mạnh thần linh thể hiện việc tạo dựng từ uông mang (tc. Stk 1:2). Gió cũng là sự diễn tả tự do của Thánh Linh: “Gió muốn thổi đi đâu thì thổi, và người ta nghe âm thanh của gió, nhưng không biết gió từ đâu tới và đi đâu” (Jn 3:8). “Một âm thanh tựa như cơn giông gió mạnh” là yếu tố thứ nhất của cuộc thần hiển ngày Lễ Ngũ Tuần, một sự hiển lộ sức mạnh thần linh hoạt động trong Chúa Thánh Linh.  

 

  Yếu tố thứ hai của Lễ Hiện Xuống là “lửa”: “Xuất hiện trước mắt mọi người những lưỡi lửa (ngọn lửa, búp lửa)” (Cv 2:3). Trong Cựu Ước, lửa luôn hiện diện trong những lần Thiên Chúa hiển lộ. Chúng ta thấy điều này trong giao ước giữa Thiên Chúa và ông Abraham (tc. Stk 15:17); tương tự như vậy khi Thiên Chúa tỏ mình cho ông Moses nơi bụi gai rực lửa mà không bén cháy (tc. Xh 3:2); y hệt trường hợp những cột lửa dẫn đường dân Israel qua sa mạc ban đêm (tc. Xh 13:21-22). Lửa hiện diện cách đặc biệt trong lần Thiên Chúa hiển lộ tại Núi Sinai (tc. Xh 19:18), và cũng trong những lần thần hiển theo cánh chung học (eschatological theophanies), được các ngôn sứ mô tả (tc. Is 4:5; 64:1; Dan 7:9 v.v.). Vì thế lửa là biểu tượng của Thiên Chúa.

 

 Trong nhiều dịp Sách Thánh nói “Thiên Chúa chúng ta là ngọn lửa thiêu” (Dt 12:19; Tl 4:24; 9:3). Trong nghi lễ toàn thiêu, việc thiêu hủy lễ vật đã được hiến dâng không kém quan trọng so với hương thơm tiêu biểu cho việc của lễ hiến dâng bay lên tới Thiên Chúa; lửa là “thừa tác của Thiên Chúa” (tc. Tv 104:4), lửa tiêu biểu việc thanh tẩy người ta khỏi tội lỗi, như bạc được tinh luyện và vàng thử trong lửa (tc. Zec 13:8-9).

 

   Trong lần thần hiển Lễ Hiện Xuống (Lễ Ngũ Tuần), có những lưỡi lửa trên đầu mỗi người hiện diện trong căn phòng trên lầu. Nếu lửa tiêu biểu sự hiện diện của Thiên Chúa, lưỡi lửa tách ra và ở (đậu) trên đầu các vị đó chứng tỏ Thiên Chúa Thánh Linh “ngự xuống” trên các vị đó. Ngài ban ân sủng cho mỗi người để chuẩn bị cho sứ mệnh của họ.  

 

   Biểu tượng tính của đa ngôn ngữ

 

   Ơn Chúa Thánh Linh, lửa của Thiên Chúa, mang hình dáng đặc biệt, hình dáng “cái lưỡi.” Tác giả Sách Công Vụ lập tức giải thích ý nghĩa ‘cái lưỡi,’ ngài nói: “Các ngài bắt đầu nói những ngôn ngữ khác lạ, mà Chúa Thánh Linh ban cho các ngài nói được” (Cv 2:4). Những lời phát xuất từ Chúa Thánh Linh “tựa như lửa” (tc. Jer 5:14; 23:29). Những lời đó có hiệu lực tính mà ngôn ngữ loài người không có. Trích dẫn trên là yếu tố thứ ba của việc Thiên Chúa xuất hiện trong Lễ Hiện Xuống, Thiên Chúa Thánh Linh, khi ban chính Ngài cho nhân loại, đã sản sinh ra trong họ một hiệu lực thực tiễn và tiêu biểu. Hiệu lực đó thực tiễn vì liên quan đến ngôn ngữ là khả năng tự nhiên của con người. Tuy nhiên, hiệu lực đó cũng có tính cách tiêu biểu vì những người này “từ Galilee,” trong khi dùng tiếng mẹ đẻ hoặc thổ ngữ, đã nói “bằng nhiều ngôn ngữ khác,” để từng người trong đám đông mau chóng tụ tập đó nghe hiểu theo “tiếng địa phương của họ,” mặc dầu họ thuộc nhiều sắc dân có thổ ngữ khác nhau (tc. Cv 2:6). 

 

   Tính cách biểu tượng của “việc nói nhiều ngôn ngữ khác nhau” rất có ý nghĩa. Theo Phúc Âm, tình trạng đa ngôn ngữ là dấu chỉ đa chủng, và dĩ nhiên cũng là dấu chỉ việc người ta phải phân tán do việc xây tháp Babel (tc. St 11:5-9). Khi đó ngôn ngữ duy nhất mọi người đều hiểu bị chia thành nhiều tiếng nói khác nhau, khiến người ta không hiểu nhau. Bây giờ biểu trưng của tháp Babel được nối tiếp bởi biểu tượng đa ngôn ngữ của Lễ Hiện Xuống, biểu hiện đó cho thấy tình trạng trái ngược với việc không hiểu ngôn ngữ khác nhau. Nhiều ngôn ngữ khó hiểu đã mất tính chất đặc thù, hoặc ít nhất không còn là biểu tượng của sự phân chia. Những ngôn ngữ khác nhau đã nhường lối cho hoạt động mới của Chúa Thánh Linh, Đấng qua các tông đồ và Giáo Hội đem tới việc hiệp nhất tinh thần những người có gốc gác, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau theo quan điểm sự hiệp thông toàn hảo trong Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã loan báo và nài xin (tc. Jn 17:11, 21-22).  

 

   Chúng ta kết luận bằng những lời Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Dei Verbum (Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa): “Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa nơi trần gian. Ngài mạc khải Thân Phụ Ngài và tự khải (mạc khải Chính Ngài) qua ngôn từ, hành động, và hoàn tất công trình của Ngài bằng tử nạn, phục sinh và thăng thiên, và phái Chúa Thánh Linh đến. Bị treo lên khỏi mặt đất (tc. Jn 12:32), Ngài kéo mọi sự đến với Mình, Ngài là Đấng duy nhất mà ngôn từ vĩnh cửu (có lời hằng sống) (tc. Jn 6:68). Mầu nhiệm này chưa bao giờ được bầy tỏ cho các thế hệ khác biết như lúc này được mạc khải trong Chúa Thánh Linh cho các thánh tông đồ và tiên tri (tc. Eph 3:4-6) để họ rao giảng Phúc Âm, hân hoan tin tưởng vào Chúa Giêsu, Đấng được xức dầu tôn vinh là Chúa, và hiệp nhất Giáo Hội” (DV 17). Đó là công việc vĩ đại của Chúa Thánh Linh và Giáo Hội trong tâm hồn nhân loại và trong dòng lịch sử.   

 

Buổi gặp chung ngày 12 tháng Bảy, 1989

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II


www.thanhlinh.net